Ads 468x60px

.
Hiển thị các bài đăng có nhãn vui. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vui. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 17 tháng 10, 2022

Kịch: Tinh thần thể dục


Kịch: Tinh thần thể dục

Nguyễn Công Hoan

Sân khấu hoá tác phẩm văn học
Chuyên đề ngoại khóa môn ngữ văn



Thứ Ba, 6 tháng 3, 2012

Nguyễn Công Hoan viết Ca trù



Rating:★★
Category:Books
Genre: Biographies & Memoirs
Author:Hoạt Thanh

Nguyễn Công Hoan viết Ca trù

Hoạt Thanh

Độ ấy, vào khoảng đầu những năm hai mươi, khi Nguyễn Công Hoan vừa in xong tập truyện đầu tay Kiếp hồng nhan được ít lâu, gặp Vũ Ngọc Phan bên bờ Hồ, Nguyễn Công Hoan dí dỏm kể:

Mình vừa viết xong một bài ca trù. Nguyên là thế này, ở làng mình có một cô gái trạc tuổi mình, con nhà thi lễ. Năm hai người mới 6, 7 tuổi, cả làng yên trí là sau này thể nào cũng nên vợ nên chồng. Cả gia đình cô ta cũng tin như thế. Rồi lớn lên, cô ta đi làm dâu một ông quan to. Chồng cô ta ít lâu lại tuồn ra một bài thơ. Hãnh diện về chồng, cô ta thường đem thơ của chồng về nhà cô ta và đọc cho mọi người nghe…

Kể đến đây, ông ngừng lại cười ngất.

Một lát, Nguyễn Công Hoan giả vờ bịt mũi và đọc:

… Hoa có tàn hoa ủ mấy thu
Thương ôi! Mây khói mịt mù…
Bừng con mắt biết tiêu du cảnh nào

Vốn ghét kểu người cứ tỏ vẻ “ưu thời mẫn thế”, Nguyễn Công Hoan bèn ứng tác bài ca trù sau đây:
Lo gì lo lắm
Vắt tay lên trán để mà lo
Lo đủ điều, lo nhỏ lại lo to
Lo đến hết thở dài rồi than vắn
Lo nước biển đông ngày dãi nắng
Lo vườn Con Cóc khuyển làm nhơ
Lo để mặt méo xệch, chân cẳng quắp co
Lo đến cả con bò răng vẫn trắng
Thế mới biết cái lo là lắng đắng
Khách đa sầu gánh nặng những điều lo
Ai ơi lo lỏ lò lo
Đọc xong bài ca trù, Nguyễn Công Hoan nói:

- Làm thơ kiểu thằng cha ấy thì mình có thể “xùy” ra hàng tràng. Nhưng mình không thèm làm. Mình sẽ viết văn xuôi cho vợ nó mất làm bộ.

 (Biên soạn theo tài liệu của nhà văn Vũ Ngọc Phan)

Nguồn: Hà Nội Mới cuối tuần, số 48 (412), ra ngày 9/2/1997.


Nhà văn Nguyễn Công Hoan dạy toán


Rating:★★
Category:Books
Genre: Entertainment
Author:Báo TNTP


Nhà văn Nguyễn Công Hoan dạy toán

Báo TNTP

Ít người biết rằng nhà văn Nguyễn Công Hoan - một trong những cây bút xuất sắc trên văn đàn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945, lại từng là giáo viên dạy Toán tại Trường Văn hóa - Quân nhân trung cấp (thuộc Bộ Quốc phòng). Một lần, trong giờ lên lớp, ông ra đề toán cho học viên mang về nhà làm. Hôm sau, khi học viên yêu cầu chữa bài, không rõ đang “lơ tơ mơ” thế nào mà nhà văn lại giải đáp số về số người là... số thập phân!
Mọi người ai nấy thắc mắc thì ông trả lời một cách... rất trào phúng:
- Ờ ờ... nó cũng giống như các đồng chí đi đánh trận bắt được tù binh, có đứa què, đứa cụt... chẳng phải số thập phân là gì?

Nghe ông chống chế vậy, các học viên đều bật cười vui vẻ!


Ngày cập nhật: 30/12/2006 14:31

Chỉ là ông... mô phạm - Việt Lâm, Tường Duy


Rating:
Category:Books
Genre: Biographies & Memoirs
Author: Việt Lâm

Chỉ là ông... mô phạm


Việt Lâm

Nhà văn Nguyễn Công Hoan, ngoài tài sáng tác còn nổi tiếng là người hóm hỉnh. Sự hóm hỉnh thể hiện rõ nhất ở cách nói vừa đủng đỉnh... như không, lại vừa rất ngắn gọn, mang tính... đúc kết của ông. Có lẽ vì thế mà nó càng gây ấn tượng với người nghe.

Ngay khi mới ở độ tuổi ngoài ba mươi một chút, với những truyện ngắn đặc sắc, Nguyễn Công Hoan đã được người đương thời xem như một Môpátxăng (Guyde Maupassant - nhà văn Pháp nổi tiếng thế kỷ XIX) của Việt Nam. Một lần, tại quán ăn, nhà văn Thạch Lam đã chỉ vào Nguyễn Công Hoan, giới thiệu với nhà văn Thanh Tịnh:
- Đây là anh Nguyễn Công Hoan, một Môpátxăng của ta.

Mới nghe tới vậy, Nguyễn Công Hoan quay sang Thanh Tịnh, hóm hỉnh giải thích:
- Anh Thạch Lam gọi tôi là ông Môpátxăng. Không phải đâu. Tôi chỉ là ông Mô, không phải mô phỏng, mà là... mô phạm. Chẳng là tôi làm nghề "gõ đầu trẻ" ấy mà...

Hồi cải cách ruộng đất, có anh chàng mặc dù thuộc thành phần ăn trắng mặc trơn song lại khai mình thuộc thành phần công nhân. Thậm chí, anh ta còn "khoe" với mọi người rằng nhân vật phu kéo xe trong truyện ngắn "Người ngựa, ngựa người" của Nguyễn Công Hoan chính là bố đẻ của anh ta, rằng "Nhà văn Nguyễn Công Hoan đã gặp bố tôi để lấy tài liệu sáng tác".


Trước sự bán tín bán nghi của người đời, Nguyễn Công Hoan không cải chính, chỉ... trầm trồ:
- Tài thật. Nếu hắn viết văn, chắc sẽ sáng tác giỏi hơn tôi nhiều. Khéo đến bậc thầy.

Chẳng là, Nguyễn Công Hoan từng có lần định nghĩa "viết tiểu thuyết là bịa như thật". Ông tỏ ra... khâm phục cái sự "bịa như thật" của anh chàng nói trên.

Có một thời, phụ trách công tác đối ngoại ở Hội Nhà văn Việt Nam là nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh. Sau nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đến nhà văn Nguyễn Công Hoan. Tiếp sau nhà văn Nguyễn Công Hoan, nhà thơ Tế Hanh đảm trách công việc này. Khi bàn giao công việc mới cho Tế Hanh, Nguyễn Công Hoan chỉ dặn mấy câu ngắn gọn:
- Ông Sanh giao cho mình một ngày mới hết. Giờ mình chỉ nói với ông một phút thôi. Đối ngoại là việc rất khó nhưng cũng rất dễ. Vì những nhà văn nước ngoài họ đến rồi họ đi. Để họ nói nhiều, còn ông nói ít thôi...

Về kinh nghiệm viết văn, Nguyễn Công Hoan thường nói rất ngắn gọn. Ông từng căn dặn các nhà văn trẻ: "Nghề viết phải học lỏm, học mót, học thế nhớ lâu. Người ta nói một, mình phải hiểu mười. Phải tinh mới được, phải láu mới được". Thậm chí, có lúc cao hứng, ông còn khuyên nhủ các đồng nghiệp: "Muốn viết văn hay, phải... yêu nhiều". Và, nói tới đây, ông lấy... chính mình ra làm ví dụ.





Chuyện những nhà văn từng đi dạy học

Không phải ông Môpátxăng mà là ông… mô phạm

Tường Duy

Thời trẻ, nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977) từng là thầy giáo dạy tiểu học. Dấu ấn nghề giáo không chỉ thể hiện trong văn chương của ông mà còn thể hiện trong cuộc sống đời thường, kể cả sau này ông đã giã từ nó để chuyên tâm vào nghề viết...

Thời trẻ, nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977) từng là thầy giáo dạy tiểu học. Dấu ấn nghề giáo không chỉ thể hiện trong văn chương của ông (qua một số tác phẩm như truyện ngắn "Thầy cáu", tiểu thuyết "Cô giáo Minh"…) mà còn thể hiện trong cuộc sống đời thường, kể cả sau này ông đã giã từ nó để chuyên tâm vào nghề viết.

