Năm 1938, cụ Nguyễn Công Hoan bị mật thám nghi là cộng sản, sắp bị chuyển lên tận Trà Cổ, Móng Cái. Trước khi đi, cụ ngồi viết ngày viết đêm, mười sáu ngày xong cuốn Bước đường cùng. Sách ra tháng mười thì bị cấm khắp Bắc, Trung, Nam, vậy mà năm nghìn cuốn vẫn bán hết.
Anh Pha, nông dân làng An Đạo, có tám sào ruộng, một căn nhà tranh và một chị vợ bán hàng xén. Mọi chuyện bắt đầu từ cái tên đặt cho thằng con mới đẻ. Từ một vụ cãi nhau rất vặt, anh bị dắt đi từng bước: qua cửa quan, qua nhà ông nghị Lại bốn trăm mẫu, qua mùa thuế, mùa lụt, mùa dịch. Và có một tờ văn tự anh điểm chỉ mà không đọc được chữ nào.
Video kể lại trọn tiểu thuyết Bước đường cùng theo nguyên tác, từ đêm thằng Bạch ra đời đến cái đòn càn ở cánh đồng Mả Giơi.
Trong hồi ký Bạn bè một thuở, Bùi Hiển cho biết nhà văn Nguyễn Công Hoan khi viết bản thảo, có lúc nháp hoặc sửa bản thảo, đã thực hành tiết kiệm bằng cách viết trên mặt trái giấy bao chè Hồng Đào. Tác phẩm của ông được Vũ Ngọc Phan khen là "một nhà tiểu thuyết kỳ cựu nhất trong các nhà văn lớp sau", theo Nhà văn hiện đại.
Truyện ngắn Đào kép mới ra đời từ một câu chuyện được Nguyễn Công Hoan tâm sự với Bùi Hiển năm 1957. Theo đó, sau khi vua Bảo Đại du học Pháp, hồi loan năm 1932, thực dân Pháp đã đẩy mạnh tuyên truyền về sự kiện này, gắn với hình ảnh một chính quyền canh tân của nhà Nguyễn. Nhà văn muốn viết một truyện lên án mưu đồ mị dân của thực dân Pháp, nhưng chưa nghĩ ra được ý.
Chân dung Nguyễn Công Hoan in trong Nhà văn hiện đại quyển IV, tập Hạ năm 1945 - ẢNH: TRẦN ĐÌNH BA
Phải đến bốn năm sau, như Nguyễn Công Hoan ghi lại trong hồi ký Đời viết văn của tôi:
"Ngày ấy là tháng 8 năm 1936, tôi đương ở Nam Định. Một buổi chiều, đứng trên hiên gác nhìn xuống đường, tôi thấy gánh hát tuồng cho anh chị em đào kép mũ áo, phấn sáp, ngồi trên xe kéo, kèn trống ầm ĩ để quảng cáo tấn hát sẽ diễn tối hôm ấy. Nhìn những người xanh xao mà đánh phấn trắng, phấn hồng, gầy gò mà mặc áo to rộng, ngồi lủng củng trên mui, trên đệm, trên sàn xe, tôi tóm ngay được ý".
Thế là chỉ trong một đêm, theo cảm hứng bắt được từ gánh hát tuồng ban ngày, Nguyễn Công Hoan đã hoàn thành Đào kép mới và rất ư hài lòng:
"Tôi quả thấy rất tự hào như một người chiến thắng. Bài ấy viết xa xôi, bóng gió, úp mở, kín đáo đến nỗi kiểm duyệt của Pháp không nhận ra là tôi viết để làm gì. Nhưng đối với những người hiểu biết, thì nó rất gần, rất rõ, rất nực cười".
Còn với Bùi Hiển, từ câu chuyện được người đồng nghiệp chia sẻ, ông cũng đúc rút cho mình một kinh nghiệm: người viết văn phải hình thành cho mình, thông qua kiểm nghiệm cuộc sống, một vốn sống đủ phong phú, bởi đó chính là nguồn đề tài vô tận cho sáng tác.
Trong văn nghiệp của Nguyễn Công Hoan, Kép Tư Bền là một tác phẩm quen thuộc với độc giả. "Kép Tư Bền lại là mâu thuẫn éo le giữa hoàn cảnh đáng khóc của một anh kép hát (bố chết) và tình thế buộc phải cười của anh ta (đóng vai hề), vì đã chót [trót] bán tự do cho kẻ có tiền", Nhà văn tư tưởng và phong cách (Nguyễn Đăng Mạnh, NXB Tác phẩm mới, 1979) tóm lược.
Tác phẩm này cũng được hoàn thành rất nhanh, trong một hoàn cảnh khác thường: nhà văn phải giấu vợ để viết. Theo chia sẻ của Nguyễn Công Hoan trong Hỏi chuyện các nhà văn, đề tài Kép Tư Bền nảy ra lúc chập tối. Nhưng ngặt nỗi, lúc đó ông đang bị đau mắt. Dù vậy, Nguyễn Công Hoan vẫn liều thức đêm để viết vì nghĩ rằng nếu đợi đến lúc khỏi đau mắt thì đề tài sẽ nguội mất.
Tối hôm đó, tác giả rón rén đến bàn giấy, thắp ngọn đèn dầu Hoa Kỳ, che bớt ánh sáng về phía giường ngủ, nơi vợ ông đang nằm. Thiên truyện được viết trong cảnh như ông miêu tả:
"Vì đèn vặn nhỏ, ánh sáng yếu nên luôn luôn tôi phải giương to đôi mắt. Tôi vừa viết vừa lau mắt. Lắm lúc mỏi quá, phải nhắm nghiền lại, nghỉ một lúc cho khỏi nhức. Tôi đã đày đọa đôi mắt ốm yếu của tôi như vậy từ mười giờ tối đến năm giờ sáng, thì truyện Kép Tư Bền được sửa xong lần cuối cùng. Tôi đau nặng thêm, nhưng khoan khoái, nhẹ nhõm".
