Ads 468x60px

.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan




Nguyễn Công Hoan là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam.

Ông sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, Hưng Yên,
mất ngày 6 tháng 6 năm 1977 tại Hà Nội.


Các bạn có thể đọc tại đây (lấy trên Internet)
- Các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan,
- Các bài viết về Nguyễn Công Hoan.

Mời xem: Bách Khoa Toàn Thư mở - Wikipedia
♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣


Video: Nhà văn Nguyễn Công Hoan (Thực hiện: Trí Dũng, Ngọc Oanh, Huy Hoàng, Thúy Lành, Thùy Trang, Tuấn Anh - Trang thông tin điện tử Đài Phát thanh & Truyền hình Hưng Yên)

Featured Posts

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2026

Nhà văn Nguyễn Công Hoan (Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác, nhận định)


Nhà văn Nguyễn Công Hoan (Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác, nhận định)

Phạm Tiến Minh


Nhắc đến Nguyễn Công Hoan, người ta nhớ ngay đến một bậc thầy của truyện ngắn hiện thực phê phán, với những tác phẩm châm biếm sâu cay, để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng bạn đọc. Bài viết dưới đây khái quát Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác, nhận định về Nhà văn Nguyễn Công Hoan.





1. Tiểu sử
Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903 tại Hưng Yên, mất ngày 6 tháng 6 năm 1977 tại Hà Nội. Ông quê gốc ở làng Xuân Cầu, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên).

– Nguyễn Công Hoan sinh ra trong một gia đình Nho học thất thế. Chính vì thế khi còn bé Nguyễn Công Hoan đã được tiếp thu rất nhiều những câu thơ,
câu văn mang tính chất châm biếm các tầng lớp, quan lại cường hào bắt dân nghèo. Và sau này khi đi theo sự nghiệp văn chương, Nguyễn Công Hoan chuyên viết về thể loại châm biếm sâu cay.

– Về học vấn, năm 1926, Nguyễn Công Hoan tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, mở đầu cho con đường dạy học song song với sự nghiệp cầm bút, để sau này trở thành một cây bút hiện thực phê phán nổi bật trong văn học Việt Nam hiện đại.


2. Sự nghiệp
Sau khi tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm năm 1926, Nguyễn Công Hoan bắt đầu sự nghiệp dạy học, từng giảng dạy ở nhiều nơi như Hải Dương, Nam Định, Lào Cai, cho đến khi Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ.

– Sau cách mạng, ông giữ các chức vụ quan trọng như Giám đốc kiểm duyệt báo chí Bắc Bộ, Giám đốc Sở Tuyên truyền Bắc Bộ.
Sau đó, Nguyễn Công Hoan gia nhập Vệ quốc quân, làm biên tập viên báo Vệ quốc quân, trở thành Giám đốc Trường Văn hóa quân nhân, đồng thời là chủ nhiệm kiêm biên tập tờ Quân nhân học báo.
– Từ năm 1948, ông chính thức trở thành đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Đến năm 1951, Nguyễn Công Hoan tham gia Trại tu thư ngành giáo dục, biên soạn sách giáo khoa và bộ Sử Việt Nam hiện đại từ Pháp thuộc đến 1950 cho lớp 7 hệ chín năm.

– Sau năm 1954, ông giữ trọng trách Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa đầu tiên (1957–1958), và tiếp tục làm Ủy viên Ban Thường vụ trong Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa sau. Bên cạnh đó, ông còn là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, góp phần tích cực vào việc xây dựng và phát triển nền văn nghệ cách mạng.


3. Phong cách sáng tác
Khác với Nam Cao, người nhìn cuộc sống con người như một chuỗi ngày mòn mỏi, tha hóa, hay Vũ Trọng Phụng, người thấy đời chỉ toàn vô nghĩa, bỉ ổi, Nguyễn Công Hoan lại nhìn xã hội như một sân khấu hài kịch. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, nơi mọi giá trị bị đảo lộn, tất cả trở nên lố lăng, kệch cỡm, ông đã khéo léo vạch trần sự giả dối, lừa bịp, tạo nên những tình huống cười ra nước mắt, vừa hài hước vừa xót xa.

– Chính con gái ông, bà Lê Minh, đã từng viết trong hồi ký rằng:
“Khi nhiều nhà văn đương thời vẫn đắm chìm trong chủ nghĩa lãng mạn, với những tác phẩm mang đậm chất huyền ảo như Hồn bướm mơ tiên, thì cha tôi đã kiên định chọn cho mình một con đường riêng biệt.”
Con đường đó là trào phúng, là lấy tiếng cười để phanh phui những bất công, vạch mặt bọn cường hào, quan lại tham lam, địa chủ tàn bạo và tư sản vô lương tâm.

– Không chỉ trong nước, phong cách độc đáo của ông còn được quốc tế ghi nhận.
GS.TS văn học người Nga Nikulin đã tôn vinh Nguyễn Công Hoan là “bậc thầy của truyện ngắn châm biếm.” Với hàng trăm truyện ngắn trào lộng, ông đã mở ra những bức tranh sinh động về xã hội thực dân nửa phong kiến, phơi bày những góc tối của đời sống đương thời.

– Nguyễn Công Hoan đặc biệt thành công trong việc dựng lên một thế giới nhân vật đa dạng, từ phu phen, dân quê, thợ thuyền đến lý dịch, địa chủ, quan lại, nghị viện, dân biểu, tư sản, giáo chức, mỗi nhân vật đều có cá tính riêng, nổi bật trên phông cảnh xã hội mục nát. Hành động và lời nói của họ không chỉ mang lại tiếng cười thoải mái, hài hước, mà còn chất chứa nụ cười châm biếm, mỉa mai, thậm chí là tiếng cười cay đắng, phẫn nộ, phản ánh sâu sắc những bất công và nghịch lý của thời cuộc.

– Như vậy, tiếng cười trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan không chỉ để mua vui mà chính là một vũ khí nghệ thuật sắc bén, vừa tố cáo, vừa lay động lương tri, thể hiện tấm lòng nhân ái, niềm cảm thương sâu sắc của ông đối với số phận những con người nhỏ bé trong xã hội.


4. Giải thưởng và vinh danh
Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật.

- Năm 1936, truyện dài “Tắt lửa lòng” của nhà văn Nguyễn Công Hoan đã được soạn giả nổi tiếng Trần Hữu Trang chuyển thể thành vở cải lương nổi tiếng Lan và Điệp.

- Nhà văn Nguyễn Công Hoan là một trong số nhân vật Việt Nam có mặt trong cuốn Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô từ thập niên 1960.
- Tên tuổi của ông sau này đã được đặt tên cho những con đường như con đường Nguyễn Công Hoan tại hà Nội, đoạn giữa hai phố Ngọc Khánh và Nguyễn Chí Thanh.

Tại thành phố Đồng Hới, Quảng Bình có con đường mang tên Nguyễn Công Hoan ở phường Bắc Lý.

Tên ông được đặt tên trường Trường THPT Nguyễn Công Hoan tại Hưng Yên.


5. Tác phẩm tiêu biểu


6. Nhận định, đánh giá
Lê Thị Đức Hạnh:
“Nguyễn Công Hoan cũng đã sống ở nông thôn trong nhiều năm, ông chịu khó quan sát nên có nhiều hiểu biết về nông thôn. Ông sáng tác nhiều truyện về đề tài này.”
– Trương Chính:
“Nguyễn Công Hoan là một anh pha trò và một anh pha trò đậm. Anh pha trò ấy đã hiểu nghề, đã thành thạo lắm.”
– Nhà phê bình văn học đầu ngành như Nguyễn Huệ Chi và Phong Lê:
“Cái cười của Nguyễn Công Hoan là một phương tiện đả kích… có sức công phá thật mạnh mẽ. Đôi lúc ta còn bất chợt thấy trong cái cười hài hước của ông một chút ngậm ngùi, một tình thương có thể nói là kín đáo.”
– Nguyễn Hoành Khung:
“Truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan là hiện tượng chưa có tới hai lần trong văn học Việt Nam”.
– Phạm Quỳnh:
“Truyện viết hay như Tây”.
– Từ điển Bách khoa Việt Nam:
“Có thể nói Nguyễn Công Hoan là ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam…
Nguyễn Công Hoan đến với chủ nghĩa hiện thực bằng văn học trào phúng.
Từ những truyện đầu tiên, ông đã tìm đề tài trong những người nghèo khổ, cùng khốn của xã hội.”
– Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam:
“Nói đến Nguyễn Công Hoan trước hết là nói đến một bậc thầy truyện ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại.
Thế giới truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đa dạng, phong phú như một “bách khoa thư”, một “tấn trò đời” mà đặc trưng là xã hội phong kiến của thực dân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20.
Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có nhiều nét gần với truyện cười dân gian, tiếp thu được truyền thống lạc quan của nhân dân muốn dùng tiếng cười như một “vũ khí của người mạnh” để tống tiễn cái lạc hậu, cái xấu xa vào dĩ vãng…”.





Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

Một đời văn lực lưỡng NGUYỄN CÔNG HOAN (GS. Phong Lê)


Một đời văn lực lưỡng
NGUYỄN CÔNG HOAN

Trong "85 chân dung văn hóa - văn chương Việt (tập 1)"
GS. Phong Lê


Tính từ những năm 1920 cho đến nay, Nguyễn Công Hoan vẫn cứ là nhà văn thuộc trong số không nhiều người thật sự được quen biết và được nhắc nhở trong dư luận của nhiều thế hệ bạn đọc. Ông bắt đầu được chú ý từ những truyện trong tập Truyện thế gian của Tản Đà thư cục, năm 1922; rồi Kiếp hồng nhan, năm 1923; để trở nên nổi tiếng với những chuyện đời trong chuyên mục “Xã hội ba đào ký”, thời An Nam tạp chí cũng của Tản Đà đầu những năm 1930. Và đến hôm nay, sau bao nhiêu biến thiên xã hội, ông vẫn tiếp tục là nhà văn thân quen của nhiều thế hệ bạn đọc, trong số đó không ít người đã từng qua một tuổi trẻ hoặc tuổi học đường sớm biết đến Nguyễn Công Hoan, qua Bước đường cùng và các truyện ngắn được chọn lọc trong chương trình văn học ở nhà trường.

Cố nhiên ở mọi thời kỳ, sự quan tâm của bạn đọc đối với Nguyễn Công Hoan là có khác nhau. Nguyễn Công Hoan xuất hiện với một bút pháp lạ, một cách nhìn lạ, một giọng điệu lạ, hài và bi, cười cợt và nghiêm trang, đùa mà tỉnh táo, đã được báo hiệu ngay từ Kiếp hồng nhan (1923). Rồi Nguyễn Công Hoan với truyện ngắn và truyện dài, dồn dập và xen kẽ, chuyển dịch qua bao xu hướng nghệ thuật trong những năm 1930. Nhà văn muốn tỏ ra trung thành với chủ nghĩa hiện thực trào lộng trong truyện ngắn lại rất nghiêm trang, mực thước trong Tấm lòng vàng, Cô làm công... Chủ nghĩa lãng mạn tưởng như xa lạ với Nguyễn Công Hoan, khi nhà văn cố tình trở về với các khuôn mẫu cổ điển, để chống lại Đoạn tuyệt của Nhất Linh, trong Cô giáo Minh, lại là người đẫm ướt trữ tình và nước mắt lãng mạn trong Tắt lửa lòngLá ngọc cành vàng. Thanh đạm u trầm trong một khí hậu hoài cổ nhằm dẫn dắt con người vào một thời xưa, trong lúc Bước đường cùng lại rất quyết liệt phanh phui, lật tẩy hiện tại - sách bị cấm mà thành danh to, năm ngàn bản hết veo và được in đi in lại nhiều lần... Nguyễn Công Hoan, tóm lại, đó là người viết dường như muốn có một mục tiêu để trung thành, để chung thủy, nhưng lại nhiều đổi thay, chuyển dịch và không ít giọng điệu. Có phải vậy chăng cùng lúc có ở trong ông vừa khách quan vừa chủ quan, vừa mới vừa cũ, vừa hoài cổ vừa cách tân, vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa cổ điển vừa tự nhiên và cả tự nhiên chủ nghĩa... Vậy là, phải chăng về cái gọi là “phức tạp”, qua con mắt người đương thời và hậu thế, thì xem ra Nguyễn Công Hoan cũng có mặt nổi danh không kém Nguyễn Tuân.

Nhưng rút lại thì cái lớn, cái duyên và có thể là cả cái may, của Nguyễn Công Hoan là ở đâu và lúc nào ông cũng được quan tâm. Có thể nói ông là nhà văn chưa bao giờ bị lãng quên. Ông là người thường xuyên được nhắc nhở. Quả là trong làng văn Việt Nam hiện đại, người có vị trí như Nguyễn Công Hoan không phải thật quá hiếm hoi. Nhưng có người danh đang như cồn, bỗng bị quên ngay. Có người rất thực tài nhưng chịu rất nhiều thăng trầm. Có người chịu một số phận âm thầm thật lâu rồi mới sáng sủa dần lên. Còn ông, nhà văn Nguyễn Công Hoan thì lúc nào cũng là người hiện diện cùng độc giả. Tham gia cách mạng, hoạt động ở nhiều cương vị, cho đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp, trở về hòa bình, ông là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đầu tiên từ khi có Hội, năm 1957, cương vị ấy ở ông gợi nhớ chức danh Tổng Thư ký Hội Văn nghệ của Nguyễn Tuân trước đó gần một thập niên trong Đại hội lần thứ nhất Hội Văn nghệ Việt Nam. Những chọn lựa của lịch sử và nghề nghiệp quả thật là tinh. Nghề và nghiệp, danh và thực, quả đã tìm được sự hội tụ ở những người viết có bản lĩnh, có chân tài. Qua hai hiện tượng trên, ở hai cương vị đại diện: một cho chủ nghĩa lãng mạn, một cho chủ nghĩa hiện thực, tôi thấy thật thú vị về sự gặp gỡ của hai phong cách lớn trong văn học Việt Nam hiện đại.

Nhà văn Chủ tịch Hội Nguyễn Công Hoan đã khẩn trương trở về với vốn sở trường của mình qua một loạt các tiểu thuyết dài dồn dập, hơn bất cứ ai, trong giao điểm những năm 1950 và 1960: Tranh tối tranh sáng (1956), Hỗn canh hỗn cư (196l). Đống rác cũ, tập I (1963) như là một sự tổng hợp và nâng cao, trong quy mô sử thi, theo cách nói quen thuộc của chúng ta những năm trước đây, để có thể đồng thời diễn đạt cho được cả hai mặt: mặt tối tăm bi thảm và mặt cách mạng của cuộc đời cũ. Mặt tối tăm, dường như hầu hết những gì ông đã viết trước năm 1945 có thể xem là một tập đại thành; còn mặt sáng sủa, mặt cách mạng của xã hội cũ thì có dễ đến bây giờ ông mới có chủ trương và có quyết tâm trong một nỗ lực nhận thức rất cao. Còn nhớ có lần ông nói: “Tôi vẽ người xấu nhạy hơn người tốt. Bởi vì tôi vốn bi quan nên nhìn mọi vật bằng con mắt hoài nghi, chỉ thấy phía xấu. Phía xấu dễ nhập tâm hơn phía tốt”.

Vậy là có phải đến bây giờ mới là lúc ông thấy cần và ông có điều kiện thể hiện mình trên cả hai thái độ: phê phán và khẳng định. Nhưng gắn cho được cả hai mặt đó vào một chỉnh thể, sao cho nó hữu cơ, cho nó nhuần nhị, có nhân và quả, hoặc vừa là nhân vừa là quả, có quan hệ và tác động theo cả hai chiều, thật là cả một sự nặng nhọc. Ấy là chưa nói những đòi hỏi theo “phép biện chứng” ở người đọc, theo lý luận về hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi nhìn cuộc sống trong quá trình phát triển cách mạng và khẳng định mặt đang lên của hiện thực, phải đâu dễ đáp ứng được, nếu nó không tìm được lối thuận trong tạng của nhà văn.

Thiên chức nhà văn: nói cho toàn diện về hiện thực, hướng con người về phía cái tốt cái thiện, là câu chuyện ta từng bàn đi bàn lại, nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Ai cũng mong đạt cái đích cao và xa ấy. Nhưng đòi hỏi của cả một nền, cả một thời có khác với đòi hỏi riêng ở từng người. Và ở mỗi người, chuyện lực và tâm, và cả tạng nữa, có gắn bó hô ứng được với nhau không cũng còn phải tính. Một đời dài theo nghiệp văn, Nguyễn Công Hoan đã để lại cho ta một di sản lớn về nhiều mặt. Nhưng tôi lại nghĩ nếu Nguyễn Công Hoan biết chiều cái tạng riêng của mình và xã hội một thời dài cũng sẵn sàng chấp nhận, hoặc biết bao dung cái tạng ấy thì hẳn chắc sự nghiệp của ông còn lớn hơn, thậm chí lớn hơn rất nhiều. Ông cứ viết, tiếp tục với giọng trào lộng của riêng ông về cái cũ, cái ác trong xã hội cũ và cả về cái cũ, cái xấu trong xã hội mới nữa, cũng được chứ sao!

Chúng tôi là những người đọc hậu sinh trung thành và chuyên cần của nền văn chương quốc ngữ, chúng tôi càng quý trọng một trong những người đặt nền móng đầu tiên là Nguyễn Công Hoan. Cũng chính ông là người tiếp tục cần mẫn lần lượt vươn lên nhiều tầng giàn giáo của công trường văn xuôi quốc ngữ Việt Nam. Một công trường thật sự là đông đúc, nhưng những bậc thợ cả trong số đó như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam. Khái Hưng, Tô Hoài, Nguyên Hồng... thì quả chưa phải là nhiều. Còn chưa nhiều nên mới quý. Và càng quý khi tất cả họ, khi trong con số ít ỏi ấy ở họ, lại là những chân dung rất khác nhau, những gương mặt hoàn toàn không lẫn vào nhau. Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn luôn nhớ đến một tiếng cười riêng, tiếng cười Nguyễn Công Hoan, tiếng cười gây cười, lập tức làm ta bật cười, cười không cản được, cười to lên hoặc tủm tỉm, nhưng rồi sau đó là một vị chát có lúc như nghẹn đắng, có lúc làm cay nơi mắt ta. Ngẫm ra thật là “sợ” cho ngữ ngôn, cho văn tự, cho chữ nghĩa Nguyễn Công Hoan: Oẳn tà roằn, Ngựa người và người ngựa, Báo hiếu - trả nghĩa cha, Cô Kếu - gái tân thời, Thế là mợ nó đi Tây... Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn thấy sống động cả một thế giới người thật đông đúc và cũng thật là lúc nhúc trong văn ông: những phu phen, thuyền thợ, dân quê; những địa chủ, lý dịch, cường hào; những nghị viên, dân biểu, quan lại (huyện, phủ, bố, án, tuần...); những ký, lục, phán, tham; những con buôn, tư sản, chủ thầu; những giáo chức, nghệ nhân, viết văn, làm báo; những me tây, cô đầu, kép hát; những gái điếm, con sen, thằng nhỏ; những “ván cách”, lính cơ, thày quyền; những bồi, bếp, tây trắng, tây đen... Nghĩ đến Nguyễn Công Hoan tôi nghĩ đến cả một gia tài truyện ngắn thật đồ sộ mà ông để lại; và truyện ngắn - đó mới chính là sở trường của ông, trào phúng mới là giọng điệu của riêng ông. Một thứ trào phúng rõ ràng là bắt nguồn từ gia tài dân gian và cổ điển, nhưng vẫn là rất riêng của ông, không lẫn với ai, và không ai bắt chước được.

