Nhà văn Nguyễn Công Hoan
Ông sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, Hưng Yên,
mất ngày 6 tháng 6 năm 1977 tại Hà Nội.
- Các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan,
- Các bài viết về Nguyễn Công Hoan.
Mời xem: Bách Khoa Toàn Thư mở - Wikipedia
Video: Nhà văn Nguyễn Công Hoan (Thực hiện: Trí Dũng, Ngọc Oanh, Huy Hoàng, Thúy Lành, Thùy Trang, Tuấn Anh - Trang thông tin điện tử Đài Phát thanh & Truyền hình Hưng Yên)
Featured Posts
Thứ Ba, 10 tháng 3, 2026
Nhà văn Nguyễn Công Hoan (Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác, nhận định)
Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026
Một đời văn lực lưỡng NGUYỄN CÔNG HOAN (GS. Phong Lê)
Một đời văn lực lưỡng
NGUYỄN CÔNG HOAN
Cố nhiên ở mọi thời kỳ, sự quan tâm của bạn đọc đối với Nguyễn Công Hoan là có khác nhau. Nguyễn Công Hoan xuất hiện với một bút pháp lạ, một cách nhìn lạ, một giọng điệu lạ, hài và bi, cười cợt và nghiêm trang, đùa mà tỉnh táo, đã được báo hiệu ngay từ Kiếp hồng nhan (1923). Rồi Nguyễn Công Hoan với truyện ngắn và truyện dài, dồn dập và xen kẽ, chuyển dịch qua bao xu hướng nghệ thuật trong những năm 1930. Nhà văn muốn tỏ ra trung thành với chủ nghĩa hiện thực trào lộng trong truyện ngắn lại rất nghiêm trang, mực thước trong Tấm lòng vàng, Cô làm công... Chủ nghĩa lãng mạn tưởng như xa lạ với Nguyễn Công Hoan, khi nhà văn cố tình trở về với các khuôn mẫu cổ điển, để chống lại Đoạn tuyệt của Nhất Linh, trong Cô giáo Minh, lại là người đẫm ướt trữ tình và nước mắt lãng mạn trong Tắt lửa lòng và Lá ngọc cành vàng. Thanh đạm u trầm trong một khí hậu hoài cổ nhằm dẫn dắt con người vào một thời xưa, trong lúc Bước đường cùng lại rất quyết liệt phanh phui, lật tẩy hiện tại - sách bị cấm mà thành danh to, năm ngàn bản hết veo và được in đi in lại nhiều lần... Nguyễn Công Hoan, tóm lại, đó là người viết dường như muốn có một mục tiêu để trung thành, để chung thủy, nhưng lại nhiều đổi thay, chuyển dịch và không ít giọng điệu. Có phải vậy chăng cùng lúc có ở trong ông vừa khách quan vừa chủ quan, vừa mới vừa cũ, vừa hoài cổ vừa cách tân, vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa cổ điển vừa tự nhiên và cả tự nhiên chủ nghĩa... Vậy là, phải chăng về cái gọi là “phức tạp”, qua con mắt người đương thời và hậu thế, thì xem ra Nguyễn Công Hoan cũng có mặt nổi danh không kém Nguyễn Tuân.
Nhưng rút lại thì cái lớn, cái duyên và có thể là cả cái may, của Nguyễn Công Hoan là ở đâu và lúc nào ông cũng được quan tâm. Có thể nói ông là nhà văn chưa bao giờ bị lãng quên. Ông là người thường xuyên được nhắc nhở. Quả là trong làng văn Việt Nam hiện đại, người có vị trí như Nguyễn Công Hoan không phải thật quá hiếm hoi. Nhưng có người danh đang như cồn, bỗng bị quên ngay. Có người rất thực tài nhưng chịu rất nhiều thăng trầm. Có người chịu một số phận âm thầm thật lâu rồi mới sáng sủa dần lên. Còn ông, nhà văn Nguyễn Công Hoan thì lúc nào cũng là người hiện diện cùng độc giả. Tham gia cách mạng, hoạt động ở nhiều cương vị, cho đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp, trở về hòa bình, ông là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đầu tiên từ khi có Hội, năm 1957, cương vị ấy ở ông gợi nhớ chức danh Tổng Thư ký Hội Văn nghệ của Nguyễn Tuân trước đó gần một thập niên trong Đại hội lần thứ nhất Hội Văn nghệ Việt Nam. Những chọn lựa của lịch sử và nghề nghiệp quả thật là tinh. Nghề và nghiệp, danh và thực, quả đã tìm được sự hội tụ ở những người viết có bản lĩnh, có chân tài. Qua hai hiện tượng trên, ở hai cương vị đại diện: một cho chủ nghĩa lãng mạn, một cho chủ nghĩa hiện thực, tôi thấy thật thú vị về sự gặp gỡ của hai phong cách lớn trong văn học Việt Nam hiện đại.