Nhà văn Tô Hoài từng kể lại câu chuyện Nguyễn Công Hoan muốn "truyền nghề" cho ông: "Ông căn dặn: Nghề viết phải học lỏm, học mót, học thế nhớ lâu. Người ta nói một, mình hiểu mười, phải tinh mới được, phải láu mới được. Này, tôi bảo anh… phải láu mới được". Và Tô Hoài đã có một nhận xét sắc sảo về cử chỉ của bậc đàn anh khi nói với ông những lời khuyên nhủ trên: "Lúc ông nói thế, hai bàn tay xòe thẳng, giơ ngang, khi mở rộng, khi thu hẹp, ông đương giảng làm ví dụ hệt như thầy giáo đứng trước bảng đen. Nghề dạy học đã làm ông có thói quen cử chỉ nghề nghiệp ấy".

Cũng vẫn liên quan tới nghề giáo, sinh thời, nhà văn Nguyễn Công Hoan còn để lại một giai thoại vui sau đây:

Mùa hè năm 1938, trong một lần kéo nhà văn Thanh Tịnh tới dùng bữa ở nhà hàng Đông Hưng Viên trên phố Hàng Buồm, bất chợt nhà văn Thạch Lam bắt gặp Nguyễn Công Hoan cũng đang ăn ở đây.

Thấy Thanh Tịnh lạ lẫm, không biết vị khách là ai, Thạch Lam bèn niềm nở giới thiệu với Thanh Tịnh: "Đây là anh Nguyễn Công Hoan, một Môpátxăng của ta" (Môpátxăng là một nhà văn nổi tiếng của nước Pháp, rất sở trường về thể loại truyện ngắn. Sinh thời, tài viết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan cũng từng được các nhà nghiên cứu văn học liên hệ với Môpátxăng). Nghe bạn giới thiệu vậy, Nguyễn Công Hoan vội tìm cách cải chính.
Ông hóm hỉnh: "Anh Thạch Lam gọi tôi là ông Môpátxăng. Không phải đâu. Tôi chỉ là ông Mô, không phải mô phỏng, mà là mô phạm. Chả là tôi làm nghề "gõ đầu trẻ" mà…". Thật là một cách đùa thông minh, vừa thể hiện được sự khiêm tốn vừa khéo léo giới thiệu được nghề sư phạm của mình.




Nghe sách báo nói thế! - Xuân Tùng


Rating:★★
Category:Books
Genre: Literature & Fiction
Author:Theo Giai thoại làng văn VN của Xuân Tùng

Nghe sách báo nói thế!

(22/6/2011)



Nhà văn Nguyễn Công Hoan được mời đến giảng về truyện ngắn cho lớp viết văn trẻ khóa 4 trường Nguyễn Du.

Ông nói:
- Truyện ngắn sau Cách mạng tháng 8 hay hơn truyện ngắn thời trước rất nhiều. Truyện ngắn càng ngày càng hay...

Một học viên giơ tay hỏi:
- Thưa bác, bác có thể nêu một tác giả tiêu biểu và một truyện ngắn hay sau Cách mạng không ạ?

Nguyễn Công Hoan cười to:
- Tôi có đọc truyện nào đâu mà nêu?
- Sao vừa rồi, bác lại nói thế ạ?

Nguyễn Công Hoan thản nhiên:
- Thì tôi nghe sách báo nói thế, tôi cũng nói thế!

Cả lớp học cười ồ.

ST (Theo Giai thoại làng văn VN của Xuân Tùng)


Tản Đà, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng quanh chuyện gà


Rating:
Category:Books
Genre: Biographies & Memoirs
Author:Phó Đức An

Tản Đà, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng quanh chuyện gà




Nhà văn Nguyễn Công Hoan vốn là nhà giáo nhưng lại mê viết báo, sáng tác tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài. Nguyễn Công Hoan là cộng tác viên “ruột” của An Nam tạp chí - tờ báo tư nhân của thi sĩ Tản Đà. Nguyễn Công Hoan là bạn chia bùi sẻ ngọt, vui buồn có nhau với Tản Đà. Lần ấy Nguyễn Công Hoan mời Tản Đà tới nhà uống chén “rượu nhạt”. Biết Tản Đà là “dân” sành ăn, coi ăn uống là một nghệ thuật. Nguyễn Công Hoan nghĩ chẳng gì đơn giản lại “dân tộc” bằng... rượu thịt gà.

Mâm rượu bưng lên, đơn giản vài món, “chủ lực” là thịt gà luộc. Nhìn những miếng thịt gà chặt khéo, bày đẹp, da vàng ngậy trên đĩa đã đủ hấp dẫn rồi.
Biết Tản Đà là “vua” sành ăn. Món ăn phải ngon, nấu nướng khéo đã đành, bát đũa, chỗ ngồi... cũng phải có nghệ thuật. Tản Đà từng “triết lý”: Thức ăn ngon nhưng chỗ ngồi không ngon cũng... chẳng ngon! Nguyễn Công Hoan dặn đi dặn lại người nhà phải hết sức cẩn thận, chú ý không để sơ suất điều gì.

Rượu ngon, chén chú chén anh, chuyện văn, chuyện đời... Chợt Nguyễn Công Hoan nhận ra rượu đã vài tuần mà Tản Đà chỉ... nhắm rượu suông. Nguyễn Công Hoan quan sát bát đũa, chỗ ngồi, cuối cùng xoáy vào mâm rượu. Nguyễn Công Hoan giật mình, vội gọi người nhà ra thì thầm. Người nhà lui vào. Tức thì một đĩa lá chanh được bưng ra đặt vào mâm.

Chuyện văn, chuyện đời vẫn rất vui. Nhưng chủ vẫn chưa thấy khách sờ đến đũa, vẫn... rượu suông. Nguyễn Công Hoan lại quan sát thật kỹ. Lại giật mình. Người nhà lại được gọi. Lại thì thầm...

Lần này thì người nhà phải đốt đuốc ra vườn soi cây chanh chọn từng lá bánh tẻ, rửa thật sạch, thái nhỏ như từng sợi tóc, đặt vào đĩa tách bưng ra thay cho đĩa lá chanh vừa già, vừa để cả lá quê kệch.

Rượu tràn ly. Chủ và khách lại sôi nổi, chuyện văn, chuyện đời và... bây giờ Tản Đà mới... cầm đũa.






Để giúp những cây bút trẻ có nghiệp vụ, truyền đạt cho những kinh nghiệm sáng tác của các nhà văn đàn anh nhằm tác phẩm viết ra có chất lượng phục vụ cách mạng, hấp dẫn bạn đọc..., Hội nhà văn Việt Nam chủ trương mở lớp bồi dưỡng viết văn cho những cây bút trẻ. Lớp đầu tiên, Hội chọn được hơn chục “cây bút” về học. Nhà văn Nguyên Hồng được Hội giao phụ trách lớp học. Địa điểm mở tại Quảng Bá (quận Tây Hồ - Hà Nội bây giờ). Đó chính là tiền thân của Đại học Nguyễn Du ngày nay.
Thế là Nguyên Hồng được bạn văn “phong” cho chức... hiệu trưởng. Còn Nguyễn Tuân thì gọi Nguyên Hồng là... đốc Hồng (giám đốc Hồng).

Lớp học đang vào giai đoạn kết thúc, nhà văn Nguyên Hồng bỗng nhận được con gà sống thiến người ta cho. Nhà văn nghĩ ngay đến một bữa cơm chia tay mấy “cây bút” trẻ của nước bạn Lào gửi sang. Nguyên Hồng nhờ mấy bà cấp dưỡng nhà bếp trông nom giúp.

Ngay tối ấy, mấy “cây bút” trẻ trong đó có vài “cây bút” trẻ người miền Nam mò xuống bếp. Thấy có con gà nhốt trong bu, mấy “nhà văn” hỏi bà cấp dưỡng thì được biết gà của “cụ” Hồng gửi.

Thế là một “cây bút” trẻ miền Nam lóe ra “sáng kiến” vay “cụ” làm bữa nhậu, hôm nào “có việc” thì ta mua trả. Đỡ phải trông nom vất vả, gà lại không bị gầy đi. Khó khăn lắm mới được bà cấp dưỡng bằng lòng và dặn đi dặn lại phải giữ kín, không được để “cụ” biết và phải đúng hẹn.

Đêm đã khuya, nhà văn đang trằn trọc, bỗng thầy Hồng được mấy trò thỉnh dậy... nhậu. Vốn dễ tính, thầy bò dậy ngay.
Thầy trò cụng ly. Vui hơn tết. Tợp hớp rượu, nhắm miếng thịt gà luộc... thầy khen con gà béo, luộc khéo. Bữa nhậu kết thúc bằng nồi cháo gà. Tiệc tàn, gà gáy ran xa gần vọng lại.

Sớm hôm sau, Nguyên Hồng mò xuống bếp. Nhà văn phát hiện ngay ra bu gà chỉ có... bu không. Tưởng con gà bị mất trộm, nhà văn hỏi bà cấp dưỡng. Vốn thật thà, bà cấp dưỡng cho nhà văn biết chuyện gì đã xảy ra tối hôm qua. Nhà văn chết lặng. Biết đây là... món nợ khó đòi. Đúng hơn, là... không đòi được.


