Lan và Điệp (1987): Bản Tình Ca Video Bất Hủ của Lệ Thủy và Trọng Hữu
ChatGPT
Nếu bản thu âm năm 1974 của Thanh Kim Huệ và Chí Tâm được coi là "chuẩn mực về thanh âm", thì phiên bản video cải lương năm 1987 với sự kết hợp củaNSND Lệ Thủy và NSƯT Trọng Hữu chính là "tuyệt phẩm về hình ảnh" trong lòng khán giả mộ điệu.
Cải lương 'Lan và Điệp' - phiên bản 2019 (Thanh Kim Huệ & Chí Tâm)
Soạn giả: Loan Thảo - Đạo diễn: Gia Bảo, cố vấn nghệ thuật NSƯT Thanh Điền
Soạn giả: Loan Thảo - Đạo diễn: Gia Bảo, cố vấn nghệ thuật NSƯT Thanh Điền
Vở diễn có sự tham gia của: NS Hồng Nga, NSƯT Thanh Kim Huệ, Danh ca Chí Tâm, NSƯT Thanh Điền, NSƯT Trọng Phúc, NSƯT Vũ Luân, NS Thanh Hằng, NSUT Tú Sương, NS kịch nói Hồng Đào, Danh hài Minh Nhí, NS Bình Tinh, Ca sĩ Quốc Đại, Phương Thanh, Hamlet Trương, Mai Tiến Dũng, Hoài Lâm.
Phân vai kịch bản: NSƯT Thanh Kim Huệ (vai Lan) Danh ca Chí Tâm (vai Điệp) NSƯT Thanh Điền (vai Ông Phủ Trần)
NS Thanh Hằng (vai Bà Phủ Trần)
NS Hồng Nga (vai Bà Cử)
NSUT Trọng Phúc (vai Ông Tú)
Danh hải Minh Nhí (vai Bếp Sạt)
NS kịch nói Hồng Đào (vai Thúy Liễu)
Ca sĩ Quốc Đại vai Chú Tiểu
Ca sĩ Hoài Lâm vai Bé Xuân – em trai Lan
NSƯT Vũ Luân (vai Điệp), NSƯT Tú Sương (vai Lan), và ca sĩ Quốc Đại (thể hiện các đoạn hát cao trào trước cổng chùa như để thay tiếng lòng của Lan và Điệp trong giây phút chia xa).
1. “Chuyện tình Lan và Điệp” trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của nhà văn Nguyễn Công Hoan được chuyển thể thành vở cải lương lần đầu năm 1936, do soạn giả Trần Hữu Trang thực hiện. Năm 1974, soạn giả Loan Thảo dựng lại với các giọng ca: Chí Tâm (Điệp), Thanh Kim Huệ (Lan), Tú Trinh (Thúy Liễu), Hữu Phước (ông Tú - ba của Lan)... Đến nay, đây được xem là bản thu âm chuẩn mực nhất của tác phẩm.
Vở cải lương Lan và Điệp được xem là một trong các vở tuồng khuôn mẫu, kinh điển của sân khấu cải lương Việt Nam. Trong quá trình phát triển sân khấu, rất nhiều nghệ sĩ từng đảm nhận các vai diễn trong vở này, trong đó có những nghệ sĩ tên tuổi đã để lại những dấu ấn khó phai khi hóa thân vào nhân vật Lan và Điệp như: NSND Lệ Thủy, NSƯT Vũ Linh, Kim Tử Long, Thoại Mỹ, Thanh Ngân, Vũ Luân, Trọng Phúc, Tấn Giao… Trong đời sống, tác phẩm đã quá quen thuộc với khán giả mộ điệu, không ít khán giả có thể nhớ trọn vẹn từng tình tiết, những bài bản ca của cả vở tuồng.
2. Phiên bản gốc của vở cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp” được thực hiện thu thanh vào năm 1974 sẽ được dàn dựng lại theo nguyên mẫu và giới thiệu tới khán giả thành phố Hồ Chí Minh (đêm 17-18/8/2019 tại Nhà hát Bến Thành), Đà Nẵng (đêm 23/8/2019 tại nhà hát Trưng Vương), Hà Nội (đêm 23/11/2019 tại Trung tâm Nghệ thuật Âu Cơ).
3. Đơn vị tổ chức chương trình "Tài danh đất Việt" giới thiệu vở cải lương “Lan và Điệp” với sự tham gia của những nghệ sĩ thế hệ đầu tiên thực hiện vở diễn này là Chí Tâm (Điệp) và Kim Thanh Huệ (Lan) cùng 40 nghệ sĩ sân khấu gạo cội của hai miền Nam, Bắc.
