Ads 468x60px

.

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

5. Cải lương 'Lan và Điệp' - Loan Thảo (Thanh Kim Huệ & Chí Tâm) - Bản thu âm 1974 (P2)



Mời đọc Bài giới thiệu - Sưu tầm

Cải lương 'Lan và Điệp'
Soạn giả: Loan Thảo (Quế Chi).
- NSND Thanh Kim Huệ & Chí Tâm
- Bản thu âm 1974

Sưu tầm


Bản thu âm Lan và Điệp 1974 - NSND Thanh Kim Huệ & Chí Tâm.


Soạn giả: Loan Thảo.
Kịch bản: Loan Thảo
Đạo diễn: Loan Thảo, Hoàng Việt
Soạn nhạc: Văn Giỏi, Sáu Lệ, Tư Thiên

Diễn viên:
Chí Tâm vai Điệp,
NSND Thanh Kim Huệ vai Lan,
Hữu Phước (ông Tú - ba của Lan),
Hùng Minh (ông Phủ Trần),
Mai Lan (bà Phủ Trần),
Tú Trinh (Thúy Liễu),
Kim Thủy (Bà Cử - mẹ của Điệp),
Hoàng Mai vai Bếp Sạc,
Bé Thành Tâm (tức NSƯT Thành Lộc) vai Xuân,
Viễn Sơn vai Chú Tiểu

Thời lượng 1:27:26
Tác phẩm này do Hãng dĩa Việt Nam thực hiện cuối năm 1973, đến năm 1974 mới phát hành.
Kính mời Quý Vị cùng Thưởng thức lại Vở Cải lương:

CHUYỆN TÌNH LAN VÀ ĐIỆP
(Cải lương Nguyên tuồng Trước 1975)


Lan Và Điệp được xem là một trong các vở tuồng bất hủ của Cải lương Việt Nam. Trên thực tế, nghệ sĩ nào cũng từng “kinh” qua vở diễn này.

Theo đó, khán giả có thể kể vanh vách những tên tuổi từng hoá thân thành công như: NSND Lệ Thuỷ, NSƯT Thoại Mỹ, NSƯT Thanh Ngân… Hoặc, vai Điệp từng được “đóng dấu đặt tên” bởi NSƯT Vũ Linh, NSƯT Vũ Luân, NSƯT Kim Tử Long, NSƯT Trọng Phúc, NSƯT Tấn Giao… Tuy nhiên, rất đông khán giả vẫn đặc biệt yêu thích phiên bản thu thanh năm 1974 với Thanh Kim HuệChí Tâm.

Vở Lan và Điệp để lại nhiều ấn tượng sâu sắc nhất với khán giả là bản thu Audio đĩa cải lương năm 1974 do soạn giả Loan Thảo thực hiện với sự tham gia của các giọng ca Chí Tâm (Điệp), NSND Thanh Kim Huệ (Lan), Tú Trinh, Hữu Phước,… Qua tài năng của Loan Thảo, vở diễn dường như được “đo ni đóng giày” cho cả hai diễn viên trẻ. Đĩa cải lương Lan Và Điệp tạo nên cơn sốt một thời gian dài, đưa Chí Tâm và Thanh Kim Huệ trở thành ngôi sao. Đến nay, bản thu âm Lan và Điệp 1974 vẫn được xem là bản thu âm chuẩn mực nhất của tác phẩm, được nhiều người tìm nghe nhiều nhất.

Lan Và Điệp (hay Chuyện Tình Lan Và Điệp) là vở cải lương kinh điển của Việt Nam, được xem là một trong những vở tuồng hay nhất của soạn giả: Loan Thảo. Với sự tham gia của các nghệ sĩ nổi tiếng như: Chí Tâm (Điệp), NSND Thanh Kim Huệ (Lan), Tú Trinh (Thúy Liễu), Hữu Phước (ông Tú – ba của Lan).

Đây là câu chuyện tình hư cấu nổi tiếng ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ. Câu chuyện tình này được nhiều người ví như câu chuyện tình Romeo và Juliet hay Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài phiên bản Việt Nam. Câu chuyện nói về mối tình lãng mạn, đầy trắc trở của cô gái tên Lan và chàng trai tên Điệp. Do mắc mưu của ông quan Phủ ở tỉnh lẻ, Điệp – học sinh nghèo – phải phụ tình vị hôn thê là Lan để cưới Thúy Liễu, con gái ông Phủ. Lan ôm mối tình tuyệt vọng bỏ nhà đến chùa để cắt tóc đi tu. Cao trào của câu chuyện khi Điệp tìm được ngôi chùa mà Lan đang tá túc, thì cũng đúng lúc nàng trút hơi thở cuối cùng.

Chí Tâm (1952), tên thật là Dương Chí Tâm, quê quán Trà Ôn, Vĩnh Long. Ngoài ca hát, ông còn sáng tác vọng cổ, tân nhạc và sử dụng thành thục các nhạc cụ cổ truyền. Ông là chồng cũ của nghệ sĩ Hương Lan.

