Ads 468x60px

.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan




Nguyễn Công Hoan là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam.

Ông sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, Hưng Yên,
mất ngày 6 tháng 6 năm 1977 tại Hà Nội.


Các bạn có thể đọc tại đây (lấy trên Internet)
- Các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan,
- Các bài viết về Nguyễn Công Hoan.

Mời xem: Bách Khoa Toàn Thư mở - Wikipedia
♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣


Video: Nhà văn Nguyễn Công Hoan (Thực hiện: Trí Dũng, Ngọc Oanh, Huy Hoàng, Thúy Lành, Thùy Trang, Tuấn Anh - Trang thông tin điện tử Đài Phát thanh & Truyền hình Hưng Yên)

Featured Posts

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

5. Cải lương 'Lan và Điệp' - Loan Thảo (Thanh Kim Huệ & Chí Tâm) - Bản thu âm 1974



Mời nghe Bản thu âm 1974 MP3, YouTube
Mời nghe MP3 tại - Internet Archive
Thanh Kim Huệ & Chí Tâm



Mời đọc Bản đánh máy



00:00 (1a) L1C1 Tại nhà Ông Tú (Cha & Con mong chờ tin Điệp)
[Âm nhạc - Tiếng chó sủa]

Lý Con Sáo 21 - Dân Ca Nam Bộ
Ai đem con sáo sang sông.
Cho sáo sổ lồng.
Cho sáo sổ lồng.
Sổ lồng bay xa con sáo bay xa.
Sổ lồng bay xa con sáo bay xa.

Ai mua con sáo trong tranh.
Con sáo trên cành.
Con sáo trên cành.
Đậu cành cây tranh con sáo cây tranh.
Đậu cành cây tranh con sáo cây tranh.

Ông Tú: Lan à, con ra coi phải anh Điệp con qua chơi không? Mở cổng cho nó đi.

Lan: Không phải đâu ba ơi. Ở trên nhà việc người ta đem nhật trình xuống cho ba á.

Ông Tú: Vậy mà ba tưởng...

Lan: Ừ, tại ba không để ý chứ, anh Điệp anh qua đây hoài à, con Vện nó quen hơi rồi, nó đâu có sủa.

Ông Tú: Phải rồi, chuyện gì chứ chuyện đó, làm sao ba để ý bằng con được.

Lan: Baaa... !

Ông Tú: Hứ! Hễ vắng nó là bay trông đứng trông ngồi.
Mà nhắc tới là mắc cỡ đỏ mặt đỏ mày,
Làm như là mới trộm nhớ thầm thương.
Trong khi cái chuyện hôn nhân,
Cha mẹ đôi bên hứa với nhau lâu rồi.
Ờ để coi coi:
Hồi thằng Điệp mới vừa bập bẹ,
Còn bay thì nằm trong bụng mẹ,
Mười mấy năm qua rồi, thế sự đối thay.
Cha của thằng Điệp đã theo ông theo bà.
Một mình chị Cử bên nhà,
Sớm hôm lo tần tảo,
Để nuôi con nên người,
Học hành cho tới nơi tới chốn.

Lan: Cái chuyện hèn sang,
Như con nước ròng, nước lớn.
Quý, là cái nghĩa, cái nhân,
Cái lòng dạ đối với nhau.

Ông Tú: Ha ha... Bây đừng có bày đặt trứng mà đòi khôn hơn rận. Bay chặn đầu chặn đuôi, sợ ba đổi ý đó hả? Không có đâu con. Nhà mình mấy đời rồi giữ tròn điều tín nghĩa. Nếu có chuyện gì trắc trở, rồi mai ngày chết xuống dưới, mặt mũi nào mà ba nhìn anh Cử?!

Lan: Ba...

Ông Tú: Hử.

Lan: Con pha bình trà nóng rồi đó ba. Ba đọc nhật trình đi nha, để con xuống giã cho rồi mấy chục nếp mới, ba biểu chiều nay con đem qua cho bác Cử á.

Ông Tú: Ờ! Ờ! Ờ, để đó cho ba. À, con nhớ đem qua cho kịp chiều nay, ha. Để thằng Điệp nó về, cho hay thi đậu, sẵn, chỉ nấu nồi cơm nếp cúng ông bà, rồi mừng cho nó luôn.

Lan: Dạ!

Ông Tú: À nè nè nè con à... Có phải bằng thành chung là là là... bằng đíp-lôm đó phải không con?

Lan: Dạ phải!

Ông Tú: Vậy là anh Điệp bay đậu rồi. Mà điều ở đây, đó họ in lộn chữ P thành chữ N, thành ra đó là là Vũ Khắc Điện.

Lan: Vậy chắc là người khác đó ba à.

Ông Tú: Hừ! Bay đừng có khôn hơn tao. Nhật trình họ in lộn, họ cáo lỗi hoài đó, không thấy sao? Tao nhất định Vũ Khắc Điện là là...

(1b) L1C2

Điệp: Dạ! Là người khác đó bác.

Ông Tú: Ủa? Cháu? Mới về đó hả?

Điệp: Dạ!

Ông Tú: Ơ... Anh Điệp con về rồi nè Lan ơi.
À, cháu nói đó là tên người khác, còn cháu?

Điệp: Dạ! Cháu rớt rồi bác à.

Ông Tú: Rơơớt?

Điệp: Dạ!

Ông Tú: Vậy là... làm sao?

Điệp: Dạ! Cháu cũng đâu biết làm sao!

Ông Tú: Trời đất ơi, mà mà... Ùa! Xí! Trời ơi! Học tài thi phận mà, hơi đâu mà cháu buồn. Phải không? Đâu phải người nào học giỏi cũng thi đậu hết đâu? Hơn nữa cái bằng cấp mà, ờ, nó chỉ là cái bằng cấp thôi, phải không cháu?

Điệp: Dạ!

Ông Tú: Vả lại ở đời, con người hơn nhau bởi nhiều lẽ, tánh tình nè, danh dự nè, phải không?

Điệp: Dạ!

Ông Tú: Chứ đâu phải chỉ có cái bằng cấp, phải không? Bằng cấp mà ăn thua gì, phải không?

Điệp: Dạ!

Ông Tú: Mà nè, còn thi kỳ nhì nữa phải không, cháu?

Điệp: Dạ!

Ông Tú: Ừ, kỳ này ráng đậu nghe. Coi vậy chớ đàn bà họ coi trọng chữ công danh lắm đó à, nghe không!

Điệp: Dạ! cháu cũng cố gắng hết sức, để mẹ cháu khỏi buồn lòng, bác và em Lan khỏi thất vọng. Nhưng, cháu ân hận hết sức...

Ông Tú: Thôi, nói là nói vậy, chứ bác có trách móc gì cháu đâu. Chuyện dĩ lỡ rồi, thua keo này mình bày keo khác. Rớt kỳ này mình ráng đậu kỳ tới. Phải không? Thôi để bác kêu con Lan lên đây, rồi cháu liệu mà nói với nó.

Điệp: À! Dạ!

Ông Tú: Mấy bữa nay nó nó nó nó trông cháu dữ lắm đó nghe không. Ráng mà... mà...
Lan à...

Điệp: Dạ! Dạ, thưa bác! Cháu ghé cho bác hay tin, rồi còn phải về thưa lại với mẹ cháu...

Ông Tú: Ờ...

Điệp: Cháu còn phải...

Ông Tú: Ờ...

Điệp: Dạ! Để bữa khác cháu qua. Còn bữa nay... Dạ, thưa bác! Cháu về...

Ông Tú: Điệp, Điệp, Điệp... Cái thằng...
Lan à, Lan...

Lan: Dạ!

Ông Tú: Ờ, con đem nếp qua cho bác Cử nghe không. Rồi lựa lời mà an ủi thằng Điệp, mà kẻo nó buồn, tội nghiệp nó nghe. Đi đi con. Đi!...



05:45 (2) L2C1 Tại nhà Bà Cử (Mẹ & Con)

[Âm nhạc]

Bà Cử: Điệp à!

Điệp: Dạ!

Bà Cử: Con qua bển báo tin con thi rớt, con... con thấy bác Tú có buồn không con?

Điệp: Dạ! Bác Tú không có được vui.

Bà Cử: Phải rồi, vui sao được.

[Nói Lối]
Tuy mẹ là người đẻ ra con.

[Ngựa Ô Nam]
Nhưng bác Tú mới là người
Tận tình lo lắng cho... con.
Kể từ ngày cha con bạc số mất đi.
Cảnh mẹ góa, con côi,
Dù mẹ tảo tần hôm sớm gian lao,
Nhưng vẫn thiếu trước hụt sau.
Nhờ bác Tú tận tình đùm bọc,
Gia đình ta mới có được ngày này.

Điệp: Nhưng con ăn học chẳng thành tài.
Làm cho mẹ buồn.
Bác Tú chẳng được vui.
Chắc Lan cũng nặng lòng lo.

Bà Cử: Lúc vắng con, nó lui tới hàng ngày.
Nhờ vậy mẹ cũng bớt buồn.
Gần ngày con thi,
thấy mẹ băn khoăn lo ngại. Nó an ủi rằng:
con sẽ đậu thật cao...

Điệp: Nhưng rồi con đã làm cho mọi người thất vọng. Hà!

Bà Cử: Con cũng đừng buồn. Mẹ nói như vậy, không phải để trách cứ gì con đâu. Nhưng mẹ muốn nhắc cho con nhớ là bác Tú và em Lan đã lo lắng cho con nhiều lắm. Giúp đỡ cho nhà mình nhiều lắm. Con gắng mà đừng phụ lòng họ. Chứ còn mẹ, mẹ đẻ ra con mà, tốt, xấu, hay dở gì, con cũng là con của mẹ.

Điệp: Mẹ à! Ờ! Hay là... hay là mình thưa với bác Tú, xin huỷ bỏ lời giao ước đi.

Bà Cử: Hứư! Con nói gì kỳ vậy. Hay là bấy lâu nay con lên tỉnh học, rồi, bộ con có để ý...

Điệp: Dạ! Không có đâu mẹ. Lúc nào con cũng kính trọng bác Tú. Yêu mến em Lan. Nhưng con thấy mình thọ ơn nhiều rồi, mà con thì học hành không ra gì. Thi cử công danh thì lận đận. Ràng buộc với lời giáo ước cũ chỉ làm buồn bác Tú, làm khổ em Lan thôi. Nên con đã lén gửi cho Lan bức thư, trình bày đầu đuôi như vậy đó.

Bà Cử: Điệp! Bộ mày điên rồi hả? Sao mày... mày...

Lan: Dạ! Thưa bác! Ba con biểu con đem qua bác mấy chục nếp mới, để bác nấu chè, để cúng ông bà, danh giá, cho anh Điệp được may mắn ở kỳ thi sau.

Bà Cử: Anh ở bên nhà cứ gửi đồ qua cho hoài hà, con về nói là bác cảm ơn nghe con.

Lan: Dạ!

Bà Cử: À! Anh Điệp của con mới vừa nhắc tới con cái là con qua tới hà. Thôi bây giờ con ở đây nghe, để bác ra ngoài sau, bắt ba chén chè này nữa, lát cúng bác trai. Ở đây nghe con.

Lan: Dạ! Thưa bác! Dạ!...




09:14 (3) L2C2 Tại nhà Bà Cử (Nỗi niềm Lan & Điệp - Nam xuân)
[Nói lối]

Điệp: Lan!

Lan: Dạ!

Điệp: Lan! Lan có nhận được thơ tôi gửi chưa?

Lan: Dạ…rồi!

Điệp: Lan đọc chưa?

Lan: Dạ…rồi!

Điệp: Mà Lan đọc kỹ chưa?

[Tiếng mở giấy loạt xoạt]

Lan: Nhăn nheo hết như vầy mà sao hổng kỹ!

Điệp: Vậy, vậy Lan hiểu lòng tôi không?

Lan: Hiểu chớ sao không.
Nhưng mà... ác quá à!
Tôi hiểu bụng người ta.
Mà sao người ta hổng biết
cho cái bụng dạ của tôi.

Điệp: Đó là, vì tôi không muốn
cho Lan phải khổ.

Lan: Nếu hổng muốn cho tôi khổ,
sao còn biên thơ nói như vậy.
Mà... hồi nào tới giờ,
có khi nào tôi mở miệng
than khổ với ai đâu?

[Nam xuân]
Từ khi biết... cha mẹ hai nhà đã hứa với nhau.
Thì... tôi coi như cả cuộc đời tôi
đã gửi trọn cho người... ta...
Coi như yên phận rồi.
Dù hổng có nói ra.
Từ mấy năm qua.
Khi gần như lúc xa.
Dù chưa có nói lại nói qua.
Nhưng đã coi như một nhà.
Tôi coi bác như mẹ già.
Tôi nghĩ, anh cũng thiệt thà.
Ai dè! Người ta tính gần, tính xa.

Điệp: Lan à! Tôi... tôi cũng thương Lan
hết dạ, hết lòng.
Nhưng sợ Lan khổ, Lan buồn.
Khi có một tấm chồng,
tương lai thật là tối tăm.

Lan: Cái chuyện tương lai, ai mà biết được.
Vui sướng hay buồn phiền,
cũng số phận mà thôi.
Hay là tại tôi dốt nát quê mùa.
Nên người ta bày điều, đặng đối thay?

[Nói lối]

Điệp: Tôi mà có lòng dạ như vậy,
xin đất trời đoản mạng đi. Cho...

Lan: Thôi, thôi, đừng có thề nữa, tôi tin rồi.

Điệp: Lan tin rồi hen.

Lan: Ừa... a Nhưng mà phải bỏ cái thư đó, tôi mới chịu à.
Nói thiệt nha, đọc mấy chữ biên đó.
Tôi ấm ức trong bụng.
Mà nước mắt nó cứ chảy hoài à.
Cầm hổng có đặng.

Điệp: Thật là tôi chỉ làm khổ cho mọi người.
Lan! Lan cho tôi xin lại bức thơ đó đi.
Tôi xé bỏ, cho Lan bằng lòng.

[Tiếng xé giấy xoạt]

Lan: Mà, hổng có được nói vậy nữa nha.

Điệp: Không, không bao giờ tôi lầm lỗi như vậy nữa. Lan đừng buồn nữa nha.

Lan: Ừa, tôi hết buồn, hết giận rồi... Thôi ở đây nha. Để tôi xuống phụ với bác nấu chè. Ở đây có hai đứa nói chuyện, lỡ ai thấy, người ta cười chết. Ở đây nha...
Bác để con coi nồi chè cho. Bác lên nhà trên dọn bàn thờ bác trai đi.

Bà Cử: Ơ kìa! Mà sao con không ở trển.

Lan: Dạ! Thôi...

Bà Cử: Ừ! Thôi cũng được.



12:35 (4) L2C3 Tại nhà Bà Cử - (Bóng ma ông phủ Trần)

Bà Cử: Điệp à! Con có nói chuyện đó với nó chưa?

Điệp: Dạ! Con lấy bức thơ lại. Con xé bỏ rồi.

Bà Cử: Ờ! Vậy mới được. Con đừng có ý nghĩ nông nổi, rồi làm tầm bậy. Bác Tú, bác giận. Mà con Lan nó cũng buồn. Ờ mà, con tính chừng nào con trở lên tỉnh vậy Điệp?

Điệp: Dạ!
Con tính đi nội bữa chiều nay.
Để kịp chuẩn bị bài vở thi kỳ nhì.
Và luôn tiện, con ghé nhà bác Phủ.

Bà Cử: Ủa, bác Phủ nào?
Mà con chưa nói lại cho mẹ nghe?

Điệp: Dạ! Bác phủ Trần, là bạn cũ của cha con đó mẹ.
Hôm trước, dịp tình cờ, bác ấy có gặp con.
Hỏi thăm hoàn cảnh mình hiện nay.
Chắc thấy cảnh mẹ góa, con côi,
bác ấy cũng thương tình.
Mới biểu con ghé nhà.
Rồi bác ấy tìm cách giúp cho.

Bà Cử: À thôi! Mẹ nhớ ra rồi. Bác Phủ là bạn của ba con, mà cũng là bạn của bác Tú, ba của con Lan ở bển. Nhưng mà nghe đâu hồi xưa, ổng với cha con không có mấy gì hòa thuận á.

Điệp: Hờ, người lớn mà! Ai để ý tới mấy chuyện lặt vặt, hồi xửa hồi xưa đó mẹ. Con thấy bác Phủ có vẻ thương con và tử tế lắm. Bác hứa là sẽ giúp đỡ cho con kỳ thi này, và tìm cho con một chỗ làm ở trên dinh quận của bác đó. Để cho con có tiền mà giúp đỡ gia đình và tiếp tục việc học.

Bà Cử: Vậy thì cũng may cho con. Nhưng mà mình thọ ơn nhiều người quá, rồi cái, mẹ sợ ...

Điệp: Miễn là mình đừng bội bạc, đừng có quên ơn, là được rồi, chứ sợ gì mẹ.

Bà Cử: À thì mẹ nói vậy, chứ con tính sao, miễn được thì thôi. Chứ mẹ có nói gì đâu.

Lan: Ui cha! Nóng quá!

Bà Cử: A Lan à, để đó cho bác, con!




14:20 (5) L2C4 Tại nhà Bà Cử - (Chia tay hẹn ước)

[Thoại]

Lan: Bộ lát chiều... đi hả?

Điệp: Chiều nay tôi đi.

Lan: Bộ ở trển vui lắm hả?

Điệp: Ahà... Đối với tôi, không ở đâu vui bằng ở đây. Không chốn nào đẹp bằng chốn này. Mỗi ngày được gặp Lan, hầu chuyện với Lan, là trong lòng tôi vui lắm rồi. Nhưng vì tương lai của tôi, của chúng ta sau này, nên tôi phải tạm xa Lan. Lan cũng nên vui lên, để tôi an lòng, mà...

Lan: Tôi đâu có buồn. Tôi vui lắm chứ. Người ta đi lo cái chuyện công danh mà. Tôi đâu có cản làm chi.
Mà điều, người ta đi rồi, chắc cái nhà này buồn lắm.

[Nói lối]
Một năm mười hai tháng dài đăng đẳng.
Người ta chỉ chờ đợi mấy tháng hè.
Mỗi khi thấy trời bắt đầu lất phất hạt mưa.
Mấy con ve nhỏ kêu rân trên ngọn me tây ngoài Nhà Việc.
Trời đất thì buồn vậy đó,
mà lòng vui không kể xiết.

[Vọng cổ câu 4]
Vì biết rằng người ta này,
sắp gặp lại người ta đó,
sau gần một năm
xa cách... mong... chờ...(!)
Gặp mặt thì hổng biết nói chuyện chi.
Mà xa thì trong dạ bồi hồi...
Tuy ở gần đây,
mà có khi cả ngày
cũng đâu có gặp mặt.
Nhưng biết người ta có mặt ở nhà,
nên trong lòng tôi
hổng có thắc mắc, âu lo.
Chiều nay người ta lại phải đi xa.
Tôi lại thấy buồn, thấy nhớ.
Chiều chiều ra bến ngó mong.
Rồi giận hờn con đò nhỏ.
Ngày mấy lượt sang sông,
sao hồng nhạn mịt mù.

[Nói dặm]

Điệp:
Thì hồi nào tới giờ,
tôi cũng về nghỉ hè,
rồi trở lên tỉnh.
Chứ đâu phải mới lần này?
Sao mà Lan buồn quá vậy?
Hồi nào tới giờ,
có lúc nào mình
ở gần nhau hoài đâu.
À... Có cái hồi nhỏ xíu,
chưa biết gì, thì có.