Nhà văn Chủ tịch Hội Nguyễn Công Hoan đã khẩn trương trở về với vốn sở trường của mình qua một loạt các tiểu thuyết dài dồn dập, hơn bất cứ ai, trong giao điểm những năm 1950 và 1960: Tranh tối tranh sáng (1956), Hỗn canh hỗn cư (196l). Đống rác cũ, tập I (1963) như là một sự tổng hợp và nâng cao, trong quy mô sử thi, theo cách nói quen thuộc của chúng ta những năm trước đây, để có thể đồng thời diễn đạt cho được cả hai mặt: mặt tối tăm bi thảm và mặt cách mạng của cuộc đời cũ. Mặt tối tăm, dường như hầu hết những gì ông đã viết trước năm 1945 có thể xem là một tập đại thành; còn mặt sáng sủa, mặt cách mạng của xã hội cũ thì có dễ đến bây giờ ông mới có chủ trương và có quyết tâm trong một nỗ lực nhận thức rất cao. Còn nhớ có lần ông nói: “Tôi vẽ người xấu nhạy hơn người tốt. Bởi vì tôi vốn bi quan nên nhìn mọi vật bằng con mắt hoài nghi, chỉ thấy phía xấu. Phía xấu dễ nhập tâm hơn phía tốt”.
Thiên chức nhà văn: nói cho toàn diện về hiện thực, hướng con người về phía cái tốt cái thiện, là câu chuyện ta từng bàn đi bàn lại, nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Ai cũng mong đạt cái đích cao và xa ấy. Nhưng đòi hỏi của cả một nền, cả một thời có khác với đòi hỏi riêng ở từng người. Và ở mỗi người, chuyện lực và tâm, và cả tạng nữa, có gắn bó hô ứng được với nhau không cũng còn phải tính. Một đời dài theo nghiệp văn, Nguyễn Công Hoan đã để lại cho ta một di sản lớn về nhiều mặt. Nhưng tôi lại nghĩ nếu Nguyễn Công Hoan biết chiều cái tạng riêng của mình và xã hội một thời dài cũng sẵn sàng chấp nhận, hoặc biết bao dung cái tạng ấy thì hẳn chắc sự nghiệp của ông còn lớn hơn, thậm chí lớn hơn rất nhiều. Ông cứ viết, tiếp tục với giọng trào lộng của riêng ông về cái cũ, cái ác trong xã hội cũ và cả về cái cũ, cái xấu trong xã hội mới nữa, cũng được chứ sao!