Thế kỷ XX rồi sẽ ghi nhận tên tuổi Nguyễn Công Hoan - tác giả của hàng trăm truyện ngắn sáng giá - là người hiếm hoi, cùng với Nam Cao, Thạch Lam có công đưa thể loại dễ mà khó này lên một tầng cao thật siêu việt. Là người có một tiếng cười riêng thật đặc sắc trong một bối cảnh vốn lúc nào cũng rất cần có tiếng cười. Một cuộc sống tối tăm đau khổ, thật đáng khóc như cuộc sống trước năm 1945, vẫn cần có tiếng cười; đã có một chuỗi cười dài trong Số đỏ, lại có tiếng cười của Nguyễn Công Hoan, cùng tiếng cười trong thơ của Tú Mỡ, Đồ Phồn. Cuộc sống mới sau năm 1945, dẫu có nhiều niềm vui lớn, đâu phải đã hết cần đến tiếng cười phê phán. Cái lý đó và sự thật đó, phải chăng ta nhận ra khá muộn, khiến cho một người biết cười, một người dám cười như Nguyễn Công Hoan thật đáng giá, thế nhưng lắm lúc ông đã phải nghiêm trang. Nguyễn Công Hoan, trong cả đời văn nói chung là một người may mắn, nhưng ông cũng có đôi lúc không may. Dẫu thế, trong di sản của ông, bên những thứ đã bị quên, có nhiều giá trị sẽ là bất tử.

Thái Hà, tháng 2/1993






Thứ Hai, 16 tháng 2, 2026

ĐÊM GIAO THỪA I BOLERO I LÊ HUỆ VÀ GIANG THIÊN TƯỜNG


ĐÊM GIAO THỪA I BOLERO I LÊ HUỆ VÀ GIANG THIÊN TƯỜNG

Thơ phổ nhạc

Bài thơ "Hai phận người trong đêm giao thừa"

Cảm tác theo truyện ngắn "Người ngựa, ngựa người" của Nguyễn Công Hoan
Tác giả Lê Huệ
Đêm giao thừa gió lạnh
Phố dài hun hút đêm
Người phu xe cúi mặt
Vai còng giữa đêm thanh

Nhà ai đèn rực sáng
Tiếng cười vỡ mái tranh
Ngoài kia người kéo mộng
Bằng đôi chân mong manh

Con thơ chờ quà Tết
Vợ ngóng bếp tro tàn
Anh đi thêm chuyến nữa
Mua quà xuân cuối năm
(Đổi mồ hôi lấy ăn)

Bánh xe lăn chậm chạp
Lưng áo sờn gió sương
Mỗi bước như vay nợ
Của đất trời khắc thương

Ngã tư đêm tắt gió
Một giọng gọi khẽ khàng
Bóng người gầy trong tối
Áo mỏng run bẽ bàng

Son phai nơi khóe mắt
Tóc rối lẫn sương đêm
Tuổi xuân treo đầu gió
Rẻ như lời người thêm

"Bác chở tôi một đoạn"
Giọng mỏng tựa tơ mành
Phu xe không hỏi giá
Chỉ gật đầu đi nhanh

Xe lăn qua phố vắng
Đèn tắt dần sau lưng
Hai phận đời song bóng
Trôi giữa một đêm chung

Cô ngồi im phía sau
Tay ôm đời rách sờn
Anh kéo xe cắm cúi
Gánh đời đè lưng còng

Tiếng pháo ai vừa nổ
Vỡ một góc trời xa
Niềm vui như chuyện khác
Không phần cho hai ta

Qua thêm nhiều con phố
Khách đời vẫn biệt tăm
Đêm càng sâu càng rét
Lòng người càng xa xăm

Cô hỏi thăm phu kéo
"Nhà bác ở nơi đâu?"
Anh cười buồn không đáp
Nhà là giấc mơ sâu

Nơi bến sông gió tạt
Bánh xe dừng lặng im
Phố không còn hơi ấm
Chỉ còn đêm lặng chìm

Cô cúi đầu rất nhẹ
Túi trống rỗng như đêm
Anh nghe lòng sụp xuống
Mọi hy vọng rơi mềm

Không lời nào trách móc
Không một tiếng oán than
Hai phận cùng tay trắng
Đứng lặng giữa thời gian

Người kéo xe như ngựa
Người bán phận như hàng
Kiếp người trôi sát đất
Giữa chợ đời hoang mang

Xe quay đầu lỗi cũ
Cô bước lẫn sương mờ
Hai đường không hẹn trước
Nhưng chung một bến chờ

Đêm giao thừa vẫn trôi
Trên mâm cao cỗ đầy
Ngoài kia bao số phận
Bị quên như tro bay

Trời sáng màu tro nhạt
Giao thừa hóa ngày thường
Anh về căn xóm nhỏ
Tay trắng giữa đời sương

Con còn say giấc ngủ
Vợ quay mặt lặng thinh
Bếp lạnh hơn đêm cũ
Như lòng anh lặng thinh

Cô đi về cuối phố
Son trả lại đêm dài
Tuổi xuân treo đầu gió
Rách thêm từng sớm mai

Nếu ai nghe chuyện này
Xin đừng vội quay lưng
Ngoài kia còn bao kiếp
Kéo đời qua đêm chừng

Khi pháo hoa rực rỡ
Xin nhớ một đêm nghèo
Có người không đón Tết
Chỉ đón thêm lao đao

Thơ không xin giọt lệ
Chỉ xin một lần nhìn
Nhìn cho ra thân phận
Giữa phận người lặng thinh

Đêm giao thừa vẫn đến
Hai phận người chung sương
Không tiền, chỉ hơi ấm
Chia nhau một đoạn đường.


Lê Huệ






Bài thơ Hai phận người trong đêm giao thừa được nhạc sĩ Giang Thiên Tường phổ thành ca khúc ĐÊM GIAO THỪA. Mời các anh chị cùng thưởng thức.

Đêm giao thừa

Thơ: Lê Huệ
Nhạc: Giang Thiên Tường


SLOW WALTZ


BOLERO


TANGO 2


Người ngựa, ngựa Người - Nguyễn Công Hoan. Phim thuyết minh tác phẩm văn học


Người ngựa, ngựa Người - Nguyễn Công Hoan.
Phim thuyết minh tác phẩm văn học

Doan Dung



Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2026

Kể lại truyện ngắn "Cái Tết của những nhà đại văn hào" - Nguyễn Công Hoan | Đọc truyện cho bé


Đọc truyện cho bé:
1. Chuyến phiêu lưu vào thế giới văn chương | Truyện ngắn "Cái Tết của những nhà đại văn hào"
2. Kể lại truyện ngắn "Cái Tết của những nhà đại văn hào" - Nguyễn Công Hoan

Kể lại truyện ngắn
"Cái Tết của những nhà đại văn hào"

Đọc truyện cho bé




Trong căn phòng trọ tồi tàn, gió mùa đông bắc rít qua khe cửa, Lê và Vũ ngồi co ro trên chiếc chiếu rách. Đã là ngày hai mươi tám Tết, nhưng trong túi họ chẳng có lấy một hào. Lê thở dài, nhìn xấp bản thảo dày cộp đặt góc bàn, thứ tài sản duy nhất mà anh coi là báu vật. Anh tự nhủ rằng, bậc đại văn hào thì không nên bận tâm đến chuyện cơm áo.

Đúng lúc đó, Trần và Nguyễn bước vào, gương mặt cũng xám xịt vì đói và lạnh. Trần cầm một tờ báo cũ, cười chua chát:

- Các cậu xem, thiên hạ đang sắm sửa Tết rộn ràng quá, còn những kẻ "bất tử" như chúng ta, dường như lại bị cái Tết bỏ quên rồi.

Nguyễn chỉ gật đầu, bụng anh đánh lô tô một hồi thay cho lời đáp.

Lê đứng dậy, đi đi lại lại trong không gian chật hẹp. Anh bắt đầu diễn thuyết về sự thanh cao của nghiệp cầm bút.

- Vũ này, cậu đừng buồn. Chúng ta nghèo tiền bạc nhưng giàu chữ nghĩa. Mai sau, khi hậu thế nhắc đến chúng ta như những vĩ nhân, ai còn nhớ đến cái bụng đói ngày hôm nay?