NSND Thanh Kim Huệ (1955), tên thật là Bùi Thị Huệ, vợ của NSUT Thanh Điền, quê quán Sài Gòn. Bà được xem là một trong những cô đào nổi tiếng bậc nhất trên sân khấu cải lương. Bà đã được Nhà nước Việt Nam trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú.
Vọng Cổ Trưa


Năm 1936, soạn giả Trần Hữu Trang đã viết chuyển thể từ nguyên tác thành kịch bản cho vở cải lương "Lan và Điệp". Một số nghệ sĩ thành danh với vở kịch bản này như nghệ sĩ Năm Phỉ. Đặc biệt, năm 1954, khi nghệ sĩ Năm Phỉ đã 47 tuổi, nhưng bà vẫn vào vai cô Lan 18 tuổi rất thành công. Sau nghệ sĩ Năm Phỉ, nghệ sĩ Thanh Nga cũng được đánh giá rất cao cho vai diễn Lan.

Cùng thời điểm này, kịch bản cải lương Chuyện tình Lan và Điệp của tác giả Loan Thảo với sự trợ giúp của soạn giả Thế Châu đã được thu thanh và trở thành bản ghi âm chuẩn mực nhất cho vở tuồng này tính đến hiện tại. Tham gia vở diễn là các giọng ca nổi tiếng như Chí Tâm (Điệp), NSND Thanh Kim Huệ (Lan), Tú Trinh (Thúy Liễu), Hữu Phước (ông Tú – ba của Lan),...

Năm 2000, Tình Productions sản xuất cải lương Lan và Điệp dưới dạng băng VHS rồi chuyển sang DVD dưới kịch bản của Loan Thảo và Bạch Mai với sự tham gia của Phi Nhung (Lan), Mạnh Quỳnh (Điệp), NSƯT Út Bạch Lan (Bà Tư), Thanh Hằng (bà Phủ), NSƯT Thoại Mỹ (Thuý Liễu),...

70 năm sau, năm 2006, một lần nữa kịch bản của soạn giả Loan Thảo được tái dựng với sự tham gia của các nghệ sĩ Hoàng Nhất (Điệp), Hà My (Lan), Chấn Cường (Xuân), Bình Mập (sếp Sạc), Uyên Thảo (Thúy Liễu).

Cùng thời điểm này, sân khấu Trần Hữu Trang cũng mang đến khán giả bản dựng lại của kịch bản này với NSƯT Tấn Giao (Điệp) và Ngân Quỳnh (Lan).

Năm 2008, ca sĩ Minh Thuận gây tiếng vang lớn với vở ca vũ cải lương "Lan và Điệp". Điểm đặc biệt là các vai diễn đều do các ca sĩ tân nhạc hát cải lương gồm Minh Thuận, Đàm Vĩnh Hưng (Điệp), Cẩm Ly, Phương Thanh, Hồng Ngọc, Thanh Thảo (Lan), Thu Minh (Thúy Liễu), Hữu Bình (ông Tú), Trung Dân & Cát Phượng (ông bà Phủ), Vũ Hà (bếp Sạc), Quốc Đại (chú tiểu).

Năm 2019, tác phẩm được tái dựng trên sân khấu Nhà hát Bến Thành từ bản ghi âm do soạn giả Loan Thảo thực hiện vào năm 1974. Vở quy tụ nhiều gương mặt gạo cội của làng cải lương như NSƯT Thanh Kim Huệ, Chí Tâm, Hồng Nga, NSƯT Thanh Điền, NSƯT Trọng Phúc,... Hai diễn viên chính: NSND Thanh Kim Huệ (vai Lan) và Chí Tâm (vai Điệp) lần đầu tái hợp sau 45 năm[2] từ khi bản thu đầu được ra mắt

Truyện kể về cuộc tình lãng mạn, bi ai giữa chàng học trò nghèo tên Điệp và cô gái cùng quê tên Lan, tại làng Văn Ngoại, khu vực chợ Gỏi thuộc vùng Hải Dương xưa, thời kỳ Nguyễn Công Hoan đang dạy học ở đó.

Vũ Khắc Điệp là con ông Cử làm nghề dạy học. Ông Cử kết giao với ông Tú, bố của Nguyễn Thị Lan và hai gia đình hứa gả con và kết tình thông gia với nhau. Khi ông Cử mất, mọi công việc lo toan cho Điệp học hành đều do ông Tú đảm nhiệm. Tình cảm hai nhà gắn bó keo sơn.

Trần Thúy Liễu là con gái ông Phủ Trần, tính cách xấu xa, tinh nghịch, phải lòng và có bầu với Tư Kềnh, một lính khố xanh đóng gần nhà Thúy Liễu.

Điệp sau khi thi lần đầu bằng Thành Chung bị trượt, đến khi thi lần hai thì gặp ông Phủ Trần là bạn học khi xưa với ông Cử – bố của Điệp, ông Phủ có hứa giúp đỡ Điệp đỗ kỳ thi này và còn tìm việc làm cho tại Phủ.