Dù phải đánh đổi bằng cả sức khỏe, Kép Tư Bền về sau trở thành một tác phẩm đáng giá và được đánh giá cao trong văn nghiệp của Nguyễn Công Hoan.
Với Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan đã để lại một tuyệt tác văn chương tiền chiến. Sự ra đời của tác phẩm được Tô Hoài nhắc tới trong Sổ tay viết văn. Theo đó, năm 1938, Nguyễn Công Hoan còn làm ông giáo, đang dạy học tại thị xã Nam Định. Để có nơi tá túc, gia đình ông thuê nhà ở khu vực chợ Rồng. Cái gác nhà nhìn ngay xuống chợ. Hằng ngày, nhà văn chứng kiến biết bao cảnh đời cùng khổ, cũng như cả một xã hội thu nhỏ hiện lên qua những sinh hoạt quanh khu chợ.
Kép Tư Bền bản in năm 2015 - ẢNH: TRẦN ĐÌNH BA
Nguyễn Công Hoan từng tâm sự với tác giả Dế mèn phiêu lưu ký rằng Bước đường cùng được viết ra để trả ơn những đồng chí cộng sản làm cách mạng đã dìu dắt ông giáo Hoan trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Lý do này cũng được đề cập trong nghiên cứu Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (tập I, Phan Cự Đệ, 1978):
"Bước đường cùng phần nào minh họa bằng hình tượng nghệ thuật cuốn Vấn đề dân cày của Qua Ninh - Vân Đình. Trước khi bị thực dân Pháp đổi ra Trà Cổ, Nguyễn Công Hoan đã say mê viết cuốn tiểu thuyết đó trong 16 hôm liền để "trang trải món nợ lòng với anh em cộng sản ở Nam Định".
Cũng chính từ Bước đường cùng, như nói thay lời cho biết bao phận người, một người nông dân tận Yên Mô, Ninh Bình đã tìm đến nơi tác giả ở, chỉ để mong nhận được sự đồng cảm của nhà văn. Anh nông dân gặp Nguyễn Công Hoan và cảm thán: "Ông ơi, đời tôi rất khổ". Rồi anh kể cho nhà văn nghe câu chuyện đời mình, với một lý do giản đơn:
"Tôi chỉ thấy khổ như cảnh tôi là khổ đến tuyệt trần rồi, cho nên tôi phải kể cho ông viết, nếu không thì chẳng ai biết được dân đen chúng tôi cực nhục đến như thế nào, bọn hào lý quan trên độc ác đến như thế nào".
GIỚI THIỆU SÁCH
“NHỚ GÌ GHI NẤY” CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CÔNG HOAN - KÝ ỨC VỀ HÀ NỘI ĐẦU THẾ KỶ XX
Phòng Địa chí
Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977), quê ở làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Ông là người đặt viên gạch đầu tiên xây nền móng cho dòng văn xuôi hiện thực phê phán Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ cầm bút ông đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam hơn 300 truyện ngắn, hơn 20 tiểu thuyết và nhiều ông trình nghiên cứu văn học có giá trị. Nhiều tác phẩm và truyện ngắn của ông đã được chuyển thể sang sân khấu và điện ảnh. Ông là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đầu tiên. Năm 1996 ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học.
Trong những bản thảo của nhà văn để lại, có một tập 7 quyển vở nhỏ ghi chép từ năm 1970 cho tới trước ghi mất về những điều trải qua, tai nghe mắt thấy trong đời lên tới 600 đoạn ghi chép.
Lần in năm 1978, nhà xuất bản Tác phẩm mới chỉ chọn in một số đoạn trong tập bản thảo của nhà văn lấy tên “Nhớ và ghi” gồm 132 trang.
Theo Nhà xuất bản, những điều ghi chép của ông chia làm 3 loại:
1. Những việc xảy ra trong đại gia đình mà nhà văn có lẽ muốn cho con cháu biết.
2. Một số nhân vật (những tên Tây thực dân, quan lại, địa chủ, tư sản mại bản) mà tác giả nghe biết và ghi lại.
3. Những điều tai nghe mắt thấy phần nhiều vào đầu thế kỷ này khi nhà văn đương tuổi thanh niên. Đó là những ghi chép về Hà Nội, những nơi nhà văn đã ở, làm việc và đi qua.
Năm 1993, nhà xuất bản Hà Nội chọn tiếp những đoạn chưa công bố và xếp những sự việc theo một mạch trong những tiêu đề mà nhà xuất bản đặt tên, để giúp bạn đọc dễ theo dõi như: Vua quan ta Toàn quyền tây; Những chí sĩ yêu nước; Nghề làm sách báo; Buôn bán kinh doanh; Phố phường kẻ chợ. Lần in này gồm 173 trang mang tên “Nhớ về một thưở (Nhớ gì ghi nấy)”.
Năm 1998, Nhà xuất bản Hội Nhà văn in bản đầy đủ tập bản thảo với độ dày 770 trang và mang tên “Nhớ gì ghi nấy”.
Ngoài ra, Nhà xuất bản Trẻ - Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 chọn những trang viết ông dành riêng để nhớ về Hà Nội xưa cũ vào những thập niên đầu của thế kỷ XX với tên sách “Nhớ và ghi về Hà Nội” gồm 263 trang.
Qua những trang sách, có thể nhận thấy sự hồn nhiên, tinh nghịch, phá vỡ quy tắc của cậu học sinh trường Bưởi Hà Nội khi chưa đầy mười tuổi. Mặt khác, từ nhỏ, Nguyễn Công Hoan đã quen với nhân tình thế thái người phường phố, thành thạo sự đời, và chả coi cái gì làm quan trọng.