Điều đặc biệt ở chỗ mời được nữ NSƯT Thanh Kim Huệ hóa thân vào vai Lan và nghệ sĩ hải ngoại Chí Tâm vào vai Điệp. Đây cũng là lần đầu tiên Thanh Kim Huệ, Chí Tâm xuất hiện trên sân khấu bằng xương bằng thịt trong vai Lan-Điệp.
Vở diễn có sự tham gia diễn xuất của dàn nghệ sĩ cải lương gạo cội như: nghệ sĩ Hồng Nga, NSƯT Thanh Điền, NSƯT Trọng Phúc, NSƯT Vũ Luân, nghệ sĩ Thanh Hằng, NSƯT Tú Sương, nghệ sĩ hải ngoại Hồng Đào, danh hài Minh Nhí, nghệ sĩ Bình Tinh, ca sĩ Quốc Đại, bên cạnh sự xuất hiện của những nhân tố gây bất ngờ như Phương Thanh, Hamlet Trương, Mai Tiến Dũng và Hoài Lâm.
Đặc biệt, chương trình có sự tham gia của hai vị khách mời là NSND Minh Vương cùng với ngôi sao ca nhạc Hoài Lâm, đánh dấu sự kiện ca sĩ Hoài Lâm lần đầu tiên đóng cải lương. Trong đêm diễn tại Hà Nội, đạo diễn Gia Bảo còn mời NSUT Thanh Thanh Hiền làm người dẫn chuyện với các ca khúc “Lan và Điệp” từ 1 đến 5.
4. Vở cải lương “Lan và Điệp” do đạo diễn Gia Bảo dàn dựng, NSƯT Thanh Điền cố vấn, được dàn dựng theo nguyên mẫu vở cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp” (phiên bản năm 1974) và có kết hợp một số công nghệ của sân khấu hiện đại như màn hình led, khói lạnh, vũ đoàn…
Chuyển thể từ bản thu âm vỏn vẹn 90 phút ngày xưa thành vở diễn sân khấu với thời lượng gấp đôi là thử thách không nhỏ. Ông bầu Gia Bảo trong vai trò đạo diễn đã khéo giải quyết bằng cách sử dụng loạt tác phẩm tân nhạc Lan và Điệp 1, 2, 3, 4 xen kẽ giữa các lớp diễn nhằm khắc họa rõ hơn câu chuyện và tâm trạng của nhân vật.
Bên cạnh đó, với sự cố vấn của NSƯT Thanh Điền, Gia Bảo cũng mạnh dạn đưa thêm những lớp diễn mới, chẳng hạn như lớp độc diễn của Tú Sương khi cô Lan trải lòng sau cánh cửa nhà chùa rất ấn tượng, hay bài vọng cổ Lan và Điệp được Vũ Luân trình bày quá hay khi Điệp đến tìm Lan trong mịt mờ sương khói chia ly. Cả sự hoạt náo tưng bừng của anh bếp Sạt hài hước do danh hài Minh Nhí thể hiện, hợp cùng nét hài rất duyên của Hồng Đào trong vai Thúy Liễu giúp khán giả thỏa mãn được phần “nhìn”, thời lượng vở diễn cũng được lấp đầy hợp lý.
Cố vấn nghệ thuật của vở - NSUT Thanh Điền cho biết sẽ giữ nguyên bản kịch bản gốc của soạn giả Loan Thảo, không thêm không bớt một lời nào. Bởi lẽ đây là vở cải lương quốc dân, khán giả đều đã thuộc nằm lòng từng câu, từng chữ. Chỉ kết cấu thêm phần âm nhạc cho các ca sĩ biểu diễn thật hợp lý để tăng thời lượng cho vở khi ra sân khấu lớn.
5. Cốt lõi cho thành công của vở diễn chính là ngôn ngữ tuyệt đẹp thấm đượm chất tự sự đặc thù của nghệ thuật cải lương. Từng lời ca con chữ do soạn giả tài hoa Loan Thảo viết nên đều được thể hiện xuất sắc bằng những giọng ca bất hủ.
Qua bao nhiêu năm, NSƯT Thanh Kim Huệ vẫn giữ nguyên phong độ, khiến người nghe tưởng chừng như vẫn là cô gái 14 tuổi năm nào lần đầu đóng vai chính. Nhiều nghệ sĩ đã thể hiện các bài hát trong Lan và Điệp, nhưng mấy ai có được chất giọng hồn nhiên, trong trẻo như vậy. Chất giọng ấy đã khắc họa nên một cô Lan thanh xuân khiến người ta yêu mến, để rồi càng yêu mến thì càng tiếc thương cho một đời hoa sớm lụi tàn. Nhất là lớp diễn tái ngộ cùng anh Điệp trong giờ phút hấp hối, chị đã thể hiện xuất sắc qua bài Tứ đại oán.