[Vọng cổ câu 6]

Lan: Phải rồi, hồi đó mình nhỏ xíu, chưa biết gì.
Nhưng không biết người ta có quên không?
Chứ tôi thì tôi vẫn nhớ.
Nhớ mỗi lần hai đứa trốn nhà,
đi tắm sông, hái ổi.
Về nhà bị đòn,
người ta chịu tội thế cho tôi.
Mới ràng ràng đây
chứ có xa xôi gì lắm đâu.
Rồi người ta lớn lên.
Người ta ra tỉnh học.
Thiên hạ thường nói:
"xa lòng, cách mặt".
Tôi thì tôi không ngại gì
cái chuyện thay lòng đổi dạ
lúc xa nhau.
Nhưng thường thì:
Khi con ve sầu bắt đầu ngưng tiếng hát.
Lá bàng ngoài sân rơi lác đác.
Người ta mới lại đi.
Cho kịp buổi tựu trường.
Nhưng lần này,
người ta về.
Rồi đi vội vã.
Tôi bỗng thấy buồn,
thấy sợ mông lung.
Sợ đưa người như đưa sáo sang sông.
Biết đâu rồi sáo xổ lồng bay xa.

Điệp: Nói như vậy là Lan còn nghi ngờ, còn không tin lòng dạ của tôi.

Lan: Không phải tôi không tin. Nhưng, sao tự nhiên lần này, tôi thấy buồn quá à. Tôi sợ. Nhất là, khi nghe cái chuyện ông phủ Trần gì đó. Mà không phải tôi nghe lén à nha. Tại nói lớn quá, tôi bưng chè lên, tình cờ tôi nghe.

Điệp: Ôi, chuyện đó mà Lan bận tâm làm gì. Trong lòng tôi, không có ai ngoài Lan hết. Hơn nữa, người ta giàu sang, quyền thế. Ai mà thèm nghĩ tới mình. Nếu có con gái, họ cũng đâu có chịu gả cho cái thằng học trò, đã nghèo, còn thi rớt lên rớt xuống nữa.

Lan: Nếu có chuyện gì, chắc tôi chết!

Điệp: Ơ!

Lan: Chắc tôi đi tu quá à!

Điệp: Ứừ! Lan! Đừng có nói gở vậy, không nên.

Lan: Thôi, mình bỏ qua chuyện đó nghe. Chiều nay, người ta đi hả?.

Điệp: Ờ!

Lan: Hôm qua tôi mới đập cái ống, được... Để coi: đồng hai, đồng tư, đồng bảy, hai đồng mốt, hai đồng rưỡi, hai đồng tám, ba đồng hai... Ừa, ba đồng hai nè, cất đi, bỏ túi xài. Đi đường có khát nước, uống nước. Uống đậu đỏ bánh lọt nghen, chứ đừng ăn cà lem đau bụng à. Có chai dầu gió nữa nè. Rủi có nhức đầu sổ mũi gì, sức, uống cũng hay lắm. Hôm nọ nhỏ Xuân nó cố ăn, nó đau bụng dữ. Tôi cho nó uống có chút xíu cái, hết trơn à.

Điệp: Thôi, Lan... Lan cất đi. Nhờ vả Lan với bác ở bên nhà hoài, tôi ngại quá à.

Lan: Không lấy hả? Không lấy tôi giận à!

Điệp: Ơ!

Lan: Chê hả?

Điệp: Tôi...

Lan: Lấy đi mà...
Ừa, vậy phải được không! Thôi, đi mạnh giỏi. Lên tới chỗ, nhớ gõ giây thép về cho... cho bác gái biết tin nha.

Điệp: Lan! Lan ở nhà cố giữ gìn sức khỏe nghe!

Lan: Ừa! Đi mạnh giỏi nghe!



20:06 (6) L3C1 Tại dinh ông Phủ Trần (Vụ việc gài sắp)

[Tiếng chuông kêu. Tiếng chân lạch cạch.]

Bếp Sạc: Quan lớn gọi, bếp Sạc trình diện.

Ông Phủ: Ừ, việc đó thi hành chưa?

Bếp Sạc: Dạ! Đã xong nhưng đang chờ kết quả.

Ông Phủ: Tao dặn chờ khi nào có kết quả hãy vào cho tao biết.

Bếp Sạc: Dạ! Quan lớn gọi. Chứ con đâu có gọi. Dạ! Đâu có tự nhiên con vào.

Ông Phủ: Tao nhấn chuông, đứa nào vào không được nữa là mày.

Bếp Sạc: Dạ! Đâu được, quan lớn! Con là người tin cẩn của quan lớn mà. Hễ chuông kêu, là có mặt con. Tiếng reng chưa dứt, là có con tới. Con sáng hơi chuông. Cho nên có đứa nó ác mồm, nó nói con như kền kền sáng hơi thây ma vậy đó.

Ông Phủ: Giỏi à! Hứ! Cái thằng chó má đó, hồi trước nó cũng sáng hơi chuông như vậy, cho nên mới xảy ra nông nỗi.

Bếp Sạc: Dạ! Quan lớn nói ai ạ?

Ông Phủ: Còn ai vô đây nữa, mà mày hỏi cơ hỏi cầu chứ. Hứ! Cũng tại tao tin người tín cẩn tay chân, cho nên mới xảy ra tác tệ như vậy.

Bếp Sạc: Á à! Thì ra quan lớn giận nó. Cho nên quan lớn sai con sắp đặt, gaài... nó ha.

Ông Phủ: Mày sao cứ um xùm hoài à. Đó là mày hại tao rồi, chứ đâu phải mày hại nó đâu.

Bếp Sạc: Ủa! Vậy hả?

Ông Phủ: Từ rày tao cấm nhắc tới cái chuyện cũ đó nữa, nghe chưa?

Bếp Sạc: Dạ!

Ông Phủ: Bây giờ mày đi vào trong nhà. Mời bà mày ra đây, cho tao nói chuyện coi.

Bếp Sạc: Dạ! Cô Hai à...

Ông Phủ: Ôi thôi... thôi! Cái thằng! Trời đất ơi! Sao mày la làng lên như vậy.

Bếp Sạc: Hả?

Ông Phủ: Tao biểu mày đi vào trong, mời bà mày nghe chưa? Sao mày đứng đấy, mày la. Cái đồ chết bằm này, đi đi...

Bếp Sạc: Dạ!..




21:28 (7) L3C2 Tại dinh ông Phủ Trần (Bắt rể)

Ông Phủ: Ờ! Kìa! Liễu con! Con ra quận đường làm chi đây con?

Thúy Liễu: Dạ! Má biểu con lên đây để... để thưa với ba, là là là... là con không chịu chỗ đó đâu.

Ông Phủ: À, như vậy là má của con đã cho con biết rõ
việc chọn lựa của ba.
Tìm người nhận hôn nhân,
làm chủ cái thai.
Là để gánh nhục cho gia đình.

Thúy Liễu: Nhưng anh ta là một kẻ nhà quê.
Chức phận lại nhỏ nhen.
Thêm gia thế quá nghèo hèn.
Sợ xấu mà đi gánh nhục.
Thà là con vô ở trong chùa.

Bà Phủ: Hứ! Ở trong chùa?
Đặng mày lang bang.
Mang tiếng mang tăm.
Vài năm thêm một bụng.
Tự tác tự tung,
rồi xấu hổ thêm ra.

Ông Phủ: Con à,
cái chỗ này
là bạn cũ của ba.
Nghèo nhưng sạch,
dù rách vẫn thơm.(?)
Con đã ra tác tệ
mà đòi cao sang phú hộ,
Đáy nước mò trăng.

Bà Phủ: Má thấy thằng Vũ Khắc Điệp
tuy nghèo nhưng trẻ đẹp.

Thúy Liễu: Má! Má nói Điệp còn trẻ và đẹp hả má?

Bà Phủ: Ừ! Ừ thì thì tao coi mắt sơ sơ rồi.

Thúy Liễu: Ứừ! Còn vớt vát được điểm đó... thì thôi, con, ơ, con chịu.

Bà Phủ: Dữ ác không á! Vậy ông lo tiến hành gấp gấp đi nha. Chứ để ngày qua ngày á, nó nở bề ngang cái, chêêết... tôi à...



22:30 (8) L3C3 Tại dinh ông Phủ Trần (Phục rượu Bẫy tình)

[Âm nhạc - Tiếng cụng li]

Ông Phủ: À này cháu, uống đi cháu. Uống đi! Mới có vài ba li mà, ăn thua gì. He he he...

Điệp: (Giọng lè nhè) Ờ! Dạ! Cháu có uống đây chớ...

Ông Phủ: Ừ! Không sao. Cháu uống đi... Nam vô tửu như kỳ vô phong... Ha ha...

[Tiếng cốc vỡ]

Ông Phủ: Ahá! Rồi!... Có phong, không phong, thì nó cũng sủi lơ rồi. He he he... Bà bà bà bà bà phụ tôi coi, bà dìu nó, bà đưa nó vô phòng con Liễu... Cứ coi này... He he he...

[Âm nhạc]

Ông Phủ: Chuyện gì, chuyện gì đấy? Vặn đèn lên coi.

Bà Phủ: Trời ơi!... Như vậy thì còn gì là gia phong nề nếp của nhà quyền quý nữa nè. Trời! Ông ơi! Ông thương nhớ bạn cũ mừng chi, cho hại con, hại cái. Ông nghĩ đến tình xưa mà chi, mà rước điếm nhục về nhà.

Ông Phủ: Hừ! Thằng khốn nạn! Mày có nghe thấy việc gì đang xảy ra trước mắt mày không hả?

Thúy Liễu: Dạ! Con lỡ dại. Ba má tha cho con. Nể tình bằng hữu cũ, mà... mà tha cho anh Điệp.

Ông Phủ: Trời ơi! Sao cha của mày không có chịu đội mồ mà sống dậy, để chứng kiến cái cảnh này nè. Trời ơi là trời!

Điệp: Bác!... Bác!... Cháu!... Cháu đã!... Trời!...

Bà Phủ: Trời!... Trời trời trời trời, nó... nó ngã là nó chết. Ông! Ông ơi! Coi chừng án mạng.

Ông Phủ: Hừ! Án mạng gì? Chỉ có án tiền dâm, hậu thú mà thôi. Bà sửa soạn, để ngày mai, hai vợ chồng mình đến gặp mẹ nó, mà hoàn tất kế hoạch.




24:33 (9) L4C1 Tại nhà Bà Cử (Ép cưới)

Ông Phủ: Hà! Đó! Đầu đuôi câu chuyện nó vậy đó. Cũng vì cái chuyện đó, mà mà mà mà vợ chồng tôi bắt buộc phải lặn lội xuống đây.

Bà Phủ: Hứ! Cũng tại ông bày chuyện đãi đằng, rượu chè cho quá độ, mới ra cớ sự đó. Trời ơi! Bây giờ nó tác tệ như vậy rồi..., rồi phải tính sao đây?

Bà Cử: Trời ơi! Nó làm khổ chi vậy nè trời! Bây giờ quan lớn thân hành đến đây bắt tội, thì mẹ góa, con côi, đành quỳ xuống đây xin chịu tội.

Ông Phủ: Thôi chị Cử! Chị đứng lên đi! Kẻo tôi phải đắc tội với người xưa. Dù sao đi nữa, thì... hơ... ván nó cũng đã lỡ đóng thuyền rồi, chị à.

Bà Phủ: Vậy chị nhờ mối lái, đến dạm hỏi, tôi gả phắt con Thúy Liễu cho thằng Điệp cái cho rồi.

Ông Phủ: Thôi được rồi. Bấy nhiêu lời đó cũng đủ lắm rồi. Để cho chị Cử, chị lo liệu. Hừ! Chị lo sao thì chị lo, hả chị Cử. Vợ chồng tôi xin phép kiếu từ.

[Tiếng động cơ xe xa dần]


25:33 (10) L4C2 Tại nhà Bà Cử (Tình mẹ)

Bà Cử: Điệp! Điệp ơi! Mày gây chi chuyện khổ quá vậy, Điệp! Hương hồn của cha mày, chắc cũng hổ lây nơi chín suối. Nhà cửa thiếu trước, hụt sau, vầy đây nè, thì làm sao mà đủ lễ, để cưới con quan. Bằng như quyết liệt từ nan, thì làm sao cho khỏi tội tình với người trên trước.

Điệp: HâyÀ! Mẹ! Con hư đốn quá. Chuyện vừa qua, con bàng hoàng như cơn ác mộng.

[Nói Lối]

Bà Cử: Con ơi!
Đành là giữa cuộc sống,
bả vinh hoa, mùi phú quý
lắm khi cũng che mờ nghị lực.
Con người vốn dĩ sinh ra muôn đời ham muốn.

[Vọng cổ câu 5]
Mẹ nuôi con còn sợ con thiếu thốn
từng giọt sữa, hột cơm.
Sợ con thèm khát
chất chồng thêm.
Rồi lớn lên trong cuộc sống bon chen,
không tránh được sai... lầm...(!)
Biết bao năm giáo huấn,
con điên dại một lần,
thì cầm bằng như bỏ hết.
Dẫu chết được liền,
mẹ cũng chẳng an tâm.
Cha con giữ đạo thanh bần
cho đến chết.
Của cải thì
chỉ còn chút khiết tâm
Đến cửa nhà giàu
mà không giữ được tấm thân.
Để chàm dây mực ô nhục mang hận ràng.

Điệp: Con chưa từng uống rượu nên mới ra nông nỗi.
Giờ có hối thì cũng chậm mất rồi.

[Vọng cổ câu 6]

Bà Cử: Phải chi người ta còng đầu mày.
Bắt mày làm tình làm tội
Thì cũng dễ xử cho mẹ.
Đằng này... trời ơi!
Họ không làm thế.

Điệp: Người ta biện tình bằng hữu với cha con ngày trước,

Bà Cử: Để bao che tội lỗi cho mày.
Còn hứa hẹn đỡ nâng.
Đưa mày vào vòng vinh hiển.
Đành rằng người ta có lòng nhân hậu,
với con cái của bạn bè.
Nhưng cũng muốn dùng mày
làm bình phong che tiếng xấu.
Mẹ thắc mắc lo âu,
sợ thiên hạ chê cười,
mình tham sang phụ khó.
Sợ cha mày dưới cửu nguyên xấu hổ,
vì vợ con đã bội ước, vong nguyền.
Chuyện "Chỉ phúc giao hôn"
với gia đình ông Tú.
Mẹ coi như lời thề
tối khẩn linh thiêng.
Dù cho biển cạn non mòn.
Dẫu con tù tội
mẹ cũng đành thôi con.

Điệp: Cảm ơn mẹ! Chân tình thành khẩn của mẹ làm cho con thấy nhẹ nhõm lương tâm và xấu hổ cũng vơi đi đôi chút. Con sẽ đến phủ đường phân biệt thiệt hơn và bằng lòng thọ phạt. Nếu quan phủ thay lòng đổi dạ...

Bà Cử: Mình nghèo tiền nghèo bạc, chứ không nghèo nhân nghĩa nghe con!

Điệp: Có một điều con xin mẹ giữ cho, là đừng tiết lộ việc này với gia đình bác Tú. Tuy mơ màng chưa rõ mình có phạm tội hay không, nhưng con cũng thấy xấu hổ với Lan. Lòng phập phồng lo sợ cho nàng đau khổ.

Bà Cử: Bình sanh mẹ không thích dối gạt ai. Gặp bác Tú mày á, mày liệu nói sao đó, thì mày nói.




29:37 (11) L4C3 Tại nhà Bà Cử - (Lời giao ước cũ)

Ông Tú: Tôi biết hết rồi. Á! Chuyện này theo tôi nghĩ, chỉ có một cách giải quyết cho ổn thỏa. Đó là làm theo ý ông bà Phủ.

Bà Cử: Kìa anh! Dạ! Dạ! Anh mới qua. Dạ! Mời anh ngồi. Thiệt con cái nó làm cho mình khổ tâm quá.

[Văn Thiên Tường]

Điệp: Dạ! Thưa bác! Sao... sao bác biết được!?...

Ông Tú: Con Lan á! Hồi nãy, tôi sai nó qua đây. Tình cờ gặp lúc ông bà Phủ xuống đây nói chuyện. Nó đứng ngoài hè, nó nghe hết. Nó mới chạy về nhà, vừa khóc, vừa nói.
Ừ, mà không!
Nó khóc thật nhiều
chớ có nói được gì... đâu...
Tôi cố dỗ dành,
hỏi rõ đầu đuôi.
Nó mới nức nở
nghẹn ngào thưa qua.
Như sét đánh bên tai.

Điệp: Cháu rất tủi hổ.
Rất khổ sở trong lòng.
Không hiểu cớ gì?
Mà cháu lại gây điều tác tệ.
Làm xót xa lòng mẹ.
Làm đau khổ bạn chung tình.

Bà Cử: Tôi muốn chết.
Cho khỏi gai mắt, chướng tai.
Chỉ có một thằng con trai.
Mà nó bạc nghĩa vong tình.

Ông Tú: Chuyện đã lỡ rồi.
Mình hãy tìm phương giải quyết, cho êm đẹp.
Để khỏi ai phải vướng bận trong lòng.

Bà Cử: Bận lòng thì chắc không ai tránh khỏi rồi. Làm sao gặp mặt anh hằng ngày mà tôi không xấu hổ. Làm sao mà tôi dám nhìn mặt ông dưới cửu nguyên. Mày thấy cái tai hại của chuyện mày làm chưa? Hỡi thằng bất hiếu!

Điệp: Con nghĩ là, còn chuyện gì mờ ám trong vụ này. Thật tình cháu không biết gì hết. Cháu không nhớ gì hết cho đến khi tỉnh dậy.

Ông Tú: Ờ, có phải đêm đó cháu uống hơi nhiều rượu, cháu hơi quá chén phải không?

Điệp: Dạ! Hồi nào tới giờ, cháu đâu có biết uống rượu. Cho nên ...

Ông Tú: Àu! Khi người ta say thì làm sao biết được mình đã làm gì. Làm sao dám cả quyết mình không có làm chuyện gì sai quấy.

Bà Cử: Rồi bây giờ anh liệu sao đây? Chứ tôi thì tôi rối trí quá rồi.

Ông Tú: Tôi đã nói là chỉ có một con đường phải chọn...

Bà Cử: Nhưng mà, hổng được đâu. Còn con Lan, còn lời giao ước cũ.

Ông Tú: Con Lan, chắc nó buồn nhiều lắm. Nhưng rồi chắc nó cũng sẽ nguôi ngoai. Còn lời giao ước cũ thì...

Bà Cử: Tôi không thể nào thay đổi được. Anh biết tánh của ông nhà tôi mà. Một lời đã hứa là như đinh đóng vô cột. Nay ổng mất rồi cũng vậy. Còn con Lan, nó hiền lành, nó ngoan ngoãn vậy đó. Thì lòng dạ nào tôi nhìn nó khổ chứ .

Ông Tú: Chỉ có lời hứa thôi, mà lỡ dở ra, tôi còn buồn như vậy. Con Lan còn buồn như vậy. Huống chi hoàn cảnh của cha con ông phủ Trần còn khổ sở đến mức nào nữa chị? Chị à! Chị cho phép tôi thắp ba cây nhang để thưa với anh Cử một đôi lời nha chị Cử.

Bà Cử: Dạ!

Ông Tú: Cảm ơn chị!

[Nói Lối]
Anh Cử!
Xưa nay người ta nói:
vật đổi sao dời.
Nhưng tôi tin là tình thân
giữa hai gia đình mình
không bao giờ dời đổi.

[Vọng cổ câu 4]
Thắp ba nén nhang.
Tôi thành tâm xin anh thứ lỗi.
Vì tôi xin rút lại lời giao ước.
Đã từ lâu ràng buộc... hai... nhà...(!)
Anh biết tánh tôi mà.
Xưa nay tôi chưa hề nói hai lời.
Huống chi ngày nay
anh đã khuất núi.
Còn chị phải tảo tần
trong cảnh mẹ góa con côi.
Anh dư biết lòng dạ tôi
quyết chẳng đổi dời.
Còn chị Cử đây
thì trước sau vẫn vậy.
Nay có chuyện biển dâu biến đổi.
Anh có linh thiêng.
Tôi xin anh
đừng giận, đừng buồn.