Thành thử, tuy không bao giờ phải trực tiếp đả động tới chuyện Hà Nội, nhưng trong cái nhìn của ông, chất Hà Nội rất rõ. Toàn bộ đời sống của Hà Nội thời nửa thuộc địa nửa phong kiến đã hiện lên rõ nét: các phương tiện giao thông đương thời; các trường học; nghề in, các nhà in và tình hình xuất bản; nghề ảnh; các rạp hát và chiếu phim; các hội; chuyện buôn bán; chuyện cô đầu…
Số lượng các nhân vật được đề cập đến trong tác phẩm là khá lớn từ Toàn quyền Pháp đến vua quan ta, những tay tư sản Pháp hay tư sản người Việt, các chủ nhà in, các nhà văn, nhà thơ đương thời, các nghệ sĩ… cho đến thằng ăn cắp, người đi đòi nợ thuê.
Nhà văn dành một số trang để nói về doanh nhân Bạch Thái Bưởi, luật sư Phan Văn Trường, dịch tả ở Hà Nội hè năm 1914, chuyện năm 1918 đường Cổ Ngư (Thanh niên) vẫn thắp đèn dầu hỏa, nạn vỡ đê Gia Lâm các năm từ 1924 đến 1926, tên một số đường phố thời người Pháp cai trị, hội Khai Trí Tiến Đức, hiệu mũ Hai Chinh, trang phục thời kỳ này… Qua tác phẩm, bạn đọc biết rạp chiếu bóng đầu tiên của Hà Nội là rạp ở phố Hàng Quạt. Rồi đến rạp Pathé Frères ở miếng đất sát đền Bà Kiệu, sau đó là rạp Palace ở Tràng Tiền giá vé đắt hơn vì sang hơn. Vở kịch nói đầu tiên của Việt Nam "Chén thuốc độc" do Vũ Đình Long, chủ nhà in, nhà xuất bản Tân Dân và nhiều tờ báo có tiếng ở Hà Nội lúc bấy giờ viết và đăng trên tạp chí "Hữu thanh" năm 1921. Hồi Nguyễn Công Hoan còn đi học, phố Hàng Giấy còn là phố cô đầu, các cô đầu sau mới chuyển xuống phố Khâm Thiên. Phố Phùng Hưng, nhà số 25 chuyên cho thuê nhà làm đám cưới những đôi vợ chồng mà chồng người quê vợ người Hà Nội, chuyện nghĩa trang Hợp Thiện… Chuyện về Hà Nội của tác giả trong tác phẩm còn rất nhiều và không thể kể hết trong khuôn khổ một bài giới thiệu.
Những bản in mà chúng tôi giới thiệu ở trên hiện đang có tại:
Thư viện Hà Nội
- 47 Bà Triệu, Hoàn Kiếm
- 2B Quang Trung, Hà Đông
Xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc.
Tài liệu tham khảo:
1. Nhà văn Việt Nam hôm nay với Hà Nội: Kể chuyện đời sống văn học / Vương Trí Nhàn. - H.: Nxb. Hà Nội, 1986. -177tr.; 19cm
2. Nhà văn Việt Nam hiện đại. - H.: Hội nhà văn, 1997. - 809tr ; 25cm
Bảnh Tỏn giới thiệu và tóm tắt tác phẩm Đống rác cũ, bộ tiểu thuyết hiện thực phê phán đồ sộ của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Video khai thác sâu sắc cuộc đời nhân vật trung tâm Trần Đức Thừa cùng các mối quan hệ xã hội phức tạp, phơi bày những mặt trái và sự giả dối của xã hội đương thời.
Đống rác cũ là bộ tiểu thuyết hiện thực trào phúng của nhà văn Nguyễn Công Hoan, gồm 4 tập với 68 chương.
Tác phẩm xoay quanh cuộc đời Trần Đức Thừa, từ một anh phu kíp nghèo trở thành kẻ giàu có nhờ những thủ đoạn lừa lọc, đầu cơ và luồn cúi quyền thế.
Qua hành trình của Thừa cùng số phận của những người xung quanh, Nguyễn Công Hoan phơi bày những góc khuất của xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc, nơi đồng tiền, quyền lực và sự giả dối có thể làm đảo lộn cả đạo lý lẫn công lý.
Bảnh xây dựng các video nhằm mục đích bình luận, đánh giá những tác phẩm văn học, tiểu thuyết, sử thi và những câu chuyện kinh điển, theo cách gần gũi, dễ theo dõi hơn với người xem hiện nay.
Mỗi video chỉ là một cách tiếp cận lại nội dung tác phẩm, không thể truyền tải trọn vẹn ngôn ngữ, chi tiết và tinh thần của nguyên tác. Vì vậy, nếu thấy câu chuyện hấp dẫn, mọi người nên tìm đọc sách qua các nhà xuất bản, đơn vị phát hành hoặc nền tảng chính thức để có trải nghiệm đầy đủ nhất, đồng thời ủng hộ việc đọc sách có bản quyền.
Tóm tắt ĐỐNG RÁC CŨ - Nguyễn Công Hoan (Phần 2) | Văn học Việt Nam
Là một trong những cây bút chủ lực, lừng lẫy một thời trên văn đàn, tác phẩm của Nguyễn Công Hoan đã đạt tới tầm cổ điển, bậc thầy về truyện ngắn... Thế nhưng, mỗi khi nói về mình, ông thường chọn cách nói giản dị, khiêm nhường. Đó không chỉ là một thái độ khiêm tốn mà cũng là biểu hiện của một cốt cách, một bản lĩnh văn chương của ông.
1. Trong "Đời viết văn của tôi", Nguyễn Công Hoan có nói về những yếu tố gia đình ảnh hưởng đến đời văn của mình là vốn dòng dõi thanh quan (nghèo trong) nên ông ghét bọn nhà giàu giả dối, bất nhân. Bản tính nghịch ngợm, thích tìm kiếm những yếu tố gây cười trong đời sống nên khi cầm bút, ông có xu hướng từ những tình huống gây cười, chủ yếu do sự giả dối của người đời tạo ra mà lột trần tất cả những "cảnh xuống" trong một "xã hội ba đào" (chữ dùng của ông).