Điệp ở nhà ông Phủ Trần và bị mắc lừa nằm ngủ với Thúy Liễu trong lúc say rượu, nên ông Phủ Trần tìm mọi cách ép Điệp cưới Thúy Liễu để tránh mọi dị nghị của xã hội và kiếm cho con mình một tấm chồng hợp pháp. Đồng thời ông Phủ Trần cũng đuổi mọi người làm việc ở Phủ để không ai còn biết Thúy Liễu có quan hệ trước đó với Tư Kềnh.

Sau khi nhờ một ông chánh án Phủ Trần để giúp đỡ thi đậu thì Điệp mắc ơn ông Phủ Trần đó và bị ông ta dụ uống say và bỏ vào chung phòng với cô con gái mập và không được nết na lắm của ông ta tên là Thúy Liễu. Bị vu cho ngủ chung với Thúy Liễu, thế nên ép Điệp phải cưới cô ta. Gia đình Lan và Điệp hết sức buồn rầu vì việc này.

Ngày Điệp cưới Thúy Liễu cũng là ngày Lan cắt tóc đi tu. Nhưng chỉ sau vài tháng thì cãi nhau và Điệp li dị với Thúy Liễu. Rồi Điệp đi tìm đến ngôi chùa nơi Lan tu và giật chuông nhưng Lan không những không tiếp mà còn cắt dây chuông. Vậy nên Điệp thất vọng đi luôn, và muốn gầy dựng cơ nghiệp trước rồi quay lại chuyện nhân duyên sau. Sau đó Thúy Liễu lấy chồng khác là Hoàng Xuân Long – một ông quan Phủ và có 3 đứa con, có một người tên là Hoàng Trần Vũ cùng họ với Vũ Khắc Điệp.

13 năm sau, cha mẹ của Lan, Điệp và Thúy Liễu đều mất. Người con tên Vũ bị đối xử lạnh nhạt, cả gia đình không yêu thương và cả mẹ và cha nuôi cũng ghẻ lạnh. Vũ biết Điệp là chồng trước của mẹ mình và khi cha nuôi hắt hủi đưa địa chỉ thì Vũ đến tìm Điệp. Điệp kể lại sự oan trái của cả hai và đưa địa chỉ của cha đẻ cho Vũ. Vũ đi tìm cha và biết được sự thật rằng ngày ấy Thúy Liễu đã quyến rũ người canh gác tên Cách này, và khi sinh ra Vũ bị Thúy Liễu bóp cổ nhưng Vũ vẫn không chết. Vũ quay về bệnh viện nơi Điệp làm việc và định gửi hai hộp kẹo có thuốc độc cho ba và mẹ mình nhưng bị Điệp biết nên tráo lại.

Cũng vào ngày đó, Điệp nhận được một bệnh nhân sắp chết là Lan. Điệp khi đó mới biết rằng, Lan vì quá buồn nên không đọc thư của Điệp và ôm hận một mình trong lòng mà gây bệnh.

KARAOKE TỔNG HỢP




Cố soạn giả Loan Thảo (Quế Chi)
[...]
Cũng năm 1972, tác giả Loan Thảo cùng với soạn giả Hoàng Việt của hãng đĩa Việt Nam, đã đưa tên tuổi hai tài danh Thanh Kim Huệ và Chí Tâm lên danh sách hàng sao thượng thặng của cải lương miền Nam, qua vở tuồng ăn khách nhất, tuồng Lan và Điệp, không biết Lan và Điệp quê ở đâu mà có lá bàng, ngọn mẹ Tây, có hàng Điệp soi mình bóng nước, có mái nhà tranh, con đường đất đất đỏ, chiếc cầu tre gẩy nhịp, nơi mà con gái phải lo cho cha tách nước, hầu mẹ miếng trầu, tuổi ấu thơ thì có thể tắm song, hái ổi... Cảnh trí trong vở cải lương Lan và Điệp của Loan Thảo như một cảnh đâu đó ở một tình miền Đông Nam Bộ, khác với cái làng quê chợ Gỏi trong tác phẩm gốc Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan, người quê Thái Bình cho biết Điệp lên Hà Nội tiếp tục đường học vấn công danh nên Lan và Điệp quê ở tận ngoài Bắc.
Cải lương thịnh hành ở miền Nam, nên khi chuyển thể cải lương, soạn giả Loan Thảo tài tình biến cô Lan miền Bắc thành người miền Nam để tạo cảm giác gần gũi cho khán giả miền Nam, chuyển thể một tác phẩm, viết một bài vọng cổ giao duyên từ một bài nhạc, soạn lại một tuồng nổi tiếng trước đây làm cho tác phẩm, bài nhạc, tuồng đó nổi hơn, hay hơn, mở rộng hơn đó là điều chúng ta nên nghiên cứu học hỏi từ soạn giả Loan Thảo.
[...]
Kho tàng Vọng cổ Việt Nam, 07/08/2021.