Bà Cử: Anh Tú!
Anh quyết huỷ bỏ lời giao ước cũ?
Cũng tại tôi!
Tôi sanh con.
Mà không biết dạy con.

Điệp: Mọi việc đều do con mà ra cả.
Con không biết phải ăn làm sao,
nói làm sao cho phải.

Ông Tú: Chị Cử à!
Tôi xin thề có trời đất chứng cho:
Là tôi không có chút buồn giận chị.
Còn cháu Điệp! Cũng yên lòng đi.
Bác không phiền trách cháu đâu.
Chẳng qua cháu với con Lan
không có duyên nợ cùng nhau.
Cho nên mới xảy ra điều tai biến.
Nay chuyện lỡ ra rồi.
Người ta giàu còn quyền thế.
Thì cái chuyện này,
không có dễ gì đâu.
Với chị đây,
con Lan nó vô phước.
Nó chẳng được làm dâu thì thôi,
để nó làm con gái trong gia đình.
Nhà ở cạnh nhau,
khi tối lửa tắt đèn,
nó tới lui thăm viếng.
Còn chuyện huỷ hôn
là do tôi quyết định.
Chắc ở suối vàng,
ảnh không phiền trách chị đâu.

Cháu Điệp à! Chuyện mình gây ra, dù cố ý hay vô tình, cũng không có quyền lẩn trốn trách nhiệm. Cháu phải nhận lời cưới con ông Phủ mới phải đạo làm người.

Điệp: Nhưng còn Lan. Làm sao cho con được gặp Lan, để cho Lan hiểu rõ lòng con.

Ông Tú: Hồi nãy nó có theo bác qua đây. Nhưng nó không vô, đứng khóc ngoài hè kìa cháu à. Cháu cứ ra gặp nó đi. Bác cũng không hẹp lượng gì, mà không cho hai đứa gặp nhau một lần chót đâu.

Bà Cử: Anh Tú!

Ông Tú: Chị Cử! Chị đừng buồn. Tình thân giữa hai gia đình không có gì thay đổi đâu. Tôi không trách phiền gì chị đâu. Ừ! Thôi tôi về. Đi đi cháu Điệp!




37:40 (12) L4C4 Tại nhà Bà Cử - (Chia tay đoạn tình)

[Âm nhạc]
[Thoại]

Điệp: Lan!...

Lan: Hu hu hu...(Khóc nức nở)

Điệp: Lan! Em!...

Lan: Tôi nghe hết rồi. Tôi biết hết rồi.

Điệp: Em!

Lan: Đừng nói gì nữa hết á. Tôi khóc rồi nè. Hổng thấy sao? Mà nước mắt của tôi bấy giờ, có nghĩa lý gì, có ăn nhằm gì tới ai nữa đâu...

[Nói lối]

Điệp: Lan! Em khóc đi!
Em khóc nữa đi!
Nếu mỗi giọt nước mắt rơi
làm vơi đi trong lòng em
một phần nào buồn tủi.
Nếu dòng lệ kia
bôi xóa được
những kỷ niệm của thời qua.
Nếu bảo em cố quên đi
thì thật là đau xót cho tôi.
Còn bằng muốn em còn nhớ
là cả đời em vương khổ lụy...

[Vọng cổ câu 4]
Nhưng thôi, Lan ơi!
Em hãy quên đi.
Chứ nhớ làm chi
cái con người phản... bội.
Bao nhiêu tiếng yêu thương
còn âm vang trong gió.
Ơn nghĩa nặng oằn vai
mà đã vội... vong... tình...(!)
Lan ơi!...
Tôi không biết nói làm sao
cho em hiểu được lòng mình.
Trong khi đối với Lan,
tôi là người bạc nghĩa.
Đối với bác Tú ở bên nhà,
tôi là kẻ vong ân.
Hạt cơm ân cơm nghĩa
còn dính ở kẽ răng.
Tiếng nhớ lời thương
còn vương trong hơi thở.
Trời ơi!
Tôi là một kẻ ngu si khờ dại.
Đã làm nát lòng tôi.
Còn gây khổ lụy
cho bao người.

[Nói dặm]

Lan: Tôi nè! Tôi mới ngu.
Chớ người ta
đâu có ngu, có dại.
Người ta ngu
sao người ta biết kiếm
vợ giàu, vợ giỏi.
Biết chọn cho mình
một tương lai
sáng sủa tốt tươi.
Còn tôi!...
Tôi coi như cuộc đời
đã gởi trao.
Nên cả ngày thui thủi.
Chiều lo chuyện nhà.
Sáng gánh hàng ra chợ.

[Vọng cổ câu 5]
Mà mắt không dám nhìn
một chàng trai.
Tai không dám nghe
một lời nói ngọt ngào...
Sáng ở bên nhà
lo cho cha tách nước.
Chiều qua bên đây
hầu mẹ miếng trầu...
Ngày ngày bấm đốt ngón tay,
tính từng giờ, chờ đợi.
Mong buổi nắng hè.
Sợ lúc mưa thu.
Nhưng từ nay thì
hết sợ lá bàng rơi.
Thôi mong con ve sầu
trên cành me cao giọng hát.
Có ai về nữa đâu
mà tôi chờ, tôi đợi?
Mà ra bến ngóng mong,
rồi hờn giận con đò.

[Nói dặm]

Điệp: Lan à!
Mỗi lời em nói
như kim châm, muối xát.
Em có biết là
tôi cũng đau khổ
tới mức nào không?
Bác ở bên nhà
cũng đã hiểu.
Mà tha thứ cho tôi.
Tôi cũng xin Lan:
đừng hờn, đừng trách.
Nghe Lan!

[Vọng cổ câu 6]

Lan: Không!... Tôi đâu có giận, có hờn,
có trách móc ai đâu.
Chắc còn hổng bao nhiêu ngày nữa
là tới buổi đón dâu.
Có vợ rồi
nên tử tế với người ta.
Vì người con gái
một lần dang dở
là cả đời sầu khổ.
Không biết được tới bữa đó,
tôi có qua được bên này
để phụ giúp một tay?
Hay là tôi ở bên nhà
một mình rồi tôi khóc.
Khóc mừng cho người ta
trăm năm hạnh phúc.
Khóc cho tôi
sao duyên phận bẽ bàng.
Nước đã theo dòng
ra biển Đông bát ngát.
Mà đám lục bình
còn trôi dạt long đong.
Đâu có ai đem con sáo qua sông.
Mà sao sáo cũng xổ lồng bay xa.

Điệp: Lan! Tôi... Anh... anh, anh không biết phải dùng lời lẽ gì để nói với em bây giờ. Có lẽ cái số phận của chúng ta là như vậy đó.

Lan: Phải rồi, cái số phận của tôi như vậy đó. Cho nên năm nào tôi cũng một lần đón người ta về. Rồi một lần tiễn người ta đi. Còn lần này, chẳc không bao giờ còn được đón người ta về với tôi nữa.

Điệp: Lan em!

Lan: Thôi anh đi đi!

Điệp: Em!

Lan: Đừng nói gì tôi nữa hết. Đừng nói gì nữa hết.

Điệp: Lan! Lan!

[Tiếng tràng pháo nổ]

Ca khúc: Pháo đỏ rượu hồng
Pháo đỏ rượu nồng đưa sáo sang sông.
Sáo ơi! Sáo hỡi sao sáo xổ lồng
Xổ lồng nên sáo sang sông
Để người ngơ ngác trông mong
Để cho người tan nát lòng

Ve sầu gọi hè trên nhánh me Tây
Gió thu chưa tới, nhưng lá rơi đầy
Mà rồi ai đã đi xa
Để tình đôi ngả đôi nơi
Pháo hồng rền vang tiễn người.

[Âm nhạc]


45:40 (13) L5C1 Tại dinh ông Phủ Trần (Phận rể hờ)

[Tiếng chuông đồng hồ điểm 9 tiếng]

Bà Phủ: Dữ ác không á! Chín mười giờ tiểu thơ nhà này mới chịu ra khách à. Con gái mới có chồng, mà ngủ trưa quá, thiên hạ họ cười chết, nghe con.

Thúy Liễu: Maá!...

Bà Phủ: Gì đây?

Thúy Liễu: Con không chịu nổi cái cảnh lãnh đạm, thờ ơ này nữa đâu. Có chồng mà phòng không, gối chiếc, thì thà ở vậy còn hơn à.

Bà Phủ: Trời đất ơi! Con nói sao, má má nghe lùng bùng cái lỗ tai, không nghe gì hết trơn vậy à. Ông ơi! Ông ra đây mà nghe nó nó nó nó nó nó...

Ông Phủ: Gì mà mà mà mà bà la ỏm tỏi lên. Làm như là cháy nhà vậy?

Bà Phủ: Con Liễu nó nói: cả tháng nay, thằng Điệp nó... nó nó nó nó lạnh lùng, như cục nước đá vậy đó.

Ông Phủ: Trời ơi! Như vậy là kế hoạch bắt rể hờ của bà nó nó nó nó nó ăn tết(?) hết trơn rồi. Liễu à! Bộ thằng Điệp nó nó nó...

Bà Phủ: Đợi tới nước non này, mà mới báo cáo nè trời! Cái bụng mày một ngày một lớn. Tao với ba mày, lấy cái gì mà đậy cho kịp nè nè nè. Trời!

Ông Phủ: Trời ơi! Bà ơi, bà đừng có ôm xồm quá như vậy. Để rồi nó phong thanh ra ngoài, thiên hạ họ cười chê. Thôi! Con Thúy Liễu vào trong đi. Để đó ba lo cho.

Bà Phủ: Bếp Sạc đâu rồi?

Bếp Sạc: Dạ!

Bà Phủ: Gọi cậu Điệp vào hầu quan lớn coi.

Thúy Liễu: Ba má! Ba má tính sao thì tính, chớ con chịu hết nổi rồi đó.

Ông Phủ: Thôi được rồi, con vào đi. Để rồi ba lo cho.
Bà nó ơi! Nghe tôi dặn nè: hễ bà thấy tôi dữ, thì bà phải hiền nghe chưa? Hễ tôi buộc, thì bà gỡ. Mà tôi cứng rắn, thì bà phải mềm, nghe chưa? Ừ, kìa, con nó đến kìa.

Điệp: Dạ! Thưa ba cho gọi con.

Ông Phủ: Ừ! Má mày gọi mày, chứ tao không có gọi.
Đó! Nó đến đó, bà có gì không bằng lòng, vừa ý, thì bà cứ nói thẳng, để cho con nó biết đi. Lựa là phải mắng vốn cho tôi. Hừ! Tôi làm quan là để tôi xử thiên hạ kìa, chứ không lẽ tôi xử kiện ở trong nhà này hay sao? Hừ!

Điệp: Dạ! Thưa má! Vợ chồng con, ăn ở không vừa lòng má điều chi? Xin má thẳng thắn rầy dạy. Chúng con đội ơn má.

Bà Phủ: Tôi đâu cần cô cậu "quạt nồng, ấp lạnh". Đâu cần cô cậu dâng cơm, trà nước. Mà chỉ muốn cô cậu ăn ở thuận hòa, đầm ấm với nhau.
Vui vẻ mặn nồng trước sau.
Không ngại tốn hao.
Bắt rể về nuôi trong nhà.
Phiền hà điều chi?
Mà để vợ mình côi chiếc?

Ông Phủ: Hay nó còn mặc cảm sang hèn?
Cho nên nó mới
lãnh đạm thờ ơ?
Ngày qua ngày
rồi thủng thẳng,
nó quen bà à.

Điệp: Dạ! Thưa ba!
Con nghĩ là:
tám, chín tháng sau,
mặc cảm kia
có lẽ sẽ tiêu tan.

Bà Phủ: Trời ơi! Ông nghe chưa?
Thôi thôi, ông cứng đi.
Để cho tôi mềm.

Ông Phủ: Làm rể cái nhà này á
thì phải gọi dạ
và bảo vâng.

Điệp: Dạ! Vâng! Lúc nào con cũng nghe lời ba má chỉ dạy.

Ông Phủ: Ừ! Vậy là được à. Sớm biết điều là kẻ thức thời. Lầm lầm lì lì như vậy là một thằng dại. Biết chưa?

Bà Phủ: Mà biết giả dại qua ải, mới là đứa khôn đó con à.

Điệp: Dạ! Vâng! Dạ!



48:36 (14) L5C2 Tại dinh ông Phủ Trần (Sự thật tiết lộ)

Bếp Sạc: Suỵt... Cậu! Cậu... Nói ngay... Nói ngay...

Điệp: Hờ! Gì mà quan trọng quá vậy? Thầy Đội!

Bếp Sạc: Trời ơi! Cậu kêu ngạo em hoài. Chưa có mang lon cai, mà đội cái nỗi gì, cậu? Đội hũ, đội lu, đội dù, đội lọng gì? Cậu biểu phứt cái, em thi hành liền à. Trời ơi! Rồi cái, cậu làm ơn, cậu lén lén, cậu xem lại cái hồ sơ dùm em, coi nó có...

Điệp: Tôi đã cho anh biết rồi. Không có gì thay đổi về giờ chót cả.

Bếp Sạc: Trời! Không thay đổi giờ chót, nghĩa là em phải đổi xuống Hóc Bò Tó?
Cậu ơi! Em có lỗi tội gì đâu?
Mà phải đổi đi xa.
Ức oan còn hơn đem giết đi.
Ôi đời là vậy khi "cung tàn điểu tận"...

Điệp: Ha! Biết vậy, còn than vãn nỗi gì?
Thôi lên đường đừng buồn.

Bếp Sạc: Nhưng trước khi bỏ,
chốn này đây.
Tôi nói rõ cho cậu hay.
Vì sao, mà tôi phải đổi đi.
Phu nhân của cậu,
mang thai với người lạ.
Ông biểu tôi hại người.
Trời ơi! Bây giờ ông hại mình.

Điệp: Ha a! Đừng nói chơi vậy nghe chú bếp.

Bếp Sạc: Chơi gì! Tôi thương cậu, tôi mới dám tiết lộ cái vụ này. Cậu không tin tôi ha?

Điệp: Chú có bằng chứng gì cụ thể không?

Bếp Sạc: Thơ của tác giả cái bào thai, gửi cho nhà xuất bản, được không? Đây! Cậu xem đi thì rõ hơn...

Điệp: Hả? Ơ... Ơ bức thơ này...

Bếp Sạc: Không phải! Lộn... Lộn, cái này nè, chứ không phải cái đó á. Mà cái đó cũng của cậu luôn nữa. Chút xíu nữa cái tôi quên mất rồi.

Điệp: Ai đưa thơ này hả? Hiện giờ ở đâu? Sao giờ này anh mới đưa tôi?

Bếp Sạc: Cái gì mà cậu quýnh lên vậy. Trời ơi! Cậu quýnh, tôi quán cái, hư bột, hư đường hết. Tôi rành cái hoàn cảnh của cậu quá mà. Tôi biểu người đưa thơ, ngồi ở ngoài ấy, để tôi tìm cách bí mật, tôi cho cậu biết. Cậu ơi! Đồng thời tôi biếu cậu một món quà nho nhỏ, để trước khi tôi lên đường xuống Hóc Bò Tó ngồi ngáp ruồi cho qua ngày đoạn tháng.

Điệp: Thôi thôi trời ơi! Chú làm ơn, chú lén đưa người đó đến đây gặp tôi. Mau lên.

Bếp Sạc: Được rồi! Mấy cái vụ vượt hàng rào sắc, là nghề của em mà cậu. Cậu yên chí đi. Cứ đọc thơ đi. Cậu đọc chưa hết thơ, là cái người đưa thơ, trước mặt cậu liền.

BÀ CỬ:
"Điệp con!
Từ hôm đám cưới tới nay, má nhớ và trông con hoài mà không thấy vợ chồng con về. Má biết là hai con bề bộn công chuyện, nhưng con biết dưới mình mà, bà con ưa sầm xì bàn tán lắm. Nếu có thể được, vợ chồng con nên thu xếp về thăm má. Lúc này, má ở nhà có một mình. Buồn lắm. Con Lan, nó vô chùa, nó tu rồi".

Điệp: Trời ơi! Nàng đã thích pháp quy y. Mà chính tôi là thủ phạm đưa nàng vào đoạn đường quẫn trí. Lan! Lan ơi! Tội tình chi mà phải tự đọa đầy, quay lưng với trần thế. Giam cuộc đời vào thế giới vô ưu.

Bếp Sạc: Nhỏ! Nè! Lại đây. Đó, vô đi! Vô nói gì, nói lẹ lẹ, đặng ta dẫn ra nghe không?

Xuân: Dạ! Cảm ơn ông Ách!

Bếp Sạc: Gì ông Ách? Tao là Bếp. Có lên chức, là lên ông Lò thì được, chứ ông Ách thì còn khuya. Kìa, kìa, cậu Hai ra kìa.

Xuân: Anh Điệp! Em ra thăm anh đây. Thôi cảm ơn ông Cò nghe ông Cò.

Điệp: Kìa Xuân! Em cảm ơn ông Cò nào?

Bếp Sạc: Dạ! Em nói chơi cậu ấy. Chứ lớn hơn Bếp là ông Lò, chứ đâu có ông Cò nào đâu. Cậu ơi! Thôi tôi bước ra ngoài, tôi canh cửa. Cậu nhắn gì về nhà, nhắn lẹ lẹ. Rủi đổ bể nghe cậu. Chẳng những cậu không yên thân, mà tôi kỳ này khỏi xuống Hốc Bò Tó, mà ông đưa xuống Kẹt Bà Tò luôn. Lẹ lẹ đi nghe cậu.

Điệp: Sao Xuân? Chị Lan em xuống tóc rồi hả Xuân?

Xuân: Anh nói chị Lan xuống đâu? Chị đâu có xuống đâu, mà chị lên chùa. Rồi ở biệt ở trong ấy luôn à.

Điệp: Trời! Thật rồi! À! Nè Xuân! Em... em không đi thăm chị ấy sao? Ở nhà không có ai cản ngăn, rồi không ai lên rước chị về sao Xuân? Chị Lan có nhắn gì với anh không hả Xuân? Có không em?

Xuân: Anh hỏi gì nhiều quá vậy? Thì chị Lan trốn nhà đi vô chùa, nên không có ai biết, làm sao mà cản. Cái chị bị người ta hớt Ma-Nơ-Cua cái đầu láng bóng à. Cái chị mắc cỡ quá, không cho ai thấy mặt hết á. Tía có lên kêu chị về, mà không gặp. Em lén chui qua rào vô chùa, kiếm hoài, cũng không thấy nữa. Tía nói, chị biết anh cưới vợ, nên chị mới vô chùa đó.

Điệp: Phải đó! Chị Lan của em thương anh nhiều lắm.
Biết từ đây xa anh vĩnh viễn.
Nên mới mượn chốn thiền môn
chôn sầu, lấp thảm.
Để quên đi
cảnh trái ngang, phận bẽ bàng.
Anh càng thấy thương Lan.
Lòng anh như nát như tan,
khi biết Lan xuất gia
sống đời khổ hạnh.

Xuân: Anh có vợ làm gì!?
Cho chị buồn chị quy y.
Hay anh đừng cưới vợ nữa đi.
Cho chị Lan chị về nhà.

Điệp: Anh sẽ đi lên tới chùa.
Tìm cho gặp mặt Lan.
Rồi kể rõ khúc nôi.
Mong rằng Lan sẽ khuây sầu.
Mà về với gia đình.
Và tha thứ cho anh.

Xuân: Vậy mình đi bây giờ đi anh Điệp.

Điệp: Ờ, đi em.