Nguyễn Công Hoan bước vào đời văn vì những lý do, như ông nói, cũng rất đặc biệt: Mỗi tuần hứa viết thư cho bạn một lần, sợ không có gì kể nên đành viết truyện, phải viết ngắn vì viết dài sợ tốn tiền mua tem. Cho dù ông nói thế nhưng đó cũng không phải là lý do chính mà chỉ là một trong những lý do cụ thể để các tác phẩm của ông có hình hài như vậy.
Phần lớn truyện của Nguyễn Công Hoan khi ông ở Lào Cai đều ngắn, có những truyện tách ra thành hai ba kỳ nhưng nhìn vào những vấn đề, nội dung, cách viết, nhân vật, cảm hứng của truyện thời kỳ này chúng ta lại thấy ông lựa chọn cách viết ấy và chỉ viết như vậy mới hợp tạng của ông. Khi đã nổi danh ông vẫn giữ cách viết ban đầu, chỉ có điều nó nhuần nhị và chặt chẽ hơn: Ngắn gọn, kết cấu chặt chẽ; dường như mỗi câu chuyện chỉ xoay quanh một tình huống.
Ông giữ mục "Xã hội ba đào ký" trên báo của Tản Đà và chỉ chuyên viết về những "cảnh xuống" của đời người mang hai dòng cảm hứng rõ rệt. Thứ nhất là sự đồng cảm, sẻ chia thấm đẫm thái độ bênh vực, bảo vệ những người yếu thế trong xã hội. Thứ hai là sự phẫn nộ, khinh bỉ, căm giận những bọn bất lương, lắm của, nhiều quyền nhưng giả dối, tâm địa nhỏ nhen, ích kỷ, bất nhân bất nghĩa. Cảm hứng nhân đạo thấm đẫm trong tác phẩm của ông. Có thể nói cùng thời với ông, chưa có nhà văn nào đạt tới điều này.
Quan niệm “tả chân” (chủ nghĩa hiện thực phê phán cổ điển) đã khiến ngòi bút của ông giàu sức tố cáo, phê phán xã hội dưới chế độ thực dân phong kiến. Đúng là ông chỉ viết về những điều nhỏ nhặt, kiếp sống của những kẻ dưới đáy xã hội nhưng tinh thần nhân đạo sâu sắc và ý nghĩa phản kháng những bất công bùng nổ trong các truyện ngắn của ông. Cuối thập niên 1920, đầu thập niên 1930, các truyện ngắn của ông đã chiếm lĩnh văn đàn, thổi một luồng sinh khí mới vào văn học Việt Nam, kéo văn chương đến sát đời sống và mang ý nghĩa phản kháng lớn.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan. Ảnh tư liệu
Theo hồi ký của một nhà văn cùng thời thì độc giả đón đọc Nguyễn Công Hoan để được tiếp cận với một giọng điệu khác, một tình cảm khác và một hy vọng khác. Những truyện in trong tập "Kiếp hồng nhan", "Kép Tư Bền" của Nguyễn Công Hoan mang cảm hứng khác hẳn các nhà văn thời thượng. Góc nhìn tố cáo những mặt trái xã hội, thái độ bênh vực những người dưới đáy không phải từ góc nhìn từ trên xuống, mang ý nghĩa nhân đạo kiểu ban phát mà như tiếng nói của người trong cuộc. Nó mang đến một âm hưởng khác hẳn. Nó tạo ra những tiền đề quan trọng để những nhà văn hiện thực phê phán khẳng định vị trí của dòng văn học này và mở ra những góc nhìn khác nữa mà tất cả đều có chung một cách tiếp cận vấn đề, chung một cảm hứng: Viết về cuộc sống như nó có với một tư tưởng nhân đạo khác.
Khi Nguyễn Công Hoan rời xa góc nhìn này trong một số tiểu thuyết mang dấu ấn lãng mạn, tình cảm như "Tắt lửa lòng", "Lá ngọc cành vàng", "Tấm lòng vàng"... ý nghĩa xã hội trong sáng tác của ông đã khác. Nó không còn ý nghĩa tố cáo quyết liệt, không mang sắc thái nhân đạo như truyện ngắn hay một tiểu thuyết về đề tài nông dân cùng viết trong những năm này.
2.
Người ta hay nói đến việc Nguyễn Công Hoan đến giữa thập niên 1930 đã đưa truyện ngắn Việt Nam đến độ cổ điển. Cổ điển ở kết cấu chặt chẽ, ở việc xây dựng những tình huống truyện, ở những chi tiết nghệ thuật có sức gợi mở lớn, ở chỗ sử dụng tiếng cười như một vũ khí đấu tranh...
Đương thời người ta hay nói đến những truyện ngắn của ông như một tuyển tập những "tấn trò đời", trò nào cũng cười ra nước mắt. Cách khai thác những hoàn cảnh éo le của đời sống ở tầng sâu tư tưởng nhưng lại gắn với những hành vi rất thật,
rất tự nhiên của con người như một màn kịch ngắn diễn ra trước mắt người đọc, không tỉa tót, không gia công mà cứ như đặc quánh cảnh ngộ, cuộc đời, dở khóc dở cười. Chuyện anh kép Tư Bền phải diễn trò mua vui cho thiên hạ khi cha anh đang hấp hối, chuyện người kéo xe khốn khổ mới ốm dậy đêm Ba mươi Tết chạy chuyến xe cuối cùng mong kiếm cái Tết lại gặp phải cô gái ăn sương ế khách, hết tiền. Cả hai đều không kiếm được tiền mà chưa thể giải quyết được chuyện tiền công thì pháo Giao thừa đã nổ. Kiếp người ngựa và ngựa người khổ như nhau. Người đọc cười vì tình huống oái oăm nhưng rơi nước mắt chia sẻ trước sự cực khổ éo le của họ...
Cái tài của Nguyễn Công Hoan là ông luôn tìm thấy cái trái đạo lý trong những hành vi nhân danh đạo lý, cái gây cười trong những tình huống trái tai, gai mắt và gài vào đó những câu thoại, chi tiết rất đắt, đẩy sự việc đi tới đỉnh điểm và vỡ ra ý nghĩa nhân sinh. Phần lớn những truyện thời kỳ này của ông chỉ đụng chạm đến vấn đề đạo đức và xung đột chính vẫn là xung đột giữa đạo đức với vô luân, giữa sự lưu manh với điều tử tế, giữa lòng nhân ái với sự khốn nạn, giữa lối sống của người giàu với người nghèo.