Mời Đọc Bài giới thiệu - ChatGPT

Giới thiệu bản ghi âm
cải lương “Lan và Điệp” (Loan Thảo)
(Bản thu 1974 - Hãng dĩa Việt Nam – 1973/1974)

ChatGPT


Vở cải lương “Lan và Điệp”, soạn giả Loan Thảo, là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của dòng cải lương xã hội – tâm lý Việt Nam thế kỷ XX. Nội dung vở dựa trên tiểu thuyết Tắt lửa lòng (1933) của nhà văn Nguyễn Công Hoan, kể về bi kịch tình yêu giữa cô gái Lan và chàng thư sinh nghèo Điệp trong bối cảnh xã hội cũ đầy lễ giáo, quyền lực và bất công.

Trong nhiều bản dựng và bản thu được thực hiện suốt hơn nửa thế kỷ, bản ghi âm do Hãng dĩa Việt Nam thực hiện cuối năm 1973, phát hành năm 1974, với hai vai chính do NSND Thanh Kim Huệ (Lan)Chí Tâm (Điệp) đảm nhiệm, được xem là bản thu âm chuẩn mực và đầy đủ nhất về mặt kịch bản – lời ca – cấu trúc vọng cổ.

Bản chép lời hiện tại được thực hiện theo đúng bản thu âm 1974, phản ánh trung thực nội dung, thứ tự lớp tuồng và hệ thống câu vọng cổ như trong đĩa gốc, không pha trộn dị bản sân khấu hoặc bản thu khác về sau.

1. Cấu trúc kịch bản theo bản thu 1974
Theo bản chép lời này, vở Lan và Điệp được triển khai theo mạch kịch tuyến tính, chặt chẽ, trong đó mỗi lớp tuồng đều gắn với một bước ngoặt tâm lý rõ ràng:
  1. Lớp mở đầu: LAN – ĐIỆP, TÌNH NGHÈO THUỞ BAN ĐẦU
    Giới thiệu mối quan hệ giữa Lan và Điệp, một tình yêu nghèo nhưng chân thành, trong sáng.

    Lời dẫn chú giải:
    Lớp mở đầu có chức năng giới thiệu mối quan hệ giữa hai nhân vật chính: Lan và Điệp. Đây là lớp mang tính chất thiết lập hoàn cảnh, khắc họa một mối tình nghèo nhưng chân thành, trong sáng, đặt nền tảng cảm xúc cho toàn bộ bi kịch về sau.

    Trong bản thu âm 1974, lớp này được triển khai chậm rãi, lời ca thiên về tự sự và tâm tình, giúp người nghe nhận diện rõ tính cách hai nhân vật: Lan dịu dàng, giàu tình cảm; Điệp hiền lành, có chí học hành nhưng hoàn cảnh khó khăn. Các câu vọng cổ trong lớp này chủ yếu mang sắc thái trữ tình, chưa có xung đột kịch rõ nét.

  2. Lớp xung đột xã hội: BIẾN CỐ – ĐIỆP BỊ ÉP DUYÊN
    Sự xuất hiện của ông Phủ Trần và hoàn cảnh gia đình khiến Điệp bị cuốn vào cuộc hôn nhân sắp đặt.

    Lời dẫn chú giải:
    Lớp này đánh dấu sự xuất hiện của xung đột xã hội – yếu tố trung tâm của vở tuồng. Nhân vật Điệp rơi vào thế bị động khi phải đối diện với áp lực gia đình và quyền lực của ông Phủ Trần.

    Trong bản thu 1974, lớp này được xây dựng theo hướng nhấn mạnh bi kịch tâm lý của Điệp hơn là hành động bên ngoài. Lời ca thể hiện rõ sự giằng xé giữa chữ hiếu và chữ tình, đồng thời báo trước bi kịch không thể tránh khỏi của mối tình Lan – Điệp.

  3. Lớp tan vỡ: LAN ĐỐI DIỆN SỰ THẬT – NỖI ĐAU BỊ PHỤ TÌNH
    Lan đối diện sự thật bị phụ tình; Điệp rơi vào trạng thái giằng xé giữa chữ hiếu và chữ tình.

    Lời dẫn chú giải:
    Đây là lớp phát triển bi kịch từ góc nhìn của nhân vật Lan. Sau khi biết rõ việc Điệp phải cưới người khác, Lan rơi vào trạng thái đau đớn, tủi phận nhưng không oán trách gay gắt.

    Theo bản chép lời 1974, lời ca của Lan trong lớp này mang tính kể lể, than thân, phản ánh số phận người phụ nữ trong xã hội cũ. Cảm xúc được đẩy lên cao hơn lớp trước, nhưng vẫn giữ sự tiết chế, đúng với hình tượng Lan hiền lành, nhẫn nhịn.

  4. Lớp Lan bỏ nhà đi tu: CỬA PHẬT VÀ NỖI ĐỜI
    Cao trào nội tâm của nhân vật Lan, chuyển từ đau khổ trần thế sang nương nhờ cửa Phật.