Bếp Sạc: Khoan! Báo động, báo động! Nhỏ! Trời ơi! Mày đi ra đi nhỏ. Trời đất ơi! Trời ơi! Đi đi! Mau đi ra đi! Cô Hai xuống kia kìa.

Điệp: Tôi đưa em tôi đi, có chuyện cần. Nếu cô Hai có hỏi, anh nói sao thì nói, cho xong thì thôi.

Bếp Sạc: Trời ơi! Cậu!

Điệp: Đi em Xuân.

Bếp Sạc: Cậu! Cậu đừng đi! Trời ơi! Cậu đi thì chết tôi rồi. Cái điệu này tôi lãnh đủ rồi!

Điệp: Anh cứ nói là tôi đi mua đồ. Cô Hai ở nhà sửa soạn đi. Rồi tôi về, tôi đưa cô về thăm mẹ tôi.
Mình đi em Xuân! Cho kịp chuyến xe lửa sáng nay.

[Tiếng xe lửa chạy, kéo còi]


55:48 (15) L6C1 Trong chùa (Cánh bướm Cành Lan - Nam Ai)

[Âm nhạc]
Lan Bướm Ưu Sầu
Chôn bướm với lan giết lòng thương nhớ.
Lên chốn vô ưu sống đời nâu sồng.
Còn đâu ân xưa ngày cũ.
Tóc xanh em hủy đi rồi.
Dáng xưa kia xóa mờ tâm khảm.
Ân ái đã tan, nghĩa tình đâu nữa.
Xa cách bể dâu đổi dời muôn đời.
Vì đâu hoa xưa lìa cánh.
Bến xưa thay đổi con đò.
Để hôm nay... khóc tình dở dang...

Chú Tiểu: Chú Điệp! Chú làm gì đó? Sao lại đắp nấm mồ con con, rồi khóc than kể lể?

[Nói lối vào Nam Ai]

Lan: Tôi vùi chôn xác bướm khô nơi đáy mộ...

[Nam Ai 8 câu]
Như vùi sâu chôn kín nỗi niềm...riêng.
Đã từ lâu đeo đẳng trong lòng.
Chôn cành lan khô.
Như chôn mảnh tơ lòng.
Hai nấm mồ song song.
Để Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Dẫu mưa nắng dãi dầu.
Cùng hứng chịu chung đôi.

Chú Tiểu: Chú đã đem thân gửi cửa thiền.
Sao còn vương vấn chuyện thế gian!?

Lan: Kể từ bây giờ.
Tôi quên hết chuyện xưa.
Xác bướm cành lan đã vùi chôn nơi đáy mộ.
Là chôn đi bao nỗi đau buồn.

Chú Tiểu: Sao giọng nói chú nghẹn ngào.
Sao lệ đẫm hoen mi!?

Lan: Tôi! Tôi đâu có khóc.

Chú Tiểu: Chú lại mang thêm tội vọng ngữ rồi đó. Thôi, chú vào cho thầy dạy việc.

Lan: Huynh đừng mách lại với thầy nhá. Lần này thôi. Tôi, tôi không khóc nữa đâu.

Chú Tiểu: Thôi! Chú lên hầu thầy trên chánh điện nhá.

Lan: Vâng!



59:13 (16) L6C2 Trong chùa (Cắt đứt dây chuông)

Điệp: Chú tiểu ơi! Chú làm ơn cho tôi hỏi thăm.

Chú Tiểu: Mô phật! Thí chủ có điều chi mà tất tả dựt chuông, gọi cổng?

Điệp: Chú làm ơn cho tôi gặp người con gái tên Nguyễn Thị Lan, đã vào đây thích pháp

Chú Tiểu: Thí chủ lầm chùa rồi cũng nên. Ở đây có một người vừa thọ giới Sa-di, nhưng lại là một nam nhi tên Điệp.

Điệp: Thôi đúng rồi. Chú vào gọi dùm người ấy ra đây. Vì người ta vì tôi mà bỏ nhà bỏ cửa, người ta vì tôi mà...

Chú Tiểu: Chính chú ấy giữ việc giữ chuông mở cổng. Thí chủ...

Điệp: Xin chú mở cổng cho tôi, cho tôi vào, tôi van chú mà. Chú làm ơn...

Chú Tiểu: Kìa, chú ấy ra đến kìa.

Điệp: A, Lan! Lan ơi! Mở cổng cho anh vào. Anh lên đây tìm em đây nè. Lan!

Lan: Trời! Điệp! Hãy về đi!

Điệp: Lan! Lan! Lan!

Chú Tiểu: Chú ấy đã cắt đứt dây chuông.

Điệp: Lan! Lan ơi! Em cắt dây chuông, là cắt đứt cả tình ta rồi.

Chú Tiểu: Chú ấy đã quyết tìm quên lãng. Xin thí chủ chớ làm náo động cửa thiền. Chớ đem bụi trần làm vấy đục chốn an không. Xin cho buộc kẻ tu hành trở về cùng tục lụy. Thí chủ hãy về đi!

Điệp: Vâng!



1:00:40 (17) L7C1 Tại nhà Bà Cử (Ly dị)

[Tiếng chó sủa]

Thúy Liễu: Hù! Hù! Đừng có sủa nữa! Sủa hoài, ta sốt ruột quá rồi đó. Lội bộ mỏi chân gần chết à.

Bà Cử: Ý! Vợ chồng thằng Điệp về tới đó hả con?

Thúy Liễu: Ủa! Bà... Bà là má của anh Điệp đây à? Má anh Điệp mà vầy đây sao?

Bà Cử: Con! Con hổng... hổng nhớ được má sao con?

Thúy Liễu: À! Mới gặp hôm đám cưới đây mà.

Bà Cử: Ủa! Còn thằng Điệp đâu rồi? Bộ nó...

Thúy Liễu: Treo banh! Quốc bộ tới đây muốn rã cặp giò đây nè. Ảnh còn khệ nệ đằng sau. Lúc quẩy, lúc mang, lúc cồng, lúc đội. Kìa! Chả về kìa.

Bà Cử: À con! À con ngồi đây nghỉ, để mẹ đi đun nước, pha bình trà ngon cho các con uống. Nước hồi sáng lạnh tanh rồi.

Thúy Liễu: Trời ơi! Nóng gần chết mà cho uống nước trà. Bộ ở đây không có nước đá hả? Ờ mà thôi, nấu đi. Tắm nước nóng cho nó sảng khoái. Hứ! Nhà gì như cái ổ chuột, bực bội chết được.

Điệp: Hờ! Về chơi năm ba ngày, mà mang theo cả đống vali. Bỏ lại thì sợ mất. Còn ôm đồm thì phải có ba đầu, sáu tay, mới xách hết được. Ha!

Thúy Liễu: Nhà cửa gì mà không có được một đứa con nít đi sai vặt nữa.

Điệp: Dạ! Thưa mẹ! Con mới về. Mợ! Mợ có thưa mẹ chưa?

Thúy Liễu: Rồi!

Bà Cử: Mẹ vừa pha nước xong, hai con đi tắm đi, cho nó khỏe.

Điệp: Ý! Mẹ làm gì lạ vậy. Nhà không có người ăn kẻ ở, mẹ để đó cho vợ...à hà.. vợ chồng con lo. Ầy! Mấy chuyện lặt vặt vậy à mà... mà mợ nó lại để...

Thúy Liễu: Ai mượn, ai sai, ai biểu? Bả tự động, bả đi, mà cự nự với tôi là sao?

Bà Cử: Nhà mình thì không có người. Vợ con thì lại không có quen làm lụng chân tay. Chuyện lặt vặt thì để cho mẹ lo.

Thúy Liễu: Đó! Nghe người ta nói chưa? Tôi có sai phái ai đâu.

Điệp: Thôi! Thôi cô nín đi!
Đừng tru tréo thêm cho lợm giọng.
Với mẹ chồng của cô,
cô gọi chỏng lúc xưng hô.
Này! Tôi nhắm mắt làm ngơ.
Sẵn sàng bỏ qua mọi việc.
Từ cái việc mà ngấm nguýt chồng con.
Đến sự tồn tại của cái thai hoang.

Thúy Liễu: À! Hôm nay anh lại lên giọng cầu cao.
Về đây để bắt bẻ nọ kia hả?

Điệp: Hứ! Về ở đây, hay ở phủ đường, cũng chỉ vậy thôi.
Vô phép xấc xược với mẹ tôi hả?
Hành động đó không tha thứ được.

Thúy Liễu: Giờ, anh muốn gì đây?

Điệp: Ra tòa ly dị là xong.

Thúy Liễu: Nè! Anh đừng tưởng tôi đui mù không thấy, không biết việc gì của anh hết, mà lầm. Tôi đã cho người theo dõi anh từ lâu kìa. Tôi đang nắm trong tay những bằng chứng phản bội. Muốn ly dị à? Há! Dễ mà...

Bà Cử: Thôi! Cho mẹ xin đi. Đừng ai lớn tiếng với ai hết. Các con về đây là mẹ vui, mẹ mừng. Có cực khổ trăm bề, mẹ cũng thỏa dạ. Xá gì ba cái việc lặt vặt, cỏn con đó. Mẹ làm lụng hàng ngày nó quen tay rồi. Đừng! Đừng ai vì mẹ, mà lời qua tiếng lại. Mẹ còn khổ tâm hơn kìa.

Thúy Liễu: Anh tưởng đâu tôi sung sướng lắm, vinh hạnh lắm để theo anh về đây à? Ra đường, tôi mắc cỡ muốn chết. Chui vào căn nhà ộp ẹp, nóng rang cả mặt mày vậy nè. Khát nước muốn chết, có dám rớ vô cái chén, cái bát ở trong nhà này đâu.

Điệp: Cô lặng thinh là hơn. Hứ! Tôi cố nhịn, cố nén cho mẹ tôi vui kìa. Chứ kỳ thực, những lời nói mất dạy đó hả, đáng thưởng vài bạt tai nghe chưa!?

Bà Cử: Điệp! Mày nín có được không? Hai con! Hai con hãy nghe mẹ nói đây nè. Vợ chồng son nào mà không rầy rà va chạm. "Chén trong sóng còn khua" mà. Đàn bà cấn thai, ốm ngén á, thì hay sẵng tính, dễ cau có. Làm chồng, con phải hiểu. Đừng có quạu quọ quá đáng, mà tội nghiệp cho nó con à.

Thúy Liễu: Ở trên phủ đường á, tôi chưa từng động đến móng tay mà. Biết tôi có thai, khi xê dịch, má tôi còn phải cho người dìu đỡ mà.

Bà Cử: Chị xui cẩn thận vậy là tốt đó con. Mẹ cũng ráng lo chu toàn cho cháu nội của mẹ chứ. Ờ! Con cứ nằm nghỉ. Nó nói gì thì kệ nó. Mọi việc để mẹ lo.

Điệp: Hừ! Cháu nội của mẹ?! Hứ! Con không muốn mẹ phải hành xác, vì... vì cháu ngoại của ông già, bà già vợ con.

Bà Cử: Điệp! Con nói gì mà khùng khùng điên điên vậy con?

Điệp: Ờ! Người ta cũng tưởng con khùng khùng... điên điên... ha ha, nên họ mới chọn lựa đó.

Thúy Liễu: Nè nè nè, anh muốn mỉa mai ai? Nói đại đi!

Điệp: Tôi đã bày tỏ thái độ rồi, ban nãy. Hay vì cô mặt dầy quá, rồi không kịp cảm nhận. Tôi muốn ly dị. Vì cái của nợ đó, không phải là máu huyết của tôi.

Bà Cử: Điệp! Con! Con nói...

Thúy Liễu: Anh là chồng có hôn thú của tôi, mà anh dám mở miệng mạ lị vợ anh vậy đó hả?

Bà Cử: Điệp! Mẹ không ngờ con tệ như vậy đó. Ăn ở với người ta có con có cái, mà chạy chối trách nhiệm, là hạng Sở Khanh, là đứa tồi tàn...

Thúy Liễu: Là đồ hèn mạt. Đó! Mẹ nghe anh nói vậy mà được à?

Điệp: Con có bằng chứng trong tay. Lâu nay, con lặng lẽ làm thinh. Nhịn nhục cho qua ngày đoạn tháng. Nhưng con không thể để cho nó vô phép, khinh khi mẹ. Không thể gạt gẫm mẹ. Không thể cưỡng đoạt cho hòn máu vô danh kia, một thâm tình bà cháu. Tôi đã nhất quyết rồi. Cô về thưa lại với ông bà phủ, lo thủ tục đi là vừa.

Thúy Liễu: Anh đuổi tôi phải không? Có chứng mẹ ha. Được rồi, anh chống mắt, xem ba má tôi lo thủ tục ly dị cho anh nè. Tôi về!

Bà Cử: Con! Khoan đã con! Con bình tĩnh, nghe mẹ nói cái đã.

Thúy Liễu: Không bình tĩnh gì hết á! Chào!

Điệp: Hà! Mẹ cứ để cho người ta đi đi. Cầm cổng lại làm gì?

Bà Cử: Mày hồ đồ! Hạnh phúc đổ vở đã đành. Còn thâm tình, nghĩa trọng, giữa người lớn với nhau, mới biết tính sao đây?



1:06:50 (18) L7C2 Tại nhà Bà Cử - (Tin dữ)

[Tiếng chó sủa]
[Thoại]

Bà Cử: Ủa...Ai... Ai... Hình như là anh Tú qua kìa. Ờ... Con rót nước uống đi con.

Ông Tú: À! Nhà có khách hả chị Cử?

Bà Cử: Dạ! Dạ! Dạ anh mới qua!

Ông Tú: Dạ!

Bà Cử: Ôi khách khứa gì đâu. Vợ... thằng Điệp nó mới về đó anh Tú.

Điệp: Dạ! Bác mạnh giỏi!

Ông Tú: Ờ!

Điệp: Dạ! Thưa bác! Bác uống miếng nước!

Ông Tú: Để đó cháu. Có cháu về đây thật là may quá. À! Thật là đúng lúc lắm! Chị Cử à!

[Phụng hoàng]
Tôi vội vã qua đây.
Là để cho chị... hay:
Tôi được tin con Lan
đang bệnh nặng ngặt nghèo.
Như đèn treo
trước gió lập lòe.
Hồn mỏng manh
như mành treo chuông nặng.
Sắp sửa lìa trần,
hấp hối từng cơn.
Điệp con!

Điệp: Dạ!

Ông Tú: Con hãy xem đây:
Bức thơ của Hòa Thượng.

Bà Cử: Mẹ con tôi gây ra tội tình.
Nguyện xin lo lắng hết sức mình

Điệp: Cánh lan lìa cảnh...
Buồn đến gốc hoa.
Đường địa ngục thêng thang...
Nán chờ nhau.
Con tức tốc lên đường
theo lời sư cụ dặn trong thơ.

Ông Tú: "Con tạo lá lay".
Sao tạo ra chi,
ly biệt với tương phùng.

Bà Cử: Mong mỏi ơn trên còn cứu kịp.
Vơi bớt bệnh tình.
Lỗi của mình cũng được vơi theo.

[Thoại]

Ông Tú:
Để tôi đưa thằng Điệp lên chùa. Chắc nó chưa biết đường à.

Điệp: Dạ! Con có đến một lần rồi.

Ông Tú: Hả! Mà... mà.

Điệp: Dạ! Thưa mẹ! Con đi! Dạ! Thưa bác con đi!

Ông Tú: Ơ! Nè nè nè... Trời! Trời! Coi nó kìa...

Bà Cử: Điệp! Thủng thẳng rồi đi. Đừng có chạy. Té chết à con!



1:09:45 (19) L8C1 Trong chùa - (Tứ Đại Oán)

[Tiếng chân chạy vội vã]
[Nói lối]

Điệp: Kìa, chú tiểu! Tôi vừa nhận được thơ của sư cụ, nên tôi vội vã...

Chú Tiểu: Phải! Thầy tôi cho tìm thí chủ mấy ngày nay, vì bệnh tình của chú Điệp ngày thêm trầm trọng. Mà miệng cứ kêu tên thí chủ mãi không thôi. Cho nên dù Thầy tôi, chuyện đời gác bỏ ngoài tai, mà lòng vẫn không dằn được cơn xúc động.

Điệp: Chú tiểu! Chú làm ơn cho tôi gặp sư cụ để...

Chú Tiểu: Mấy ngày nay thầy tôi trông đợi thí chủ đến mỏi mòn. Người mới vừa rời chùa dự chay đàn ở Linh Sơn Tự.

[Xế xảng]

Điệp: Trời! Trời ơi!
Vậy là đến phút... cuối
tôi cũng chậm chân.
Biết phải làm sao
để gặp được nàng?
Không lẽ suốt đời
hết được thấy mặt nhau?

Chú Tiểu: Thí chủ ơi!
Chớ quá đau thương.
Trước lúc ra đi,
Thầy tôi có dặn dò:
Nếu người đến nơi này.
Hãy trao áo cà sa.
Người hãy khoác lên
giả dạng kẻ tu hành.
Rồi tôi dẫn đường
vào chốn hậu liêu

[Nói lối]

Điệp: À! Tôi mặc vào rồi đây nè. Xin chú dẫn tôi đi.

Chú Tiểu: Xin thí chủ đừng làm kinh động. Hãy bình tĩnh theo tôi.

Điệp: Vâng!

1:11:55 (19) L8C2 Trong chùa - Đoạn kết
[Nói lối]

Chú Tiểu: Chú Điệp! Chú hãy cố tỉnh dậy. Thầy...Ơ... Ơ...tới thăm chú nè.

Lan: Bạch thầy!

Chú Tiểu: Ờ! Chú cứ nằm đó. Nghỉ yên đi. Đừng cố gượng. Thầy! Thầy thương chú lắm mà. Không sao đâu.

Lan: Cảm ơn chú!
Chắc tôi cũng sắp được đời đời yên nghỉ.

[Nói lối]
Bạch Thầy!
Con vẫn biết mình đức bạc.
Nên chốn Niết Bàn,
thì thăm thẳm mù xa.
Mà đường địa ngục,
thì thênh thang... mở rộng.
Xin thầy tha thứ
cho kẻ đã nương nhờ cửa từ bi,
mà lòng còn vọng động.
Phạm giới cấm, môn quy,
mang điều vọng... ngữ.

[Bản Tứ Đại Oán - 6 câu]
Con không phải
là Vũ Khắc Điệp.
Mà tên thật là
(1) Nguyễn Thị... Lan.
Vì... đứt đoạn mảnh tơ lòng.
(2)Tìm vào đây,
vui mõ sớm với chuông chiều...
Mong... lãng quên,
nỗi khổ sầu
của mối tình ly tan.
(3)Tình... đã xa...,
tơ đã dứt... từ lâu rồi...
Nhưng,... bóng trăng
bao lượt khuyết đầy
mà sầu chưa vơi.
(4)Nay,... biết con không còn
sống được bao lâu...
Nên,... khúc nôi,
xin bày tỏ cùng thầy...
(5)Xin thầy,... cảm thương,
cho kẻ nặng sầu đau,
mà ban cho
lời tha thứ tội...
(6)Ở xa xôi,
người xưa có biết cho lòng.
Anh Điệp!... Anh có hiểu...
Nỗi khổ đau
oằn nặng... lòng... Lan.

[Nói lối]

Điệp: Đã bao ngày
nương náu chôn từ bi.
Tưởng đâu, Lan đã dứt được lòng trần.
Đã quên được nỗi sầu xưa.
Ngờ đâu...

[Nói lối vào câu 4]

Lan: Ơ! Chắc tại con
sắp giã biệt cuộc đời này.
Nên tai nghe
tiếng nói của ân sư.
Mà cứ ngỡ lời của người xưa
vừa kịp đến.
Con cũng muốn
quên lãng tình xưa.
Chôn vùi kỷ niệm.
Nhưng trời đất, như cũng vô tình.
Khêu lại niềm đau.
Ngoài kia,
trời lất phất giọt mưa.
Cho con ve nhỏ thức dậy,
cất tiếng kêu sầu... khổ.