Giọng hát chan chứa tâm sự và nỗi đau, có những lúc uất nghẹn, những lúc thều thào của người sắp lìa đời nhưng vẫn tròn vành rõ chữ, từng lời từng câu đầy nội lực diễn xuất làm cả khán phòng rung động.
Hòa cùng với Thanh Kim Huệ là giọng ca đậm chất thư sinh của Chí Tâm. Anh ca diễn chừng mực, hiền lành nhưng từng làn hơi ngân rung độc đáo, phối hợp tuyệt vời với bạn diễn làm nên một bản tuyệt phối đưa cô Lan và cả khán giả đi vào cõi nhớ.
'Lan và Điệp' phiên bản 2019: Hương xưa phai đi ít nhiều!
Linh Đoan
TTO - Trong đêm diễn đầu tiên của vở cải lương kinh điển 'Lan và Điệp' phiên bản 2019, hai nhân vật chính Chí Tâm - Thanh Kim Huệ đã nhận được những tràng pháo tay không ngớt từ người hâm mộ. Tuy nhiên, vẫn còn những điều tiếc nuối...
Tối 17-8, tại nhà hát Bến Thành, ông bầu trẻ Gia Bảo đã trình làng với công chúng vở cải lương Lan và Điệp.
Vở đánh dấu sau 45 năm lần đầu tiên cặp đôi nghệ sĩ Chí Tâm - Thanh Kim Huệ nổi đình nổi đám với bản thâu âm năm 1974 đã bước lên sân khấu diễn trọn vẹn vở tuồng này.
Có thể nói với bản thâu âm năm đó, Chí Tâm - Thanh Kim Huệ đã làm thổn thức trái tim của biết bao người mộ điệu với mối tình ngang trái của chàng Điệp, cô Lan. Tên của nhân vật đã trở thành tên gọi để đời trong sự nghiệp của hai nghệ sĩ.
Vì sự thành công quá lớn đó mà nghệ sĩ Thanh Kim Huệ không dám nhận lời mời của bất cứ ai để bước lên sân khấu thể hiện lại vai cô Lan vì sợ không vượt qua cô Lan trong bản thâu âm.
Tuy nhiên sau 45 năm, khi Gia Bảo thuyết phục, bà đã suy nghĩ và đồng ý với mong muốn người hâm mộ sẽ được thấy một cô Lan từ bản thâu âm bước lên sàn diễn.
Điểm cộng đầu tiên của Lan và Điệp phiên bản 2019 là cảnh trí thật, đẹp, không sử dụng màn hình LED, từ ngôi nhà của cô Lan đến anh Điệp với bờ rào bông bụp, bụi chuối sau hè, bờ lau, cảnh chùa thanh tịnh. Tiếc là cảnh trí nhà ông Phủ lại chưa được đầu tư đúng mức với một tấm phông vẽ khá đơn điệu.
Hai nhân vật chính Chí Tâm - Thanh Kim Huệ xuất hiện đã nhận được những tràng pháo tay không ngớt từ người hâm mộ.
Thật ngạc nhiên, ở lứa tuổi U70, hai nghệ sĩ vẫn có thể ca sống trọn vở mà giọng hát không bị đuối, hụt hơi. Với giọng ca của mình, họ đã chứng tỏ cho người hâm mộ thấy sự độc đáo trong giọng ca của các thế hệ nghệ sĩ vàng có sự diễn cảm rất tốt.
Người nghe có khi không cần nhìn, nhắm mắt lại và lắng nghe giọng ca thôi cũng cảm được tâm trạng nhân vật, mường tượng được những diễn biến đang xảy ra.
Tuy nhiên, vở diễn trên sân khấu còn phải đáp ứng được phần nhìn. Mặc dù hai nghệ sĩ đã cố gắng, nhưng ở những phân đoạn thời trẻ, sức nặng tuổi tác cũng cản trở họ thể hiện được sự thanh xuân của anh Điệp và cô Lan.
Vì vậy, cảnh khiến khán giả có thể nghe xem "cho đã" và xúc động nhất là cảnh cuối khi Lan lâm bệnh lìa dương thế. Có thể nói từng lời ca của Chí Tâm - Thanh Kim Huệ như mải miết đưa khán giả về đúng bản thâu từ năm 1974 mà họ từng đắm đuối.