Vũ ngước lên, đôi mắt lờ đờ vì thiếu ngủ.

Nguyễn và Vũ nhìn nhau, rồi lại nhìn cái nồi không trên bếp lò nguội ngắt. Nguyễn lên tiếng phá tan bầu không khí viển vông:

- Thôi ông ạ, cái 'bất tử' ấy để sau đi. Bây giờ làm sao để có cái gì bỏ vào mồm cho qua ba ngày Tết đây?

Vũ gật đầu lia lịa, ý tưởng về một bữa cơm có thịt bắt đầu xâm chiếm tâm trí anh.

Trần nảy ra một sáng kiến khi nhớ đến một người bạn cũ. Anh quay sang hỏi Lê:

- Này, ông Nguyễn Công Hoan dạo này phất lắm phải không? Nghe đâu ông ấy viết chuyện ngắn bán chạy như tôm tươi, tiền nhuận bút tiêu không hết.

Lê gật đầu, đôi mắt bỗng sáng rực lên một tia hy vọng giữa đêm đông.

Cả bốn người bắt đầu bàn tán xôn xao về "đại gia" Nguyễn Công Hoan. Vũ hào hứng vẽ ra kịch bản:

- Chúng ta cứ đến thẳng nhà ông ấy. Đồng nghiệp cả, chẳng lẽ ông ấy lại nỡ để chúng ta chết đói? Chắc chắn nhà ông ấy phải có giò chả, bánh trưng, có khi còn có cả rượu ngon nữa!

Trần gật đầu tán thưởng kế hoạch ăn chực đầy nghệ thuật này.

Sáng hôm sau, dưới cơn mưa phùn lạnh thấu xương của Hà Nội, Nguyễn và Lê dẫn đầu "đoàn quân" đi tìm nhà Hoan. Họ đi bộ qua những con phố vắng, chân run lẩy bẩy nhưng lòng đầy quyết tâm. Nguyễn tự trấn an:

- Cứ nghĩ đến đĩa thịt gà nhà ông Hoan là tôi lại thấy ấm cả người.

Lê thì chỉnh lại cái cổ áo sờn, cố giữ vẻ sĩ diện cuối cùng.

Cuối cùng, họ cũng đứng trước cửa nhà Nguyễn Công Hoan. Vũ và Nguyễn hồi hộp nhìn cánh cửa gỗ. Vũ thì thầm:

- Này, nhớ nhé, chúng ta đến để 'đàm đạo văn chương', còn chuyện ăn uống chỉ là phụ thôi. Phải giữ phong thái của những nhà đại văn hào.

Nguyễn gật đầu, nhưng tiếng bụng đói của anh lại một lần nữa phản bội tinh thần cao thượng đó.

Họ gõ cửa và Nguyễn Công Hoan xuất hiện. Nhưng thay vì hình ảnh một nhà văn phong lưu, Hoan hiện ra với vẻ ngoài phờ phạc, tóc tai bù xù. Lê ngạc nhiên hỏi:

- Ông Hoan đấy à? Sao trông ông... lạ thế này?

Hoan cố nặn ra một nụ cười gượng gạo, mời các bạn vào nhà nhưng ánh mắt lại lấm lét nhìn ra cổng.

Vào trong nhà, Trần và Hoan ngồi đối diện nhau. Thay vì mùi thơm của giò chả, căn phòng chỉ có mùi giấy cũ và sự im lặng đáng sợ. Trần nhìn quanh, không thấy một dấu hiệu nào của Tết. Trên bàn, ngoài mấy xấp bản thảo bị xé dở, chẳng có lấy một hạt mứt hay miếng bánh nào để đãi khách.

Hoan thở dài, bắt đầu kể lể với Vũ:

- Các ông đến thật không đúng lúc, tôi đang phải trốn nợ đây! Thiên hạ cứ tưởng tôi giàu, nhưng nhuận bút chưa về mà chủ nợ đã đứng đầy ngõ.

Vũ nghe mà rụng rời chân tay, giấc mơ về đĩa thịt gà bỗng chốc tan thành mây khói theo lời kể của Hoan.

Bỗng nhiên, có tiếng đập cửa rầm rầm và tiếng quát tháo từ bên ngoài. Hoan giật bắn mình, vội vàng ra hiệu cho Nguyễn giữ im lặng.

- Chủ nợ đấy! Các ông bảo tôi không có nhà nhé!

Hoan nói khẽ rồi chui tọt xuống gầm giường, để lại Nguyễn đứng ngơ ngác giữa phòng với vẻ mặt dở khóc dở cười.

Lê và Trần nhìn nhau, không biết nên khóc hay nên cười trước cảnh tượng bi hài này. Lê lẩm bẩm:

- Hóa ra 'đại văn hào' nào cũng chung một số phận.

Trần thì cười nhạt, nhìn ra cửa sổ thấy những người bán hàng Tết đang thu dọn gian hàng cuối cùng. Cái đói giờ đây dường như đã bị sự trớ trêu của cuộc đời lấn át.

Khi tiếng đập cửa ngớt dần, Hoan chui ra, phủi bụi trên áo và nhìn Lê với ánh mắt cảm thông.

- Thôi, không có thịt thì ta dùng trà nhạt vậy. Chữ nghĩa chúng ta đầy bụng, sợ gì cái đói hả các ông?

Hoan rót nước mời Lê, chén trà loãng đến mức nhìn thấy cả đáy, nhưng họ vẫn nâng chén như đang dự một bữa tiệc linh đình.

Đêm giao thừa, Vũ và Nguyễn cùng các bạn ngồi lại bên nhau trong căn nhà trống không của Hoan. Tiếng pháo nổ rộn rã ngoài phố báo hiệu năm mới đã đến. Vũ cười vang:

- Chúng ta là những nhà văn bất tử, mà đã bất tử thì cần gì ăn Tết, phải không?

Những tiếng cười bi hài vang lên, xua tan cái lạnh, khẳng định một tinh thần văn chương kiên cường giữa cuộc đời đầy rẫy những nghịch cảnh.





Chuyến Phiêu Lưu Vào Thế Giới Văn Chương | Truyện ngắn Cái Tết của những nhà đại văn hào


Đọc truyện cho bé:
1. Chuyến phiêu lưu vào thế giới văn chương | Truyện ngắn "Cái Tết của những nhà đại văn hào"
2. Kể lại truyện ngắn "Cái Tết của những nhà đại văn hào" - Nguyễn Công Hoan

Chuyến Phiêu Lưu Vào Thế Giới Văn Chương |
Truyện ngắn Cái Tết của những nhà đại văn hào

Đọc truyện cho bé




Truyện ngắn 'Cái Tết của những nhà đại văn hào' được Nguyễn Công Hoan viết vào giai đoạn nào?

Trang 1: Chú Bé Tò Mò Và Câu Hỏi Lớn
Ngày xửa ngày xưa, ở một ngôi làng nhỏ gần Hà Nội, có cậu bé Minh rất thích đọc truyện. Một hôm, Minh hỏi bố:

- Bố ơi, truyện ngắn 'Cái Tết của những nhà đại văn hào' của bác Nguyễn Công Hoan được viết vào giai đoạn nào ạ?

Bố cười:

- Con muốn biết hả? Để bố kể con nghe một câu chuyện thật thú vị nhé. Nhưng con phải ngồi yên, vì câu chuyện có cả những chú nhà văn nghèo nhưng rất tài giỏi!



Trang 2: Ngôi Nhà Cũ Kỹ Bên Hồ Gươm

Minh nhắm mắt lại, và bỗng dưng cậu thấy mình lạc vào năm 1940. Trước mặt là Hà Nội xưa, phố phường nhộn nhịp chuẩn bị Tết. Nhưng ở một ngôi nhà nhỏ xíu gần hồ Gươm, có bốn chú nhà văn đang ngồi co ro.

Chú Lê (nhà tiểu thuyết) than:

- Tết này nghèo quá, không có bánh chưng!

Chú Vũ (nhà thơ) cười:

- Nhưng thơ mình hay lắm, sau này bất tử cơ mà!



Trang 3: Những Chú Đại Văn Hào Nghèo

Bốn chú là: Lê, Vũ, Trần và Nguyễn. Họ gọi nhau là “đại văn hào” để tự an ủi.

Họ nghèo vì viết sách hay nhưng thời đó, thực dân Pháp kiểm duyệt gắt gao. Ai viết phê phán là bị cấm, bị xóa chữ, thậm chí bị bắt.

Chú Nguyễn nói:

- Tết này mình đi ăn chực nhà thằng Nguyễn khác đi, nó có lương nhà nước, in sách nhiều, chắc giàu!



Trang 4: Hành Trình Ăn Tết Kỳ Lạ

Bốn chú xách túi vải cũ, đi bộ qua phố. Trên đường, họ thấy trẻ con chơi pháo, nhà giàu treo đèn lồng đỏ. Nhưng bụng chú Lê réo: “Ơi đói quá!”

Họ cười:

- Chúng ta nghèo thanh cao, nghèo đáng trọng, nghèo ghi vào lịch sử văn học thế giới!