[Câu 4 - Vọng cổ câu 15]
Lá Bàng ngoài kia
cũng ngập ngừng rơi trong... gió...
Như nỗi buồn xưa
chồng chất giữa... tim... sầu...(!)
Mỗi một giọt mưa,
là một giòng lệ nghẹn ngào.
Mỗi chiếc lá bàng rơi
như con thuyền nhỏ.
Bơi ngược dòng về
bến hẹn xa xưa.
Bến sông buồn,
nay chắc vắng bóng đò đưa.
Vì khách sang sông
không bao giờ trở lại.
Mái tranh xưa
chắc u buồn, quạnh quẽ.
Vì người con gái tên Lan
không về nữa bao giờ.

[Nói dặm]

Điệp: Và hàng điệp ven sông
im lìm soi đáy nước.
Chiếc cầu tre
gãy nhịp đứng chênh vênh.
Con đường đất đỏ quanh co
những buổi chiều vàng.
Vắng bóng người con gái
quảy gánh hàng
trên đường về khi tan chợ...

[Câu 6 - Vọng cổ câu 16]

Lan: Thầy là bậc chân tu,
mà khi nghe trời
chớm sang Thu
còn gợi trong lòng
nhiều kỷ niệm.
Huống chi con,
là kẻ trót
mang nhiều khổ lụy.
Tuy khoác áo nâu sòng
mà lòng còn nặng nợ thế gian.
Câu kệ lời kinh
không khuây khỏa
được chuyện lòng.
Tiếng mõ hồi chuông
thêm gợi buồn gợi nhớ.
Xác bướm cành lan
đã chôn sâu nơi đáy mộ.
Sao nỗi sầu xưa
còn nguyên vẹn trong lòng.
Nay con sắp
từ bỏ cõi trần gian.
Chuyện tình xưa
bỗng hiện về nguyên vẹn.
Điệp ơi!...
Em đã cắt đứt giây chuông.
Không cho anh gặp mặt.
Sao tơ lòng,
không dứt với thời... gian.

[Nói lối]

Lan: (NÓI YẾU ỚT:)
Bạch Thầy!
Sức con đã tàn...
Hơi con đã mỏi.
Như đèn cạn dầu
trước gió lung linh.
Nếu người xưa
có trở lại tìm con.
Thầy nói lại giùm:
Con đã đi... đi xa…
với tấm lòng thanh thỏa…

Lan: Kìa! Có phải chăng
tiếng ma kêu quỷ khóc.
Hay tiếng tử thần
đang chờ rước hồn con?
Thầy ơi! Trước mắt con
sao lung linh mờ ảo.
Con, con nghe lạnh
cả châu thân.

Điệp: Lan!

[Nam Ai lớp mái]

Lan: Kìa! Kìa...
Tiếng quỷ vô… thường.
Chờ trực rước con về.
Lửa đóm lập lòe.
Hay ánh đuốc ma trơi.
Chờ đợi dẫn đường con.
Về tận chốn âm cung.
Xin vĩnh biệt bạn lòng.
Mà không thấy mặt nhau!

Điệp: Lan! Lan ơi!
Gượng tỉnh đi Lan.
Trong giây phút sau cùng.
Hầu gặp lại bạn lòng.
Trước phút biệt ly.

Lan: Nghe mơ hồ ai mới gọi.
Như người xa… mới tìm về...

[Vọng cổ câu 2]

Điệp: Lan!... Lan ơi!...
Anh là Điệp đây.
Em hãy gượng dậy
mà nhìn cho tận... mặt.
Anh đã đến đây
vừa kịp lúc
Để tiễn đưa Lan
vào thế giới... muôn... đời...(!)

Lan: Trời! Anh Điệp!

Điệp: Lan! Lan ơi!
Tội tình chi em đày đọa cuộc đời.
Chôn tuổi xuân
trong nâu sòng khổ hạnh.
Trong khi lòng
còn nặng nhớ thương.
Nếu chốn thiền môn
em không tìm được lãng quên.
Thì sao em cố tình
không cho anh gặp mặt.
Nếu sư cụ
không cho tìm anh đến kịp.
Thì chắc mình
vĩnh biệt muôn đời.
Mà không thấy mặt nhau...

[Nói dặm]

Lan: Anh Điệp!
Chắc tại kiếp trước em kém đức.
Kiếp này em vụng đường tu.
Nên khi chắp tay
niệm chữ di đà.
Mà trước mắt
chỉ có hình ảnh anh hiển hiện.

Điệp: Sao lần anh lặn lội
đến tìm em.
Em lại cắt đứt dây chuông,
không cho anh gặp mặt?

Lan: Em muốn anh quên em đi.
Muốn trả anh về
với gia đình hạnh phúc.
Nên những tờ thơ anh gởi,
em còn giữ nguyên đây mà,
em đâu có đọc.

[Vọng cổ câu 3]

Điệp: Trời ơi!
Cũng vì vậy
mà em nào hay nào biết.
Chuyện gia đình của anh
đã đỗ vỡ còn đâu.
Nên em cứ mãi giữ nỗi sầu.
Chôn chặt niềm đau.
Rồi năm tháng chất chồng.
Cho Lan tàn Lan héo.
Trời ơi ông bày chi
cảnh lá lay cay nghiệt.
Cho người đày đọa cuộc đời.
Kẻ tan nát lòng đau.
Từ bây giờ
mình mãi mãi bên nhau.
Không bao giờ
mình còn xa nhau nữa.
Lan ơi em hãy cố gượng
kéo dài cuộc sống.
Mình sẽ đưa nhau về
chốn kỷ niệm ngày xưa.

[Có tiếng mõ]
[Nói lối]

Lan: Anh Điệp!

Điệp: Lan!... Em!...

Lan: Gặp lại anh.
Em mãn nguyện lắm rồi.
Em vui lắm rồi.
Em không có chết đâu.
Em đâu có chết được?
Phải không anh?

Điệp: Ờ! Phải rồi.
Em sẽ sống với anh.
Anh sẽ đưa em về.

Lan: Em sẽ về với anh.
Về quê cũ. Anh Điệp!
Em nghe bên tai em
có tiếng ve sầu ca hát.
Mắt em như thấy
con đò nhỏ bên sông.
Những hàng điệp trổ bông,
soi hồng mặt nước.
Em thấy rõ ràng
gốc me tây trước Nhà Việc.
Em đứng đó em chờ anh về.
Mà kìa! Anh Điệp!

Điệp: Anh đây!

Lan: Sao anh đi với người ta?
Sao anh bỏ em đứng đó?

Điệp: Không!... Anh đâu có đi
với ai đâu!?
Anh về với em mà!

Lan: Hả! Anh về với em hả?

Điệp: Ừ!

Lan: Anh đâu có bỏ em
mà đi nữa phải không?

Điệp: Ờ!

Lan: Vậy là... em nghi oan
cho anh rồi...
Anh đừng có giận em nha!

Điệp: Không! Anh thương em mà!
Anh đâu có giận em!

Lan: Anh Điệp! Anh đứng đâu?

Điệp: Anh đứng đây nè...

Lan: Để... em bạch với thầy.
Rồi mình về nha anh?

Điệp: À! Ờ!

Lan: Ơ... Sao em... Ơ... Anh Điệp!

Điệp: Lan!

Lan: Anh Điệp! Sao em... Ơ... Anh Điệp!

Điệp: Lan! Laaan!...Hu...

Hồn Trinh Nữ
Tác giả: Nhạc Trịnh Lâm Ngân, thơ Nguyễn Bính.

Chiều về chầm chậm trong hiu quạnh
Trên cành bao tơ liễu kéo nhau chạy xuống hồ
Mây xám bay bay làm tôi thấy
Quanh tôi và tất cả một trời chít khăn xô
Sáng nay vô số lá vàng rơi
Người trinh nữ ấy đã... chết rồi
Có một chiếc xe màu trắng đục
Hai con ngựa trắng... xếp thành hàng đôi.



HẾT





Mời đọc Bài giới thiệu - Sưu tầm

Cải lương 'Lan và Điệp'
Soạn giả: Loan Thảo (Quế Chi).
- NSND Thanh Kim Huệ & Chí Tâm
- Bản thu âm 1974

Sưu tầm


Bản thu âm Lan và Điệp 1974 - NSND Thanh Kim Huệ & Chí Tâm.


Soạn giả: Loan Thảo.
Kịch bản: Loan Thảo
Đạo diễn: Loan Thảo, Hoàng Việt
Soạn nhạc: Văn Giỏi, Sáu Lệ, Tư Thiên

Diễn viên:
Chí Tâm vai Điệp,
NSND Thanh Kim Huệ vai Lan,
Hữu Phước (ông Tú - ba của Lan),
Hùng Minh (ông Phủ Trần),
Mai Lan (bà Phủ Trần),
Tú Trinh (Thúy Liễu),
Kim Thủy (Bà Cử - mẹ của Điệp),
Hoàng Mai vai Bếp Sạc,
Bé Thành Tâm (tức NSƯT Thành Lộc) vai Xuân,
Viễn Sơn vai Chú Tiểu

Thời lượng 1:27:26
Tác phẩm này do Hãng dĩa Việt Nam thực hiện cuối năm 1973, đến năm 1974 mới phát hành.
Kính mời Quý Vị cùng Thưởng thức lại Vở Cải lương:

CHUYỆN TÌNH LAN VÀ ĐIỆP
(Cải lương Nguyên tuồng Trước 1975)


Lan Và Điệp được xem là một trong các vở tuồng bất hủ của Cải lương Việt Nam. Trên thực tế, nghệ sĩ nào cũng từng “kinh” qua vở diễn này.

Theo đó, khán giả có thể kể vanh vách những tên tuổi từng hoá thân thành công như: NSND Lệ Thuỷ, NSƯT Thoại Mỹ, NSƯT Thanh Ngân… Hoặc, vai Điệp từng được “đóng dấu đặt tên” bởi NSƯT Vũ Linh, NSƯT Vũ Luân, NSƯT Kim Tử Long, NSƯT Trọng Phúc, NSƯT Tấn Giao… Tuy nhiên, rất đông khán giả vẫn đặc biệt yêu thích phiên bản thu thanh năm 1974 với Thanh Kim HuệChí Tâm.

Vở Lan và Điệp để lại nhiều ấn tượng sâu sắc nhất với khán giả là bản thu Audio đĩa cải lương năm 1974 do soạn giả Loan Thảo thực hiện với sự tham gia của các giọng ca Chí Tâm (Điệp), NSND Thanh Kim Huệ (Lan), Tú Trinh, Hữu Phước,… Qua tài năng của Loan Thảo, vở diễn dường như được “đo ni đóng giày” cho cả hai diễn viên trẻ. Đĩa cải lương Lan Và Điệp tạo nên cơn sốt một thời gian dài, đưa Chí Tâm và Thanh Kim Huệ trở thành ngôi sao. Đến nay, bản thu âm Lan và Điệp 1974 vẫn được xem là bản thu âm chuẩn mực nhất của tác phẩm, được nhiều người tìm nghe nhiều nhất.

Lan Và Điệp (hay Chuyện Tình Lan Và Điệp) là vở cải lương kinh điển của Việt Nam, được xem là một trong những vở tuồng hay nhất của soạn giả: Loan Thảo. Với sự tham gia của các nghệ sĩ nổi tiếng như: Chí Tâm (Điệp), NSND Thanh Kim Huệ (Lan), Tú Trinh (Thúy Liễu), Hữu Phước (ông Tú – ba của Lan).

Đây là câu chuyện tình hư cấu nổi tiếng ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ. Câu chuyện tình này được nhiều người ví như câu chuyện tình Romeo và Juliet hay Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài phiên bản Việt Nam. Câu chuyện nói về mối tình lãng mạn, đầy trắc trở của cô gái tên Lan và chàng trai tên Điệp. Do mắc mưu của ông quan Phủ ở tỉnh lẻ, Điệp – học sinh nghèo – phải phụ tình vị hôn thê là Lan để cưới Thúy Liễu, con gái ông Phủ. Lan ôm mối tình tuyệt vọng bỏ nhà đến chùa để cắt tóc đi tu. Cao trào của câu chuyện khi Điệp tìm được ngôi chùa mà Lan đang tá túc, thì cũng đúng lúc nàng trút hơi thở cuối cùng.

Chí Tâm (1952), tên thật là Dương Chí Tâm, quê quán Trà Ôn, Vĩnh Long. Ngoài ca hát, ông còn sáng tác vọng cổ, tân nhạc và sử dụng thành thục các nhạc cụ cổ truyền. Ông là chồng cũ của nghệ sĩ Hương Lan.

NSND Thanh Kim Huệ (1955), tên thật là Bùi Thị Huệ, vợ của NSUT Thanh Điền, quê quán Sài Gòn. Bà được xem là một trong những cô đào nổi tiếng bậc nhất trên sân khấu cải lương. Bà đã được Nhà nước Việt Nam trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú.
Vọng Cổ Trưa


Năm 1936, soạn giả Trần Hữu Trang đã viết chuyển thể từ nguyên tác thành kịch bản cho vở cải lương "Lan và Điệp". Một số nghệ sĩ thành danh với vở kịch bản này như nghệ sĩ Năm Phỉ. Đặc biệt, năm 1954, khi nghệ sĩ Năm Phỉ đã 47 tuổi, nhưng bà vẫn vào vai cô Lan 18 tuổi rất thành công. Sau nghệ sĩ Năm Phỉ, nghệ sĩ Thanh Nga cũng được đánh giá rất cao cho vai diễn Lan.

Cùng thời điểm này, kịch bản cải lương Chuyện tình Lan và Điệp của tác giả Loan Thảo với sự trợ giúp của soạn giả Thế Châu đã được thu thanh và trở thành bản ghi âm chuẩn mực nhất cho vở tuồng này tính đến hiện tại. Tham gia vở diễn là các giọng ca nổi tiếng như Chí Tâm (Điệp), NSND Thanh Kim Huệ (Lan), Tú Trinh (Thúy Liễu), Hữu Phước (ông Tú – ba của Lan),...

Năm 2000, Tình Productions sản xuất cải lương Lan và Điệp dưới dạng băng VHS rồi chuyển sang DVD dưới kịch bản của Loan Thảo và Bạch Mai với sự tham gia của Phi Nhung (Lan), Mạnh Quỳnh (Điệp), NSƯT Út Bạch Lan (Bà Tư), Thanh Hằng (bà Phủ), NSƯT Thoại Mỹ (Thuý Liễu),...

70 năm sau, năm 2006, một lần nữa kịch bản của soạn giả Loan Thảo được tái dựng với sự tham gia của các nghệ sĩ Hoàng Nhất (Điệp), Hà My (Lan), Chấn Cường (Xuân), Bình Mập (sếp Sạc), Uyên Thảo (Thúy Liễu).

Cùng thời điểm này, sân khấu Trần Hữu Trang cũng mang đến khán giả bản dựng lại của kịch bản này với NSƯT Tấn Giao (Điệp) và Ngân Quỳnh (Lan).

Năm 2008, ca sĩ Minh Thuận gây tiếng vang lớn với vở ca vũ cải lương "Lan và Điệp". Điểm đặc biệt là các vai diễn đều do các ca sĩ tân nhạc hát cải lương gồm Minh Thuận, Đàm Vĩnh Hưng (Điệp), Cẩm Ly, Phương Thanh, Hồng Ngọc, Thanh Thảo (Lan), Thu Minh (Thúy Liễu), Hữu Bình (ông Tú), Trung Dân & Cát Phượng (ông bà Phủ), Vũ Hà (bếp Sạc), Quốc Đại (chú tiểu).

Năm 2019, tác phẩm được tái dựng trên sân khấu Nhà hát Bến Thành từ bản ghi âm do soạn giả Loan Thảo thực hiện vào năm 1974. Vở quy tụ nhiều gương mặt gạo cội của làng cải lương như NSƯT Thanh Kim Huệ, Chí Tâm, Hồng Nga, NSƯT Thanh Điền, NSƯT Trọng Phúc,... Hai diễn viên chính: NSND Thanh Kim Huệ (vai Lan) và Chí Tâm (vai Điệp) lần đầu tái hợp sau 45 năm[2] từ khi bản thu đầu được ra mắt

Truyện kể về cuộc tình lãng mạn, bi ai giữa chàng học trò nghèo tên Điệp và cô gái cùng quê tên Lan, tại làng Văn Ngoại, khu vực chợ Gỏi thuộc vùng Hải Dương xưa, thời kỳ Nguyễn Công Hoan đang dạy học ở đó.

Vũ Khắc Điệp là con ông Cử làm nghề dạy học. Ông Cử kết giao với ông Tú, bố của Nguyễn Thị Lan và hai gia đình hứa gả con và kết tình thông gia với nhau. Khi ông Cử mất, mọi công việc lo toan cho Điệp học hành đều do ông Tú đảm nhiệm. Tình cảm hai nhà gắn bó keo sơn.

Trần Thúy Liễu là con gái ông Phủ Trần, tính cách xấu xa, tinh nghịch, phải lòng và có bầu với Tư Kềnh, một lính khố xanh đóng gần nhà Thúy Liễu.

Điệp sau khi thi lần đầu bằng Thành Chung bị trượt, đến khi thi lần hai thì gặp ông Phủ Trần là bạn học khi xưa với ông Cử – bố của Điệp, ông Phủ có hứa giúp đỡ Điệp đỗ kỳ thi này và còn tìm việc làm cho tại Phủ.

Điệp ở nhà ông Phủ Trần và bị mắc lừa nằm ngủ với Thúy Liễu trong lúc say rượu, nên ông Phủ Trần tìm mọi cách ép Điệp cưới Thúy Liễu để tránh mọi dị nghị của xã hội và kiếm cho con mình một tấm chồng hợp pháp. Đồng thời ông Phủ Trần cũng đuổi mọi người làm việc ở Phủ để không ai còn biết Thúy Liễu có quan hệ trước đó với Tư Kềnh.

Sau khi nhờ một ông chánh án Phủ Trần để giúp đỡ thi đậu thì Điệp mắc ơn ông Phủ Trần đó và bị ông ta dụ uống say và bỏ vào chung phòng với cô con gái mập và không được nết na lắm của ông ta tên là Thúy Liễu. Bị vu cho ngủ chung với Thúy Liễu, thế nên ép Điệp phải cưới cô ta. Gia đình Lan và Điệp hết sức buồn rầu vì việc này.

Ngày Điệp cưới Thúy Liễu cũng là ngày Lan cắt tóc đi tu. Nhưng chỉ sau vài tháng thì cãi nhau và Điệp li dị với Thúy Liễu. Rồi Điệp đi tìm đến ngôi chùa nơi Lan tu và giật chuông nhưng Lan không những không tiếp mà còn cắt dây chuông. Vậy nên Điệp thất vọng đi luôn, và muốn gầy dựng cơ nghiệp trước rồi quay lại chuyện nhân duyên sau. Sau đó Thúy Liễu lấy chồng khác là Hoàng Xuân Long – một ông quan Phủ và có 3 đứa con, có một người tên là Hoàng Trần Vũ cùng họ với Vũ Khắc Điệp.

13 năm sau, cha mẹ của Lan, Điệp và Thúy Liễu đều mất. Người con tên Vũ bị đối xử lạnh nhạt, cả gia đình không yêu thương và cả mẹ và cha nuôi cũng ghẻ lạnh. Vũ biết Điệp là chồng trước của mẹ mình và khi cha nuôi hắt hủi đưa địa chỉ thì Vũ đến tìm Điệp. Điệp kể lại sự oan trái của cả hai và đưa địa chỉ của cha đẻ cho Vũ. Vũ đi tìm cha và biết được sự thật rằng ngày ấy Thúy Liễu đã quyến rũ người canh gác tên Cách này, và khi sinh ra Vũ bị Thúy Liễu bóp cổ nhưng Vũ vẫn không chết. Vũ quay về bệnh viện nơi Điệp làm việc và định gửi hai hộp kẹo có thuốc độc cho ba và mẹ mình nhưng bị Điệp biết nên tráo lại.