Đến giai đoạn sau ông đi vào những vấn đề mang ý nghĩa chính trị xã hội như ông thừa nhận lúc đó những vấn đề xã hội đã thấm vào nhận thức ông nhiều hơn. Ông cho rằng xung đột chính trong xã hội không chỉ là xung đột giàu nghèo, đạo đức và vô đạo mà ở mỗi con người, địa vị xã hội, sự gắn bó lợi ích với những tầng lớp người đã từng bước bộc lộ trong những quan tâm và lý giải của ông. Góc nhìn ấy thể hiện một ý thức xã hội đậm nét hơn trước của ông.
Cuốn sách của nhà văn Nguyễn Công Hoan.
3.
Nguyễn Công Hoan là một bậc thầy truyện ngắn. Nhưng về tiểu thuyết ông cũng là một tay cự phách. Dấu ấn hiện đại trong tiểu thuyết của ông rất đậm nét.
Đề tài đa dạng, nội dung phong phú, áp sát những vấn đề xã hội đương thời. Ngay cả cuốn "Tắt lửa lòng" về đề tài tình yêu lãng mạn, bế tắc được chuyển thể thành vở cải lương nổi tiếng "Lan và Điệp" cũng có nhiều điều mới mẻ về xây dựng tính cách, nghệ thuật tiểu thuyết. Các cuốn "Cô giáo Minh", "Ông chủ", "Lá ngọc cành vàng", "Tranh tối tranh sáng" là những cuốn sách mà nhiều nhà văn mơ ước cả một đời cầm bút. Còn "Bước đường cùng" là đỉnh cao về quan niệm xã hội và thái độ bênh vực những người nông dân của ông. Những cảm xúc phản kháng bị dồn nén lâu nay của ông gần như bung ra hết trong tác phẩm này. Đây là cuốn tiểu thuyết áp sát đời sống nhất của ông, phù hợp với logic lịch sử, phản ánh trực tiếp nhất xung đột xã hội lớn nhất thời ấy.
Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao... đều viết về xung đột giữa nông dân với địa chủ mang màu sắc xung đột quyền lợi, xung đột xã hội, giai cấp và trong cuộc đối đầu này người nông dân bị đẩy vào bước đường cùng. Tinh thần phản kháng của các nhà văn hiện thực trước các vấn đề xã hội đã được các nhà hoạt động chính trị, các nhà văn theo xu hướng Mác-xít đánh giá rất cao bởi tác phẩm của họ góp phần thức tỉnh lòng căm thù sự đàn áp, bất công trong xã hội, nuôi dưỡng khát vọng thay đổi.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nguyễn Công Hoan tích cực đi theo kháng chiến, dùng ngòi bút của mình phục vụ sự nghiệp cách mạng. Khi Hội Nhà văn Việt Nam thành lập, ông trở thành Chủ tịch đầu tiên bởi uy tín văn chương ông đã được ghi nhận. Sự nghiệp đồ sộ của ông đóng góp cho nền văn học nước nhà, được Nhà nước, nhân dân, bạn bè đồng nghiệp ghi nhận. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 năm 1996.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977) quê ở làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc tỉnh Hưng Yên); nguyên Giám đốc Trường Văn hóa Lý Thường Kiệt; nguyên Chủ nhiệm tờ Quân nhân học báo; nguyên biên tập viên Báo Vệ Quốc quân (tiền thân của Báo Quân đội nhân dân); Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam kiêm Chủ nhiệm tuần báo Văn (tiền thân của Báo Văn nghệ).
Tôi thuộc thế hệ 8X, gắn bó với Hà Nội khi tiếng còi xe đã át đi nhiều âm thanh của một thời xa vắng. Ký ức về Hà Nội trong tôi là những con phố đã đổi thay tên gọi, những tòa nhà cao tầng vươn mình che khuất bóng cổ thụ, và những câu chuyện về quá khứ chỉ còn là lời kể của ông bà, cha mẹ. Tôi chưa từng hít thở bầu không khí của Hà Nội đầu thế kỷ 20, chưa từng bước chân trên con đường Cổ Ngư còn thắp đèn dầu hỏa năm 1918, hay lắng nghe tiếng "kèn đuổi ma" rờn rợn ở dốc Hàng Gà.
Ảnh minh họa
Thế nhưng, một ngày, tôi may mắn được "chạm" vào những trang ghi chép, nhật ký tưởng chừng vụn vặt của nhà văn Nguyễn Công Hoan – một người đã có nhiều năm gắn bó với Hà Nội, đã sống, đã yêu, đã day dứt với từng góc phố, từng nhịp thở của thành phố này.
“Nhớ và ghi về Hà Nội” (NXB Trẻ, 2004) là những dòng nhật ký tản mạn được Nguyễn Công Hoan viết ra theo dạng tản mạn nhớ gì ghi đó, ít xâu chuỗi, không liên mạch, có khi chỉ là dăm ba câu ngắn gọn không đầu không cuối vụn vặt. Tuy nhiên, khi tôi cặm cụi tổng hợp, chọn lọc, tìm cách xâu chuỗi lại theo một mạch nào đó – bức tranh Hà Nội của những năm đầu thế kỷ XX phần nào hiện ra sống động, rõ nét hơn.
* * *
Những con phố kể chuyện cổ
Nếu Hà Nội của tôi là một mạng lưới giao thông phức tạp thì Hà Nội của Nguyễn Công Hoan lại mang một vẻ đẹp khác, hoang sơ mà đầy chất thơ. Phố Nguyễn Thái Học, Phùng Hưng bây giờ sầm uất là thế, thì ngày ấy "toàn là bãi cỏ hoang", và "quá chợ Hôm, từ quãng đường hơi cong ở phố Huế, là bắt đầu ruộng rồi." Ruộng kéo dài tít tắp đến tận chợ Mới Mơ, ngã tư Trung Hiền. Ngay cả Thụy Khuê cũng đã là ngoại thành, với cột cây số 3 bằng gỗ nằm cạnh cây gạo lớn.