Nguyễn Công Hoan với nhà thơ Tú Mỡ



Rating:★★
Category:Books
Genre: Entertainment
Author:Sưu tầm
Chuyện vui văn nghệ


ND - Nhà thơ Tú Mỡ (1900- 1976) có nhiều cái đối lập: Tên là Tú Mỡ nhưng người thì gầy còm, rất Tú... Xương; "giọng lưỡi" sắc bén khi cười nhạo, nhưng tính hiền khô. Ông thân ái, nhân hậu với tất cả mọi người, nhưng có mối giao cảm đặc biệt không phải với ông bạn thơ, mà với ông bạn văn Nguyễn Công Hoan.


Ông Hoan con nhà dòng dõi, tiếng nổi lẫy lừng, trong thâm tâm rất phục tài ông Hiếu (Hồ Trọng Hiếu là tên thật của Tú Mỡ).
Phục nhưng vẫn hay đùa. Mà là đùa bằng thơ nhại giọng Tú Mỡ. Qua những bài thơ đó cho thấy Nguyễn Công Hoan cũng là một nhà thơ trào phúng đặc sắc. Tú Mỡ từng gọi trời là "xừ" là "thằng xỏ lá" nên:

Trời đập nậm xuống bàn chan chát
Mắt trơn tròn miệng ngoác đến tai
Gọi Thiên Tào với tay sai:
"Cái tên Tú Mỡ là ai thế mày?
Ta truyền lệnh cắt ngay hộ khẩu
Bắt lên đây ta nhậu với gan
Cho chừa cái thói chửi càn
Cho chừa cái thói chửi tràn cả ta"!
Thiên Tào vội điều tra luống cuống
Nhờ CIA đưa xuống địa cầu
Hỏi thăm Hà Nội địa đầu
Hỏi cầu bằng giấy ở đâu để tìm (1)
Bắt thằng béo kẹp kìm tới mỡ
Phớt lờ đi những đứa gầy còm
Thế là lọt lưới, lọt hom
Khẳng khiu khô đét, Tú nhom lại cười...


Năm 1947, khi Tú Mỡ ốm, Nguyễn Công Hoan lại đùa:

Thế nào? Thể lực thoái hay tiến?
Không khéo Bành Tổ phát đơn kiện
Truất chức Thường vụ Hội Nhà Văn
Bắt đưa ra Hội Nhà Văn... Ðiển!


Dĩ nhiên, Tú Mỡ không giận mà còn rất khoái.

Năm 1976, hai ông cùng điều trị tại Bệnh viện Việt- Xô, Tú Mỡ bị bệnh tim mạch. Nguyễn Công Hoan bị bệnh tiết niệu. Hai người thường đến thăm nhau, và vì nể nhau, lo cho nhau thường gặp ở giữa cầu thang rồi cùng ra vườn hoa ngồi.
Những lúc ấy, hai người thường xướng họa cùng nhau và rất nghịch ngợm.

Nhà thơ Tú Mỡ
Tú Mỡ gửi Nguyễn Công Hoan:

Bác nằm khoa ngoại ở tầng cao
Ta muốn thăm nhau chả dễ nào!
Gối hạc thằng tôi còn lỏng lẻo
Mình vân của bác cũng lao đao.
Tôi sai cháu gái lên thăm hỏi
Nó bảo: "Ông Hoan đã bảnh bao".
Tốt lắm! Cái già tai ác thật
Nó không nể bác, chẳng từ tao!


Ông Hoan vừa phàn nàn, vừa họa:

Bài này hóc nhất cái vần "cao"
Khi đến câu sau hóc tiếng "nào"
Tưởng đã thông kia, gì dám bỏ
Ngờ đâu suốt ấy, chữ cần đao!
Nghe lời cháu đọc, mừng khôn tả
Thấy giấy tôi mong, sướng xiết bao.
Muốn đánh trống liều qua cửa bác
Buồn cho câu cuối vướng thằng ... tao.


Họa như thế, coi như Nguyễn Công Hoan chịu thua, mà thua rất khéo léo. Hôm sau Tú Mỡ lại viết bài khác hỏi thăm con mắt đau của Nguyễn Công Hoan:

Bác không tham sắc, chẳng tham tài
Cái mắt sao nhìn một hóa hai
Bác gái vào thăm tuy có một
Con ngươi nhìn chệch, hóa thành đôi...


Nguyễn Công Hoan đáp lại, tự nhận:

Mắt lóa, trông ba thành những sáu
Óc hoa, đếm chín hóa ra mười
May còn nhìn rõ cô y tá
Kẻo ngỡ "ma phăm" (2) mới bỏ đời!


Không chỉ xướng họa mà hai ông còn chăm sóc nhau từng ly, từng tí. Mỗi tối Nguyễn Công Hoan được phát một viên thuốc an thần cho dễ ngủ. Ông đã không uống, lén dành cho Tú Mỡ. Hồi đó thuốc tây rất hiếm và quý, mới biết tình nghĩa của bạn văn chương lớp trước thật sâu đậm.

------------
(1) Nhà của Tú Mỡ ở Ðường Láng, cạnh Cầu Giấy.
(2) "Ma phăm", tiếng Pháp, tức "vợ tôi".




Nhân dịp anh lên lão 60

TÂM SỰ VỚI NGUYỄN CÔNG HOAN



Xa lắm rồi! Năm mươi năm về trước
Tôi mười bốn mười lăm, anh mười một mười hai.
Anh ở đâu đến trọ học phố Hàng Hài,
Tôi - cảnh khổ - cũng sống nhờ ăn học.
Ở láng giềng nhau, tự nhiên quen thuộc,
Tuổi trẻ thơ thực dễ thân nhau.
Có lẽ chăng ý hợp tâm đầu
Vì hai đứa thích vui đùa châm chọc...
Trương bưởi là nơi ta cùng theo học,
Ôi! Cái lò đúc nhân tài của “Bảo hộ Phăngxe”!
Hai đứa, tay quàng tay, ngày bốn buổi đi về,
Giầy Gia Định kéo lê gót vẹt,
Cho đến lúc năm nao chẳng biết
Học hành xong, lăn lóc vào đời,
Anh đi đằng anh, tôi tếch đàng tôi,
Cuộc sống khó sách mỗi người đi một phía.
Tôi cạo giấy, anh gõ đầu con trẻ,
Có nhớ nhau mà lặng lẽ bặt tăm hơi.
Biền biệt đâu? Bảy tám chín năm giời...
Bỗng đọc ký sự ba đào, tôi mới biết
Anh bạn cũ đã thành nhà văn tiểu thuyết,
Cùng lúc mình đang noi nghiệp Tú Xương,
Chỉ thấy tên nhau trên các báo chương,
Đâu có gặp, dù chỉ là chạm trán.
Cái thời ấy, cảnh làng văn quá ngán,
Bạn đáng gần mà sao bạn cứ xa?
Mãi sau Cách mạng, Kháng chiến bùng ra,
Trong khói lửa không hẹn mà lại gặp.
Tôi còn nhớ: Trên đất Cụ Đề (Chiến khu Việt Bắc),
Ta tay bắt mặt mừng trên Ấp Cầu Đen,
Với Nguyên Hồng bỉ Vỏ, bác Tố Tắt Đèn,
Bạn cũ mới hoá người quen thuộc cả.
Ba mươi năm! Thời gian trôi chóng quá!
Tôi nhìn đầu anh, tóc đã hoa râm.
Hỏi anh làm gì, anh đáp tòng quân
Xử võ khí tinh thần trong bộ đôi.
Tôi phục lăn, chịu anh là giỏi
Tuổi bốn nhăm mà tuổi thanh niên
Ấy , thế rồi sau một buổi hàn huyên,
Tạm biệt! Lại lên đường kháng chiến
Cuộc kháng chiến anh hùng cứ tiến,
Thắng gian lao và vượt nguy nan.
Bạn tang bồng như mây, gió, họp, tan,
Cho đến lúc toàn dân chiến thắng.
Hoà bình! Dưới mái hội Phong quang , đầm ấm,
Họ nhà văn xum họp một nhà.
Tôi với anh lĩn kĩn về già,
Với anh Mai nữa là tay ba lên lão.
Qua trận phong ba... óc còn sáng, mắt còn tinh, gân chửa rão,
Chúng ta càng gắn bó lấy nhau,
Quyết sống dai và phục vụ bền lâu,
Cho dạt bốn chữ “lão đương ích tráng”.
Hôm nay đây với thanh niên các bạn,
Tiệc thọ mừng anh cùng cạn chén... Khà!
Chúc bô thứ chỉ làng ta
Sức khoẻ, càng già càng dẻo càng dai...





Giai thoại làng văn


Nguyễn Công Hoan đùa Tú Mỡ



Sinh thời, nhà văn Nguyễn Công Hoan từng nảy hứng làm thơ, trong đó có những bài ông viết để đùa, để ghẹo nhà thơ Tú Mỡ.