Trong vai trò cố vấn nghệ thuật cho vở diễn, nghệ sĩ Thanh Điền đã nói Lan và Điệp phiên bản 2019 giữ đúng tinh thần của bản thâu 1974 nhưng cố gắng đưa một cách kể, nhịp điệu mới vào cho phù hợp thời đại.
Lan và Điệp tập trung khá nhiều ngôi sao tên tuổi, ngoài Chí Tâm - Thanh Kim Huệ còn có các nghệ sĩ Hồng Nga, Thanh Hằng, Trọng Phúc, Tú Sương, Vũ Luân, Minh Nhí, ca sĩ Quốc Đại, Phương Thanh, Mai Tiến Dũng, Hoài Lâm, Hamlet Trương...
Giữa những lần chuyển cảnh, các ca sĩ hát bài Chuyện tình Lan và Điệp với mong muốn phả hơi thở mới vào vở diễn nhưng cách làm chưa khéo, đôi lúc hơi tham khiến vở diễn còn rời rạc, mạch cảm xúc bị đứt đoạn, không đầy đặn.
Trong vở diễn, ngoài cặp đôi Chí Tâm - Thanh Kim Huệ, khán giả còn háo hức với sự trở lại sân khấu của cô đào thương nổi tiếng Hồng Đào.
Lần này chị không làm người ta khóc mà được giao nhiệm vụ làm khán giả ghét với vai Thúy Liễu.
Tuy nhiên, vai diễn chưa thực sự ấn tượng và người hâm mộ có lẽ phải tiếp tục chờ đợi một cơ hội khác để Hồng Đào chứng tỏ đẳng cấp cô đào từng làm xao động trái tim bao khán giả yêu kịch năm xưa.
Vở cải lương Lan và Điệp sẽ còn diễn một suất tại nhà hát Bến Thành vào tối 18-8 và tại nhà hát Trưng Vương (Đà Nẵng) tối 23-8.
Linh Đoan
Thanh Hằng - Thanh Điền - Hồng Nga và Chí Tâm trong Lan và Điệp - Ảnh: GIA TIẾN
Chí Tâm vai Điệp và Thanh Kim Huệ vai Lan trong Lan và Điệp - Ảnh: GIA TIẾN
Hồng Đào - Thanh Hằng và Minh Nhí - Ảnh: GIA TIẾN
Trọng Phúc - Chí Tâm - Hồng Nga - Ảnh: GIA TIẾN
Các nghệ sĩ và khán giả chụp hình lưu niệm sau vở diễn - Ảnh: GIA TIẾN
Nhà văn Nguyễn Công Hoan (Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác, nhận định)
Phạm Tiến Minh
Nhắc đến Nguyễn Công Hoan, người ta nhớ ngay đến một bậc thầy của truyện ngắn hiện thực phê phán, với những tác phẩm châm biếm sâu cay, để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng bạn đọc. Bài viết dưới đây khái quát Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác, nhận định về Nhà văn Nguyễn Công Hoan.
Trong "85 chân dung văn hóa - văn chương Việt (tập 1)"
GS. Phong Lê
Tính từ những năm 1920 cho đến nay, Nguyễn Công Hoan vẫn cứ là nhà văn thuộc trong số không nhiều người thật sự được quen biết và được nhắc nhở trong dư luận của nhiều thế hệ bạn đọc. Ông bắt đầu được chú ý từ những truyện trong tập Truyện thế gian của Tản Đà thư cục, năm 1922; rồi Kiếp hồng nhan, năm 1923; để trở nên nổi tiếng với những chuyện đời trong chuyên mục “Xã hội ba đào ký”, thời An Nam tạp chí cũng của Tản Đà đầu những năm 1930. Và đến hôm nay, sau bao nhiêu biến thiên xã hội, ông vẫn
tiếp tục là nhà văn thân quen của nhiều thế hệ bạn đọc, trong số đó không ít người đã từng qua một tuổi trẻ hoặc tuổi học đường sớm biết đến Nguyễn Công Hoan, qua Bước đường cùng và các truyện ngắn được chọn lọc trong chương trình văn học ở nhà trường.