Tôi hình dung một Hà Nội đang khẽ chuyển mình. Từng con phố cũ kỹ mang tên của những vật dụng (Hàng Hài, Hàng Trống, Hàng Đào) là nơi Tây đen bán vải, Hoa kiều bán tạp hóa và mở cao lâu (như Đông Hưng Viên trứ danh), hay những cửa hiệu người Nhật bí ẩn như Yamađa ở Hàng Trống. Tôi lại nghĩ đến Hàng Ngang, cái tên được lý giải là vì có cổng chắn ngang hai đầu phố – một chi tiết giản dị mà ẩn chứa biết bao câu chuyện về sự giao thương và cả những cuộc ẩu đả của khách Quảng Đông.
Trên những chuyến xe và cầu thép
Hà Nội ngày nay tràn ngập xe máy, ô tô và những tuyến đường sắt đô thị đang thành hình. Nhưng Hà Nội của Nguyễn Công Hoan lại có những chuyến xe, những cây cầu mang đậm dấu ấn thời đại.
Xe ngựa, xe cao-su (xe kéo) là phương tiện chính. Tôi bật cười khi đọc câu chuyện cậu bé Hoan (chắc hẳn là nhà văn) ném đá vào "thằng Tây đương thổi kèn" để không bị chửi, hay trò chơi được anh xe kéo "hóng mát bằng xe cao-su mà không mất đồng xu nào" ở Hàng Trống. Đó là sự tinh quái, hồn nhiên của tuổi thơ, một nét đáng yêu giữa bối cảnh thuộc địa.
Hệ thống giao thông công cộng cũng đang hình thành. Những chuyến xe điện len lỏi trong thành phố, đôi khi còn suýt va chạm với xe lửa vì đèn dầu hỏa thắp trên đầu toa, tạo nên một cảnh tượng thót tim mà Nguyễn Công Hoan đã chứng kiến. Còn những chuyến tàu lửa đi đêm, người bám chi chít như sung, ngồi cả trên nóc toa, phải chui qua cửa sổ mà nhảy xuống ga. Đó là hình ảnh của sự thiếu thốn, nhưng cũng là sự thích nghi của con người trong bối cảnh khó khăn.
Và rồi, sừng sững giữa dòng sông Hồng là Cầu Long Biên (tên ban đầu là cầu Đu-me), khánh thành năm 1902. Đọc về quá trình xây dựng, tôi rợn người khi biết nhiều người thợ đã "rực lên vì dưỡng khí mà chết" trong "Vịnh khí chung" (ống hơi) khi làm chân cầu. Cây cầu thép ấy không chỉ là một công trình vĩ đại, mà còn là nấm mồ chung của bao phận người lao động vô danh, luôn được sơn đi sơn lại bằng lớp sơn đỏ rồi xám – một vòng lặp vĩnh cửu của sự tồn tại.
Mùa lễ hội và những khía cạnh văn hóa độc đáo
Hà Nội của tôi có những mùa lễ hội sôi động với ánh đèn điện và âm nhạc hiện đại. Nhưng Hà Nội xưa, qua ngòi bút của Nguyễn Công Hoan, lại hiện lên với những nét văn hóa tinh tế và cả những bi kịch tiềm ẩn.
Tết Nguyên Đán có thú chơi thủy tiên đầy nghệ thuật. Tôi không khỏi trầm trồ trước sự khéo léo của người xưa: không chỉ trồng, mà còn tỉa lá uốn cong, lái nụ hoa mọc ngang, mọc chéo theo hình rồng phượng, hay "hãm từng giò hoa để đợi nhau" nở đúng giao thừa. Đó là sự tinh tế, cầu kỳ mà chỉ những người Hà Nội sành chơi mới có.
Tết Trung thu vốn không phải là Tết trẻ con, với những màn múa rồng, múa sư tử của người lớn, đèn cù quay tít tắp. Nhưng rồi, vì những "tụi du côn" tranh nhau giải, dùng xà beng đánh nhau thành án mạng, mà Tết Trung thu bỗng hóa thành "Tết trẻ con" dưới lệnh cấm của Tây. Từ những nét văn hóa cộng đồng sôi động, một cái phẩy tay của quyền lực đã biến nó thành sân chơi của con trẻ. Đó là một sự chuyển mình vừa đáng tiếc, vừa cần thiết để giữ gìn sự bình yên.
Nguyễn Công Hoan cũng đưa tôi đến những rạp hát, rạp chiếu bóng đầu tiên. Từ những rạp tuồng Năm Chăn, Thông Sáng thô sơ ở Hàng Quạt, đến sự ra đời của cải lương Quảng Lạc ở ngõ Sầm Công (Tạ Hiện) với sân khấu có phông màn, diễn viên mũ áo lộng lẫy từ Thượng Hải. Hay những rạp chiếu bóng "chớp ảnh" như Pathé frères lợp tôn nóng bức, nơi Tây và nhà giàu đến xem phim, với những tấm vé "hạng bét" chỉ một hào. Tôi mỉm cười, hình dung ra cảm giác lạ lẫm, tò mò của người dân Hà Nội khi lần đầu tiếp xúc với những loại hình giải trí mới mẻ này.
Những mảnh đời vụn vặt
Những ghi chép của Nguyễn Công Hoan không chỉ là về phố xá, mà là về con người. Ông vẽ nên những chân dung giản dị nhưng sống động, từ những chi tiết vụn vặt nhất.
Có những thợ giặt thuê ở Phùng Hưng, là quần áo bằng bàn là than đá, hồ cổ áo trắng cứng và bóng loáng – một nét đặc trưng của "cung cách người Hà Nội" thời ấy.