    Lời dẫn chú giải:
    Lớp này là bước ngoặt quan trọng trong kịch bản, khi Lan rời bỏ đời sống trần tục để nương nhờ cửa Phật. Đây không chỉ là hành động chạy trốn nỗi đau, mà còn thể hiện sự bế tắc của người phụ nữ trước xã hội không cho họ con đường lựa chọn khác.

    Trong bản thu âm 1974, lớp này được xử lý rất nội tâm. Lời ca và nhịp vọng cổ chậm, tạo cảm giác lắng đọng, thể hiện sự đối lập giữa không gian cửa chùa thanh tịnh và nỗi lòng chưa dứt của Lan.

  5. Lớp Điệp thức tỉnh và đi tìm Lan:
    Điệp nhận ra lỗi lầm, quyết tìm lại Lan dù muộn màng.

    Lời dẫn chú giải:
    Lớp này chuyển trọng tâm trở lại nhân vật Điệp. Sau biến cố hôn nhân, Điệp nhận ra sai lầm và bắt đầu hành trình đi tìm Lan. Đây là lớp thể hiện sự thức tỉnh muộn màng của nhân vật, đồng thời đẩy mạch truyện tiến nhanh về cao trào.

    Trong bản chép lời 1974, lời ca của Điệp ở lớp này mang nặng tính sám hối và ân hận. Nhịp điệu vọng cổ chuyển dần, phản ánh tâm trạng vừa gấp gáp, vừa tuyệt vọng của người đi tìm trong vô vọng.

  6. Lớp kết bi kịch: CUỘC GẶP CUỐI – BI KỊCH KHÉP LẠI
    Điệp đến chùa thì Lan đã lâm bệnh nặng; cuộc gặp gỡ cuối cùng khép lại bằng cái chết của Lan và sự sụp đổ tinh thần của Điệp.

    Lời dẫn chú giải:
    Lớp cuối là cao trào và kết thúc của vở tuồng. Cuộc gặp gỡ giữa Lan và Điệp diễn ra trong hoàn cảnh nghiệt ngã, khi Lan đã lâm bệnh nặng và đứng trước cái chết.

    Theo bản thu âm 1974, lớp này được dàn dựng với cường độ cảm xúc cao nhất. Các câu vọng cổ của cả hai nhân vật đều mang tính tổng kết số phận: Lan buông bỏ, tha thứ; Điệp đau đớn, tự trách. Bi kịch được khép lại không bằng sự oán hận, mà bằng nỗi thương cảm sâu sắc, đúng với tinh thần nhân văn của tác phẩm.

Cách phân lớp này phù hợp hoàn toàn với lời ca trong bản chép 1974, cho thấy sự nhất quán trong tư duy kịch bản của soạn giả Loan Thảo.


2. Hệ thống vọng cổ trong bản thu 1974
Bản ghi âm 1974 sử dụng hệ thống vọng cổ cổ truyền, được triển khai đúng luật, không rút gọn, không cải biên:
  • Mỗi nhân vật chính (Lan và Điệp) đều có đầy đủ sáu câu vọng cổ,
  • Các câu được đặt đúng vị trí kịch tính,
  • Nhịp điệu chuyển dần từ 32 → 16 → 8, theo đúng cao trào tâm lý.
Điểm đặc biệt của bản này là lời vọng cổ rõ ràng, mạch lạc, mang đậm văn phong Loan Thảo, thiên về:
  • lời kể đời thường,
  • hình ảnh dân gian,
  • ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi.

CHÚ GIẢI TỪNG CÂU VỌNG CỔ THEO TỪNG LỚP

LỚP 1: LAN – ĐIỆP, TÌNH NGHÈO THUỞ BAN ĐẦU
  • Vọng cổ – Câu 1 (Lan)

    Chú giải:
    Câu mở đầu của nhân vật Lan mang chức năng giới thiệu hoàn cảnh và tình cảm ban đầu. Nội dung thiên về kể chuyện và tâm tình, chưa có xung đột. Cách triển khai lời ca nhẹ, đều, giúp khắc họa hình ảnh Lan hiền lành, chân chất, đặt nền cho toàn bộ tâm lý nhân vật về sau.

  • Vọng cổ – Câu 1 (Điệp)

    Chú giải:
    Câu vọng cổ đầu tiên của Điệp có tính đối đáp và bổ sung cho lời Lan. Nhân vật thể hiện chí học hành, lòng thương người yêu và mặc cảm nghèo khó. Câu này xác lập hình tượng Điệp là người có tình nhưng yếu thế trong xã hội.


LỚP 2: BIẾN CỐ – ĐIỆP BỊ ÉP DUYÊN
  • Vọng cổ – Câu 2 (Điệp)

    Chú giải:
    Câu này đánh dấu bước chuyển từ trữ tình sang bi kịch. Điệp bắt đầu bộc lộ sự giằng xé nội tâm khi đứng giữa chữ hiếu và chữ tình. Lời ca mang tính tự sự, thừa nhận hoàn cảnh bị chi phối bởi quyền lực và lễ giáo, đặt nền cho sự sụp đổ đạo đức cá nhân của nhân vật.