Một lần, sau chuyến đi nghỉ dưỡng ở Yanta, về nước, Tú Mỡ phải vào cấp cứu ở Bệnh viện Việt - Xô vì bệnh đường ruột. Được tin, Nguyễn Công Hoan làm thơ "hỏi thăm", và những câu đầu ông dành để nói về cái sự cố vừa bi vừa hài và…khó nói xảy đến với người bạn văn:
"Bữa nọ, anh đi ra nước ngoài
Về nhà anh đi ngoài ra nước
Chẳng hay bơ sữa xơi thế nào
Loay hoay chữa mãi mới khỏi được".

Không dừng ở đó, Nguyễn Công Hoan còn "mạnh bạo" nhắc tới nghĩa trang Văn Điển (tức nói chuyện "về cõi"):
"Thế nào, thể lực thoái hay tiến
Không khéo Bành Tổ phát đơn kiện
Truất chức thường vụ Hội Nhà văn
Bắt đưa xuống Hội Nhà văn…Điển".

Tú Mỡ xem xong bài thơ, chỉ biết gật đầu cười khen: "Thú đấy!".
Mấy câu thơ của Nguyễn Công Hoan chính là "cú hích" để khi ra viện Tú Mỡ làm một bài thơ vui, trong đó có câu:
Năm qua Tú lại vào nằm viện
Bệnh cũ lần này có vẻ biến
Trong Hội Nhà văn các bạn lo
Lão già có lẽ về Văn Điển





Nhà thơ Tú Mỡ: Chuyện thật như đùa và chuyện đùa như thật - Phạm Thành Chung


Rating:★★
Category:Books
Genre: Biographies & Memoirs
Author:Phạm Thành Chung

Nhà thơ Tú Mỡ: Chuyện thật như đùa và chuyện đùa như thật

Phạm Thành Chung

Nhiều bạn đọc đã biết đến tên tuổi Tú Mỡ (1900-1976), nhà thơ trào phúng cự phách, người đại diện duy nhất của dòng thơ này được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.


Tuy nhiên, hẳn không phải ai cũng biết rằng, thật khác với yếu tố hài hước, dí dỏm trong tác phẩm của mình, ở ngoài đời, Tú Mỡ là người ít bông đùa, lối sống mực thước. Những sự "gây cười" - nếu có, thì đa phần mang yếu tố ngẫu nhiên, hiếm khi là chủ định của ông. Có lẽ vì thế mà xung quanh Tú Mỡ, ngoài một ít những câu chuyện "đùa như thật", bao giờ cũng đầy ắp những câu chuyện "thật như đùa"?


Vóc dáng trái ngược với bút danh

Thường thì với một nhà văn mà ta chưa được tiếp xúc, ta hay hình dung đặc điểm của họ theo như ngữ nghĩa mà các bút danh của họ gợi ra. Tuy nhiên, phải nói ngay là, trong nhiều trường hợp thì hình dung của ta khác xa với đặc điểm của họ trong thực tế. Bút danh của nhà thơ Tú Mỡ là một ví dụ.


Nhà thơ Tú Mỡ


Tên thật của Tú Mỡ là Hồ Trọng Hiếu. Sở dĩ ông chọn cho mình cái bút danh nghe có vẻ "sung mãn" nói trên, mặc dù xét về vóc dáng, ông "gầy nhẳng như que, chỉ thấy xương, không thấy... mỡ" (như ông tự nhận xét), là vì ông rất ngưỡng mộ cụ Tú Xương, ước mong kế tục sự nghiệp thơ trào phúng của cụ. Và thế là, từ cái sự "trái khoáy" giữa bút danh và vóc dáng ấy của ông, lịch sử văn học Việt Nam đã có thêm bài thơ đùa trêu Tú Mỡ do nhà văn Nguyễn Công Hoan chấp bút. Bài thơ lý giải vì đâu "Tú Mỡ sống lâu".

Bịa ra chuyện một lần Tú Mỡ làm thơ "xỏ" Trời, gọi Trời là "sừ", thậm chí bảo Trời là đồ "xỏ lá", khiến Trời phải cho Thiên Tào đi dò la khắp hạ giới để tìm bắt Tú Mỡ, đưa về "trị tội", Nguyễn Công Hoan đã hóm hỉnh vin vào cái bút danh của Tú Mỡ, ý rằng "Mỡ" thì phải...béo, cho nên khi tìm bắt Tú Mỡ, Thiên Tào chỉ chú trọng vào cái tên... "Mỡ" ấy, và đã:

Bắt thằng béo kẹp kìm lòi mỡ
Phớt lờ đi những đứa gầy còm

Kết cục là Tú Mỡ đã "lọt lưới lọt hom", đã thoát được tay Thiên Tào. Thật là một cách đùa thông minh của Nguyễn Công Hoan với người bạn thơ cùng thế hệ.


Khởi sự là... thơ tình

Đọc nhiều bài thơ châm biếm, đả kích rất sắc sảo của Tú Mỡ, hẳn không mấy ai biết, trước khi thành danh với thể tài này, nhà thơ của chúng ta đã nổi máu viết… thơ tình.

Bài thơ có tên gọi "Tương tư", xuất xứ như sau: Năm ấy (1916), Tú Mỡ còn đang theo học năm thứ ba Trường Bưởi (Hà Nội). Ông như bị hút hồn bởi một thiếu nữ độ tuổi trăng rằm, nhà ở phố Hàng Bông. Khi nỗi nhớ nhung đã ngày thêm sâu nặng, chàng trai bắt đầu chuyển hướng sang làm thơ. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú, là lối thơ phổ biến lúc bấy giờ:

Vì ai nên nỗi nhớ cùng thương
Một khối tơ tình dạ vấn vương
Sáu khắc mơ màng tình bạn ngọc
Năm canh nhớ tưởng bóng người vàng
Ruột tằm chín khúc vò tơ rối
Giấc điệp năm canh diễn khắc trường
Muốn nhắn cùng ai, ai nhắn hộ
Mòn đuôi con mắt dải sông Tương

Đó là những câu thơ mà sau này, Tú Mỡ đã nhìn nhận lại và đánh giá là những câu thơ vừa "sầu thảm" vừa "khuôn sáo". May mà ngay từ khi ấy, bài thơ đã được người bạn văn, bấy giờ cùng học một trường là Hoàng Ngọc Phách (tác giả tiểu thuyết "Tố Tâm" nổi tiếng sau này) góp ý, khen mấy câu ba, bốn đối chỉnh, nhưng chê chữ "năm canh" và "sáu khắc" bị cũ. Câu năm, câu sáu khá quen thuộc, như "bắt chước" một ai đó. Chính nhờ những lời góp ý chân tình ấy mà Tú Mỡ đã nhìn nhận lại mình, có được sự nghiêm khắc về nghề. Sau này, ông đi sâu vào một loại thơ khác. Loại thơ đó thể hiện được đúng sở trường của ông và chính vì thế mà chúng ta có nhà thơ Tú Mỡ.


Đùa... người, đến lượt người... đùa

Bởi Tú Mỡ nổi tiếng là một "cây cù" trong làng thơ cho nên bạn bè thân hữu đến với ông, ai cũng thích khơi lên một cái gì đó để... gây cười, kể cả những lúc hoàn cảnh nhà thơ rơi vào tình thế đáng buồn. Chuyện kể rằng, một lần nọ, sau đợt đi nghỉ ở Yanta theo lời mời của Hội Nhà văn Liên Xô trở về, nhà thơ Tú Mỡ phải đi cấp cứu ở Bệnh viện Việt Xô vì bệnh đường ruột. Những ngày Tú Mỡ năm viện, nhà văn Nguyễn Công Hoan có vào thăm. Và để ông bạn già của mình giải khuây, nhà văn nổi tiếng hài hước này đã làm tặng bài thơ vui, trong đó có mấy câu "hỏi thăm":

Thế nào thể lực thoái hay tiến?
Không khéo Bành Tổ phát đơn kiện
Truất chức thường vụ Hội Nhà văn
Bắt đưa ra Hội Nhà văn... Điển

Hai chữ Văn Điển (tên một nghĩa trang lớn ở Hà Nội) được nhắc đến thật vui. Nó cho thấy mặc dù đã ở tuổi gần đất xa trời song cả Nguyễn Công Hoan lẫn Tú Mỡ đều chẳng "ngán" gì, chẳng kiêng kỵ gì khi nhắc đến nó cả (nó còn khiến bạn đọc nhớ tới chuyện Tú Mỡ làm thơ vui tặng nhà văn Hoàng Ngọc Phách khi cụ Phách sắp mất, khiến cụ Phách mặc dù rất yếu mệt, vẫn phải cười bảo: "Thú đấy").