Chúng tôi là những người đọc hậu sinh trung thành và chuyên cần của nền văn chương quốc ngữ, chúng tôi càng quý trọng một trong những người đặt nền móng đầu tiên là Nguyễn Công Hoan. Cũng chính ông là người tiếp tục cần mẫn lần lượt vươn lên nhiều tầng giàn giáo của công trường văn xuôi quốc ngữ Việt Nam. Một công trường thật sự là đông đúc, nhưng những bậc thợ cả trong số đó như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam. Khái Hưng, Tô Hoài, Nguyên Hồng... thì quả chưa phải là nhiều. Còn chưa nhiều nên mới quý. Và càng quý khi tất cả họ, khi trong con số ít ỏi ấy ở họ, lại là những chân dung rất khác nhau, những gương mặt hoàn toàn không lẫn vào nhau. Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn luôn nhớ đến một tiếng cười riêng, tiếng cười Nguyễn Công Hoan, tiếng cười gây cười, lập tức làm ta bật cười, cười không cản được, cười to lên hoặc tủm tỉm, nhưng rồi sau đó là một vị chát có lúc như nghẹn đắng, có lúc làm cay nơi mắt ta. Ngẫm ra thật là “sợ” cho ngữ ngôn, cho văn tự, cho chữ nghĩa Nguyễn Công Hoan: Oẳn tà roằn, Ngựa người và người ngựa, Báo hiếu - trả nghĩa cha, Cô Kếu - gái tân thời, Thế là mợ nó đi Tây... Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn thấy sống động cả một thế giới người thật đông đúc và cũng thật là lúc nhúc trong văn ông: những phu phen, thuyền thợ, dân quê; những địa chủ, lý dịch, cường hào; những nghị viên, dân biểu, quan lại (huyện, phủ, bố, án, tuần...); những ký, lục, phán, tham; những con buôn, tư sản, chủ thầu; những giáo chức, nghệ nhân, viết văn, làm báo; những me tây, cô đầu, kép hát; những gái điếm, con sen, thằng nhỏ; những “ván cách”, lính cơ, thày quyền; những bồi, bếp, tây trắng, tây đen... Nghĩ đến Nguyễn Công Hoan tôi nghĩ đến cả một gia tài truyện ngắn thật đồ sộ mà ông để lại; và truyện ngắn - đó mới chính là sở trường của ông, trào phúng mới là giọng điệu của riêng ông. Một thứ trào phúng rõ ràng là bắt nguồn từ gia tài dân gian và cổ điển, nhưng vẫn là rất riêng của ông, không lẫn với ai, và không ai bắt chước được.
Thế kỷ XX rồi sẽ ghi nhận tên tuổi Nguyễn Công Hoan - tác giả của hàng trăm truyện ngắn sáng giá - là người hiếm hoi, cùng với Nam Cao, Thạch Lam có công đưa thể loại dễ mà khó này lên một tầng cao thật siêu việt. Là người có một tiếng cười riêng thật đặc sắc trong một bối cảnh vốn lúc nào cũng rất cần có tiếng cười. Một cuộc sống tối tăm đau khổ, thật đáng khóc như cuộc sống trước năm 1945, vẫn cần có tiếng cười; đã có một chuỗi cười dài trong Số đỏ, lại có tiếng cười của Nguyễn Công Hoan, cùng tiếng cười trong thơ của Tú Mỡ, Đồ Phồn. Cuộc sống mới sau năm 1945, dẫu có nhiều niềm vui lớn, đâu phải đã hết cần đến tiếng cười phê phán. Cái lý đó và sự thật đó, phải chăng ta nhận ra khá muộn, khiến cho một người biết cười, một người dám cười như Nguyễn Công Hoan thật đáng giá, thế nhưng lắm lúc ông đã phải nghiêm trang. Nguyễn Công Hoan, trong cả đời văn nói chung là một người may mắn, nhưng ông cũng có đôi lúc không may. Dẫu thế, trong di sản của ông, bên những thứ đã bị quên, có nhiều giá trị sẽ là bất tử.
Thứ Hai, 16 tháng 2, 2026
ĐÊM GIAO THỪA I BOLERO I LÊ HUỆ VÀ GIANG THIÊN TƯỜNG
ĐÊM GIAO THỪA I BOLERO I LÊ HUỆ VÀ GIANG THIÊN TƯỜNG
Bài thơ "Hai phận người trong đêm giao thừa"
Cảm tác theo truyện ngắn "Người ngựa, ngựa người" của Nguyễn Công HoanPhố dài hun hút đêm
Người phu xe cúi mặt
Vai còng giữa đêm thanh
Nhà ai đèn rực sáng
Tiếng cười vỡ mái tranh
Ngoài kia người kéo mộng
Bằng đôi chân mong manh
Con thơ chờ quà Tết
Vợ ngóng bếp tro tàn
Anh đi thêm chuyến nữa
Mua quà xuân cuối năm
(Đổi mồ hôi lấy ăn)
Bánh xe lăn chậm chạp
Lưng áo sờn gió sương
Mỗi bước như vay nợ
Của đất trời khắc thương
Ngã tư đêm tắt gió
Một giọng gọi khẽ khàng
Bóng người gầy trong tối
Áo mỏng run bẽ bàng
Son phai nơi khóe mắt
Tóc rối lẫn sương đêm
Tuổi xuân treo đầu gió
Rẻ như lời người thêm
"Bác chở tôi một đoạn"
Giọng mỏng tựa tơ mành
Phu xe không hỏi giá
Chỉ gật đầu đi nhanh
Xe lăn qua phố vắng
Đèn tắt dần sau lưng
Hai phận đời song bóng
Trôi giữa một đêm chung
Cô ngồi im phía sau
Tay ôm đời rách sờn
Anh kéo xe cắm cúi
Gánh đời đè lưng còng
Tiếng pháo ai vừa nổ
Vỡ một góc trời xa
Niềm vui như chuyện khác
Không phần cho hai ta
Qua thêm nhiều con phố
Khách đời vẫn biệt tăm
Đêm càng sâu càng rét
Lòng người càng xa xăm
Cô hỏi thăm phu kéo
"Nhà bác ở nơi đâu?"