Trang 5: Đến Nhà Chú Nguyễn

Cuối cùng họ đến nhà chú Nguyễn Công Hoan. Cửa đóng im ỉm. Gõ cửa mãi, chú Nguyễn mở ra, mặt buồn thiu:

- Các anh đến đúng lúc! Vợ tôi đang chạy vay tiền trả nợ, nếu không sẽ bị kiện ra tòa. Tết này nhà tôi cũng chẳng có gì đâu!



Trang 6: Bữa Tết “Tinh Thần”

Bốn chú ôm nhau cười ra nước mắt. Chú Nguyễn nói:

- Thôi ở lại đi, mình ăn Tết chung. Nhưng chỉ bao khoản… ngủ thôi nhé! Ăn thì tự lo!

Họ nằm trên ghế ngựa, đắp chăn xù xì, bàn về văn chương. “Sau này người ta sẽ nhớ chúng ta là những nhà đại văn hào nghèo nhưng tài ba!”



Trang 7: Bí Mật Của Chú Nguyễn Công Hoan

Minh (cậu bé tò mò) hiện ra như một hồn ma nhỏ, hỏi chú Nguyễn:

- Bác ơi, bác viết truyện này khi nào vậy ạ?

Chú Nguyễn cười:

- Chú viết ngay đầu năm Canh Thìn, năm 1940 này! Một tờ báo Tết nhờ chú viết gấp. Lúc đó chú cũng nghèo, cũng bị kiểm duyệt, nên chú kể về chính những người như chú.



Trang 8: Giai Đoạn Đặc Biệt Trong Lịch Sử

Minh hỏi tiếp:

- Vậy giai đoạn nào ạ?

Chú Nguyễn giải thích:

- Đây là giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Nước mình còn bị Pháp đô hộ. Nhà văn viết hay nhưng khó sống, sách hay bị cấm. Chú viết truyện này để cười mà buồn, để kể về cái nghèo của những người cầm bút yêu nước.



Trang 9: Tiếng Cười Và Nước Mắt

Bốn chú nhà văn ngủ thiếp đi, mơ về một ngày mai tươi sáng. Họ mơ thấy trẻ em như Minh đọc sách của họ, cười vui vẻ. Minh thì thầm:

- Các bác nghèo nhưng các bác giàu tình yêu văn chương. Con sẽ kể lại cho mọi người!



Trang 10: Minh Tỉnh Giấc

Minh mở mắt, thấy mình đang ngồi bên bố. Bố hỏi:

- Con mơ gì mà cười thế?

Minh reo lên:

- Con mơ gặp các nhà đại văn hào! Con biết rồi ạ: “Truyện 'Cái Tết của những nhà đại văn hào' được chú Nguyễn Công Hoan viết vào đầu năm 1940, giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám!”



Trang 11: Bài Học Nhỏ

Bố vuốt tóc Minh:

- Đúng rồi con. Dù nghèo khó, các nhà văn vẫn viết để nói lên sự thật, để mơ về một đất nước tự do. Con thấy chưa, văn chương giống như ngọn đèn, soi sáng dù trong bóng tối.

Minh gật đầu:

- Con sẽ cố học giỏi để sau này viết truyện hay như các bác!



Trang 12: Kết Thúc Ấm Áp

Và từ đó, mỗi dịp Tết đến, Minh lại kể cho bạn bè nghe về “Cái Tết của những nhà đại văn hào”. Câu chuyện nhắc mọi người: Dù cuộc sống khó khăn, hãy giữ niềm tin, yêu văn chương, và chờ ngày mai tươi sáng.

Chúng mình cùng lắng nghe nhé.



Trong căn phòng khách ấm cúng vào một buổi tối giáp Tết, cậu bé Minh đang say xưa lật giở cuốn sách cũ của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Cậu dừng lại ở tác phẩm "Cái Tết của những nhà đại văn hào" và tò mò nhìn sang bố, Minh hỏi:

- Bố ơi, tại sao các nhà văn trong chuyện lại ăn Tết lạ thế này ạ?

Bố mỉm cười, đặt tay lên vai Minh và bắt đầu kể về bối cảnh năm 1940 khi đất nước còn nhiều khó khăn trước Cách mạng Tháng Tám.

Bố giải thích rằng vào năm 1940, cuộc sống của những người cầm bút rất thanh bạch. Họ có thể thiếu thốn về vật chất, nhưng tâm hồn lúc nào cũng phong phú và tràn đầy tinh thần lạc quan.

Minh vừa nghe vừa lim dim đôi mắt, cậu cố tưởng tượng ra hình ảnh những con phố Hà Nội xưa cũ với những hiệu sách nhỏ và những tà áo dài bảng lảng trong xương sớm.

Bất thình lình, một luồng sáng kỳ ảo phát ra từ những trang sách. Minh cảm thấy cơ thể mình nhẹ bẫng như một sợi lông vũ. Cậu bị hút vào một vòng xoáy của thời gian, băng qua những đám mây màu mực tím và những dòng chữ uốn lượn như những con rồng nhỏ.

Khi mở mắt ra, Minh thấy mình đang đứng giữa một con phố lạ lẫm nhưng vô cùng thân thuộc qua lời kể của bố.

Hà Nội năm 1940 hiện ra trước mắt Minh với những ngôi nhà hình ống sơn vàng, những bức tường rêu phong và tiếng chuông xe đạp lanh canh. Không khí xe lạnh của ngày Tết phảng phất mùi khói pháo và hương hoa đào.

Minh ngơ ngác nhìn xung quanh, thấy một người đàn ông mặc áo dài đen, tay ôm một sấp bản thảo đang đi bộ trên vỉa hè lát gạch.

Minh chạy theo và gọi lớn:

- Bác ơi, cho cháu hỏi đây có phải là nơi các nhà văn sinh sống không ạ?

Người đàn ông dừng lại, đó chính là Ông Bút, một nhà văn có gương mặt phúc hậu và đôi mắt sáng. Ông mỉm cười hiền từ, đưa tay ra đón Minh:

- Chào cậu bé từ tương lai! Cháu đến thật đúng lúc, chúng ta đang chuẩn bị đón Tết đây.

Ông Bút dẫn Minh đi qua những con ngõ nhỏ lắt léo. Ông kể cho cậu nghe về việc các nhà văn dù nghèo, đôi khi phải cầm cố cả bộ quần áo đẹp nhất để mua mực in, nhưng họ chưa bao giờ ngừng viết. Họ viết bằng cả trái tim để thắp lên hy vọng cho một ngày mai tươi sáng hơn.

Minh chăm chú lắng nghe, trong lòng trào dâng niềm ngưỡng mộ khôn xiết.

Họ dừng lại trước một căn gác trọ nhỏ hẹp. Bên trong, một người bạn của Ông Bút là Ông Văn đang cặm cụi bên bàn viết dưới ánh đèn dầu leo lét. Dù căn phòng đơn sơ, chỉ có một chiếc chõng che và chồng sách cao ngất, nhưng nụ cười của họ lại rạng rỡ lạ thường.

Ông Văn ngẩng lên, chào đón người bạn già và vị khách nhỏ tuổi.

Ông Văn lấy ra một chiếc bánh chưng nhỏ, món quà Tết hiếm hoi mà ông vừa nhận được. Ông cắt bánh chia cho mọi người, kể cả Minh. Miếng bánh không chỉ có vị của gạo nếp, đậu xanh mà còn chứa đựng cả tình đồng nghiệp gắn bó.

Họ cùng nhau đọc những câu thơ mới sáng tác, tiếng cười vang vọng khắp gian phòng nhỏ, xua tan cái lạnh lẽo của đêm đông.

"Cháu thấy đấy, Minh." Ông Bút nói khi tiễn cậu ra cửa.

- Văn chương không chỉ là những con chữ, mà là tinh thần lạc quan và lòng yêu đời ngay cả trong nghịch cảnh. Hãy luôn giữ cho tâm hồn mình trong sáng nhé.

Ông trao cho Minh một chiếc bút lông nhỏ làm kỷ niệm. Khi Minh nắm lấy chiếc bút, luồng sáng kỳ lạ lại hiện ra một lần nữa.

Minh choàng tỉnh giấc trên ghế sofa, cuốn sách của nhà văn Nguyễn Công Hoan vẫn còn mở trên đùi. Ngoài cửa sổ, pháo hoa bắt đầu rộn ràng báo hiệu năm mới đã đến.

Bố bước vào, mỉm cười hỏi:

- Con ngủ mơ thấy gì mà cười tươi thế?

Minh nắm chặt tay lại, cảm giác như vẫn còn hơi ấm của chiếc bút lông, cậu đáp:

- Con vừa được gặp những nhà văn vĩ đại nhất, bố ạ!





Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

"BẠC ĐẺ" Đỉnh cao văn học Việt - Ông tổ của ngành lừa đảo, khi bản chất lòng tham không đổi


"Bạc đẻ" Đỉnh cao văn học Việt - Ông tổ của ngành lừa đảo, khi bản chất lòng tham không đổi





Chào mừng đến với The Hidden Self, nơi sẽ có những sự thật mà xã hội không muốn cho bạn biết.
Nếu văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn trước 1945 là một bàn tiệc thịnh soạn của nỗi đau và sự khốn cùng, thì Nguyễn Công Hoan chính là người đầu bếp quái chiêu nhất. Người luôn nêm vào món ăn của mình một thứ gia vị cay nồng, sặc sụa, mang tên tiếng cười.
Cái tài của Nguyễn Công Hoan nằm ở chỗ ông không cần gào thét bi ai. Ông chỉ cần dựng lên một sân khấu trớ trêu, nơi những con rối người quay cuồng trong cái lố bịch của chính mình.
Ông sở hữu một kho tàng ngôn từ đời thường, nhưng sắc bén như dao cạo.
Khả năng dẫn dắt câu chuyện thượng thừa, với những cú thuyết, khiến độc giả phải ngã ngửa.
Ông không chỉ viết văn, ông đang vẽ biếm họa bằng chữ.