Cố nhiên ở mọi thời kỳ, sự quan tâm của bạn đọc đối với Nguyễn Công Hoan là có khác nhau. Nguyễn Công Hoan xuất hiện với một bút pháp lạ, một cách nhìn lạ, một giọng điệu lạ, hài và bi, cười cợt và nghiêm trang, đùa mà tỉnh táo, đã được báo hiệu ngay từ Kiếp hồng nhan (1923). Rồi Nguyễn Công Hoan với truyện ngắn và truyện dài, dồn dập và xen kẽ, chuyển dịch qua bao xu hướng nghệ thuật trong những năm 1930. Nhà văn muốn tỏ ra trung thành với chủ nghĩa hiện thực trào lộng trong truyện ngắn lại rất nghiêm trang, mực thước trong Tấm lòng vàng, Cô làm công... Chủ nghĩa lãng mạn tưởng như xa lạ với Nguyễn Công Hoan, khi nhà văn cố tình trở về với các khuôn mẫu cổ điển, để chống lại Đoạn tuyệt của Nhất Linh, trong Cô giáo Minh, lại là người đẫm ướt trữ tình và nước mắt lãng mạn trong Tắt lửa lòng và Lá ngọc cành vàng. Thanh đạm u trầm trong một khí hậu hoài cổ nhằm dẫn dắt con người vào một thời xưa, trong lúc Bước đường cùng lại rất quyết liệt phanh phui, lật tẩy hiện tại - sách bị cấm mà thành danh to, năm ngàn bản hết veo và được in đi in lại nhiều lần... Nguyễn Công Hoan, tóm lại, đó là người viết dường như muốn có một mục tiêu để trung thành, để chung thủy, nhưng lại nhiều đổi thay, chuyển dịch và không ít giọng điệu. Có phải vậy chăng cùng lúc có ở trong ông vừa khách quan vừa chủ quan, vừa mới vừa cũ, vừa hoài cổ vừa cách tân, vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa cổ điển vừa tự nhiên và cả tự nhiên chủ nghĩa... Vậy là, phải chăng về cái gọi là “phức tạp”, qua con mắt người đương thời và hậu thế, thì xem ra Nguyễn Công Hoan cũng có mặt nổi danh không kém Nguyễn Tuân.
Nhưng rút lại thì cái lớn, cái duyên và có thể là cả cái may, của Nguyễn Công Hoan là ở đâu và lúc nào ông cũng được quan tâm. Có thể nói ông là nhà văn chưa bao giờ bị lãng quên. Ông là người thường xuyên được nhắc nhở. Quả là trong làng văn Việt Nam hiện đại, người có vị trí như Nguyễn Công Hoan không phải thật quá hiếm hoi. Nhưng có người danh đang như cồn, bỗng bị quên ngay. Có người rất thực tài nhưng chịu rất nhiều thăng trầm. Có người chịu một số phận âm thầm thật lâu rồi mới sáng sủa dần lên. Còn ông, nhà văn Nguyễn Công Hoan thì lúc nào cũng là người hiện diện cùng độc giả. Tham gia cách mạng, hoạt động ở nhiều cương vị, cho đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp, trở về hòa bình, ông là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đầu tiên từ khi có Hội, năm 1957, cương vị ấy ở ông gợi nhớ chức danh Tổng Thư ký Hội Văn nghệ của Nguyễn Tuân trước đó gần một thập niên trong Đại hội lần thứ nhất Hội Văn nghệ Việt Nam. Những chọn lựa của lịch sử và nghề nghiệp quả thật là tinh. Nghề và nghiệp, danh và thực, quả đã tìm được sự hội tụ ở những người viết có bản lĩnh, có chân tài. Qua hai hiện tượng trên, ở hai cương vị đại diện: một cho chủ nghĩa lãng mạn, một cho chủ nghĩa hiện thực, tôi thấy thật thú vị về sự gặp gỡ của hai phong cách lớn trong văn học Việt Nam hiện đại.
Nhà văn Chủ tịch Hội Nguyễn Công Hoan đã khẩn trương trở về với vốn sở trường của mình qua một loạt các tiểu thuyết dài dồn dập, hơn bất cứ ai, trong giao điểm những năm 1950 và 1960: Tranh tối tranh sáng (1956), Hỗn canh hỗn cư (196l). Đống rác cũ, tập I (1963) như là một sự tổng hợp và nâng cao, trong quy mô sử thi, theo cách nói quen thuộc của chúng ta những năm trước đây, để có thể đồng thời diễn đạt cho được cả hai mặt: mặt tối tăm bi thảm và mặt cách mạng của cuộc đời cũ. Mặt tối tăm, dường như hầu hết những gì ông đã viết trước năm 1945 có thể xem là một tập đại thành; còn mặt sáng sủa, mặt cách mạng của xã hội cũ thì có dễ đến bây giờ ông mới có chủ trương và có quyết tâm trong một nỗ lực nhận thức rất cao. Còn nhớ có lần ông nói: “Tôi vẽ người xấu nhạy hơn người tốt. Bởi vì tôi vốn bi quan nên nhìn mọi vật bằng con mắt hoài nghi, chỉ thấy phía xấu. Phía xấu dễ nhập tâm hơn phía tốt”.