Anh cười buồn không đáp
Nhà là giấc mơ sâu
Nơi bến sông gió tạt
Bánh xe dừng lặng im
Phố không còn hơi ấm
Chỉ còn đêm lặng chìm
Túi trống rỗng như đêm
Anh nghe lòng sụp xuống
Mọi hy vọng rơi mềm
Không lời nào trách móc
Không một tiếng oán than
Hai phận cùng tay trắng
Đứng lặng giữa thời gian
Người kéo xe như ngựa
Người bán phận như hàng
Kiếp người trôi sát đất
Giữa chợ đời hoang mang
Xe quay đầu lỗi cũ
Cô bước lẫn sương mờ
Hai đường không hẹn trước
Nhưng chung một bến chờ
Đêm giao thừa vẫn trôi
Trên mâm cao cỗ đầy
Ngoài kia bao số phận
Bị quên như tro bay
Trời sáng màu tro nhạt
Giao thừa hóa ngày thường
Anh về căn xóm nhỏ
Tay trắng giữa đời sương
Con còn say giấc ngủ
Vợ quay mặt lặng thinh
Bếp lạnh hơn đêm cũ
Như lòng anh lặng thinh
Cô đi về cuối phố
Son trả lại đêm dài
Tuổi xuân treo đầu gió
Rách thêm từng sớm mai
Nếu ai nghe chuyện này
Xin đừng vội quay lưng
Ngoài kia còn bao kiếp
Kéo đời qua đêm chừng
Khi pháo hoa rực rỡ
Xin nhớ một đêm nghèo
Có người không đón Tết
Chỉ đón thêm lao đao
Thơ không xin giọt lệ
Chỉ xin một lần nhìn
Nhìn cho ra thân phận
Giữa phận người lặng thinh
Đêm giao thừa vẫn đến
Hai phận người chung sương
Không tiền, chỉ hơi ấm
Chia nhau một đoạn đường.
Bài thơ Hai phận người trong đêm giao thừa được nhạc sĩ Giang Thiên Tường phổ thành ca khúc ĐÊM GIAO THỪA. Mời các anh chị cùng thưởng thức.
Đêm giao thừa
Nhạc: Giang Thiên Tường
SLOW WALTZ
BOLERO
TANGO 2
Người ngựa, ngựa Người - Nguyễn Công Hoan. Phim thuyết minh tác phẩm văn học
Người ngựa, ngựa Người - Nguyễn Công Hoan.
Phim thuyết minh tác phẩm văn học
Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2026
Kể lại truyện ngắn "Cái Tết của những nhà đại văn hào" - Nguyễn Công Hoan | Đọc truyện cho bé
Đọc truyện cho bé:
1. Chuyến phiêu lưu vào thế giới văn chương | Truyện ngắn "Cái Tết của những nhà đại văn hào"
2. Kể lại truyện ngắn "Cái Tết của những nhà đại văn hào" - Nguyễn Công Hoan
Kể lại truyện ngắn
"Cái Tết của những nhà đại văn hào"
Trong căn phòng trọ tồi tàn, gió mùa đông bắc rít qua khe cửa, Lê và Vũ ngồi co ro trên chiếc chiếu rách. Đã là ngày hai mươi tám Tết, nhưng trong túi họ chẳng có lấy một hào. Lê thở dài, nhìn xấp bản thảo dày cộp đặt góc bàn, thứ tài sản duy nhất mà anh coi là báu vật. Anh tự nhủ rằng, bậc đại văn hào thì không nên bận tâm đến chuyện cơm áo.