Mấy câu thơ của Nguyễn Công Hoan chính là "cú hích" để khi ra viện Tú Mỡ làm một bài thơ vui, trong đó có câu:

Năm qua Tú lại vào nằm viện
Bệnh cũ lần này có vẻ biến
Trong Hội Nhà văn các bạn lo
Lão già có lẽ về Văn Điển




Đùa mà là thật

Những năm cuối đời, do đau yếu, nhiều lần phải vào viện chữa trị, Tú Mỡ lâm cảnh túng bấn. Thông cảm với gia cảnh của nhà thơ đàn anh, một cán bộ xuất bản đã nảy ý làm đề xuất để Tú Mỡ được tạm ứng trước tiền nhuận bút một số bài dịch thơ Laphôngten. Tú Mỡ rất cảm kích trước nghĩa cử này. Ông tâm sự với bạn bè: "Thế là nhà thơ ngụ ngôn Pháp đã cứu nhà thơ trào phúng Việt Nam".

Sinh thời, nhà thơ Tú Mỡ từng có dịp được... xuất ngoại. Ấy là lần ông sang thăm Liên Xô (năm 1970). Tại đây, ông đã khiến không ít nhà văn nước bạn phải kinh ngạc khi biết ông có tới... 9 người con.

Khi được hỏi, ông định mua gì làm quà cho các cháu nội, ngoại (bấy giờ cả thảy 27 đứa), Tú Mỡ đã khiến các bạn Liên Xô bật cười thích thú bởi sự thật thà của mình. Ông nói ngắn gọn: "Tôi sẽ mua một quả bóng" (bóng đá). Câu trả lời thoạt nghe ngỡ như... đùa, song nó lại hàm chứa một ý nghĩa rất sát với thực tế. Quả tình, với nguồn tài chính hạn hẹp của ông, chỉ món quà như thế này mới có thể "chia" được cho nhiều người (đứa thì tham gia thi đấu, đứa thì đứng ngoài xem, cổ vũ).


Đùa phải đúng nơi đúng chỗ

Như ở phần đầu bài đã nói, đọc những vần thơ trào lộng của Tú Mỡ, nhiều người cứ ngỡ ở ngoài đời, ông phải là người có tác phong hoạt bát, nói năng dí dỏm, thích bông đùa. Kỳ thực, theo hồi ức của nhiều bạn bè, đồng nghiệp thì ông lại là người điềm đạm, ít nói ít cười. Thậm chí, theo cách nhìn nhận của nhà văn Tô Hoài thì "ở lâu với Tú Mỡ, thấy anh cứ vừa ngơ ngác vừa thâm thúy và không biết đùa".

Nhà văn Ngô Văn Phú cũng kể lại cảm giác lần đầu được diện kiến bác Tú: "Tôi đọc "Dòng nước ngược", từ lâu vẫn cứ tưởng bác Tú phải có hình thù khác người lắm. Chẳng hạn, hóm hỉnh, nghịch ngợm, hay chọc ghẹo..., nhưng bác Tú thật hiền".

Nói cho công bằng thì không phải ở ngoài đời, nhà thơ trào phúng cự phách Tú Mỡ là người "không biết đùa". Ông chỉ "không thích… đùa" với những điều mà ông cho là hệ trọng. Và nói chung, ông thường chỉ giới hạn sự "ưa vui nhộn, thích châm chích" của mình trên trang giấy, còn thì ở ngoài đời, ông giữ nguyên nếp sống quy củ, chừng mực của một người nguyên là công chức Sở Tài chính (thời thuộc Pháp).

Nhiều người trong văn giới, mỗi khi nói tới nỗi lo sinh kế của người cầm bút thường hay trích dẫn hai câu thơ trứ danh của Xuân Diệu:

"Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ"
.

Ít người biết rằng, đây là hai câu trích trong bài thơ Xuân Diệu viết tặng Tú Mỡ (đã in trong tập "Thơ thơ" xuất bản lần đầu năm 1938). Bài thơ còn có những câu cho biết nỗi niềm của Tú Mỡ trước thời thế nhiễu nhương:

Giữa người, anh ráng giấu tên đi
Thi sĩ, thưa cô, có quý gì,

đồng thời cho thấy khả năng chuyên môn và sở thích của ông hồi trẻ:

Hãy biết rằng anh lúc ở trường
Rất tồi toán pháp, khá văn chương
Chàng trai đi học nghe chim giảng
Không thuộc bài đâu, ấy sự thường
.


Xuân Diệu là một nhà thơ trữ tình. Bài thơ của ông mặc dù viết rất cụ thể về một trường hợp song vẫn "ký gửi" tâm sự chung của nhiều người làm thơ thời ấy. Tuy vậy, trong bài thơ cũng vẫn có những đoạn, những câu giọng điệu của tác giả hơi có phần... bông đùa. Có lẽ vì tác giả nghĩ mình đang đối mặt với một nhà thơ trào phúng chăng?

Trong khi, bài thơ của Tú Mỡ viết tặng Xuân Diệu với tư cách người đến với đời sống văn chương báo chí cũng như là người có chân trong nhóm Tự lực văn đoàn trước Xuân Diệu, lại thể hiện ở nhà thơ trào phúng một thái độ rất nghiêm cẩn. Đó quả thực là những lời dặn dò đầy tâm huyết, không chút bỡn cợt:

Tớ gần lên lão ở làng đây
Mình mới chen chân đến xóm này
Bền chí mà theo đòi nghiệp mới
Vỡ lòng đã học lấy nghề hay
Đường đời sẽ thấy cầu vinh nhục
Sự thế rồi xem khéo quắt quay
Ba chục năm dài đi lẽo đẽo
Nàng thơ chẳng rẫy, ấy là may
.

Nếu như thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám, công dân Hồ Trọng Hiếu lấy bút danh là Tú Mỡ với ý hướng nối nghiệp cụ Tú Xương, thì khi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, ông đã nhất quyết chọn cho mình một bút danh khác. Đó là: Bút Chiến Đấu. Ông giải thích: "Vì thấy công cuộc kháng chiến là công cuộc nghiêm chỉnh, mình dùng bút danh để đánh địch cũng là việc làm nghiêm chỉnh, cho nên tôi không muốn dùng bút danh cũ là Tú Mỡ". Không chỉ có thế, hai chữ Tú Mỡ lúc này ông còn nghe gần với "đú mỡ", có vẻ không được… nghiêm túc.

Thực tế cho thấy, bạn đọc cũng như các nhà quản lý văn nghệ của chế độ mới, không ai có định kiến gì với cái tên Tú Mỡ từ lâu đã trở thành một "thương hiệu" được biết đến rộng rãi, cũng như không ai nghe Tú Mỡ ra thành "đú mỡ" cả. Đấy cũng là lý do để sau này, nhà thơ cự phách của chúng ta đã lại quay về với cái bút danh quen thuộc nói trên.

Những năm cuối đời, Tú Mỡ ít làm thơ. Một bận, có phóng viên trẻ của tòa soạn nọ đến đặt bài ông. Hẳn là do sự hiểu biết của anh chàng này có hạn, nên thay vì đặt nhà thơ lão thành một bài thơ trào phúng, anh chàng lại yêu cầu ông viết một bài thơ "trữ tình" để đăng vào số báo Tết. Thậm chí, anh còn yêu cầu cụ thể, rằng nội dung bài thơ phải "khỏe khoắn, hùng ca".

Nghe vậy, Tú Mỡ ngỡ ngàng suýt rơi kính. Ông tròn mắt nhìn anh chàng phóng viên. Nhưng bản tính là người điềm đạm, ôn hòa, nhà thơ không có phản ứng gì trước yêu cầu này. Thậm chí, còn hứa ngày nộp bài. Chỉ có điều, đó là một bài thơ chất lượng cũng "bình bình". Điều này kể cũng dễ hiểu: Thơ trữ tình đâu phải là sở trường của Tú Mỡ.

Thế mới thấy, Tú Mỡ là người rất tôn trọng lời hứa. Đặc biệt, ông rất biết những gì không nên đùa, không được đùa.

Theo Phạm Thành Chung
CAND







Nhà văn Nguyễn Công Hoan: Chuyện vui và những kỷ lục - Phạm Khải


Rating:★★
Category:Books
Genre: Entertainment
Author:Phạm Khải



Nhà văn Nguyễn Công Hoan: Chuyện vui và những kỷ lục


Phạm Khải


Nhà văn Nguyễn Công HoanNhà văn Nguyễn Công Hoan
Nhớ về Nguyễn Công Hoan, bạn bè, đồng nghiệp thường nhớ về một con người thông minh, ưa hài hước, với những giai thoại vui trong đời thường và những kỷ lục văn chương...
Nhà văn Nguyễn Công Hoan từng là Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông được xem là "người đã đặt những viên gạch đầu tiên xây đắp nền móng cho nền văn xuôi hiện thực phê phán" (như nhận xét của GS Phan Cự Đệ). Mặc dù trong cuộc sống, Nguyễn Công Hoan từng nếm trải những mất mát, thương đau (mẹ ông và một số người thân trong gia đình bị bom địch sát hại; em trai và con đẻ hy sinh trên đường công tác), song ông cũng là người luôn biết kiềm chế những nỗi niềm riêng của mình.

Cách làm việc kỳ lạ...

Trước Cách mạng Tháng Tám, nghề chính của nhà văn Nguyễn Công Hoan là dạy học. Bởi vậy, dù khối lượng tác phẩm của ông có đồ sộ đến mấy, thì công việc sáng tác nhiều khi vẫn cứ phải tranh thủ kết hợp với một số công việc khác.