Và trong cái bảo tàng biếm họa đó thì "Bạc đẻ" nằm ở một góc khuất, ít được nhắc tới hơn những tác phẩm sách giáo khoa, nhưng lại mang một sức nặng tiên tri đáng sợ về bản chất con người.
Tại sao tôi lại muốn nói về "Bạc đẻ" ngay lúc này?
Bởi vì khi đọc nó, tôi không thấy cũ.
Tôi thấy rùng mình.
Tôi thấy những trò ma giáo, những kỹ nghệ lừa đảo mà ngỡ như chỉ có trong thời đại của Blockchain, của AI, của những sàn tiền ảo...
hóa ra đã được Nguyễn Công Hoan vạch trần từ gần một thế kỷ trước.

Câu chuyện về một gã khờ tin rằng bạc có thể đẻ ra bạc.
Nó không chỉ là một vở hài kịch, nó là một cuốn cẩm nang tâm lý học tội phạm đen tối, nơi mà những kẻ đi săn và con mồi cùng nhảy một điệu van cuồng loạn trên bờ vực thẳm.

Bạn sẽ thấy chính mình, thấy bạn bè mình, và thấy cả những bi kịch đang diễn ra ngoài kia, trong từng dòng chữ của ông.

Đây không phải là câu chuyện ngày xưa,
đây là câu chuyện của ngày hôm nay.



Mê cung của những đồng bạc biết múa và cái bẫy ngọt ngào.
Hãy để mình tua lại thước phim đen trắng này cho bạn xem nhé. Nhưng không phải là bằng những gạch đầu dòng tóm tắt khô khan, mà bằng hơi thở của những kẻ đang khát tiền.

Câu chuyện mở ra với một bầu không khí đầy bí ẩn và kích thích trí tò mò, đúng chất Nguyễn Công Hoan. Nhân vật chính của chúng ta bị cuốn vào một phi vụ làm ăn, mà nghe qua thì hoang đường. Thế nhưng khi đã bước chân vào thì nó lại logic đến lạ lùng. Đó là nghệ thuật của sự dẫn dụ. Kẻ lừa đảo không xuất hiện với một bộ mặt gian manh. Hắn xuất hiện với sự đạo mạo, vẻ ngoài uy tín hoặc ít nhất là tỏ ra mình nắm giữ một bí mật kinh thiên động điệu của vũ trụ: Bí mật làm cho những đồng bạc trắng sinh sôi nảy nở như gà đẻ trứng.
Nguyễn Công Hoan đã dựng cảnh tài tình tới mức chính mình khi lần đầu tiên đọc tác phẩm, khi đó mình còn là sinh viên năm nhất, cũng bị cuốn theo cái logic méo mó đó. Mình cũng như nhân vật trong chuyện, tò mò muốn biết rằng, rốt cuộc hắn làm thế nào?
Hắn không cướp tiền ngay. Không! Những kẻ lừa đảo đại tài không bao giờ ăn non. Hắn dùng chiến thuật thả con săn sắt, bắt con cá rô. Ban đầu thì hắn cho con mồi nếm trải vị ngọt. Bạn đưa hắn một đồng, hắn trả lại bạn hai đồng. Bạn đưa hắn mười đồng, hắn trả bạn hai mươi đồng. Đúng hẹn, sòng phẳng, không thiếu một xu. Tiếng lanh canh của những đồng bạc chạm vào nhau, tạo nên một cái bản giao hưởng mê hoặc, làm tê liệt hoàn toàn lý trí.
Bạn hãy cứ thử tưởng tượng cảm giác đó mà xem. Cái cảm giác không làm mà hưởng. Cái cảm giác mình là người được chọn, mình đã tìm ra được cái lỗ hổng của tạo hóa để làm giàu.
Và trong cái không gian đặc quánh mùi thuốc phiện và mùi tiền đó, con mồi dần dần mất đi sự cảnh giác. Hắn bắt đầu tin niềm tin đó, nên nó không được xây dựng bằng logic, mà được xây dựng bằng dopamin, chất dẫn chuyền thần kinh của sự sung sướng.

Nguyễn Công Hoan đã miêu tả quá trình tâm lý này tinh tế tới mức đáng sợ.
Từ nghi ngờ chuyển sang tò mò, từ tò mò chuyển sang tham lam, và từ tham lam chuyển sang sùng bái.
Kẻ lừa đảo giờ đây không còn là người lạ nữa rồi. Hắn trở thành thần tài.
Và khi lòng tham đã che mờ đôi mắt, khi con mồi đã hoàn toàn tin rằng bạc đẻ là có thật, cũng là lúc mà cú chốt hạ được tung ra. Một số tiền khổng lồ được trao đi, với hy vọng nó sẽ đẻ ra cả một gia tài.

Và rồi thì... Bùm!
Hắn biến mất, hoặc là hắn lật bài ngửa.

Cái kết của câu chuyện đến bất ngờ như một cú tát trời dáng, khiến cả nhân vật đến độc giả đều ngơ ngác. Hóa ra là chẳng có phép thuật nào cả, chẳng có cái công thức hóa học hay bí quyết gia truyền nào cả.

Chỉ có một quy luật bất biến: lòng tham của người này, sẽ là mỏ vàng của kẻ khác.



Giải phẫu khối u của lòng tham.
Tại sao người thông minh vẫn chết? Lòng tham nó không phải là nhu cầu, nó là chất gây nghiện của bản ngã. Chúng ta thường nghĩ rằng, người ta bị lừa vì nghèo, vì túng thiếu. Không hẳn đâu. Trong "Bạc đẻ" và trong cả những vụ lừa đảo tài chính 4.0 thời bây giờ, nạn nhân lại thường là những người đã có tiền và họ thì muốn nhiều hơn. Thế nhưng, chính cái nhiều hơn đó, nó không phải để mua thêm bát cơm. Thực ra là họ muốn cảm giác chiến thắng hệ thống. Họ muốn đi đường tắt.
Nguyễn Công Hoàn đã chỉ ra một sự thật trần trụi. Con người luôn khao khát những thứ phi lao động. Chúng ta được lập trình để tiết kiệm năng lượng. Thế nên khi ai đó nói rằng, chỉ cần ngồi im, tiền sẽ tự đẻ, thì bộ não nguyên thủy của con người lại gào thét sự sung sướng.

Kẻ lừa đảo trong chuyện thì đã đánh trúng vào cái huyệt này. Hắn không bán sản phẩm. Hắn bán giấc mơ và giấc mơ, và giấc mơ thì luôn đắt giá hơn thực tế.



Quy trình vỗ béo phiên bản 1930.
Bạn đã từng nghe về thuật ngữ mổ lợn trong các vụ lửa đảo tiền ảo gần đây không? Đó là quy trình như sau.
Thứ nhất, tìm kiếm. Tiếp theo là làm quen. Rồi tạo lòng tin. Rồi cho ăn lãi giả. Rồi thì vỗ béo, đây là khi mà nạn nhân nạp tiền lớn hơn. Và cuối cùng là giết thịt, tức là biến mất.

Nguyễn Công Hoan đã mô tả chính xác các quy trình này trong "Bạc đẻ".
Kẻ lừa đảo trong chuyện này cực kỳ kiên nhẫn. Hắn chấp nhận lỗ vốn ban đầu, chấp nhận trả lãi cao để mua cái sự uy tín. Khi bạn nhận được tiền thật từ hắn lần đầu, não của bạn sẽ tự động xóa bỏ nghi ngờ. Và bạn sẽ nghĩ rằng, nếu mà nó lừa ấy, thì nó đã chạy rồi. Tại sao nó còn trả mình tiền? Chính cái suy nghĩ logic sai lầm đó, là cái thòng lọng siết cổ bạn. Bạn không biết rằng cái số tiền lãi mà bạn nhận được chính là cái tiền gốc của bạn, hoặc là tiền của người đến sau. Nó là kiểu mỡ nó rán nó.
Nguyễn Công Hoan không dùng thuật ngữ kinh tế phương Tây, nhưng ông thì đã lột tả bản chất của mô hình Ponzi một cách tài tình, qua lăng kính của một câu chuyện dân gian.
Đó là sự mù quáng tập thể và cơ chế tự huyễn hoặc.

Trong chuyện thì nạn nhân không chỉ bị lừa bởi kẻ khác, mà chính họ còn tự lừa chính mình. Khi đã xuống tiền, con người mới có xu hướng tìm mọi lý lẽ để bảo vệ quyết định ban đầu của mình. Dù có những dấu hiệu bất thường nhưng họ vẫn sẽ cố lờ đi. Họ bám víu vào cái viễn cảnh giàu sang sắp tới.
Đây chính là bi kịch của trí tuệ. Càng thông minh, thì con người lại càng giỏi biện ra những lý do phức tạp, để biện minh cho cái sự ngu ngốc của mình.
Kẻ lừa đảo trong "Bạc đẻ" chỉ cần gieo một hạt mầm. Chính nạn nhân sẽ tưới nước, bón phân cho cái cây ảo vọng đó lớn lên bằng sự tham lam và trí tưởng tượng của họ.