Cũng vào ngày đó, Điệp nhận được một bệnh nhân sắp chết là Lan. Điệp khi đó mới biết rằng, Lan vì quá buồn nên không đọc thư của Điệp và ôm hận một mình trong lòng mà gây bệnh.

KARAOKE TỔNG HỢP




Cố soạn giả Loan Thảo (Quế Chi)
[...]
Cũng năm 1972, tác giả Loan Thảo cùng với soạn giả Hoàng Việt của hãng đĩa Việt Nam, đã đưa tên tuổi hai tài danh Thanh Kim Huệ và Chí Tâm lên danh sách hàng sao thượng thặng của cải lương miền Nam, qua vở tuồng ăn khách nhất, tuồng Lan và Điệp, không biết Lan và Điệp quê ở đâu mà có lá bàng, ngọn mẹ Tây, có hàng Điệp soi mình bóng nước, có mái nhà tranh, con đường đất đất đỏ, chiếc cầu tre gẩy nhịp, nơi mà con gái phải lo cho cha tách nước, hầu mẹ miếng trầu, tuổi ấu thơ thì có thể tắm song, hái ổi... Cảnh trí trong vở cải lương Lan và Điệp của Loan Thảo như một cảnh đâu đó ở một tình miền Đông Nam Bộ, khác với cái làng quê chợ Gỏi trong tác phẩm gốc Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan, người quê Thái Bình cho biết Điệp lên Hà Nội tiếp tục đường học vấn công danh nên Lan và Điệp quê ở tận ngoài Bắc.
Cải lương thịnh hành ở miền Nam, nên khi chuyển thể cải lương, soạn giả Loan Thảo tài tình biến cô Lan miền Bắc thành người miền Nam để tạo cảm giác gần gũi cho khán giả miền Nam, chuyển thể một tác phẩm, viết một bài vọng cổ giao duyên từ một bài nhạc, soạn lại một tuồng nổi tiếng trước đây làm cho tác phẩm, bài nhạc, tuồng đó nổi hơn, hay hơn, mở rộng hơn đó là điều chúng ta nên nghiên cứu học hỏi từ soạn giả Loan Thảo.
[...]
Kho tàng Vọng cổ Việt Nam, 07/08/2021.



Mời Đọc Bài giới thiệu - ChatGPT

Giới thiệu bản ghi âm
cải lương “Lan và Điệp” (Loan Thảo)
(Bản thu 1974 - Hãng dĩa Việt Nam – 1973/1974)

ChatGPT


Vở cải lương “Lan và Điệp”, soạn giả Loan Thảo, là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của dòng cải lương xã hội – tâm lý Việt Nam thế kỷ XX. Nội dung vở dựa trên tiểu thuyết Tắt lửa lòng (1933) của nhà văn Nguyễn Công Hoan, kể về bi kịch tình yêu giữa cô gái Lan và chàng thư sinh nghèo Điệp trong bối cảnh xã hội cũ đầy lễ giáo, quyền lực và bất công.

Trong nhiều bản dựng và bản thu được thực hiện suốt hơn nửa thế kỷ, bản ghi âm do Hãng dĩa Việt Nam thực hiện cuối năm 1973, phát hành năm 1974, với hai vai chính do NSND Thanh Kim Huệ (Lan)Chí Tâm (Điệp) đảm nhiệm, được xem là bản thu âm chuẩn mực và đầy đủ nhất về mặt kịch bản – lời ca – cấu trúc vọng cổ.

Bản chép lời hiện tại được thực hiện theo đúng bản thu âm 1974, phản ánh trung thực nội dung, thứ tự lớp tuồng và hệ thống câu vọng cổ như trong đĩa gốc, không pha trộn dị bản sân khấu hoặc bản thu khác về sau.

1. Cấu trúc kịch bản theo bản thu 1974
Theo bản chép lời này, vở Lan và Điệp được triển khai theo mạch kịch tuyến tính, chặt chẽ, trong đó mỗi lớp tuồng đều gắn với một bước ngoặt tâm lý rõ ràng:
  1. Lớp mở đầu: LAN – ĐIỆP, TÌNH NGHÈO THUỞ BAN ĐẦU
    Giới thiệu mối quan hệ giữa Lan và Điệp, một tình yêu nghèo nhưng chân thành, trong sáng.

    Lời dẫn chú giải:
    Lớp mở đầu có chức năng giới thiệu mối quan hệ giữa hai nhân vật chính: Lan và Điệp. Đây là lớp mang tính chất thiết lập hoàn cảnh, khắc họa một mối tình nghèo nhưng chân thành, trong sáng, đặt nền tảng cảm xúc cho toàn bộ bi kịch về sau.

    Trong bản thu âm 1974, lớp này được triển khai chậm rãi, lời ca thiên về tự sự và tâm tình, giúp người nghe nhận diện rõ tính cách hai nhân vật: Lan dịu dàng, giàu tình cảm; Điệp hiền lành, có chí học hành nhưng hoàn cảnh khó khăn. Các câu vọng cổ trong lớp này chủ yếu mang sắc thái trữ tình, chưa có xung đột kịch rõ nét.

  2. Lớp xung đột xã hội: BIẾN CỐ – ĐIỆP BỊ ÉP DUYÊN
    Sự xuất hiện của ông Phủ Trần và hoàn cảnh gia đình khiến Điệp bị cuốn vào cuộc hôn nhân sắp đặt.

    Lời dẫn chú giải:
    Lớp này đánh dấu sự xuất hiện của xung đột xã hội – yếu tố trung tâm của vở tuồng. Nhân vật Điệp rơi vào thế bị động khi phải đối diện với áp lực gia đình và quyền lực của ông Phủ Trần.

    Trong bản thu 1974, lớp này được xây dựng theo hướng nhấn mạnh bi kịch tâm lý của Điệp hơn là hành động bên ngoài. Lời ca thể hiện rõ sự giằng xé giữa chữ hiếu và chữ tình, đồng thời báo trước bi kịch không thể tránh khỏi của mối tình Lan – Điệp.

  3. Lớp tan vỡ: LAN ĐỐI DIỆN SỰ THẬT – NỖI ĐAU BỊ PHỤ TÌNH
    Lan đối diện sự thật bị phụ tình; Điệp rơi vào trạng thái giằng xé giữa chữ hiếu và chữ tình.

    Lời dẫn chú giải:
    Đây là lớp phát triển bi kịch từ góc nhìn của nhân vật Lan. Sau khi biết rõ việc Điệp phải cưới người khác, Lan rơi vào trạng thái đau đớn, tủi phận nhưng không oán trách gay gắt.

    Theo bản chép lời 1974, lời ca của Lan trong lớp này mang tính kể lể, than thân, phản ánh số phận người phụ nữ trong xã hội cũ. Cảm xúc được đẩy lên cao hơn lớp trước, nhưng vẫn giữ sự tiết chế, đúng với hình tượng Lan hiền lành, nhẫn nhịn.

  4. Lớp Lan bỏ nhà đi tu: CỬA PHẬT VÀ NỖI ĐỜI
    Cao trào nội tâm của nhân vật Lan, chuyển từ đau khổ trần thế sang nương nhờ cửa Phật.

    Lời dẫn chú giải:
    Lớp này là bước ngoặt quan trọng trong kịch bản, khi Lan rời bỏ đời sống trần tục để nương nhờ cửa Phật. Đây không chỉ là hành động chạy trốn nỗi đau, mà còn thể hiện sự bế tắc của người phụ nữ trước xã hội không cho họ con đường lựa chọn khác.

    Trong bản thu âm 1974, lớp này được xử lý rất nội tâm. Lời ca và nhịp vọng cổ chậm, tạo cảm giác lắng đọng, thể hiện sự đối lập giữa không gian cửa chùa thanh tịnh và nỗi lòng chưa dứt của Lan.

  5. Lớp Điệp thức tỉnh và đi tìm Lan:
    Điệp nhận ra lỗi lầm, quyết tìm lại Lan dù muộn màng.

    Lời dẫn chú giải:
    Lớp này chuyển trọng tâm trở lại nhân vật Điệp. Sau biến cố hôn nhân, Điệp nhận ra sai lầm và bắt đầu hành trình đi tìm Lan. Đây là lớp thể hiện sự thức tỉnh muộn màng của nhân vật, đồng thời đẩy mạch truyện tiến nhanh về cao trào.

    Trong bản chép lời 1974, lời ca của Điệp ở lớp này mang nặng tính sám hối và ân hận. Nhịp điệu vọng cổ chuyển dần, phản ánh tâm trạng vừa gấp gáp, vừa tuyệt vọng của người đi tìm trong vô vọng.

  6. Lớp kết bi kịch: CUỘC GẶP CUỐI – BI KỊCH KHÉP LẠI
    Điệp đến chùa thì Lan đã lâm bệnh nặng; cuộc gặp gỡ cuối cùng khép lại bằng cái chết của Lan và sự sụp đổ tinh thần của Điệp.

    Lời dẫn chú giải:
    Lớp cuối là cao trào và kết thúc của vở tuồng. Cuộc gặp gỡ giữa Lan và Điệp diễn ra trong hoàn cảnh nghiệt ngã, khi Lan đã lâm bệnh nặng và đứng trước cái chết.

    Theo bản thu âm 1974, lớp này được dàn dựng với cường độ cảm xúc cao nhất. Các câu vọng cổ của cả hai nhân vật đều mang tính tổng kết số phận: Lan buông bỏ, tha thứ; Điệp đau đớn, tự trách. Bi kịch được khép lại không bằng sự oán hận, mà bằng nỗi thương cảm sâu sắc, đúng với tinh thần nhân văn của tác phẩm.

Cách phân lớp này phù hợp hoàn toàn với lời ca trong bản chép 1974, cho thấy sự nhất quán trong tư duy kịch bản của soạn giả Loan Thảo.


2. Hệ thống vọng cổ trong bản thu 1974
Bản ghi âm 1974 sử dụng hệ thống vọng cổ cổ truyền, được triển khai đúng luật, không rút gọn, không cải biên:
  • Mỗi nhân vật chính (Lan và Điệp) đều có đầy đủ sáu câu vọng cổ,
  • Các câu được đặt đúng vị trí kịch tính,
  • Nhịp điệu chuyển dần từ 32 → 16 → 8, theo đúng cao trào tâm lý.
Điểm đặc biệt của bản này là lời vọng cổ rõ ràng, mạch lạc, mang đậm văn phong Loan Thảo, thiên về:
  • lời kể đời thường,
  • hình ảnh dân gian,
  • ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi.

CHÚ GIẢI TỪNG CÂU VỌNG CỔ THEO TỪNG LỚP

LỚP 1: LAN – ĐIỆP, TÌNH NGHÈO THUỞ BAN ĐẦU
  • Vọng cổ – Câu 1 (Lan)

    Chú giải:
    Câu mở đầu của nhân vật Lan mang chức năng giới thiệu hoàn cảnh và tình cảm ban đầu. Nội dung thiên về kể chuyện và tâm tình, chưa có xung đột. Cách triển khai lời ca nhẹ, đều, giúp khắc họa hình ảnh Lan hiền lành, chân chất, đặt nền cho toàn bộ tâm lý nhân vật về sau.

  • Vọng cổ – Câu 1 (Điệp)

    Chú giải:
    Câu vọng cổ đầu tiên của Điệp có tính đối đáp và bổ sung cho lời Lan. Nhân vật thể hiện chí học hành, lòng thương người yêu và mặc cảm nghèo khó. Câu này xác lập hình tượng Điệp là người có tình nhưng yếu thế trong xã hội.


LỚP 2: BIẾN CỐ – ĐIỆP BỊ ÉP DUYÊN
  • Vọng cổ – Câu 2 (Điệp)

    Chú giải:
    Câu này đánh dấu bước chuyển từ trữ tình sang bi kịch. Điệp bắt đầu bộc lộ sự giằng xé nội tâm khi đứng giữa chữ hiếu và chữ tình. Lời ca mang tính tự sự, thừa nhận hoàn cảnh bị chi phối bởi quyền lực và lễ giáo, đặt nền cho sự sụp đổ đạo đức cá nhân của nhân vật.

  • Vọng cổ – Câu 2 (Lan)

    Chú giải:
    Lan tiếp nhận thông tin về biến cố bằng nỗi đau lặng lẽ. Câu vọng cổ này không thiên về trách móc mà tập trung vào cảm giác mất mát và tủi phận. Đây là biểu hiện điển hình của hình tượng người phụ nữ cam chịu trong cải lương xã hội.


LỚP 3: LAN ĐỐI DIỆN SỰ THẬT – NỖI ĐAU BỊ PHỤ TÌNH
  • Vọng cổ – Câu 3 (Lan)

    Chú giải:
    Câu này mở rộng và đào sâu nỗi đau của Lan. Nhân vật nhìn lại mối tình đã qua và ý thức rõ sự đổ vỡ không thể cứu vãn. Chức năng chính của câu là đẩy tâm lý Lan từ buồn sang tuyệt vọng, chuẩn bị cho hành động rời bỏ gia đình.

  • Vọng cổ – Câu 3 (Điệp)

    Chú giải:
    Điệp trong câu này bắt đầu ý thức về hậu quả của lựa chọn mình đã làm. Tuy nhiên, nhân vật vẫn ở trạng thái do dự, chưa hành động quyết liệt. Câu vọng cổ thể hiện sự yếu đuối và chậm trễ, yếu tố quan trọng làm nên bi kịch.


LỚP 4: LAN BỎ NHÀ ĐI TU – CỬA PHẬT VÀ NỖI ĐỜI
  • Vọng cổ – Câu 4 (Lan)

    Chú giải:
    Đây là câu vọng cổ mang tính triết lý và nội tâm sâu sắc. Lan tìm đến cửa Phật như một lối thoát tinh thần, nhưng lời ca cho thấy tình đời vẫn chưa dứt. Câu này thể hiện mâu thuẫn giữa ý muốn buông bỏ và sự níu kéo của ký ức tình yêu.

  • Vọng cổ – Câu 4 (Điệp)

    Chú giải:
    Câu vọng cổ này cho thấy Điệp bắt đầu thức tỉnh rõ rệt. Nhân vật nhận ra lỗi lầm của mình và bắt đầu mong muốn chuộc lại sai lầm. Tuy nhiên, sự thức tỉnh đến muộn, mang tính bi cảm nhiều hơn là hành động.


LỚP 5: ĐIỆP ĐI TÌM LAN – BI KỊCH DẦN LÊN CAO
  • Vọng cổ – Câu 5 (Điệp)

    Chú giải:
    Đây là câu cao trào tâm lý của nhân vật Điệp. Lời ca thể hiện sự hối hận, lo lắng và nỗi sợ mất Lan vĩnh viễn. Câu vọng cổ mang nhịp độ gấp hơn, phản ánh trạng thái tinh thần bất ổn của người đi tìm trong tuyệt vọng.

  • Vọng cổ – Câu 5 (Lan)

    Chú giải:
    Lan xuất hiện trong tình trạng sức khỏe suy kiệt. Câu vọng cổ này vừa là lời tâm sự cuối đời, vừa là sự chấp nhận số phận. Nhân vật không còn oán trách mà nghiêng về tha thứ, báo hiệu kết cục bi thảm sắp xảy ra.


LỚP 6: CUỘC GẶP CUỐI – BI KỊCH KHÉP LẠI
  • Vọng cổ – Câu 6 (Lan)

    Chú giải:
    Câu vọng cổ cuối của Lan mang tính kết thúc số phận nhân vật. Lời ca nhẹ dần, mang tinh thần buông bỏ trần thế. Đây là câu chuyển Lan từ thân phận con người sang hình ảnh mang tính biểu tượng của sự hy sinh và cam chịu.

  • Vọng cổ – Câu 6 (Điệp)

    Chú giải:
    Câu kết của Điệp là lời than và sám hối muộn màng. Nhân vật đối diện trực tiếp với mất mát không thể cứu vãn. Câu vọng cổ này khép lại vở tuồng bằng nỗi đau tinh thần kéo dài, không có sự giải thoát, đúng tinh thần bi kịch xã hội.


GHI CHÚ TỔNG KẾT
Hệ thống chú giải cho từng câu vọng cổ cho thấy:
  • sự phát triển tâm lý nhân vật theo từng bước rõ ràng
  • cấu trúc vọng cổ được sử dụng như trục cảm xúc chính
  • bi kịch được đẩy lên từ từ, không đột ngột
Đây là đặc điểm nổi bật của Lan và Điệp theo bản thu âm 1974, phản ánh tư duy soạn giả Loan Thảo và phong cách cải lương xã hội giai đoạn này.


3. Ê-kíp diễn viên tiêu biểu – “linh hồn” của bản thu
Điểm làm nên giá trị và sức hút vượt thời gian của bản thu năm 1973–1974 chính là dàn nghệ sĩ xuất sắc, mỗi người đều đang trong giai đoạn sung sức nhất của sự nghiệp.
  • Chí Tâm – vai Điệp
    Giọng ca mượt mà, sáng, giàu cảm xúc của nghệ sĩ Chí Tâm đã tạo nên hình tượng Điệp đầy nội tâm: chân thật, yếu đuối nhưng luôn day dứt vì chữ hiếu và chữ tình. Mỗi câu vọng cổ của Chí Tâm đều vừa ngọt ngào, vừa chan chứa nỗi đau nghẹn ngào của một người đàn ông lỡ phụ lời thề.

  • NSND Thanh Kim Huệ – vai Lan
    Được xem là vai diễn để đời của Thanh Kim Huệ, Lan trong bản thu âm này vừa trong trẻo, vừa hiền dịu nhưng lại mang nỗi buồn sâu thẳm của người phụ nữ chịu quá nhiều thiệt thòi. Chất giọng cao, mảnh nhưng vẫn đầy sức nặng cảm xúc của chị khiến các lớp ca như bật khóc theo số phận nhân vật.

  • Hữu Phước – vai ông Tú (cha Lan)
    Giọng ca ấm và sắc thái nghiêm khắc mà chân tình của Hữu Phước giúp hình tượng một người cha cổ truyền, thương con nhưng bất lực trước nghịch cảnh trở nên thấm thía.

  • Kim Thủy – vai Bà Cử (mẹ Điệp)
    Một vai phụ nhưng tạo nhiều dấu ấn. Kim Thủy thể hiện được hình ảnh người mẹ quê chất phác, nhiều lo toan, khiến bi kịch của Điệp càng thêm nặng nề.

  • NSƯT Hùng Minh và Mai Lan – vai Ông và Bà Phủ Trần
    Hai vai diễn đại diện cho tầng lớp quyền lực ở tỉnh lẻ, với sự sắc sảo của NSƯT Hùng Minh và thần thái uy nghi của nghệ sĩ Mai Lan, làm nổi bật sự ép buộc và mưu mô đưa câu chuyện đến bước ngoặt đau thương.

  • Tú Trinh – vai Thúy Liễu
    Với lối thoại tự nhiên và nét diễn lanh lợi, Tú Trinh làm tròn vai người con gái nhà giàu được cha mẹ sắp đặt, vô tình trở thành “kẻ thứ ba” trong mối tình Lan – Điệp.

  • Hoàng Mai, Viễn Sơn, Bé Thành Tâm (NSƯT Thành Lộc)…
    Dù các vai phụ không nhiều đất diễn, nhưng sự xuất hiện của họ mang đến những gam màu đậm chất đời, giúp câu chuyện tròn trịa và sinh động – đặc biệt là nhân vật chú tiểu của Viễn Sơn, tạo một điểm nhấn xúc động trong đoạn cuối.