Theo như nhà văn Nguyễn Công Hoan kể lại trong cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi", bạn đọc hẳn sẽ lấy làm ngạc nhiên bởi cách thức làm việc của ông: Ông viết rất nhanh, nhưng nhiều lúc không hẳn đã tập trung vào chỉ riêng một việc. Ví như, ông có thể vừa viết tiểu thuyết theo "đơn đặt hàng" của tạp chí này thì đồng thời cũng lại viết truyện ngắn cho tờ báo kia. Thậm chí, có những khi - vào dịp Tết - ông vừa ngồi viết tiểu thuyết, vừa chầu rìa tổ tôm, đánh bài tam cúc…

Chính bởi cách làm việc như vậy, mà ở nhà văn đã xảy ra câu chuyện vui sau đây: Khi cho đăng một truyện dài trên một tờ báo, không phải nhà văn đã viết xong toàn truyện, mà chỉ viết xong từng kì một, viết tới đâu, tòa báo cho người tới lấy in tới đó. Một lần, ông gửi cho tờ báo nọ hồi thứ nhất của câu chuyện, rồi khi tòa báo chưa kịp cho in, ông đã viết tiếp hồi hai. Đến khi viết, vì hồi thứ nhất đã gửi đi, nhà văn quên béng mất tên nhân vật, ông bèn để trống nhờ tòa soạn… điền hộ.

Về sức làm việc của Nguyễn Công Hoan thì quả là đáng khâm phục. Cuốn "Bước đường cùng" dày hơn 200 trang, ông hoàn thành trong có hai tuần. Cuốn "Tranh tối tranh sáng" dày hơn 300 trang ông hoàn thành sau 29 ngày. Sau này, tuổi đã cao, ông viết "chậm" hơn. Song những cuốn như "Đống rác cũ" dày hơn nghìn trang, ông cũng chỉ hoàn thành trong có 10 tháng.

Nhiều người đã biết, văn hào Pháp H. Banzắc được xem là người có sức viết khủng khiếp. Trong hơn hai mươi năm tập trung cho nghề văn, bình quân cứ khoảng 3 tháng ông hoàn thành một cuốn dày cỡ 300 trang in. Như vậy, với thời gian 29 ngày hoàn thành một cuốn dày hơn 300 trang của Nguyễn Công Hoan, ta cũng nên xem đó là một kỳ tích.

Trước Cách mạng Tháng Tám, trong các nhà văn ta, Nguyễn Công Hoan là người có số lượng đầu sách xuất bản lớn nhất. Nhà văn Tô Hoài từng có ý kiến như vậy và bản thân Nguyễn Công Hoan cũng tự nhận "Về số lượng sách, nếu tôi có thua, thì chỉ thua Lê Văn Trương thôi. Nhưng mà những tác phẩm đề tên tác giả là Lê Văn Trương, không thể biết cuốn nào là chính hiệu, cuốn nào là giả hiệu. Lê Văn Trương, khi mà tên tuổi đã được độc giả biết, thì anh ta có bao một số đàn em để họ viết truyện hộ".

Bởi tinh thần lao động như thế, cho nên, như lời kể của nhà văn Tô Hoài: "Anh viết liên tiếp xong tiểu thuyết "Bước đường cùng" thì bị đau một bên bả vai. Anh làm liền một loạt truyện ngắn, in báo rồi in thành tập "Đào kép mới". Viết xong, đứt kẽ mắt, bị sưng húp lên". Sau này, khi có tuổi, những "cố tật" ấy lại có dịp "tái xuất", khiến Nguyễn Công Hoan không ngồi cầm bút được lâu.


Không vướng bận với chức vị và... lời khen

Trong quan niệm của Nguyễn Công Hoan, cái quan trọng nhất đối với một nhà văn chính là tác phẩm. Mọi thứ vinh quang, chức vị... ông đều xem nhẹ và luôn ý thức sao để nó không vướng bận, cản trở việc viết của mình. Chính vì vậy mà khi được anh em tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội Nhà văn, ông gọi là ông "bị bầu làm Chủ tịch...".

Ông từng tâm sự, đại để là từ bé ông quen sống tự do, không thích ăn mặc, nói năng gò bó, "nay làm Chủ tịch một hội quan trọng, là Hội Nhà văn, tôi vui mừng sao được?". Để thể hiện nỗi "lo lắng" trước công việc không quen này, ông làm mấy câu "tập Kiều", ghi vào sổ tay của nhà thơ Mộng Sơn:

Trăm năm trong cõi người ta
Một là đắc hiếu, hai là đắc trung
Giang hồ quen thói vẫy vùng
Rày xem phỏng đã cam lòng hay chưa

Từ câu chuyện trên, tôi lại nhớ tới câu chuyện xảy ra với Nguyễn Công Hoan trước đó mà tôi từng nhắc tới trong một bài báo (bài báo sau này đã được nhà phê bình văn học Từ Sơn tâm đắc đưa in trong bộ "Toàn tập Hoài Thanh"):

Năm 1935 là năm nổ ra cuộc tranh luận khá quyết liệt về quan điểm văn nghệ của hai phái: Nghệ thuật vị nhân sinh (mà đại diện là Hải Triều) và nghệ thuật vị nghệ thuật (trong đó có Hoài Thanh). Điều đáng nói là cả hai phái đều lấy tập truyện ngắn "Kép Tư Bền" của nhà văn Nguyễn Công Hoan ra để biểu dương. Bên này khen tác giả đã biết quan tâm đến những người nghèo khổ, đã nêu bật được những cảnh bất công của xã hội. Bên kia thì bẻ lại "văn chương là văn chương", đồng thời khen Nguyễn Công Hoan ở tài quan sát và kể chuyện. Trong khi hai phái tranh luận với nhau dữ dội như vậy, Nguyễn Công Hoan vẫn điềm nhiên sáng tác, chẳng cần biết người ta có ý định "xếp" ông về phía nào.

Sau này nhà văn Nguyễn Công Hoan đã kể lại trong hồi ký "Đời viết văn của tôi": Một lần qua chơi Huế, ông tìm đến ở tạm nhà Hoài Thanh. Buổi chiều, khi đi dạo bên bờ sông Hương, qua hiệu sách Hương Giang (chỗ đầu cầu Tràng Tiền), chợt ông gặp Hải Triều đang ngồi bán sách ở đấy. Thấy ông, Hải Triều mừng rỡ gọi vào chơi, rồi tiện thể nhờ nhà văn cứ mỗi sáng sớm trong thời gian ông còn ở đấy, đến hiệu sách trực tiếp ký tặng những người mua sách của ông, cho bạn đọc được thỏa lòng ngưỡng mộ. Và bởi vậy mà đã xảy ra cái "nghịch cảnh" là trong khi hai nhà phê bình vẫn đang bút chiến với nhau thì nhà văn vẫn chơi bình thường được với cả hai ông.


Suýt gặp họa vì... mang theo súng

Trong kháng chiến chống Pháp, nhà văn Nguyễn Công Hoan gia nhập quân đội. Thoạt tiên, ông được điều về ban biên tập báo Vệ quốc quân, được phát quân trang. Và khi cần thiết, ông còn được đem theo súng.

Theo nhà văn Tô Hoài kể lại, một lần, Nguyễn Công Hoan cùng nhà thơ Thôi Hữu (tác giả bài thơ "Lên Cấm Sơn" nổi tiếng) có việc đi Sơn Tây. Nguyễn Công Hoan vận bộ quân phục mới, đội mũ ca lô sĩ quan dạ tím có sao vành tròn, lưng giắt súng lục, dáng vóc trông thật cao lớn, oai vệ.

Thật bất ngờ, hôm ấy, Tây ở Hà Nội tấn công lên tận huyện Phúc Thọ. Chúng lổm nhổm trên mặt đê, bắn tràn vào trong làng. Người dân gồng gánh xô xuống bãi, chạy giặc. Nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng lẫn trong đám này. Thấy vóc dáng nhà văn không bình thường, lực lượng dân quân lập tức tra hỏi, giữ giấy tờ, rồi trói ông lại. Người ta nghi Nguyễn Công Hoan là "Việt gian". Tình thế rất nguy hiểm, bởi khi ấy giặc đang đuổi tới, mà anh em thì không có thời giờ "điều tra thêm".

May mà rồi nhà văn cũng thoát nạn. Đến nửa đêm, ông trở về Đồng Lư, vết trói còn lằn đỏ tay, mũ và súng không còn nữa. Không rõ làm cách nào nhà văn thoát được, chỉ thấy ông nói: "Từ giờ thì kệch không dám đeo súng".

Trong một lần tiếp xúc, trao đổi với ông Nguyễn Tài, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, con trai cụ Nguyễn Công Hoan, tôi được ông Nguyễn Tài cho biết ông và gia đình cũng có đọc được chuyện này qua lời kể của nhà văn Tô Hoài trên sách báo. Và ông tôn trọng những điều nhà văn Tô Hoài kể vì sinh thời, nhà văn Nguyễn Công Hoan có quan hệ rất mật thiết với nhà văn Tô Hoài.