Màn kịch của tình thân và cái bẫy dưới gầm phản.
Câu chuyện bắt đầu tại nhà của ông Trưởng, một người có chức sắc, có của ăn của để và cũng đầy sự tò mò. Vào một ngày đẹp trời nọ, khi ông Trưởng đang nhàn rỗi tỉa tót giàn thiên lý thì Ba Tuần, một người em họ buôn bán ở xa, dẫn về một người lạ mặt. Người lạ này tên là Cửu Ấu. Vẻ ngoài bệ vệ, khăn áo chỉnh tề, tay xách một chiếc vali nặng, toát lên mùi tiền và sự quyền quý. Điểm mấu chốt nằm ở đây, đó là Cửu Ấu không tự đến. Hắn được bảo lãnh bằng uy tín của Ba Tuần. Ba Tuần thì rỉ tai ông Trưởng, rằng Cửu Ấu là người hào hiệp, hay cứu kẻ nghèo và quan trọng hơn, hắn làm nên thì anh em ta cũng có phần nhờ.
Lập tức thì Cửu Ấu tung đòn tâm lý đầu tiên. Hắn hào phóng đưa tiền cho ông Trưởng làm cơm rượu, trả tiền trọ hậu hĩnh. Ông Trưởng vội liếc vào cái vali hớ hênh của tay khách, thấy bên trong xếp đầy những cọc bạc trắng dài ngoằng. Lòng tham và sự kính nể bắt đầu nhen nhóm.
Cửu Ấu ở căn nhà ngang, hành tung vô cùng quái gở. Hắn thường mượn cái thau đồng, chui vào buồng kín hàng giờ. Khi mang ra, thì cái thau được đánh sáng loáng bằng trấu và cát. Hắn đi về cũng rất thất thường, lúc nửa đêm, lúc gà gáy, bất kể mưa gió bão bùng, nhưng giờ giấc thì lại chính xác đến từng phút. Cái sự bí ẩn đó nó kích thích chí tò mò của ông Trưởng đến cực độ. Ông bắt đầu rình mò. Một đêm nọ, ông ghé mắt qua khe vách và thấy Cửu Ấu cởi trần, bày bạc lên thau đồng, đổ một thứ nước đen kịt từ cái chai vào, rồi lầm nhầm khấn vái. Sau đó là khói um, đèn tắt. Một cái nghi thức đầy mùi mê tín dị đoan. Thế nhưng lại diễn ra ngay trước mắt một kẻ hám của.
Đỉnh điểm của cái bẫy là khi Cửu Ấu đi vắng, ông Trưởng lẻn vào buồng lục lọi. Ông ta soi mói khắp nơi và phát hiện ra một viên gạch dưới gầm phản bị cạy lên. Ông lật viên gạch ra, bới lớp đất, tim ông đập thình thịch, một cọc bạc mười đồng, buộc dây đỏ chữ thập nằm im lìm ở đó. Ông gõ thử. Ồ, bạc thật, bạc xịn đấy.
Chi tiết này là đòn sát thủ. Nếu mà Cửu Ấu đưa bạc cho ông, thì ông sẽ nghi ngay. Nhưng đây lại là bạc mà ông tự tìm thấy, trong cái chỗ kín đáo của hắn. Ông tin sái cổ rằng, đây là bạc thiêng, bạc đang được luyện. Ông lấp lại như cũ, lòng khấp khởi như bắt được vàng.
Khi bị ông Trưởng gặng hỏi, Cửu Ấu giả vờ ngập ngừng, rồi tiết lộ bí mật động trời. Hắn có phép làm cho bạc đẻ. Nguyên lý của hắn nghe rất là sinh học. Bạc nó cũng có chống mái, có sự sống, cứ một đồng đẻ ra một đồng. Thế nhưng nó có những quy tắc bất dị bất dịch. Thực chất nó là kỹ thuật lừa đảo để xả lọc con mồi thôi.
Thứ nhất là phải có thuốc và thần chú, chính là thứ nước đen bí ẩn mà hắn mang theo.
Thứ hai là kỵ người lạ. Bạc mà đang ở cữ, mà có hơi người lạ là tiêu sản, tức là biến thành đất ngay.
Thứ ba, không được vay mượn. Bạc của ai thì người ấy đẻ. Hai người đàn bà lấy nhau không đẻ được con, thì bạc đi vay cũng không thể đẻ được. Quy tắc này ép con mồi phải dốc vốn tự có.
Để chứng minh, Cửu Ấu bảo ông Trưởng đưa năm đồng làm thử. Ông Trưởng đưa tiền và lại quy trình cũ. Đổ thuốc, khói um, tắt đèn. Sáng hôm sau, đúng giờ hẹn, ông Trưởng ra gốc cây cam, đào lên và kết quả là mười đồng bạc mới cóng, buộc dây đỏ nằm cười với ông. Ông ta sướng rơn người. Và ông Trưởng đã hoàn toàn cắn câu.
Tiếng lành đồn xa, cái bí mật sống để dạ, chết mang theo đó, thế nào nó lại lan ra cả làng. Thế mới hay. Từ ông Chánh Bá giàu nứt đố đổ vách, đến anh khố dây nghèo rớt mồng tơi, ai cũng muốn nhờ thánh Cửu ban lộc. Họ mang tới hàng trăm, hàng ngàn đồng bạc. Nhà nào có cũng vét sạch, bán cả đất, cầm cả đồ để có bạc cái.
Cửu Ấu đóng vai kẻ ban ơn bất đắc dĩ. Hắn than thở mệt mỏi, rồi tuyên bố là sẽ làm một mẻ cuối cùng trước khi rời đi vì hết lộc. Tổng số tiền gom được là một con số khổng lồ tới bấy giờ. Sáu nghìn bảy trăm sáu mươi tư đồng.
Đêm hôm đó, cả làng chen chúc ngoài sân nhà ông Trưởng. Cửu Ấu một mình trong buồng làm phép. Sau hàng giờ đồng hồ, hắn bảo ông Trưởng ra hô hào mọi người giải tán về nhà, cấm tiệt không ai được dòm ngó để bạc được dưỡng thai. Đợi vắng người, một mình hắn khênh hũ bạc nặng trịch ra vườn chôn. Hắn dặn ông Trưởng: "Bốn giờ kém năm sáng hôm thứ bảy sau, tôi sẽ trở lại. Trong chín hôm tôi không có đây, ông phải cấm không được cho ai lai vãng ra vườn nhé." Rồi hắn khăn gói quả mướp ra đi ngay trong đêm.
Đúng ngày hẹn, cả làng thức trắng đêm chờ đợi ở sân nhà ông Trưởng. Bốn giờ kém năm phút không thấy Cửu Ấu đâu. Không ai dám đào, vì sợ bạc tiêu sản. Nhưng rồi thì cuối cùng sự kiên nhẫn cạn kiệt. Rồi họ lao vào đào bới điên cuồng. Rồi thì cái rương lộ ra, nắp bật mở. Bên trong có lẽ là không cần nói thì ai cũng biết, trống rỗng, chỉ toàn đất đá và gạch vụn. Số bạc khổng lồ đã bốc hơi cùng với gã thầy Mường từ chín ngày trước. Hóa ra cái màn ảo thuật khói um, tắt đèn, chính là lúc mà hắn đánh cháo ruột hũ bạc.
Cả làng phẫn nộ đòi bắt đền ông Trưởng. Ông Trưởng cùng đường phải lặn lội ra tận Cẩm Phả để tìm ông em Ba Tuần bắt đền. Và đây thì mới là lúc mà sự thật kinh hoàng, cái màn kịch khủng khiếp nhất được phơi bày.
Ba Tuần không hề hối lỗi. Hắn cười nhạt và thú nhận. Chính hắn trước đây cũng bị lừa mất 250 đồng bạc trắng. Kẻ lừa hắn đã dạy hắn rằng, muốn gỡ lại tiền, chỉ có cách lừa người khác. Ba Tuần đã chọn chính người anh họ của mình là ông Trưởng để làm vật thế mạng.
Nghe xong thì ông Trưởng không những không báo quan, mà còn nảy ra một ý định. Ông hỏi Ba Tuần về cách thức lừa đảo. Rồi ông nghĩ ngay tới ông Nghị Thăng, người cậu ruột giàu có vạn quan của mình.
Câu chuyện kết thúc bằng hình ảnh hai anh em, hai kẻ vừa là nạn nhân, vừa là đồng phạm, ôm bụng cười ngặt ngẽo và chuẩn bị cho một phi vụ lừa đảo tiếp theo, tàn khốc hơn, nhắm vào chính người thân ruột thịt tiếp theo.