4. Nghệ thuật âm nhạc – lời thoại: sự hòa quyện của bi kịch và thi ca
Bản thu 1973–1974 nổi tiếng bởi:
  • Cấu trúc cải lương hoàn chỉnh
    Không chỉ có vọng cổ, tác phẩm được xây dựng như một kịch bản sân khấu thực thụ, đan xen thoại – ca – diễn cảm, tạo nhịp độ lôi cuốn từ đầu đến cuối.

  • Các lớp ca kinh điển
    Nhiều câu vọng cổ, nhất là đoạn Lan trong chùa nói về lòng đau khổ, hay đoạn Điệp tìm Lan, đã trở thành mẫu mực cho cải lương tình bi.

  • Hòa âm mang đậm âm sắc thập niên 70
    Tiếng đàn kìm, đàn cò, sáo… trong bản thu có sự mềm mại nhưng vẫn đầy chiều sâu, tái hiện một không khí mộc mạc, chân quê rất hợp với bối cảnh.



5. Giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa
Bản thu âm Lan và Điệp 1973–1974 không chỉ đơn thuần là một tác phẩm giải trí, mà đã trở thành:
  • Một chuẩn mực của cải lương tình bi Việt Nam
    Các thế hệ nghệ sĩ trẻ sau này thường xem đây là phiên bản mẫu mực để học cách ca vọng cổ, cách thoại và cách xử lý tâm lý nhân vật.

  • Một dấu son trong sự nghiệp của nhiều nghệ sĩ
    Đặc biệt là NSND Thanh Kim Huệ và nghệ sĩ Chí Tâm – đôi nghệ sĩ vàng của làng cải lương.

  • Một di sản âm thanh quý giá
    Hãng dĩa Việt Nam với kỹ thuật thu âm thời bấy giờ đã tạo ra một bản thu sống động, rõ nét và giàu cảm xúc đến mức ngày nay vẫn được khán giả tìm nghe và trân trọng.



6. Sức sống bền bỉ sau gần nửa thế kỷ
Dù đã hơn 50 năm trôi qua, bản thu âm vẫn:
  • được phát lại thường xuyên trên các đài phát thanh, chương trình giới thiệu cải lương,
  • được lưu hành trên băng cassette, CD, và các nền tảng số,
  • trở thành “cửa ngõ” để nhiều khán giả trẻ đến với cải lương.
Nhiều người mộ điệu vẫn xem đây là bản Lan và Điệp hay nhất mọi thời đại, bởi sự dung hòa tuyệt vời giữa giọng hát, kịch tính, âm nhạc và cảm xúc chân thật.



Kết luận
Bản thu âm “Lan và Điệp” của Hãng dĩa Việt Nam (1973–1974) là một đỉnh cao trong nghệ thuật cải lương Việt Nam. Với sự góp mặt của dàn nghệ sĩ tài danh và sự chắp bút tinh tế của soạn giả Loan Thảo, tác phẩm đã vượt thời gian, trở thành biểu tượng của tình yêu bi lụy, sự éo le của phận người và nét đẹp thuần khiết của sân khấu cải lương miền Nam trước 1975.



Phân tích âm nhạc & kỹ thuật vọng cổ
trong bản thu “Lan và Điệp” (1973–1974)

Bản thu âm Lan và Điệp của Hãng dĩa Việt Nam không chỉ nổi bật bởi giọng ca diễn viên hay nội dung bi lụy mà còn gây ấn tượng bởi kết cấu âm nhạc tinh tế, từng lớp hòa âm – nhạc cụ – nhịp phách được sắp đặt hợp lý, tạo nên một sắc thái riêng không trộn lẫn với bất kỳ bản dựng nào khác.

Dưới đây là phân tích chi tiết:
1. Tổng quan âm nhạc trong bản thu

1.1. Dàn nhạc đậm chất cải lương truyền thống
Bản thu sử dụng những nhạc cụ cơ bản nhất của dàn nhạc cải lương thập niên 70:

  • Đàn kìm (nguyệt) – giữ vai trò chủ đạo
  • Đàn cò – tạo độ mềm, rơi, mùi
  • Đàn tranh – lót và điểm xuyết
  • Đàn guitar phím lõm – tạo màu đặc trưng của vọng cổ hậu kỳ
  • Song lang – giữ nhịp
  • Sáo trúc và mõ chùa (ở các cảnh chùa)
Sự kết hợp này tạo ra một không gian âm nhạc mộc mạc nhưng tinh tế, đúng chất bi lụy – trữ tình miền Nam trước 1975.

1.2. Hòa âm – nhịp điệu
Bản thu trung thành với phong cách hòa âm cải lương truyền thống:

  • Ít phối khí phức tạp
  • Chủ yếu linh hoạt giữa nhịp 32, 16 và 8
  • Chuyển nhịp mượt, giúp người ca dễ tạo cảm xúc và “nuôi hơi”
Điểm đặc biệt là nhạc đệm không “lấn lời” mà luôn hòa vào tâm trạng nhân vật.



2. Phân tích kỹ thuật vọng cổ – theo từng nghệ sĩ
Dưới đây là phân tích chuyên sâu về kỹ thuật ca vọng cổ trong bản thu.

2.1. Kỹ thuật vọng cổ của NSƯT Thanh Kim Huệ (vai Lan)
Đây là điểm sáng nhất của cả bản thu, nhiều nghệ sĩ đời sau xem là chuẩn mực để học hỏi.

a) Kỹ thuật ngân rung (vibrato) nhẹ – đều – tinh tế
Giọng Thanh Kim Huệ có kiểu rung đầu câu và cuối câu rất “miền Tây”, tạo cảm giác:

  • buồn nhưng trong,
  • đau nhưng không rên xiết,
  • thánh thiện nhưng vẫn giản dị.
Đặc biệt ở câu vọng cổ lớp Lan trong chùa, kỹ thuật ngân rung cuối chữ được xem là “huyền thoại”.

b) Cách xuống xề mềm và tròn
Khi xuống xề, giọng được buông nhẹ, không nặng, đảm bảo:

  • chữ tròn,
  • hơi không gãy,
  • cảm xúc vẫn liền mạch.
Đây là kỹ thuật khó mà ít nghệ sĩ trẻ ngày nay giữ được.

c) Xử lý làn hơi dài – đằm nhưng không u uất
Thanh Kim Huệ nổi tiếng với khả năng "giữ hơi" và cho hơi rơi mềm.
Nhờ vậy, nỗi buồn trong câu ca của Lan lắng xuống như sương mỏng.

d) Diễn xuất bằng giọng – sắc thái nội tâm rõ nét
  • Khi đau → giọng rơi nhẹ, nghẹn, chậm nhịp.
  • Khi trách Điệp → giọng hơi gắt nhưng không gay gắt.
  • Khi xuất gia → giọng tĩnh, nhẹ, như tiếng chuông chùa.
Tổng hợp các yếu tố này tạo nên một Lan hoàn hảo, vừa bi, vừa đẹp, vừa thuần khiết.


2.2. Kỹ thuật vọng cổ của Chí Tâm (vai Điệp)

a) Giọng nam trung sáng, rõ chữ
Điều này rất quan trọng trong vọng cổ – vì chữ là linh hồn.
Điệp của Chí Tâm ca chữ nào nghe chữ đó, rõ từng âm.

b) Kỹ thuật “móc luyến – đổ hột” đặc trưng thập niên 70
Điều này giúp giọng Điệp:
  • ngọt,
  • mềm,
  • mang chất thư sinh đạo mạo.
c) Xuống xề đầy đặn – có chiều sâu
Khác với Thanh Kim Huệ, Chí Tâm xuống xề “tròn tiếng”, tạo âm vực chắc và nam tính.

d) Nhịp ca chậm – có độ ngân dài
Những câu Điệp tự trách mình rất mùi vì:
  • Chí Tâm kéo dài chữ cuối,
  • ngân đều,
  • giữ hơi rất chắc.
Nhờ vậy, bi kịch nội tâm được đẩy lên mức trầm cảm nhưng không than vãn.


2.3. Kỹ thuật thoại – ca của Hữu Phước (ông Tú)
Không ca nhiều nhưng mỗi câu lại thể hiện:
  • Giọng sang trọng – ấm
    Phù hợp hình ảnh gia trưởng nhưng hiền từ.

  • Âm sắc đều – không run
    Thể hiện độ chín của giọng ca cải lương miền Nam.
  • Biểu cảm thả đúng chừng mực
    Không quá bi lụy, chỉ đủ để người nghe cảm được nỗi đau của người cha.


2.4. Kỹ thuật thoại – ca của NSƯT Hùng Minh (ông Phủ Trần)

a) Giọng thoại sang – sắc – dứt khoát
Phản diện nhưng không cường điệu.
Âm sắc sắc lẹm như quyền lực của giới quan lại.

b) Các câu xuống dây, ngâm – ẩy chữ
  • đậm chất sân khấu
  • toát lên uy quyền
  • đẩy mâu thuẫn lên cao
Ông Phủ của Hùng Minh tạo nên cái “đinh” cho âm nhạc ở lớp ép duyên.


2.5. Nhạc nền trong lớp Lan ở chùa – tinh hoa của bản thu
Đây được xem là lớp âm nhạc hay nhất của toàn bộ vở.

Nhạc lót có:
  • tiếng mõ chùa tanh… tách…
  • tiếng chuông chùa ngân dài
  • tiếng sáo vi vu như gió qua mái chùa
  • đàn tranh gảy nhẹ từng nốt như giọt nước
Cảnh này mở ra một bầu không khí:
  • tĩnh mịch,
  • thanh sạch,
  • bi thương,
  • thiêng liêng.
Nhạc nền nâng giọng ca Thanh Kim Huệ lên mức “siêu phẩm”.


3. Kết cấu vọng cổ – phối hợp thoại và ca
3.1. Ca – thoại – ca theo phong cách Loan Thảo
Soạn giả Loan Thảo nổi tiếng với cấu trúc:
  • thoại dẫn vào ca
  • ca nối thoại
  • thoại nén cảm xúc rồi lại bung ra bằng ca
Điều này khiến câu chuyện lúc nào cũng dạt dào cảm xúc.


3.2. Điểm nhấn nhịp trong các câu vọng cổ
Các câu vọng cổ trong vở chủ yếu theo:
  • Nhịp 32 → tâm sự dài, nội tâm
  • Nhịp 16 → chuyển cảnh, dẫn mạch
  • Nhịp 8 → cao trào, bật cảm xúc
Đặc biệt, lớp Lan–Điệp chia tay sử dụng nhiều nhịp 32 → tạo cảm giác thời gian kéo dài, nỗi đau dằng dặc.



4. Phân tích đoạn cao trào cuối – Điệp tìm Lan
Đây là đoạn khó nhất về âm nhạc:
  • Nhạc nền bắt đầu nén lại
  • Đàn kìm đánh chậm, trầm
  • Tiếng cò kéo dài → tạo cảm giác hụt hơi
  • Ca của Điệp nghẹn, hơi đứt đoạn → đúng tâm trạng
Khi Lan tắt thở:
  • nhạc ngưng hẳn trong vài giây → “khoảng lặng đau thương”
  • rồi mới vào câu than khóc của Điệp
Sự ngắt nhạc như thế rất nghệ thuật, chỉ có trong các bản thu tinh tế trước 1975.



Kết luận
Âm nhạc và kỹ thuật vọng cổ trong Lan và Điệp (1973–1974) đạt đến mức:
  • chuẩn mực về truyền thống,
  • sâu sắc về cảm xúc,
  • giàu nghệ thuật nhưng không phô diễn,
  • tôn vinh giọng ca – diễn xuất của nghệ sĩ,
  • đặt cảm xúc khán giả lên hàng đầu.
Đây chính là lý do bản thu của Hãng dĩa Việt Nam không chỉ là một sản phẩm âm nhạc mà đã trở thành một tượng đài nghệ thuật trong lịch sử cải lương Việt Nam.




Nam Xuân trong Lan và Điệp

🎭 Nguyệt Cầm.VN –
Nơi lưu giữ và lan tỏa
tinh hoa nghệ thuật
Cải lương Việt Nam.


Ba bản Nam: Nam Xuân

Bài này sẽ viết về bài thứ hai trong Ba bài Nam: Nam Xuân.

Bài viết được biên soạn với tâm huyết gìn giữ văn hóa dân tộc. Nếu bạn yêu thích và muốn chia sẻ, xin vui lòng ghi rõ nguồn Nguyệt Cầm.VN để cùng nhau lan tỏa giá trị nghệ thuật truyền thống. 🙏


Thể điệu Nam Xuân là bài thứ hai trong ba điệu cơ bản của “bộ ba Nam” trong hệ thống bài bản Đờn ca tài tử và Cải lương. Bản Nam Xuân không chỉ mang tính chất nhạc lễ, mà còn phản ánh tâm hồn thanh nhã, phóng khoáng của con người vùng đất Nam Bộ.

Từ Nhạc cung đình đến cải lương

Giống như Nam Ai, nguồn gốc của Nam Xuân có thể truy nguyên từ ca Huế và bản Nam Bình trong nhạc cung đình Huế. Vào khoảng cuối thế kỷ XIX, ông Ba Đợi – người được xem là một trong những tổ sư của Đờn ca tài tử – đã cải biên bản Nam Bình thành Nam Xuân, mở rộng cấu trúc câu, chỉnh sửa nhịp và hơi cho phù hợp với Đờn ca tài tử. Từ đó, Nam Xuân trở thành bản đại diện cho “hơi Xuân” – mang phong thái thanh thản, lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng và đậm chất văn nhã, “tiên phong đạo cốt”

Nam Xuân” là điệu nhạc nằm ở vị trí giữa trong bộ ba: “Nam Xuân – Nam Ai – Nam Đảo”:
- Nam Xuân (thể hiện niềm hân hoan, lễ mừng – tượng trưng cho Thượng nguơn, mùa xuân);
- Nam Ai (diễn tả nỗi buồn man mác – Trung nguơn);
- Nam Đảo (hùng tráng, mạnh mẽ – Hạ nguơn).
Ngày nay, điệu Nam Xuân vẫn là bản mở đầu của các chương trình Đờn ca tài tử và Cải lương cổ nhạc, được xem là bản nhạc “khai xuân”, tượng trưng cho những khởi đầu tốt đẹp. 




Cấu trúc bản Nam Xuân

Nam Xuân được viết trên thang âm ngũ cung: Hò – Xự – Xang – Xê – Cống, thuộc hơi Xuân.  Nếu ta dùng khái niệm cứng (Bắc) mềm (Ai) thì hơi Xuân vẫn còn giữ một phần độ cứng của điệu Bắc xem như hơi trung tính giữa hơi Bắc và hơi Ai. Hơi Xuân thể hiện sự thăng bằng, không quá bi lụy cũng không quá rộn ràng. Các chữ Xừ, Xang và Xê thường được rung nhẹ và nhấn mảnh để tạo cảm giác thư thái, trang nhã, man mác. Âm chủ của hơi Xuân là Xàng Xang
Về nhịp, Nam Xuân viết theo nhịp tư. Bản gốc có tới 68 câu, nhưng do nhiều lớp trùng lặp, nên trong Đờn ca tài tử hiện nay rút gọn còn khoảng 20 câu. Còn trên sân khấu Cải lương, các nghệ sĩ thường chỉ sử dụng 8 câu đầu để tạo không khí và chuyển đoạn. Mỗi hai câu trong bài thường tạo thành một cặp đối xứng – câu lẻ mở ý, câu chẵn kết ý – thể hiện một cấu trúc đối xứng chặt chẽ.



Sắc thái tình cảm và giá trị biểu cảm

Nam Xuân mang âm hưởng thanh cao, nhẹ nhàng, thơ mộng, được ví như hương xuân thoảng qua không gian, mang nét “lâng lâng, sảng khoái, tiên phong đạo cốt”. Giai điệu của Nam Xuân thể hiện sự ung dung, trầm mặc, nhưng rạng ngời, phản ánh tinh thần an hòa và niềm vui giản dị trong cuộc sống.

Về cảm xúc, hơi Xuân phổ biến trong các lớp hát diễn tả niềm vui gặp gỡ, đoàn viên, nỗi lòng thanh thản, đôi khi còn chứa đựng nét trữ tình, lãng đãng của mùa xuân, khác hẳn với sự ai oán của Nam Ai hay tính dồn dập, kịch tính của Nam Đảo.

Một đặc điểm đáng chú ý là các nhạc sĩ, nghệ sĩ xưa thường dùng Nam Xuân để tạo “không khí thiền” – loại cảm xúc tĩnh lặng, thanh tao gợi nhớ đến tinh thần “nhạc lễ – nhạc đạo”. Vì thế, Nam Xuân thường được gọi là “điệu nhạc dành cho bậc hiền nhân, quân tử”.

Nam Xuân thường xuất hiện trong những phân đoạn mang tính chất cao nhã, trữ tình hoặc nghi lễ, chẳng hạn:
- Cảnh đón xuân, lễ hội, yến tiệc cung đình, hoặc dịp đoàn viên sum họp.
- Cảnh nhân vật bộc bạch tâm tư sâu lắng nhưng thanh thoát – biểu hiện của nội tâm hướng thiện, không bi lụy.
- Các trường đoạn khánh tiết, chúc tụng hoặc tả cảnh thiên nhiên tươi đẹp.

Liên Nam: Giới Tài tử thường đờn bản Nam Xuân từ câu 1 đến câu 8 – là phần hội tụ đặc trưng của hơi Xuân. Khi biểu diễn Liên Nam, người ta sẽ nối Nam Xuân (8–12 câu) với Nam Ai (8–12 câu) rồi sang Nam Đảo (Đảo ngũ cung) – thể hiện hành trình cảm xúc từ vui sang buồn rồi đạt đến cường thịnh. Trong những cuộc thi đờn tài tử hoặc các chương trình giao lưu, Nam Xuân thường được chọn làm bản mở đầu nhờ tiết tấu dễ cảm và kỹ thuật uyển chuyển.

Nam Xuân - kết tinh giữa nhạc lễ cung đình Huế và phong cách dân gian Nam Bộ, biểu trưng cho sự dung hòa giữa cái đẹp bác học và cái đẹp dân gian. Với đặc điểm âm nhạc ngũ cung linh hoạt, nhịp chậm khoan thai, âm sắc trong trẻo, thanh cao, Nam Xuân không chỉ là khúc mở đầu cho những buổi đàn ca, mà còn là biểu tượng của mùa xuân, của sự an lành, vui thanh và tĩnh tại trong tâm hồn người Việt.




Nam Xuân trong Lan và Điệp:

Từ khi biết cha mẹ hai nhà đã hứa với nhau. Thì tôi coi như cả cuộc đời tôi đã gởi trọn cho người...ta. Coi như yên phận rồi, dù hổng có nói ra.Từ mấy năm qua, tuy gần như lúc xa. Dù chưa có nói lại nói qua, nhưng đã coi như một nhà, tôi coi bác như mẹ già. Tui nghĩ, anh cũng thiệt thà, ai dè người ta tính gần tính xa.

Lan à! Tôi.. cũng thương Lan hết dạ hết lòng. Nhưng sợ Lan khổ Lan buồn, khi có một tấm chồng tương lai thật là tối tăm.

Cái chuyện tương lai, ai mà biết được, vui sướng hay buồn phiền cũng số phận mà thôi. Hay là tại tui dốt nát quê mùa, nên người ta bày điều đặng đổi thay.





━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━
📖 Nguồn: Nguyệt Cầm.VN - Tinh hoa Cải lương Việt Nam
📰 Bài viết: Ba bản Nam: Nam Xuân
🔗 Link: https://nguyetcam.vn/ba-ban-nam-nam-xuan
Vui lòng ghi rõ nguồn Nguyệt Cầm.VN để cùng nhau lan tỏa giá trị nghệ thuật truyền thống. 🙏
━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━








Nam Ai trong "Lan và Điệp" (Thanh Kim Huệ ca)

🎭 Nguyệt Cầm.VN –
Nơi lưu giữ và lan tỏa
tinh hoa nghệ thuật
Cải lương Việt Nam.