Đúng lúc đó, Trần và Nguyễn bước vào, gương mặt cũng xám xịt vì đói và lạnh. Trần cầm một tờ báo cũ, cười chua chát:
- Các cậu xem, thiên hạ đang sắm sửa Tết rộn ràng quá, còn những kẻ "bất tử" như chúng ta, dường như lại bị cái Tết bỏ quên rồi.
Nguyễn chỉ gật đầu, bụng anh đánh lô tô một hồi thay cho lời đáp.
Lê đứng dậy, đi đi lại lại trong không gian chật hẹp. Anh bắt đầu diễn thuyết về sự thanh cao của nghiệp cầm bút.
- Vũ này, cậu đừng buồn. Chúng ta nghèo tiền bạc nhưng giàu chữ nghĩa. Mai sau, khi hậu thế nhắc đến chúng ta như những vĩ nhân, ai còn nhớ đến cái bụng đói ngày hôm nay?
Vũ ngước lên, đôi mắt lờ đờ vì thiếu ngủ.
Nguyễn và Vũ nhìn nhau, rồi lại nhìn cái nồi không trên bếp lò nguội ngắt. Nguyễn lên tiếng phá tan bầu không khí viển vông:
- Thôi ông ạ, cái 'bất tử' ấy để sau đi. Bây giờ làm sao để có cái gì bỏ vào mồm cho qua ba ngày Tết đây?
Vũ gật đầu lia lịa, ý tưởng về một bữa cơm có thịt bắt đầu xâm chiếm tâm trí anh.
Trần nảy ra một sáng kiến khi nhớ đến một người bạn cũ. Anh quay sang hỏi Lê:
- Này, ông Nguyễn Công Hoan dạo này phất lắm phải không? Nghe đâu ông ấy viết chuyện ngắn bán chạy như tôm tươi, tiền nhuận bút tiêu không hết.
Lê gật đầu, đôi mắt bỗng sáng rực lên một tia hy vọng giữa đêm đông.
Cả bốn người bắt đầu bàn tán xôn xao về "đại gia" Nguyễn Công Hoan. Vũ hào hứng vẽ ra kịch bản:
- Chúng ta cứ đến thẳng nhà ông ấy. Đồng nghiệp cả, chẳng lẽ ông ấy lại nỡ để chúng ta chết đói? Chắc chắn nhà ông ấy phải có giò chả, bánh trưng, có khi còn có cả rượu ngon nữa!
Trần gật đầu tán thưởng kế hoạch ăn chực đầy nghệ thuật này.
Sáng hôm sau, dưới cơn mưa phùn lạnh thấu xương của Hà Nội, Nguyễn và Lê dẫn đầu "đoàn quân" đi tìm nhà Hoan. Họ đi bộ qua những con phố vắng, chân run lẩy bẩy nhưng lòng đầy quyết tâm. Nguyễn tự trấn an:
- Cứ nghĩ đến đĩa thịt gà nhà ông Hoan là tôi lại thấy ấm cả người.
Lê thì chỉnh lại cái cổ áo sờn, cố giữ vẻ sĩ diện cuối cùng.
Cuối cùng, họ cũng đứng trước cửa nhà Nguyễn Công Hoan. Vũ và Nguyễn hồi hộp nhìn cánh cửa gỗ. Vũ thì thầm:
- Này, nhớ nhé, chúng ta đến để 'đàm đạo văn chương', còn chuyện ăn uống chỉ là phụ thôi. Phải giữ phong thái của những nhà đại văn hào.
Nguyễn gật đầu, nhưng tiếng bụng đói của anh lại một lần nữa phản bội tinh thần cao thượng đó.
Họ gõ cửa và Nguyễn Công Hoan xuất hiện. Nhưng thay vì hình ảnh một nhà văn phong lưu, Hoan hiện ra với vẻ ngoài phờ phạc, tóc tai bù xù. Lê ngạc nhiên hỏi:
- Ông Hoan đấy à? Sao trông ông... lạ thế này?
Hoan cố nặn ra một nụ cười gượng gạo, mời các bạn vào nhà nhưng ánh mắt lại lấm lét nhìn ra cổng.
Vào trong nhà, Trần và Hoan ngồi đối diện nhau. Thay vì mùi thơm của giò chả, căn phòng chỉ có mùi giấy cũ và sự im lặng đáng sợ. Trần nhìn quanh, không thấy một dấu hiệu nào của Tết. Trên bàn, ngoài mấy xấp bản thảo bị xé dở, chẳng có lấy một hạt mứt hay miếng bánh nào để đãi khách.