Khi người thân là con dao găm ngọt ngào nhất.
Nếu Cửu Ấu là một con sói, thì Ba Tuần chính là bộ lông cừu hoàn hảo. Bài học nhập môn của mọi kẻ lừa đảo luôn là lừa đảo người thân cận. Tại sao những vụ lừa đảo tiền tỷ ngày nay thường bắt đầu từ người nhà, bạn thân, đồng nghiệp? Bởi vì người lạ sẽ kích hoạt một cơ chế phòng vệ của não bộ. Chúng ta sẽ luôn nghi ngờ người lạ. Nhưng người thân kích hoạt cơ chế tin tưởng mặc định. Ông Trưởng là một người khôn ngoan, lọc lõi, thậm chí là đa nghi, bởi vì ông ta đã rình mò Cửu Ấu. Thế nhưng ông đã chết ngay từ nước cờ đầu tiên. Ông tin Ba Tuần. "Chẳng nhẽ chỗ anh em thân, tôi lại không rủ hắn đến ở đằng bác, e rồi bác lại trách tôi là đem mối lợi cho người ngoài".
Câu nói này của Ba Tuần là một đòn tâm lý tống tiền cảm xúc cực mạnh. Hắn đánh vào nỗi sợ bị ra rìa. Sợ anh em trách móc. Hắn biến việc Cửu Ấu đến nhà ông Trưởng thành một cái đặc ân mà ông Trưởng phải tranh dành mới có được.

Nguyễn Công Hoan đã vạch trần một cái sự thật đau lòng. Kẻ cầm dao đâm ta sâu nhất, lại thường là kẻ đứng gần ta nhất. Trong các mô hình đa cấp, lừa đảo tài chính hiện đại, những người lôi kéo nhiệt tình nhất chính là bạn bè, cô gì, chú bác, bạn học cũ, đồng nghiệp v.v...
Họ bán rẻ uy tín tích lũy cả đời, để đổi lấy hoa hồng, hoặc đơn giản là tìm người chết thay như Ba Tuần.



Viên gạch dưới gầm phản, thiên kiến xác nhận và ảo ảnh của sự thông minh.
Chi tiết ông Trưởng tự mình lẻn vào buồng, cạy gạch, tìm thấy cọc bạc, là chi tiết đắt giá nhất về mặt tâm lý học tội phạm. Tại sao Cửu Ấu lại hớ hênh để một bí mật quan trọng như vậy? Không, hắn không hề hớ hênh, hắn đang chơi trò cầy ý tưởng. Nếu Cửu Ấu nói rằng tôi có phép thuật, ông Trưởng sẽ bán tín bán nghi. Thế nhưng, khi mà ông Trưởng tự mình khám phá, não bộ của ông sẽ mặc định đó là chân lý. Đây là thiên kiến xác nhận. Con người thì có xu hướng tin tuyệt đối vào những gì mà mình tìm ra, hơn là những gì mà người khác nói. Cửu Ấu đã biến ông Trưởng từ một nạn nhân bị động, thành một đồng phạm chủ động trong việc tự lừa dối chính mình.
Ông Trưởng tin vào sự thông minh, sự lọc lõi, sự ranh mãnh của mình khi phát hiện ra bí mật của khách. Thế nhưng hỡi ôi, cái sự thông minh đó đã nằm gọn trong kịch bản của kẻ lừa đảo. Nhưng rất tiếc là ông Trưởng chưa học được bài học kinh điển. Những gì mình nhìn thấy, là những gì mà người khác muốn cho mình thấy.

Vậy thì bài học ở đây là gì?
Khi bạn nghĩ rằng mình là thợ săn đang rình mồi, thì coi chừng, có khi bạn chính là con mồi đang sập vào bẫy. Những kẻ lừa đảo cao tay không bao giờ trèo kéo. Hắn tạo ra một cái sân khấu để bạn tự diễn, tự sướng và tự sát.



Vòng lặp của quỷ: từ nạn nhân hóa đao phủ.
Đoạn kết của truyện nó không chỉ là bi kịch, nó là một phần kinh dị, khi Ba Tuần thú nhận mình cũng bị lừa và đang đi lừa lại người khác để gỡ gạc. Câu chuyện chuyển từ lừa đảo tài chính sang lừa đảo nhân tính. Hãy nhìn qua phản ứng của ông Trưởng. Ông ta không giận dữ mà đấm vào mặt Ba Tuần. Ông ta cũng chẳng đi báo quan. Ông ta cắn ngón tay nghĩ ngợi. Đó là khoảnh khắc đấu tranh nội tâm giữa thiên thần và ác quỷ. Và ác quỷ đã thắng nhanh như một cái chớp mắt.

"Ðược, ông cậu ruột tôi là ông Nghị Thăng, giàu có tới vạn, mà cũng thực thà dễ bảo như anh em mình. Ông ấy tin cậy tôi lắm. Ðể tôi giới thiệu cho nó!"
Đây là cơ chế sinh tồn của loài vật ăn hoặc bị ăn. Trong cơn tuyệt vọng vì mất tiền, ông Trưởng đã vứt bỏ nốt chút lương chi cuối cùng. Ông sẵn sàng biến người cậu ruột, người tin yêu ông nhất, thành vật thế mạng. Cái cười như nẻ của anh em ở cuối chuyện là tiếng cười man dại của sự tha hóa. Họ không còn là con người nữa rồi. Họ đã trở thành một mắt xích trong chuỗi thức ăn của quỷ.

Lừa đảo không chỉ cướp tiền, nó cướp đi linh hồn của nạn nhân, biến nạn nhân thành phiên bản tiếp theo của kẻ lừa đảo. Đây là một dạng virus đạo đức, lây lan từ người này sang người khác, qua con đường của lòng tham và sự sợ hãi.



So chiếu đời thực: từ "Bạc đẻ" đến những trại người Campuchia.
Gần một thế kỷ đã trôi qua kể từ khi mà Nguyễn Công Hoan viết "Bạc đẻ". Thế nhưng hãy nhìn ra ngoài cửa sổ, bạn thấy gì?

Đầu tiên, bạn sẽ thấy những trại người thời 4.0.
Bạn có thấy sự tương đồng rùng mình giữa hành động của Ba Tuần, ông Trưởng với những nạn nhân trong các khu lừa đảo ở Campuchia hay Myanmar hiện nay không?
Hàng ngàn người trẻ bị lừa sang đó, với giấc mơ việc nhẹ, lương cao, giống với giấc mơ "Bạc đẻ". Khi sang tới nơi, họ bị đánh đập, bị nhốt. Họ nhận ra mình bị lừa. Và để sống sót, để có tiền chuộc thân, họ buộc phải làm gì? Họ buộc phải cầm điện thoại lên, gọi về Việt Nam và lừa chính đồng bào, bạn bè, người thân của mình.

Cơ chế tâm lý y hệt như vậy. Tao đã chết rồi, nhưng tao phải kéo đứa khác chết cùng, để tao được sống.

Nguyễn Công Hoan đã tiên chi về một xã hội, nơi mà con người sẵn sàng giẫm đạp lên nhau để ngoi lên từ vũng bùn, bất chấp luân thường đạo lý.
Thứ hai, đó là công nghệ mổ lợn.
Quy trình của Cửu Ấu: cho ăn thử một đồng, rồi được mười đồng, rồi đợi vỗ béo, và cuối cùng là giết thịt.
Quy trình của các sàn Forex tiền ảo lừa đảo ngày nay: cho ăn lãi nhỏ, cho rút tiền lần đầu, dụ nạp vốn lớn, rồi khóa tài khoản.
Không có gì thay đổi cả. Chỉ có công cụ là thay đổi, từ cái hũ sành, cái rương sang cái app điện thoại. Còn lòng tham và nỗi sợ của con người thì vẫn nguyên vẹn như thời đồ đá.

Thứ ba, ảo vọng về thu nhập thụ động.
Cái hũ sành "Bạc đẻ" chính là ông tổ của khái niệm thu nhập thụ động bị biến tướng. Chúng ta thì bất kỳ ai cũng muốn tiền tự đẻ ra tiền mà không phải lao động. Đó là một ước mơ chính đáng thôi. Nhưng nó cũng là điểm yếu chết người. Kẻ lừa đảo thì nó đánh trúng vào tâm lý muốn đi tắt đón đầu. Khi bạn tin rằng có một công thức bí mật như cái chai thuốc của Cửu Ấu giúp bạn giàu nhanh hơn người khác, mà không cần phải đổ mồ hôi, thì bạn đã tự đặt một chân vào cái hũ sành rỗng tuếch đó rồi.



Lời kết: Cái hũ sành không đáy.
"Bạc đẻ" khép lại bằng tiếng cười, nhưng nó để lại một nỗi sợ hãi mênh mang.
Nỗi sợ không đến từ việc mất tiền. Tiền mất thì có thể kiếm lại.
Nỗi sợ đến từ việc nhận ra rằng, trong mỗi chúng ta đều đang có một ông Trưởng đang ngủ quên. Chỉ cần đúng hoàn cảnh, đúng mồi nhử và đúng áp lực, cái con quỷ tham lam đó nó sẽ thức giấc.

Câu chuyện là một lời cảnh tỉnh đanh thép. Trên đời này không có bạc nào tự đẻ ra bạc cả.
Chỉ có sức lao động và trí tuệ mới tạo ra giá trị. Mọi con đường tắt, trải đầy hoa hồng, đều dẫn tới miệng vực.

Và đáng sợ hơn cả, hãy cảnh giác khi mà lòng tham thôi thúc bạn, kéo người khác xuống vũng bùn của mình. Bởi khi đó bạn không chỉ mất tiền, bạn đã mất chính mình. Cái hũ sành kia nó rỗng tuếch, nhưng nó lại chứa đựng một sự thật đầy ắp về nhân gian. Khi lòng tham lên ngôi, tình thân chỉ là một món hàng để định giá. Yeah.