Nhà văn lão làng và tên lừa đảo "trẻ không tha, già không thương"

Cũng vẫn theo nhà văn Tô Hoài kể lại, thì ở tuổi ngoài bảy mươi (nhà văn Nguyễn Công Hoan, sinh năm 1903, mất năm 1977), Nguyễn Công Hoan đã bị một kẻ "mạo danh" với mục đích... lừa tình. Hôm đó, cơ quan Hội Nhà văn Việt Nam (bấy giờ còn ở 65 Nguyễn Du, Hà Nội) được tin báo có khách ở Gia Lâm sang. Khách gồm 2 người: Một chị công tác ở Hội Phụ nữ huyện và một bác làm thường trực UBND huyện.

Với cương vị Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, nhà văn Tô Hoài ra tiếp chuyện khách. Và ông được bác thường trực UBND huyện thông báo rằng: "Chị phụ nữ đây sắp lấy nhà văn Nguyễn Công Hoan". Lý do bác ta tới đây là để tìm hiểu "Cậu nhà văn Nguyễn Công Hoan ấy lý lịch ra sao". Nhà văn Tô Hoài nghe vậy lấy làm kinh ngạc. Song, bằng sự nhạy cảm của mình, ông hiểu ngay vấn đề. Và ông tìm cách gợi chuyện để thông tỏ ngọn ngành…

Thì ra, ở Gia Lâm có một gã thanh niên (tuổi chưa đầy ba mươi) vốn là một tay đánh bóng bàn rất cừ khôi, mạo xưng là "nhà văn Nguyễn Công Hoan" và đã "tà lưa" được chị phụ nữ kia, đến độ chị chàng đang có ý định tính chuyện trăm năm với gã. Rõ ràng, người phụ nữ có yêu văn chương thật, nhưng trình độ văn hóa quá thấp.

Sau khi nghe ra vụ việc, nhà văn Tô Hoài lim dim mắt, nói thủng thỉnh:

- Hội Nhà văn Việt Nam không có "cậu" Nguyễn Công Hoan nào, chỉ có "cụ" Nguyễn Công Hoan. Và về tuổi thì cụ Nguyễn Công Hoan có thể đẻ ra được tôi.

Nhà văn Tô Hoài kể với tôi chuyện trên, và nói thêm rằng, ông để ý sau câu trả lời của ông "sắc mặt cô gái chuyển sang tái ngắt".

Nhận thấy đây là một vụ lừa đảo rõ rệt, nhà văn Tô Hoài khuyên nạn nhân về làm đơn kiến nghị, kèm công văn của UBND huyện gửi tới Hội Nhà văn Việt Nam, trên cơ sở đó, Hội Nhà văn sẽ có kế hoạch khởi kiện cậu kia ra tòa. Song không biết vì lý do gì mà khi hai người khách kia cáo lui, mãi vẫn không thấy ai quay trở lại.


Không sính… truyện tây

Cuốn "Giai thoại làng văn Việt Nam" (NXB Văn hóa Dân tộc, 1999) có kể câu chuyện, đại thể là trong một lần đến giảng về truyện ngắn cho một lớp viết văn, Nguyễn Công Hoan đã nói: "Truyện ngắn sau cách mạng Tháng Tám hay hơn truyện ngắn thời trước rất nhiều". Một học viên nghe vậy, đề nghị nhà văn cho ví dụ cụ thể. Nguyễn Công Hoan cười to: "Tôi có đọc truyện nào đâu mà nêu". Người kia ngạc nhiên: "Sao vừa rồi bác lại nói thế ạ?". Nguyễn Công Hoan thản nhiên: "Thì tôi nghe sách báo nói thế, tôi cũng nói thế".

Về việc này, tôi đã hỏi chuyện nhà văn Tô Hoài. Ông cho rằng, nói như vậy là ẩu tả. Nếu Nguyễn Công Hoan "không chịu đọc", thì làm sao trong cuốn "Hỏi chuyện các nhà văn" của mình, ông lại có thể hỏi chuyện các tác giả một cách cặn kẽ, tỉ mỉ đến vậy được.

Nhà văn Lê Minh, con gái nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng cho rằng đây là một sự bịa tạc không thể chấp nhận được. Bà nói, nếu không chịu đọc, làm sao trong tủ sách của cha bà còn nhiều cuốn lưu những dòng chữ nhận xét bên lề sách thế được.

Quả thật, ngoài sức viết đã nói thì sức đọc của Nguyễn Công Hoan thật đáng kính nể. Sách của ông có tình tiết đòi hỏi người viết chẳng những tinh thông lịch sử mà còn phải am tường về đời sống văn học. Tuy nhiên, có điều này thì hoàn toàn là chuyện có thật, bởi nó đã được đích thân Nguyễn Công Hoan thừa nhận. Ấy là, ông rất ít đọc sách nước ngoài và dường như ông luôn giữ một thái độ "kính nhi viễn chi" với một số tác giả vốn dĩ vẫn được người đời sùng mộ.

Thậm chí, trong hồi ký "Đời viết văn của tôi", ông còn cho biết, có những tác phẩm thuộc hàng kinh điển (như tiểu thuyết "Bá tước Môngtơ Crítxtô" của A.Đuyma, truyện ngắn của G.Môpátxăng, tiểu thuyết "Những người khốn khổ" của V. Huygô...), dù rất hấp dẫn, nhưng ông cũng chỉ đọc nửa chừng rồi bỏ dở. Đã không ít lần ông tâm sự: "Đối với tôi, ảnh hưởng trường học của Pháp, ảnh hưởng sách báo nước ngoài không có mấy".

Mặc dù từng có lúc nhà văn lớn của chúng ta đã đưa ra lý do để giải thích cho việc ít chịu đọc sách nước ngoài của mình là do ông "không phải là người có tính mê truyện", song thực chất còn có một lý do "quan trọng" hơn. Đó là do ông chủ trương "giữ mình" cho "thuần Việt".

Điều này càng thể hiện rõ ở đoạn hồi ức ông viết khi sắp bước vào tuổi 70: "Tự nhiên tôi sực nhớ lại hồi bấy giờ, có một số khá đông người viết truyện, nhưng không phải truyện Việt Nam. Họ học hành trong sách vở rất nhiều. Tác giả nào của Pháp hay của Anh, họ đều thông thạo… Tiểu thuyết của họ chẳng khác gì tiểu thuyết của ngoại quốc in trong các báo bằng tiếng Pháp. Giống cả từ truyện đến tâm lý và ngôn ngữ của nhân vật... Đọc của họ, tôi thấy ngô nghê, ngớ ngẩn một cách thảm hại. Truyện của họ xa độc giả, tức là xa thực tế Việt Nam".

Có thể hiện thời, quan điểm đọc sách và cách chọn sách đọc của Nguyễn Công Hoan chỉ đúng với riêng ông, và không phù hợp với xu thế chung, nhưng có một điều chắc chắn là, suốt một đời vất vả sáng tạo, Nguyễn Công Hoan đã dâng hiến cho bạn đọc những tác phẩm thấm đẫm phong vị và cốt cách con người Việt Nam.




Báo Công an nhân dân điện tử - CAND Online, 03/05/2009.

Giai thoại làng văn: Thật như bịa - B.B.


Rating:★★★★
Category:Books
Genre: Entertainment
Author:Theo 101 Truyện vui Nhà văn VN hiện đại

Thật như bịa

B.B.


Anh em văn nghệ sĩ, sau đợt chỉnh huấn, viết bản tự kiểm thảo. Nhà văn Nguyên Hồng sau khi viết được vài trang, nghỉ tay rít một hơi thuốc lào. Ông đến sau lưng nhà văn Nguyễn Công Hoan nhìn vào tập giấy trắng của bạn. Ngoài mấy chữ “Bản tự kiểm thảo” viết nắn nót, ngồi nửa buổi sáng, Nguyễn Công Hoan chưa viết được chữ nào. Nguyên Hồng cười khà khà:
- Người ta bảo mỗi tối ông viết được vài ba chục trang tiểu thuyết, sao lần này ông viết chậm thế?


Giai thoai lang van
Nguyễn Công Hoan hóm hỉnh:
- Viết tiểu thuyết là bịa như thật cho nên nó nhanh. Còn thứ này muốn viết nhanh thì phải viết thật như bịa cho nên khó ơi là khó!
B.B.
(Theo 101 Truyện vui Nhà văn VN hiện đại của Nguyễn Bùi Vợi)

Nhà văn quên tên nhân vật - Trần Văn Lợi


Rating:
Category:Books
Genre: Biographies & Memoirs
Author:Trần Văn Lợi

Nhà văn quên tên nhân vật


Trần Văn Lợi

Nhà văn thường đãng trí. Nhưng đãng trí đến mức quên cả tên nhân vật trong tác phẩm mà mình đang viết như nhà văn Nguyễn Công Hoan thì thật là chuyện có một không hai!... .