  • Vọng cổ – Câu 2 (Lan)

    Chú giải:
    Lan tiếp nhận thông tin về biến cố bằng nỗi đau lặng lẽ. Câu vọng cổ này không thiên về trách móc mà tập trung vào cảm giác mất mát và tủi phận. Đây là biểu hiện điển hình của hình tượng người phụ nữ cam chịu trong cải lương xã hội.


LỚP 3: LAN ĐỐI DIỆN SỰ THẬT – NỖI ĐAU BỊ PHỤ TÌNH
  • Vọng cổ – Câu 3 (Lan)

    Chú giải:
    Câu này mở rộng và đào sâu nỗi đau của Lan. Nhân vật nhìn lại mối tình đã qua và ý thức rõ sự đổ vỡ không thể cứu vãn. Chức năng chính của câu là đẩy tâm lý Lan từ buồn sang tuyệt vọng, chuẩn bị cho hành động rời bỏ gia đình.

  • Vọng cổ – Câu 3 (Điệp)

    Chú giải:
    Điệp trong câu này bắt đầu ý thức về hậu quả của lựa chọn mình đã làm. Tuy nhiên, nhân vật vẫn ở trạng thái do dự, chưa hành động quyết liệt. Câu vọng cổ thể hiện sự yếu đuối và chậm trễ, yếu tố quan trọng làm nên bi kịch.


LỚP 4: LAN BỎ NHÀ ĐI TU – CỬA PHẬT VÀ NỖI ĐỜI
  • Vọng cổ – Câu 4 (Lan)

    Chú giải:
    Đây là câu vọng cổ mang tính triết lý và nội tâm sâu sắc. Lan tìm đến cửa Phật như một lối thoát tinh thần, nhưng lời ca cho thấy tình đời vẫn chưa dứt. Câu này thể hiện mâu thuẫn giữa ý muốn buông bỏ và sự níu kéo của ký ức tình yêu.

  • Vọng cổ – Câu 4 (Điệp)

    Chú giải:
    Câu vọng cổ này cho thấy Điệp bắt đầu thức tỉnh rõ rệt. Nhân vật nhận ra lỗi lầm của mình và bắt đầu mong muốn chuộc lại sai lầm. Tuy nhiên, sự thức tỉnh đến muộn, mang tính bi cảm nhiều hơn là hành động.


LỚP 5: ĐIỆP ĐI TÌM LAN – BI KỊCH DẦN LÊN CAO
  • Vọng cổ – Câu 5 (Điệp)

    Chú giải:
    Đây là câu cao trào tâm lý của nhân vật Điệp. Lời ca thể hiện sự hối hận, lo lắng và nỗi sợ mất Lan vĩnh viễn. Câu vọng cổ mang nhịp độ gấp hơn, phản ánh trạng thái tinh thần bất ổn của người đi tìm trong tuyệt vọng.

  • Vọng cổ – Câu 5 (Lan)

    Chú giải:
    Lan xuất hiện trong tình trạng sức khỏe suy kiệt. Câu vọng cổ này vừa là lời tâm sự cuối đời, vừa là sự chấp nhận số phận. Nhân vật không còn oán trách mà nghiêng về tha thứ, báo hiệu kết cục bi thảm sắp xảy ra.


LỚP 6: CUỘC GẶP CUỐI – BI KỊCH KHÉP LẠI
  • Vọng cổ – Câu 6 (Lan)

    Chú giải:
    Câu vọng cổ cuối của Lan mang tính kết thúc số phận nhân vật. Lời ca nhẹ dần, mang tinh thần buông bỏ trần thế. Đây là câu chuyển Lan từ thân phận con người sang hình ảnh mang tính biểu tượng của sự hy sinh và cam chịu.

  • Vọng cổ – Câu 6 (Điệp)

    Chú giải:
    Câu kết của Điệp là lời than và sám hối muộn màng. Nhân vật đối diện trực tiếp với mất mát không thể cứu vãn. Câu vọng cổ này khép lại vở tuồng bằng nỗi đau tinh thần kéo dài, không có sự giải thoát, đúng tinh thần bi kịch xã hội.


GHI CHÚ TỔNG KẾT
Hệ thống chú giải cho từng câu vọng cổ cho thấy:
  • sự phát triển tâm lý nhân vật theo từng bước rõ ràng
  • cấu trúc vọng cổ được sử dụng như trục cảm xúc chính
  • bi kịch được đẩy lên từ từ, không đột ngột
Đây là đặc điểm nổi bật của Lan và Điệp theo bản thu âm 1974, phản ánh tư duy soạn giả Loan Thảo và phong cách cải lương xã hội giai đoạn này.