Vậy là có phải đến bây giờ mới là lúc ông thấy cần và ông có điều kiện thể hiện mình trên cả hai thái độ: phê phán và khẳng định. Nhưng gắn cho được cả hai mặt đó vào một chỉnh thể, sao cho nó hữu cơ, cho nó nhuần nhị, có nhân và quả, hoặc vừa là nhân vừa là quả, có quan hệ và tác động theo cả hai chiều, thật là cả một sự nặng nhọc. Ấy là chưa nói những đòi hỏi theo “phép biện chứng” ở người đọc, theo lý luận về hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi nhìn cuộc sống trong quá trình phát triển cách mạng và khẳng định mặt đang lên của hiện thực, phải đâu dễ đáp ứng được, nếu nó không tìm được lối thuận trong tạng của nhà văn.
Thiên chức nhà văn: nói cho toàn diện về hiện thực, hướng con người về phía cái tốt cái thiện, là câu chuyện ta từng bàn đi bàn lại, nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Ai cũng mong đạt cái đích cao và xa ấy. Nhưng đòi hỏi của cả một nền, cả một thời có khác với đòi hỏi riêng ở từng người. Và ở mỗi người, chuyện lực và tâm, và cả tạng nữa, có gắn bó hô ứng được với nhau không cũng còn phải tính. Một đời dài theo nghiệp văn, Nguyễn Công Hoan đã để lại cho ta một di sản lớn về nhiều mặt. Nhưng tôi lại nghĩ nếu Nguyễn Công Hoan biết chiều cái tạng riêng của mình và xã hội một thời dài cũng sẵn sàng chấp nhận, hoặc biết bao dung cái tạng ấy thì hẳn chắc sự nghiệp của ông còn lớn hơn, thậm chí lớn hơn rất nhiều. Ông cứ viết, tiếp tục với giọng trào lộng của riêng ông về cái cũ, cái ác trong xã hội cũ và cả về cái cũ, cái xấu trong xã hội mới nữa, cũng được chứ sao!
Chúng tôi là những người đọc hậu sinh trung thành và chuyên cần của nền văn chương quốc ngữ, chúng tôi càng quý trọng một trong những người đặt nền móng đầu tiên là Nguyễn Công Hoan. Cũng chính ông là người tiếp tục cần mẫn lần lượt vươn lên nhiều tầng giàn giáo của công trường văn xuôi quốc ngữ Việt Nam. Một công trường thật sự là đông đúc, nhưng những bậc thợ cả trong số đó như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam. Khái Hưng, Tô Hoài, Nguyên Hồng... thì quả chưa phải là nhiều. Còn chưa nhiều nên mới quý. Và càng quý khi tất cả họ, khi trong con số ít ỏi ấy ở họ, lại là những chân dung rất khác nhau, những gương mặt hoàn toàn không lẫn vào nhau. Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn luôn nhớ đến một tiếng cười riêng, tiếng cười Nguyễn Công Hoan, tiếng cười gây cười, lập tức làm ta bật cười, cười không cản được, cười to lên hoặc tủm tỉm, nhưng rồi sau đó là một vị chát có lúc như nghẹn đắng, có lúc làm cay nơi mắt ta. Ngẫm ra thật là “sợ” cho ngữ ngôn, cho văn tự, cho chữ nghĩa Nguyễn Công Hoan: Oẳn tà roằn, Ngựa người và người ngựa, Báo hiếu - trả nghĩa cha, Cô Kếu - gái tân thời, Thế là mợ nó đi Tây... Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn thấy sống động cả một thế giới người thật đông đúc và cũng thật là lúc nhúc trong văn ông: những phu phen, thuyền thợ, dân quê; những địa chủ, lý dịch, cường hào; những nghị viên, dân biểu, quan lại (huyện, phủ, bố, án, tuần...); những ký, lục, phán, tham; những con buôn, tư sản, chủ thầu; những giáo chức, nghệ nhân, viết văn, làm báo; những me tây, cô đầu, kép hát; những gái điếm, con sen, thằng nhỏ; những “ván cách”, lính cơ, thày quyền; những bồi, bếp, tây trắng, tây đen... Nghĩ đến Nguyễn Công Hoan tôi nghĩ đến cả một gia tài truyện ngắn thật đồ sộ mà ông để lại; và truyện ngắn - đó mới chính là sở trường của ông, trào phúng mới là giọng điệu của riêng ông. Một thứ trào phúng rõ ràng là bắt nguồn từ gia tài dân gian và cổ điển, nhưng vẫn là rất riêng của ông, không lẫn với ai, và không ai bắt chước được.