Có những người khóc mướn – một nghề nghiệp đặc biệt, thể hiện sự coi trọng tang lễ và cả những thiếu thốn về nhân lực, tình cảm của người chết ít con cháu. Họ khóc lóc, kể lể thảm thương đến nỗi người ngoài nghe rất cảm động, dù có lẽ nước mắt chưa chắc đã rơi.
Rồi có những Tây đen bán vải ở Hàng Đào, Sét-ty cho vay nặng lãi ở Hàng Gai – những mảnh ghép của một xã hội đa chủng tộc, đa văn hóa nhưng cũng đầy rủi ro.
Hay hình ảnh các "cô đầu" ở Hàng Giấy, Thái Hà ấp, nơi người ta "lên Hàng Giấy" hoặc "xuống Ấp" để nghe hát. Và cả câu chuyện buồn về người em gái hát rong rồi sau làm nghề mãi dâm, khiến Nguyễn Công Hoan phải thốt lên rằng "những quân sa đọa sống trong xã hội thối tha, chúng nó có tha ai mà không làm hại?" – một câu hỏi day dứt về phận người trong vòng xoáy mưu sinh và tệ nạn.
Dư âm ký ức
Hành trình lật giở những trang nhật ký của Nguyễn Công Hoan, với tôi, không chỉ là việc đọc tư liệu, mà là một cuộc đối thoại thầm lặng với quá khứ. Tôi không sống ở Hà Nội xưa, nhưng qua những dòng chữ của ông, tôi cảm nhận được nhịp đập của một thành phố đang thay da đổi thịt, của những con người đang vật lộn, tồn tại và kiến tạo.
Những ghi chép vụn vặt của Nguyễn Công Hoan, như những hạt bụi thời gian, khi được gom lại và sắp đặt, đã tạo nên một bức tranh sinh động về Hà Nội đầu thế kỷ 20. Một Hà Nội xa lạ nhưng thân thương, đẹp đẽ mà cũng đầy góc khuất, để mỗi người con sinh ra sau này như tôi có thể hình dung và trân trọng hơn mảnh đất mình đang sống.
Và tôi tin, chỉ cần ta mở lòng lắng nghe, những ký ức ấy sẽ mãi sống động, như một dòng chảy bất tận giữa thời gian trong tâm hồn mỗi người yêu Hà Nội./.
Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Lương Đình Khoa.
Lan và Điệp không chỉ là một chuyện tình buồn, mà còn là biểu tượng của những mối tình dang dở trong văn hóa Việt Nam. Qua nhiều thế hệ, câu chuyện đã được chuyển thể thành cải lương, tân cổ giao duyên, sân khấu và điện ảnh, để lại nhiều cảm xúc trong lòng khán giả.
Trong video này, chúng ta sẽ cùng trở về bối cảnh Việt Nam đầu thế kỷ XX để tìm hiểu thêm về câu chuyện tình dang dở kinh điển này nhé.
Kính thưa các bạn!
Có những câu chuyện tình đã qua gần một thế kỷ, nhưng mà cứ mỗi lần nhắc lại, người ta vẫn thấy lòng mình nặng trĩu. Không phải vì họ không yêu nhau, mà bởi vì họ yêu nhau quá nhiều. Đến mức một người chấp nhận hy sinh cả cuộc đời, để người còn lại được sống hạnh phúc.
Có người trách Điệp phụ bạc, có người thì thương Lan bạc mệnh. Nhưng nếu nhìn sâu hơn vào câu chuyện, liệu Điệp có thật sự là kẻ phản bội, hay chính số phận mới là nguyên nhân chia cách họ?
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng trở về Nam Bộ, những năm đầu thế kỷ, để nghe lại một trong những câu chuyện tình buồn nổi tiếng nhất Việt Nam: Lan và Điệp.
Ít ai biết rằng, tác phẩm Lan và Điệp có nguồn gốc xuất xứ ở ngoài Bắc. Câu chuyện được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1933 qua tiểu thuyết Tắt lửa lòng của nhà văn Nguyễn Công Hoan.
Nguyễn Công Hoan quê ở làng Xuân Cầu, Tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên. Ông sinh trong một gia đình quan lại xuất thân nho học. Trong gia đình, từ nhỏ, Nguyễn Công Hoan đã được nghe và thuộc rất nhiều câu thơ, câu đối và những giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm đả kích tầng lớp quan lại. Điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách văn chương của ông sau này.
Câu chuyện nói về mối tình lãng mạn, đầy trắc trở, của cô gái tên Lan và chàng trai tên Điệp. Do mắc mưu của ông quan phủ ở tỉnh lẻ, Điệp, một cậu học trò nghèo, phải phụ tình vị hôn thê là Lan, để cưới Thúy Liễu, con gái của ông phủ. Lan ôm mối tình tuyệt vọng, bỏ nhà đến chùa để cắt tóc đi tu.
Cao trào của câu chuyện là khi Điệp tìm được ngôi chùa mà Lan đang tá túc thì cũng đúng là lúc nàng trút hơi thở cuối cùng.
Tác phẩm Tắt lửa lòng nhanh chóng thu hút được sự chú ý của công chúng và được các nghệ sĩ chuyển thể ra nhiều hình thức khác nhau.
Năm 1936, soạn giả Trần Hữu Trang đã viết chuyển thể từ nguyên tác thành kịch bản cho vở cải lương Lan và Điệp. Một số nghệ sĩ thành danh với vở kịch bản này như nghệ sĩ Năm Phỉ. Đặc biệt năm 1954, khi nghệ sĩ Năm Phỉ đã 47 tuổi, nhưng bà vẫn vào vai cô Lan 18 tuổi rất thành công.
Sau nghệ sĩ Năm Phỉ, nghệ sĩ Thanh Nga cũng được đánh giá rất cao cho vai diễn Lan.