3. Ê-kíp diễn viên tiêu biểu – “linh hồn” của bản thu
Điểm làm nên giá trị và sức hút vượt thời gian của bản thu năm 1973–1974 chính là dàn nghệ sĩ xuất sắc, mỗi người đều đang trong giai đoạn sung sức nhất của sự nghiệp.
  • Chí Tâm – vai Điệp
    Giọng ca mượt mà, sáng, giàu cảm xúc của nghệ sĩ Chí Tâm đã tạo nên hình tượng Điệp đầy nội tâm: chân thật, yếu đuối nhưng luôn day dứt vì chữ hiếu và chữ tình. Mỗi câu vọng cổ của Chí Tâm đều vừa ngọt ngào, vừa chan chứa nỗi đau nghẹn ngào của một người đàn ông lỡ phụ lời thề.

  • NSND Thanh Kim Huệ – vai Lan
    Được xem là vai diễn để đời của Thanh Kim Huệ, Lan trong bản thu âm này vừa trong trẻo, vừa hiền dịu nhưng lại mang nỗi buồn sâu thẳm của người phụ nữ chịu quá nhiều thiệt thòi. Chất giọng cao, mảnh nhưng vẫn đầy sức nặng cảm xúc của chị khiến các lớp ca như bật khóc theo số phận nhân vật.

  • Hữu Phước – vai ông Tú (cha Lan)
    Giọng ca ấm và sắc thái nghiêm khắc mà chân tình của Hữu Phước giúp hình tượng một người cha cổ truyền, thương con nhưng bất lực trước nghịch cảnh trở nên thấm thía.

  • Kim Thủy – vai Bà Cử (mẹ Điệp)
    Một vai phụ nhưng tạo nhiều dấu ấn. Kim Thủy thể hiện được hình ảnh người mẹ quê chất phác, nhiều lo toan, khiến bi kịch của Điệp càng thêm nặng nề.

  • NSƯT Hùng Minh và Mai Lan – vai Ông và Bà Phủ Trần
    Hai vai diễn đại diện cho tầng lớp quyền lực ở tỉnh lẻ, với sự sắc sảo của NSƯT Hùng Minh và thần thái uy nghi của nghệ sĩ Mai Lan, làm nổi bật sự ép buộc và mưu mô đưa câu chuyện đến bước ngoặt đau thương.

  • Tú Trinh – vai Thúy Liễu
    Với lối thoại tự nhiên và nét diễn lanh lợi, Tú Trinh làm tròn vai người con gái nhà giàu được cha mẹ sắp đặt, vô tình trở thành “kẻ thứ ba” trong mối tình Lan – Điệp.

  • Hoàng Mai, Viễn Sơn, Bé Thành Tâm (NSƯT Thành Lộc)…
    Dù các vai phụ không nhiều đất diễn, nhưng sự xuất hiện của họ mang đến những gam màu đậm chất đời, giúp câu chuyện tròn trịa và sinh động – đặc biệt là nhân vật chú tiểu của Viễn Sơn, tạo một điểm nhấn xúc động trong đoạn cuối.



4. Nghệ thuật âm nhạc – lời thoại: sự hòa quyện của bi kịch và thi ca
Bản thu 1973–1974 nổi tiếng bởi:
  • Cấu trúc cải lương hoàn chỉnh
    Không chỉ có vọng cổ, tác phẩm được xây dựng như một kịch bản sân khấu thực thụ, đan xen thoại – ca – diễn cảm, tạo nhịp độ lôi cuốn từ đầu đến cuối.

  • Các lớp ca kinh điển
    Nhiều câu vọng cổ, nhất là đoạn Lan trong chùa nói về lòng đau khổ, hay đoạn Điệp tìm Lan, đã trở thành mẫu mực cho cải lương tình bi.

  • Hòa âm mang đậm âm sắc thập niên 70
    Tiếng đàn kìm, đàn cò, sáo… trong bản thu có sự mềm mại nhưng vẫn đầy chiều sâu, tái hiện một không khí mộc mạc, chân quê rất hợp với bối cảnh.



5. Giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa
Bản thu âm Lan và Điệp 1973–1974 không chỉ đơn thuần là một tác phẩm giải trí, mà đã trở thành:
  • Một chuẩn mực của cải lương tình bi Việt Nam
    Các thế hệ nghệ sĩ trẻ sau này thường xem đây là phiên bản mẫu mực để học cách ca vọng cổ, cách thoại và cách xử lý tâm lý nhân vật.

  • Một dấu son trong sự nghiệp của nhiều nghệ sĩ
    Đặc biệt là NSND Thanh Kim Huệ và nghệ sĩ Chí Tâm – đôi nghệ sĩ vàng của làng cải lương.

  • Một di sản âm thanh quý giá
    Hãng dĩa Việt Nam với kỹ thuật thu âm thời bấy giờ đã tạo ra một bản thu sống động, rõ nét và giàu cảm xúc đến mức ngày nay vẫn được khán giả tìm nghe và trân trọng.