Thế kỷ XX rồi sẽ ghi nhận tên tuổi Nguyễn Công Hoan - tác giả của hàng trăm truyện ngắn sáng giá - là người hiếm hoi, cùng với Nam Cao, Thạch Lam có công đưa thể loại dễ mà khó này lên một tầng cao thật siêu việt. Là người có một tiếng cười riêng thật đặc sắc trong một bối cảnh vốn lúc nào cũng rất cần có tiếng cười. Một cuộc sống tối tăm đau khổ, thật đáng khóc như cuộc sống trước năm 1945, vẫn cần có tiếng cười; đã có một chuỗi cười dài trong Số đỏ, lại có tiếng cười của Nguyễn Công Hoan, cùng tiếng cười trong thơ của Tú Mỡ, Đồ Phồn. Cuộc sống mới sau năm 1945, dẫu có nhiều niềm vui lớn, đâu phải đã hết cần đến tiếng cười phê phán. Cái lý đó và sự thật đó, phải chăng ta nhận ra khá muộn, khiến cho một người biết cười, một người dám cười như Nguyễn Công Hoan thật đáng giá, thế nhưng lắm lúc ông đã phải nghiêm trang. Nguyễn Công Hoan, trong cả đời văn nói chung là một người may mắn, nhưng ông cũng có đôi lúc không may. Dẫu thế, trong di sản của ông, bên những thứ đã bị quên, có nhiều giá trị sẽ là bất tử.
Trong căn phòng trọ tồi tàn, gió mùa đông bắc rít qua khe cửa, Lê và Vũ ngồi co ro trên chiếc chiếu rách. Đã là ngày hai mươi tám Tết, nhưng trong túi họ chẳng có lấy một hào. Lê thở dài, nhìn xấp bản thảo dày cộp đặt góc bàn, thứ tài sản duy nhất mà anh coi là báu vật. Anh tự nhủ rằng, bậc đại văn hào thì không nên bận tâm đến chuyện cơm áo.
Đúng lúc đó, Trần và Nguyễn bước vào, gương mặt cũng xám xịt vì đói và lạnh. Trần cầm một tờ báo cũ, cười chua chát:
- Các cậu xem, thiên hạ đang sắm sửa Tết rộn ràng quá, còn những kẻ "bất tử" như chúng ta, dường như lại bị cái Tết bỏ quên rồi.
Nguyễn chỉ gật đầu, bụng anh đánh lô tô một hồi thay cho lời đáp.
Lê đứng dậy, đi đi lại lại trong không gian chật hẹp. Anh bắt đầu diễn thuyết
về sự thanh cao của nghiệp cầm bút.
- Vũ này, cậu đừng buồn. Chúng ta nghèo tiền bạc nhưng giàu chữ nghĩa. Mai sau, khi hậu thế nhắc đến chúng ta như những vĩ nhân, ai còn nhớ đến cái bụng đói ngày hôm nay?
Vũ ngước lên, đôi mắt lờ đờ vì thiếu ngủ.
Nguyễn và Vũ nhìn nhau, rồi lại nhìn cái nồi không trên bếp lò nguội ngắt. Nguyễn lên tiếng phá tan bầu không khí viển vông:
- Thôi ông ạ, cái 'bất tử' ấy để sau đi. Bây giờ làm sao để có cái gì bỏ vào mồm cho qua ba ngày Tết đây?
Vũ gật đầu lia lịa, ý tưởng về một bữa cơm có thịt bắt đầu xâm chiếm tâm trí anh.
Trần nảy ra một sáng kiến khi nhớ đến một người bạn cũ. Anh quay sang hỏi Lê:
- Này, ông Nguyễn Công Hoan dạo này phất lắm phải không? Nghe đâu ông ấy viết
chuyện ngắn bán chạy như tôm tươi, tiền nhuận bút tiêu không hết.
Lê gật đầu, đôi mắt bỗng sáng rực lên một tia hy vọng giữa đêm đông.
Cả bốn người bắt đầu bàn tán xôn xao về "đại gia" Nguyễn Công Hoan. Vũ hào hứng vẽ ra kịch bản:
- Chúng ta cứ đến thẳng nhà ông ấy. Đồng nghiệp cả, chẳng lẽ ông ấy lại nỡ để chúng ta chết đói? Chắc chắn nhà ông ấy phải có giò chả, bánh trưng, có khi còn có cả rượu ngon nữa!