Hoan thở dài, bắt đầu kể lể với Vũ:
- Các ông đến thật không đúng lúc, tôi đang phải trốn nợ đây! Thiên hạ cứ tưởng tôi giàu, nhưng nhuận bút chưa về mà chủ nợ đã đứng đầy ngõ.
Vũ nghe mà rụng rời chân tay, giấc mơ về đĩa thịt gà bỗng chốc tan thành mây khói theo lời kể của Hoan.
Bỗng nhiên, có tiếng đập cửa rầm rầm và tiếng quát tháo từ bên ngoài. Hoan giật bắn mình, vội vàng ra hiệu cho Nguyễn giữ im lặng.
- Chủ nợ đấy! Các ông bảo tôi không có nhà nhé!
Hoan nói khẽ rồi chui tọt xuống gầm giường, để lại Nguyễn đứng ngơ ngác giữa phòng với vẻ mặt dở khóc dở cười.
Lê và Trần nhìn nhau, không biết nên khóc hay nên cười trước cảnh tượng bi hài này. Lê lẩm bẩm:
- Hóa ra 'đại văn hào' nào cũng chung một số phận.
Trần thì cười nhạt, nhìn ra cửa sổ thấy những người bán hàng Tết đang thu dọn gian hàng cuối cùng. Cái đói giờ đây dường như đã bị sự trớ trêu của cuộc đời lấn át.
Khi tiếng đập cửa ngớt dần, Hoan chui ra, phủi bụi trên áo và nhìn Lê với ánh mắt cảm thông.
- Thôi, không có thịt thì ta dùng trà nhạt vậy. Chữ nghĩa chúng ta đầy bụng, sợ gì cái đói hả các ông?
Hoan rót nước mời Lê, chén trà loãng đến mức nhìn thấy cả đáy, nhưng họ vẫn nâng chén như đang dự một bữa tiệc linh đình.
Đêm giao thừa, Vũ và Nguyễn cùng các bạn ngồi lại bên nhau trong căn nhà trống không của Hoan. Tiếng pháo nổ rộn rã ngoài phố báo hiệu năm mới đã đến. Vũ cười vang:
- Chúng ta là những nhà văn bất tử, mà đã bất tử thì cần gì ăn Tết, phải không?
Những tiếng cười bi hài vang lên, xua tan cái lạnh, khẳng định một tinh thần văn chương kiên cường giữa cuộc đời đầy rẫy những nghịch cảnh.
Chuyến Phiêu Lưu Vào Thế Giới Văn Chương | Truyện ngắn Cái Tết của những nhà đại văn hào
Đọc truyện cho bé:
1. Chuyến phiêu lưu vào thế giới văn chương | Truyện ngắn "Cái Tết của những nhà đại văn hào"
2. Kể lại truyện ngắn "Cái Tết của những nhà đại văn hào" - Nguyễn Công Hoan
Chuyến Phiêu Lưu Vào Thế Giới Văn Chương |
Truyện ngắn Cái Tết của những nhà đại văn hào
Truyện ngắn 'Cái Tết của những nhà đại văn hào' được Nguyễn Công Hoan viết vào giai đoạn nào?
Trong căn phòng khách ấm cúng vào một buổi tối giáp Tết, cậu bé Minh đang say xưa lật giở cuốn sách cũ của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Cậu dừng lại ở tác phẩm "Cái Tết của những nhà đại văn hào" và tò mò nhìn sang bố, Minh hỏi:
- Bố ơi, tại sao các nhà văn trong chuyện lại ăn Tết lạ thế này ạ?
Bố mỉm cười, đặt tay lên vai Minh và bắt đầu kể về bối cảnh năm 1940 khi đất nước còn nhiều khó khăn trước Cách mạng Tháng Tám.
Bố giải thích rằng vào năm 1940, cuộc sống của những người cầm bút rất thanh bạch. Họ có thể thiếu thốn về vật chất, nhưng tâm hồn lúc nào cũng phong phú và tràn đầy tinh thần lạc quan.
Minh vừa nghe vừa lim dim đôi mắt, cậu cố tưởng tượng ra hình ảnh những con phố Hà Nội xưa cũ với những hiệu sách nhỏ và những tà áo dài bảng lảng trong xương sớm.