Năm 1948, trung tâm Asia đã cho thu âm vở cải lương này vào bốn đĩa nhựa với tựa đề Hoa rơi cửa Phật. Với sự tham gia của các danh ca Tư Sạng vai Lan, Năm Nghĩa vai Điệp, Tám Thưa vai Hòa thượng, Hồng Châu vai Tiểu Huệ Thông. Đĩa nhạc nhanh chóng phổ biến lan đến Campuchia và Lào, đến mức người ta quên mất tên nguyên tác, mà chỉ còn nhớ Chuyện tình Lan và Điệp.
Năm 1970, khi phong trào kịch nói lớn mạnh, Ban kịch Kim Cương đã trình diễn vở kịch nói Lan và Điệp do chính nghệ sĩ Kim Cương thủ vai Lan. Vở kịch này đã nhanh chóng thu hút được sự chú ý của khán giả, không kém cải lương và nhanh chóng được phát trên truyền hình lúc đó.
Cùng thời điểm này, kịch bản cải lương Chuyện tình Lan và Điệp của tác giả Loan Thảo với sự trợ giúp của soạn giả Thế Châu đã được thu thanh và trở thành bản ghi âm chuẩn mực nhất cho vở tuồng này tính đến thời điểm hiện tại. Tham gia vở diễn là các giọng ca nổi tiếng như Chí Tâm vai Điệp, Thanh Kim Huệ vai Lan, Tú Trinh vai Thúy Liễu, Hữu Phước vai ông Tú là ba của Lan.
Năm 2000, Tình Production sản xuất vở cải lương Lan và Điệp dưới dạng băng VHS rồi chuyển sang DVD dưới kịch bản của soạn giả Loan Thảo và Bạch Mai, với sự tham gia của Phi Nhung vai Lan, Mạnh Quỳnh vai Điệp, nghệ sĩ ưu tú Út Bạch Lan vai Bà Cử, Thanh Hằng vai Bà Phủ, nghệ sĩ ưu tú Thoại Mỹ vai Thủy Liễu.
70 năm sau, năm 2006, một lần nữa kịch bản của soạn giả Loan Thảo được tái dựng với sự tham gia của các nghệ sĩ Hoàng Nhất vai Điệp, Hà Mi vai Lan, Chấn Cường vai Xuân, Bình mập vai bếp Sạc, Uyên Thảo vai Thúy Liễu.
Cùng thời điểm này sân khấu Trần Hữu Trang cũng mang đến khán giả bản dựng lại của kịch bản này với nghệ sĩ ưu tú Tấn Giao vai Điệp và Ngân Quỳnh vai Lan.
Năm 2008, ca sĩ Minh Thuận gây tiếng vang lớn với vở ca vũ cải lương Lan và Điệp. Điểm đặc biệt của các vai diễn đều do các ca sĩ tân nhạc hát cải lương gồm Minh Thuận, Đàm Vĩnh Hưng vai Điệp, Cẩm Ly, Phương Thanh, Hồng Ngọc, Thanh Thảo vai Lan, Thu Minh vai Thúy Liễu, Hữu Bình vai ông Tú, Trung Dân và Cát Phượng vai ông bà phủ, Vũ Hà bếp Sạc, Quốc Đại vai chú tiểu.
Năm 2019, tác phẩm được tái dựng trên sân khấu nhà hát Bến Thành từ bản ghi âm do soạn giả Loan Thảo thực hiện vào năm 1974. Vở diễn quy tụ nhiều gương mặt gạo cội của làng cải lương như nghệ sĩ ưu tú Thanh Kim Huệ, Chí Tâm, Hồng Nga, nghệ sĩ ưu tú Thanh Điền, nghệ sĩ ưu tú Trọng Phúc. Hai diễn viên chính Thanh Kim Huệ vai Lan và Chí Tâm vai Điệp lần đầu tái hợp sau 45 năm từ khi bản thu lần đầu được ra mắt.
Nếu đây chỉ là một câu chuyện tình buồn, thì có lẽ người ta đã quên từ rất lâu. Nhưng Lan và Điệp lại khác. Suốt nhiều thập niên, câu chuyện ấy được kể đi kể lại, được chuyển thành cải lương, được ngâm thơ, được ca vọng cổ, được dựng thành phim, được phát trên đài truyền hình.
Ở miền Nam trước năm 1975, rất nhiều gia đình từng quây quần bên chiếc radio để lắng nghe từng câu vọng cổ về Lan và Điệp. Không ít người đã rơi nước mắt. Không phải vì họ giống Lan hay giống Điệp, mà vì ai trong đời cũng từng có một điều dở. Có người mất người mình yêu, có người bỏ lỡ một cơ hội. Có người vì hoàn cảnh mà phải từ bỏ ước mơ. Chính vì vậy, Lan và Điệp không còn là câu chuyện của riêng hai nhân vật. Nó trở thành câu chuyện của rất nhiều người, ở bất kỳ thời đại nào. Có người từng nói: tình yêu đẹp nhất không phải là tình yêu có một cái kết viên mãn, mà là tình yêu khiến con người trở nên tốt đẹp hơn.
Lan đã dạy chúng ta về sự chung thủy. Điệp để lại bài học về cái giá của những lựa chọn. Và cả hai đã nhắc cho nhiều thế hệ rằng có những lời hứa chỉ cần lỡ một lần sẽ day dứt cả một đời.
Ngày nay xã hội đã đổi thay rất nhiều. Người trẻ được tự do lựa chọn hạnh phúc của mình nhiều hơn trước. Nhưng mỗi khi tiếng vọng cổ Lan và Điệp cất lên, người nghe vẫn lặng đi. Bởi đâu đó, trong giai điệu ấy, vẫn có hình ảnh của một cô gái ngồi chờ người thương dưới mái hiên cũ, và một chàng trai mang theo nỗi ân hận đi suốt quãng đời còn lại. Có lẽ đó chính là lý do sau gần một thế kỷ, Lan và Điệp vẫn được xem là một trong những câu chuyện tình bi thương và có sức sống bền bỉ nhất của sân khấu cải lương Việt Nam.
Video của mình đến đây xin được phép kết thúc.
Mình là Đăng đến từ kênh Đăng Travel.
Hẹn gặp lại các bạn.
Bye.