Trần gật đầu tán thưởng kế hoạch ăn chực đầy nghệ thuật này.
Sáng hôm sau, dưới cơn mưa phùn lạnh thấu xương của Hà Nội, Nguyễn và Lê dẫn đầu "đoàn quân" đi tìm nhà Hoan. Họ đi bộ qua những con phố vắng, chân run lẩy bẩy nhưng lòng đầy quyết tâm. Nguyễn tự trấn an:
- Cứ nghĩ đến đĩa thịt gà nhà ông Hoan là tôi lại thấy ấm cả người.
Lê thì chỉnh lại cái cổ áo sờn, cố giữ vẻ sĩ diện cuối cùng.
Cuối cùng, họ cũng đứng trước cửa nhà Nguyễn Công Hoan. Vũ và Nguyễn hồi hộp nhìn cánh cửa gỗ. Vũ thì thầm:
- Này, nhớ nhé, chúng ta đến để 'đàm đạo văn chương', còn chuyện ăn uống chỉ là phụ thôi. Phải giữ phong thái của những nhà đại văn hào.
Nguyễn gật đầu, nhưng tiếng bụng đói của anh lại một lần nữa phản bội tinh thần cao thượng đó.
Họ gõ cửa và Nguyễn Công Hoan xuất hiện. Nhưng thay vì hình ảnh một nhà văn phong lưu, Hoan hiện ra với vẻ ngoài phờ phạc, tóc tai bù xù. Lê ngạc nhiên hỏi:
- Ông Hoan đấy à? Sao trông ông... lạ thế này?
Hoan cố nặn ra một nụ cười gượng gạo, mời các bạn vào nhà nhưng ánh mắt lại lấm lét nhìn ra cổng.
Vào trong nhà, Trần và Hoan ngồi đối diện nhau. Thay vì mùi thơm của giò chả, căn phòng chỉ có mùi giấy cũ và sự im lặng đáng sợ. Trần nhìn quanh, không thấy một dấu hiệu nào của Tết. Trên bàn, ngoài mấy xấp bản thảo bị xé dở, chẳng có lấy một hạt mứt hay miếng bánh nào để đãi khách.
Hoan thở dài, bắt đầu kể lể với Vũ:
- Các ông đến thật không đúng lúc, tôi đang phải trốn nợ đây! Thiên hạ cứ tưởng tôi giàu, nhưng nhuận bút chưa về mà chủ nợ đã đứng đầy ngõ.
Vũ nghe mà rụng rời chân tay, giấc mơ về đĩa thịt gà bỗng chốc tan thành mây khói theo lời kể của Hoan.
Bỗng nhiên, có tiếng đập cửa rầm rầm và tiếng quát tháo từ bên ngoài. Hoan giật bắn mình, vội vàng ra hiệu cho Nguyễn giữ im lặng.
- Chủ nợ đấy! Các ông bảo tôi không có nhà nhé!
Hoan nói khẽ rồi chui tọt xuống gầm giường, để lại Nguyễn đứng ngơ ngác giữa phòng với vẻ mặt dở khóc dở cười.
Lê và Trần nhìn nhau, không biết nên khóc hay nên cười trước cảnh tượng bi hài này. Lê lẩm bẩm:
- Hóa ra 'đại văn hào' nào cũng chung một số phận.
Trần thì cười nhạt, nhìn ra cửa sổ thấy những người bán hàng Tết đang thu dọn gian hàng cuối cùng. Cái đói giờ đây dường như đã bị sự trớ trêu của cuộc đời lấn át.
Khi tiếng đập cửa ngớt dần, Hoan chui ra, phủi bụi trên áo và nhìn Lê với ánh mắt cảm thông.
- Thôi, không có thịt thì ta dùng trà nhạt vậy. Chữ nghĩa chúng ta đầy bụng, sợ gì cái đói hả các ông?
Hoan rót nước mời Lê, chén trà loãng đến mức nhìn thấy cả đáy, nhưng họ vẫn nâng chén như đang dự một bữa tiệc linh đình.
Đêm giao thừa, Vũ và Nguyễn cùng các bạn ngồi lại bên nhau trong căn nhà trống không của Hoan. Tiếng pháo nổ rộn rã ngoài phố báo hiệu năm mới đã đến. Vũ cười vang:
- Chúng ta là những nhà văn bất tử, mà đã bất tử thì cần gì ăn Tết, phải không?
Những tiếng cười bi hài vang lên, xua tan cái lạnh, khẳng định một tinh thần văn chương kiên cường giữa cuộc đời đầy rẫy những nghịch cảnh.