Bất thình lình, một luồng sáng kỳ ảo phát ra từ những trang sách. Minh cảm thấy cơ thể mình nhẹ bẫng như một sợi lông vũ. Cậu bị hút vào một vòng xoáy của thời gian, băng qua những đám mây màu mực tím và những dòng chữ uốn lượn như những con rồng nhỏ.
Khi mở mắt ra, Minh thấy mình đang đứng giữa một con phố lạ lẫm nhưng vô cùng thân thuộc qua lời kể của bố.
Hà Nội năm 1940 hiện ra trước mắt Minh với những ngôi nhà hình ống sơn vàng, những bức tường rêu phong và tiếng chuông xe đạp lanh canh. Không khí xe lạnh của ngày Tết phảng phất mùi khói pháo và hương hoa đào.
Minh ngơ ngác nhìn xung quanh, thấy một người đàn ông mặc áo dài đen, tay ôm một sấp bản thảo đang đi bộ trên vỉa hè lát gạch.
Minh chạy theo và gọi lớn:
- Bác ơi, cho cháu hỏi đây có phải là nơi các nhà văn sinh sống không ạ?
Người đàn ông dừng lại, đó chính là Ông Bút, một nhà văn có gương mặt phúc hậu và đôi mắt sáng. Ông mỉm cười hiền từ, đưa tay ra đón Minh:
- Chào cậu bé từ tương lai! Cháu đến thật đúng lúc, chúng ta đang chuẩn bị đón Tết đây.
Ông Bút dẫn Minh đi qua những con ngõ nhỏ lắt léo. Ông kể cho cậu nghe về việc các nhà văn dù nghèo, đôi khi phải cầm cố cả bộ quần áo đẹp nhất để mua mực in, nhưng họ chưa bao giờ ngừng viết. Họ viết bằng cả trái tim để thắp lên hy vọng cho một ngày mai tươi sáng hơn.
Minh chăm chú lắng nghe, trong lòng trào dâng niềm ngưỡng mộ khôn xiết.
Họ dừng lại trước một căn gác trọ nhỏ hẹp. Bên trong, một người bạn của Ông Bút là Ông Văn đang cặm cụi bên bàn viết dưới ánh đèn dầu leo lét. Dù căn phòng đơn sơ, chỉ có một chiếc chõng che và chồng sách cao ngất, nhưng nụ cười của họ lại rạng rỡ lạ thường.
Ông Văn ngẩng lên, chào đón người bạn già và vị khách nhỏ tuổi.
Ông Văn lấy ra một chiếc bánh chưng nhỏ, món quà Tết hiếm hoi mà ông vừa nhận được. Ông cắt bánh chia cho mọi người, kể cả Minh. Miếng bánh không chỉ có vị của gạo nếp, đậu xanh mà còn chứa đựng cả tình đồng nghiệp gắn bó.
Họ cùng nhau đọc những câu thơ mới sáng tác, tiếng cười vang vọng khắp gian phòng nhỏ, xua tan cái lạnh lẽo của đêm đông.
"Cháu thấy đấy, Minh." Ông Bút nói khi tiễn cậu ra cửa.
- Văn chương không chỉ là những con chữ, mà là tinh thần lạc quan và lòng yêu đời ngay cả trong nghịch cảnh. Hãy luôn giữ cho tâm hồn mình trong sáng nhé.
Ông trao cho Minh một chiếc bút lông nhỏ làm kỷ niệm. Khi Minh nắm lấy chiếc bút, luồng sáng kỳ lạ lại hiện ra một lần nữa.
Minh choàng tỉnh giấc trên ghế sofa, cuốn sách của nhà văn Nguyễn Công Hoan vẫn còn mở trên đùi. Ngoài cửa sổ, pháo hoa bắt đầu rộn ràng báo hiệu năm mới đã đến.
Bố bước vào, mỉm cười hỏi:
- Con ngủ mơ thấy gì mà cười tươi thế?
Minh nắm chặt tay lại, cảm giác như vẫn còn hơi ấm của chiếc bút lông, cậu đáp:
- Con vừa được gặp những nhà văn vĩ đại nhất, bố ạ!














