Đó là hồi trước Cách mạng Tháng Tám 1945, nghề chính của nhà văn Nguyễn Công Hoan là dạy học. Vì vậy, công việc sáng tác của ông vẫn phải "tranh thủ" kết hợp với nhiều công việc khác. Ông viết rất nhanh và khoẻ nhưng không hẳn tập trung vào một việc. Ví như, ông vừa viết tiểu thuyết theo "đơn đặt hàng" của tạp chí này, đồng thời cũng lại viết truyện ngắn cho tờ báo kia…

Chính lối làm việc như vậy đã xảy ra câu chuyện vui sau đây:

Số là nhà văn thường được đăng truyện nhiều kỳ trên báo, nhưng không phải ông đã viết xong toàn bộ, mà chỉ viết từng kỳ một. Viết đến đâu, toà soạn báo cho người đến lấy về in tới đó. Một lần, ông gửi cho toà báo nọ phần thứ nhất của tác phẩm. Nhưng khi toà báo chưa kịp in thì ông đã bắt tay vào viết phần thứ hai. Bản thảo phần thứ nhất đã gửi đi, lại không có bản lưu, mà nhà văn thì nhiều việc quá khiến ông quên béng tên một số nhân vật. Nhà văn đành để trống, viết một lá thư kèm theo bản thảo nhờ ban biên tập… điền hộ tên nhân vật!

Rất may ông chủ báo cũng là nhà văn, lại là chỗ thân tình, mến tài Nguyễn Công Hoan nên phần bản thảo chưa có tên nhân vật kia đã được hoàn chỉnh một cách nhanh chóng và dễ dàng.

Thứ Năm, 3 tháng 6, 2010

Tiểu phẩm hài "Người Ngựa, Ngựa Người"

Tiểu phẩm hài "Người Ngựa, Ngựa Người"

Dựa theo truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nguyễn Công Hoan






Hài Tết Xuân Hinh | Người Ngựa Ngựa Người 2 | Hài Xuân Hinh, Thanh Thanh Hiền - Cười Vỡ Bụng


Xuân Hinh tiếp tục làm
"Người ngựa - Ngựa người"



Chàng phu xe lấy cô gái bán hoa làm lẽ, sinh thêm một đứa con. Cùng đường, đêm đêm anh lại kéo vợ đi “tìm khách” - thân phận con người dưới chế độ thực dân phong kiến tiếp tục được vua hài đất Bắc đưa lên sân khấu dưới góc nhìn bi hài kịch.

Người ngựa - Ngựa người 2 được phát triển từ mạch truyện Người ngựa - Ngựa người 1 vẫn với êkíp cũ: đạo diễn NSND Lê Hùng dàn dựng, Xuân Hinh - Thanh Thanh Hiền diễn xuất. Tác phẩm giữ lại những điểm mấu chốt từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nguyễn Công Hoan: Đêm giao thừa - anh phu xe - cô gái làng chơi. Những sáng tạo ngẫu hứng của Lê Hùng vô tình lại trùng với ý tưởng của Nguyễn Công Hoan ghi trong nhật ký. Bà Lê Minh, con gái cố nhà văn cho biết, cha bà từng muốn để anh phu xe lấy cô gái làng chơi làm vợ, nhưng do quá xúc động, cụ không thể viết tiếp được. Chính vì thế, gia đình nhà văn rất ủng hộ những sáng tạo ngoài nguyên tác của Lê Hùng. Ông Giám đốc Nhà hát kịch Việt Nam tâm sự: “Tôi đã làm cho Xuân Hinh rất nhiều vở, nhưng anh phu xe vẫn là hình tượng gắn với Xuân Hinh hơn cả. Thừa thắng xông lên, chúng tôi sẽ tiếp tục làm đến Người ngựa - Ngựa người 10”.

Việc tiếp tục vào vai anh chàng phu xe không phải là khó khăn với ông vua hài đất Bắc. Điều làm Xuân Hinh phải nhọc công lại là chuyện, anh đang ngày càng tăng cân trong khi những vai diễn của anh đại diện cho tầng lớp nông dân nghèo khổ.

Trong Người ngựa - Ngựa người 1, khi Xuân Hinh mặc áo rách, nón mê lên sân khấu Gala cuối năm, khán giả phía dưới hô to: “Phu xe sao béo thế”, khiến Xuân Hinh phải chống chế: “Em có béo đâu, em phù đấy”.

Nếu Người ngựa - Ngựa người 1 chỉ được diễn trên sân khấu thì Người ngựa - Ngựa người 2 sẽ ra mắt công chúng dưới hình thức DVD vào cuối tháng 5. “Vở Người ngựa - Ngựa người 1, chúng tôi bị in lậu thành ra hình ảnh, chất lượng rất kém. Mới đây có người đến tận nhà hát mời tôi đi ăn, tôi hỏi lý do, anh ta bảo: 'Em ở chợ Trời, năm ngoái em in lậu đĩa Người ngựa - Ngựa người được gần 1 tỷ nên mời anh đi ăn để cảm ơn'. Lần này chúng tôi làm đĩa không phải để cạnh tranh với đĩa lậu mà để khán giả được xem một vở diễn tử tế” - đạo diễn Lê Hùng trần tình.

Ra mắt song song với Người ngựa - Ngựa người 2 (trong cùng một đĩa phát hành) là tiểu phẩm Xuân Hinh thua World Cup. Chàng danh hài ở tuổi ngũ tuần sẽ khuấy động mùa World Cup với những tràng cười sôi nổi bên ngoài sân cỏ cùng sự góp mặt của Hồng Vân, Quốc Khánh.










Xuân Hinh - Người Ngựa Ngựa Người 3 -
Tiểu Phẩm Hài Cười Ra Nước Mắt



Ra mắt đĩa hài chào Xuân của nghệ sỹ Xuân Hinh

Nhân dịp Tết Nguyên đán 2011, Công ty Tứ Vân Media vừa ra mắt chương trình hài kịch "Hài Tết Xuân Hinh 2011," sẽ phát hành trên toàn quốc vào ngày 20/1/2011.

"Hài Tết Xuân Hinh 2011" bao gồm hai tiểu phẩm "Người ngựa - Ngựa người III" và "Bù nhìn rơm" với sự tham gia của êkíp sản xuất hàng đầu và dàn diễn viên hài nổi tiếng như các nghệ sỹ ưu tú Xuân Hinh, Thanh Thanh Hiền, Hồng Vân, Trung Anh.

Tiếp nối thành công của hai phần trước, "Người ngựa - Ngựa người III," với bộ ba diễn viên quen thuộc nghệ sỹ ưu tú Xuân Hinh, Thanh Thanh Hiền và nghệ sỹ ưu tú Hồng Vân, sẽ tiếp tục khai thác số phận những nhân vật trong tác phẩm "Người ngựa, Ngựa người" của nhà văn Nguyễn Công Hoan.

Trong phần III này, sự xuất hiện của bà vợ cả ở quê (Hồng Vân thủ vai) đã đem đến những tình huống dở khóc, dở cười. Ông chồng Xuân Hinh sẽ phải xử trí những cảnh ghen tuông giữa vợ cả và vợ lẽ, phong cho hai bà vợ của mình một là đại ngu và một là đại diện.

Đạo diễn, nghệ sỹ nhân dân Lê Hùng cho biết, tiếp tục thực hiện phần ba của "Người ngựa - Ngựa người" là tâm huyết của ông, các nghệ sỹ cũng như mong muốn của khán giả. Và dự kiến, có thể có tới "Người ngựa - Ngựa người X."

Tiểu phẩm thứ hai cũng với những tình huống éo le không kém trong sản phẩm hài Tết này mang tên "Bù nhìn rơm," được thực hiện quay tại cánh đồng làng Phù Đổng (Hà Nội).

Xuân Hinh vào vai một ông chồng suốt ngày say xỉn, bê tha, coi rượu là sĩ diện của đàn ông. Rồi một ngày rượu quá chén, người chồng ra ruộng đòi hỏichuyện ấy với vợ. Rồi bất giác men say, lão chồng say nghĩ vợ hàng ngày ra đồng để tằng tịu với những con bù nhìn rơm, bèn về nhà gọi họ hàng ra để bắt quả tang. Câu chuyện kết thúc khi bù nhìn rơm bị anh em nhà lão chồng say châm lửa đốt, bỗng bật dậy kêu “Làm người, làm người”…

Êkíp thực hiện chương trình lần này khá chọn lọc với kịch bản của Lê Thanh Lê, đạo diễn là nghệ sỹ nhân dân Lê Hùng, đạo diễn điện ảnh Lương Đình Dũng...

Nghệ sỹ nhân dân Lê Hùng cho biết, ông rất thận trọng với sản phẩm này của mình, vì sợ tình trạng bão hòa hài Tết, nhà nhà, người người chạy sô làm hài, diễn hài khiến cho cái hay của hài kịch "mất thiêng"./.

(Báo Tin tức/Vietnam+ 17/01/2011)