Ba bản Nam: Nam Ai

Bài này sẽ viết về bài thứ nhất trong Ba bài Nam: Nam Ai.

Bài viết được biên soạn với tâm huyết gìn giữ văn hóa dân tộc. Nếu bạn yêu thích và muốn chia sẻ, xin vui lòng ghi rõ nguồn Nguyệt Cầm.VN để cùng nhau lan tỏa giá trị nghệ thuật truyền thống. 🙏


Từ Nhạc cung đình đến cải lương

Ba bài Nam có mặt trong 20 bài bản tổ của cải lương, được xếp vào mùa thu nên giọng nhạc mang nét trầm buồn, ai oán. Bộ ba này được xem là một tuyệt tác trong đờn ca tài tử, mỗi bài mang một âm điệu khác nhau và được sử dụng rất phổ biến. Trong đó, Nam Ai là bi thương, ai oán và kinh điển nhất của sân khấu cải lương.

Nam Ai, có một hành trình lịch sử lâu dài và phức tạp, bắt nguồn từ chốn cung đình uy nghiêm, được tinh luyện qua nghệ thuật ca Huế, đờn ca tài tử trước khi trở thành một phần không thể thiếu, chuyên chở những cung bậc cảm xúc bi lụy nhất trong các vở diễn, bài ca cải lương đến ngày nay.

Vào cuối thế kỷ 19, khi bức màn nhung của triều đại phong kiến dần khép lại, những người nhạc công tài hoa đã mang tiếng đờn của mình rời khỏi cung cấm, hòa vào đời sống dân gian. Tiếng nhạc cung đình gặp gỡ những điệu lý, câu hò của miền Trung mà hình thành nên nghệ thuật Ca Huế thính phòng. Theo bước chân lưu dân vào khai phá miền đất phương Nam trù phú và phóng khoáng,
những điệu ca Huế ấy, bao gồm cả Nam Ai, lại tiếp tục cuộc hành trình, giao thoa với âm nhạc bản địa để làm nên một hình thức nghệ thuật mới: đờn ca tài tử. Đây là một bước chuyển mình vô cùng quan trọng, đưa những giai điệu vốn bác học, uy nghiêm đến gần hơn với giới mộ điệu bình dân.

Đến đầu thế kỷ 20, khi ánh đèn sân khấu cải lương lần đầu rực sáng, các bậc tiền nhân đã không ngần ngại chắt lọc những tinh hoa từ đờn ca tài tử để xây dựng nên cơ nghiệp. Và dĩ nhiên, với thế mạnh biểu đạt nỗi niềm bi thương đến tột cùng, Nam Ai đã nhanh chóng được lựa chọn. Trên sân khấu, Nam Ai thường vang lên ở những lớp diễn cao trào nhất, bi kịch nhất: là cảnh chia ly tử biệt, là nỗi oan khuất không lời nào tỏ, là tâm trạng đau đớn đến quặn thắt cõi lòng của nhân vật. Giai điệu ai oán, não nề của nó như một lưỡi dao cứa vào tâm can người xem, khiến họ phải khóc, phải đồng cảm sâu sắc với số phận nhân vật. Biết bao vở tuồng kinh điển đã lấy đi không biết bao nhiêu nước mắt của khán giả chỉ bằng vài câu Nam Ai thống thiết.



Cấu trúc bản Nam Ai

Bản Nam Ai nguyên gốc là một tác phẩm đồ sộ và phức tạp, hiếm khi được trình diễn trọn vẹn trong các chương trình thông thường.

Cấu trúc đầy đủ của nó gồm:
- Độ dài: Toàn bài có 84 câu.
- Phân đoạn (Lớp): 84 câu này được chia thành 10 lớp (hay 10 đoạn nhạc).
- Khúc Dạo Đầu: Trước khi vào lớp 1, thường có 4 câu nhạc dạo đầu đặc biệt gọi là "Phản Xuân qua Ai" để dẫn dắt mở đường vào không khí ai oán của toàn bài.

Với quy mô kỳ công như vậy, việc trình diễn đầy đủ bản Nam Ai là một thách thức, đòi hỏi tài năng và sự am tường sâu sắc của cả người đờn lẫn người ca, và thường chỉ xuất hiện trong những dịp mang tính bảo tồn, học thuật hoặc trong các chương trình đờn ca tài tử chuyên sâu.



Cấu trúc Nam Ai phổ biến

Để phù hợp với tiết tấu của vở diễn và khả năng thưởng thức của địa chúng, các nghệ sĩ thường sử dụng những phiên bản Nam Ai rút gọn. Phổ biến nhất là:

- Nam Ai 8 câu: Đây là phiên bản thông dụng nhất, thường chính là Lớp 1 của bản gốc. Với sự cô đọng, súc tích, phiên bản 8 câu được sử dụng rộng rãi trong các trích đoạn cải lương, tân cổ giao duyên, đặc biệt là những tình huống bi kịch cần đẩy cảm xúc lên cao trào.
- Nam Ai 12 câu và 16 câu: Những phiên bản dài hơn một chút, cho phép nghệ sĩ có thêm không gian để phô diễn kỹ thuật và đào sâu hơn vào các cung bậc cảm xúc của nhân vật.
- Ngoài ra, còn có một biến thể được gọi là Nam Ai Lớp Mái (hoặc Mái Ai), cũng là một phần của hệ thống bài bản Nam Ai, thường được dùng để diễn tả nỗi buồn man mác, nhớ nhung, khắc khoải.

Về nhịp điệu, Nam Ai viết theo nhịp tư (4 nhịp chính mỗi câu). Cái hay của Nam Ai nằm ở hơi Nam, với cách nhấn và rung mạnh ở chữ Xự, chữ Xang. Đặc biệt khi qua lớp Mái, tiếng đờn nhấn rung mạnh ở chữ Cộng nghe nức nở, tuyệt vọng. Cảm giác nghẹn ngào như tiếng khóc ấy một phần cũng do kỹ thuật đảo phách tinh tế trong lòng câu, tạo nên một nét đặc trưng không thể trộn lẫn.




Các Lớp Nam Ai kinh điển trong cải lương

Sức sống của Nam Ai chỉ thực sự thăng hoa khi nó được cất lên qua giọng ca và nỗi niềm của người nghệ sĩ trong những vở tuồng kinh điển: 

Trong Lan và Điệp (Thanh Kim Huệ ca)

Tôi vùi chôn xác bướm khô nơi đáy mộ. Như vùi sâu chôn kín nỗi niềm...riêng.
Đã từ lâu...đeo đẳng trong lòng. Chôn cành lan khô, như chôn mảnh tơ lòng. Hai nấm mồ song song để Xuân, Hạ, Thu, Đông. Dẫu mưa nắng dãi dầu, cùng hứng chịu chung đôi.

Chú đã đem thân...gởi chốn cửa thiền. Sao lòng còn vương vấn chuyện thế gian? 

Kể từ bây giờ, tôi quên hết chuyện xưa. Xác bướm cành Lan đã vùi sâu nơi đáy mộ. Là chôn đi bao nỗi đau buồn.
 
Sao giọng nói chú nghẹn ngào? 
Sao lệ đẫm hoen mi?
Trong Người tình trên chiến trận (Thanh Tuấn  - Mỹ Châu ca)

Không! Yêu nhau không bao giờ có tội. Nhưng anh chỉ muốn nói với em một điều mà bấy lâu ôm ấp mãi trong... tim. Mà giờ đây đã muộn màng rồi, anh có còn gì nữa đâu. Để nhớ thương những kỷ niệm trong đời. Mình đã một thời chắt chiu, trong tuổi còn thơ ấu hồn nhiên. Để tạo dựng một thiên đường, một thiên đường đầy hoa thơm.
Lời anh nói ra em đâu hiểu được gì. Anh đã buồn đã khổ vì ai, và từ bao lâu rồi? Cho mãi đến ngày hôm nay.
Đã từ lâu anh muốn nói một điều quan trọng, nhưng cứ lặng câm theo ngày tháng lạnh lùng. Anh muốn nói với một người, nỗi đau sầu vì... yêu.




━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━
📖 Nguồn: Nguyệt Cầm.VN - Tinh hoa Cải lương Việt Nam
📰 Bài viết: Ba bản Nam: Nam Ai
🔗 Link: https://nguyetcam.vn/ba-ban-nam-nam-ai
Vui lòng ghi rõ nguồn Nguyệt Cầm.VN để cùng nhau lan tỏa giá trị nghệ thuật truyền thống. 🙏
━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━




Tứ Đại Oán của "Nàng Lan"
trước khi sắp lìa bỏ cõi trần

🎭 Nguyệt Cầm.VN –
Nơi lưu giữ và lan tỏa
tinh hoa nghệ thuật
Cải lương Việt Nam.


Thể điệu Tứ Đại Oán

Một trong những bản đầu tiên trong đờn ca tài tử đó là bài Tứ đại oán “Bùi Kiệm mê sắc Nguyệt Nga”.

Bài viết được biên soạn với tâm huyết gìn giữ văn hóa dân tộc. Nếu bạn yêu thích và muốn chia sẻ, xin vui lòng ghi rõ nguồn Nguyệt Cầm.VN để cùng nhau lan tỏa giá trị nghệ thuật truyền thống. 🙏


Nguồn gốc bản Tứ Đại Oán

Tiền thân của Tứ Đại Oán là bản Tứ Đại Cảnh, tương truyền là của vua Tự Đức sáng tác để ca ngợi cảnh 4 mùa trong trời đất: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Nhưng cũng có người cho là vua Tự Đức có ngụ ý tôn vinh bốn cảnh đời thạnh trị của vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (chữ Đại là Đời). Trong đó, Tứ Đại Cảnh là bài bản được biến tấu từ điệu Bắc nhịp đôi hơi dựng (không buồn không vui) của Ca nhạc Huế thành điệu Bắc hơi dựng kiểu Nam bộ. Theo thời gian, các nhạc sĩ bỏ bớt một số câu của Tứ Đại Cảnh, từ 46 câu thành 38 câu, nới nhịp lơi ra, đờn theo cách nhịp 4 tức 19 câu, nhấn nhá chữ Xang, chữ Cộng nhiều hơn thành một làn điệu mùi hơn. Điệu Oán bắt đầu manh nha thành hình. Giai đoạn này Bản Tứ Đại Cảnh biến thể được gọi là Tứ Đại Cảnh Nam Phần (cũng có người gọi là Tứ Đại Vắn).


Từ đó, tên gọi Tứ Đại Oán cũng có nhiều thuyết:

- Để đối lại sự tôn vinh 4 cảnh đời vua triều Nguyễn, giới nhạc Tài Tử Nam Bộ đã mỉa mai chế độ phong kiến triều Nguyễn vì bất lực trước nạn ngoại xâm,
phế lập tùy tiện liên tiếp 4 đời vua Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, mà mảnh đất thân yêu của tổ quốc bị rơi vào tay giặc. Đó là 4 cái oán lớn hoặc 4 đời oán hận của 4 đời vua sau vua Tự Đức.

- Bản Tứ Đại được mang tên Tứ Đại Oán là vì trong cấu trúc bài, số chữ OAN chiếm ưu thế (Oan là chữ Cộng nhấn mạnh, ở hơi Nam gọi là Phan, ở hơi Oán gọi là Oan).

- Hoặc một số nhạc sĩ ảnh hưởng thuyết Phật Giáo cho con người luôn bị đau khổ bởi Tứ Diệu Đế là Sinh, Lão, Bệnh, Tử.

Việc đúng hay sai của các thuyết trên còn cần phải được nghiên cứu thêm. 
Điệu Oán là một âm điệu chủ đạo của nền Đờn ca Tài tử Nam Bộ qua nhiều thập niên. Các tập bài ca Tứ, Lục, Bát, Thập Tài Tử xuất bản từ năm 1909 đến 1915 tại Sài Gòn đã minh chứng điều này. Vào năm 1915, bản Tứ Đại Oán "Bùi Kiệm mê sắc Nguyệt Nga" là bản ca Tài Tử đầu tiên được ông Tống Hữu Định tục danh ông Phó Mười Hai ở Vĩnh Long đưa lên bộ ván để ca ra bộ, mở màn cho sự ra đời của sân khấu cải lương.





Tính chất bản Tứ Đại Oán

Đối với các nhạc sĩ trong làng Tài Tử, chữ Oán trong ngũ cung là để chỉ một điệu nhạc buồn sâu xa nhưng bi hùng chớ không bi lụy như hơi Ai trong các điệu Nam. Hơi điệu Oán khi ấy vừa xuất hiện, đã tạo được một thời vàng son không thua kém gì bản Vọng Cổ ngày nay. 

Thể điệu Tứ Đại Oán là một điệu nhạc thể hiện sự thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chân chất hơn. Hai lớp Xang vắn thường hay được dùng. Đây là một điệu đặc thù được sáng tạo tại đất Nam Bộ.
 
Những ngày đầu thế kỷ 20, bản Tứ Đại Vắn trên được phát triển từ nhịp tư sang nhịp 8, được phân câu, phân lớp, nhịp nội, nhịp ngoại, gỏ mô, đờn chầu thì hơi điệu Oán mới xứng danh là một điệu riêng biệt với hơi Ai của điệu Nam. Điệu Oán có cấu trúc các láy đờn thường đi từ 2 ngũ cung và một điểm đặc thù của điệu này là nhiều câu trong các lớp thường xuyên có mặt chữ Oan (chữ Phan nhấn và rung mạnh) nên nghe buồn nhưng kiểu buồn bi hùng. Điệu hát được ưa thích nhất thời đó chính là Tứ đại oán với các bài "Khóc chồng", “Bùi Kiệm thi rớt”, “Bá Ngộ Mai”.




Cấu trúc và các bản đờn Tứ Đại Oán

Bản Tứ Đại Oán gồm 38 câu nhịp 8,
chia làm 7 lớp



Tứ Đại Oán (Lớp đầu 6 câu nhịp tám)
  1. (-) (-) (-) Tồn là (liu)
    liu liu (-) tồn xề oan (liu) tồn xang xế (xê) xế xang xư (xề)
  2. Xề oan (liu) tồn xang xế (xê) lỉu liu oan (xừ) “xàng cộng (xề)”
    xề oan (liu) tồn liu oan (xề) lỉu liu oan (xề) tồn xề oan (liu)
  3. Xề oan (liu) tồn xang xế (xê) lỉu liu oan (xừ) “xàng cộng (xề)”
    xề oan (liu) tồn liu oan (xề) lỉu liu oan (xề) tồn xề oan (liu)
  4. Tồn là (liu) xế xang xư (xề) tồn xề oan (liu) “xề xán xư (liu)”
    tồn là (líu) tồn xế xán (líu) tồn xang xế (xê) xề xang xư (lịu)
  5. "Tồn xế xang xừ (xang)" (-) xế xang xư (lìu) tồn xang xế (xê)
    xê oán (líu) líu líu cống (xê) tồn xang xế (xê) xề xang xư (lịu)
  6. Tồn (xang) xế xê (-) xề xang xư (lìu) “xề xề oan (liu)”
    xế xang (xự) tồn xang xế (xê) líu líu cống (xê) xề xế xang xừ (xang).
Tứ Đại Oán (Lớp đầu 6 câu nhịp tám)
(viết cho đàn kìm, dây Tố Lan)

  1. (-) (-) (-) Xế xang xư (LÌU)
    liu liu liu tồn liu (-) xế xang xư xề xừ xử xang xư (LÌU)
    tồn lìu xang xư xàng cống xừ xang (XÊ) tồn xê tồn liu xứ liu cống xê tồn xảng xang xư (XỀ)
  2. Xể xề xề xừ xử xang xư (LÌU) lìu tồn lìu cống xừ xang (XÊ)
    tồn liu xứ liu cống xê tồn xảng xang xư (XỪ) “cống xê xang xư lìu tồn xang cống (XÊ)”
    xề xê xề xê tồn liu oan xề oan lìu (LIU) liu liu liu liu tồn xán xư liu oan (XỆ)
    xệ xề xề xáng xảng xang xư (LÌU) tồn xự xán xan xư xề liu lìu xề liu oan (LIU)
  3. Liu liu liu tồn liu oan (LIU) tồn liu oan xề liu tồn xự xan cống (XÊ)
    xán xư liu liu liu tồn xán xư liu oan (XỪ) “líu cống xê xế xang xư lìu tồn xang cống (XÊ)”
    xề xê xề xê tồn oan liu xề oan lìu (LIU) liu liu liu liu tồn xán xư liu oan (XỆ)
    xệ xê xê xángxảng xang xư (LÌU) tồn xự xán xan xư xề liu lìu xề liu oan (LIU)
  4. Liu liu liu liu liu oan xề liu oan (LIU) liu liu tồn liu xán xan xư (XỀ)
    xể xế xê xê lìu xề liu oan (LIU) tồn liu tồn xán xứ xề liu lìu xề liu oan (LIU)
    liu liu liu xề xề liu oan (LIU) liu xản xán xan xư xề tồn xán xứ xề xừ (LIU)
    liu oan liu tồn liu xứ xề liu oan (LIU) cống xể xê tồn xê xang (LỊU)
  5. Xề xế xê xư xề xư xề (XANG) (-)
    o Xừ xử xang xư (LÌU) tồn lìu cống xê xang xự cống xề xự xang (XÊ)
    xê xề xề xê tồn oan liu xề liu lìu (LIU) liu liu liu liu tồn xán xư liu oan (XỆ)
    xệ xê xê líu oan công xê (XANG) xang xư lìu xư lìu tồn xảng xang xư (LỊU)
  6. Xự xự xự tồn xế xang xự tồn (XANG) xê cống xừ xang xê (-)
    tồn công líu công líu xê tồn xảng xang xư xừ (LÌU) tồn xự xán xan xư xề xư lìu xề liu oan (LIU)
    liu liu cống xê xang (XỰ) xự xự cống xê xang xự cống xề xự xang (XÊ)
    xê xê tồn oan liu xề liu lìu (LIU) tồn cống xế xê xề xế xang xự (XANG).




Tứ Đại Oán của "Nàng Lan" trước khi sắp liền bỏ cõi trần

Đây có thể xem là đoạn não lòng nhất trong vở cải lương Lan và Điệp. Cố NSND Thanh Kim Huệ kể cứ mỗi lần ca đến đoạn này là cô khóc, lời ca cứ như nghẹn lại trong cổ:

“Con không phải là Vũ Khắc Điệp. 
Mà tên thật là Nguyễn...Thị...Lan. 
Vì...đứt đoạn mảnh tơ lòng. 
Tìm vào đây, vui mỏ sớm với chuông chiều. 
Mong...lãng quên nỗi khổ sầu của mối tình ly tan. 
Tình...đã xa, tơ đã dứt tự lâu rồi. 
Nhưng bóng trăng bao lượt khuyết đầy mà sầu vẫn chưa nguôi.

Nay biết...con không sống được bao lâu. 
Nên khúc nôi, con xin bày tỏ cùng thầy. 
Xin thầy, cảm thương cho kẻ nặng sầu đau, mà ban cho lời tha thứ tội. 
Ở xa xôi, người xưa có biết cho lòng? 
Anh điệp! Anh có hiểu nỗi khổ đau quàng nặng lòng Lan.”




━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━
📖 Nguồn: Nguyệt Cầm.VN - Tinh hoa Cải lương Việt Nam
📰 Bài viết: Thể điệu Tứ Đại Oán
🔗 Link: https://nguyetcam.vn/the-dieu-tu-dai-oan
Vui lòng ghi rõ nguồn Nguyệt Cầm.VN để cùng nhau lan tỏa giá trị nghệ thuật truyền thống. 🙏
━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━