6. Sức sống bền bỉ sau gần nửa thế kỷ
Dù đã hơn 50 năm trôi qua, bản thu âm vẫn:
  • được phát lại thường xuyên trên các đài phát thanh, chương trình giới thiệu cải lương,
  • được lưu hành trên băng cassette, CD, và các nền tảng số,
  • trở thành “cửa ngõ” để nhiều khán giả trẻ đến với cải lương.
Nhiều người mộ điệu vẫn xem đây là bản Lan và Điệp hay nhất mọi thời đại, bởi sự dung hòa tuyệt vời giữa giọng hát, kịch tính, âm nhạc và cảm xúc chân thật.



Kết luận
Bản thu âm “Lan và Điệp” của Hãng dĩa Việt Nam (1973–1974) là một đỉnh cao trong nghệ thuật cải lương Việt Nam. Với sự góp mặt của dàn nghệ sĩ tài danh và sự chắp bút tinh tế của soạn giả Loan Thảo, tác phẩm đã vượt thời gian, trở thành biểu tượng của tình yêu bi lụy, sự éo le của phận người và nét đẹp thuần khiết của sân khấu cải lương miền Nam trước 1975.



Phân tích âm nhạc & kỹ thuật vọng cổ
trong bản thu “Lan và Điệp” (1973–1974)

Bản thu âm Lan và Điệp của Hãng dĩa Việt Nam không chỉ nổi bật bởi giọng ca diễn viên hay nội dung bi lụy mà còn gây ấn tượng bởi kết cấu âm nhạc tinh tế, từng lớp hòa âm – nhạc cụ – nhịp phách được sắp đặt hợp lý, tạo nên một sắc thái riêng không trộn lẫn với bất kỳ bản dựng nào khác.

Dưới đây là phân tích chi tiết:
1. Tổng quan âm nhạc trong bản thu

1.1. Dàn nhạc đậm chất cải lương truyền thống
Bản thu sử dụng những nhạc cụ cơ bản nhất của dàn nhạc cải lương thập niên 70:

  • Đàn kìm (nguyệt) – giữ vai trò chủ đạo
  • Đàn cò – tạo độ mềm, rơi, mùi
  • Đàn tranh – lót và điểm xuyết
  • Đàn guitar phím lõm – tạo màu đặc trưng của vọng cổ hậu kỳ
  • Song lang – giữ nhịp
  • Sáo trúc và mõ chùa (ở các cảnh chùa)
Sự kết hợp này tạo ra một không gian âm nhạc mộc mạc nhưng tinh tế, đúng chất bi lụy – trữ tình miền Nam trước 1975.

1.2. Hòa âm – nhịp điệu
Bản thu trung thành với phong cách hòa âm cải lương truyền thống:

  • Ít phối khí phức tạp
  • Chủ yếu linh hoạt giữa nhịp 32, 16 và 8
  • Chuyển nhịp mượt, giúp người ca dễ tạo cảm xúc và “nuôi hơi”
Điểm đặc biệt là nhạc đệm không “lấn lời” mà luôn hòa vào tâm trạng nhân vật.



2. Phân tích kỹ thuật vọng cổ – theo từng nghệ sĩ
Dưới đây là phân tích chuyên sâu về kỹ thuật ca vọng cổ trong bản thu.

2.1. Kỹ thuật vọng cổ của NSƯT Thanh Kim Huệ (vai Lan)
Đây là điểm sáng nhất của cả bản thu, nhiều nghệ sĩ đời sau xem là chuẩn mực để học hỏi.

a) Kỹ thuật ngân rung (vibrato) nhẹ – đều – tinh tế
Giọng Thanh Kim Huệ có kiểu rung đầu câu và cuối câu rất “miền Tây”, tạo cảm giác:

  • buồn nhưng trong,
  • đau nhưng không rên xiết,
  • thánh thiện nhưng vẫn giản dị.
Đặc biệt ở câu vọng cổ lớp Lan trong chùa, kỹ thuật ngân rung cuối chữ được xem là “huyền thoại”.

b) Cách xuống xề mềm và tròn
Khi xuống xề, giọng được buông nhẹ, không nặng, đảm bảo:

  • chữ tròn,
  • hơi không gãy,
  • cảm xúc vẫn liền mạch.
Đây là kỹ thuật khó mà ít nghệ sĩ trẻ ngày nay giữ được.

c) Xử lý làn hơi dài – đằm nhưng không u uất
Thanh Kim Huệ nổi tiếng với khả năng "giữ hơi" và cho hơi rơi mềm.
Nhờ vậy, nỗi buồn trong câu ca của Lan lắng xuống như sương mỏng.

d) Diễn xuất bằng giọng – sắc thái nội tâm rõ nét
  • Khi đau → giọng rơi nhẹ, nghẹn, chậm nhịp.
  • Khi trách Điệp → giọng hơi gắt nhưng không gay gắt.
  • Khi xuất gia → giọng tĩnh, nhẹ, như tiếng chuông chùa.
Tổng hợp các yếu tố này tạo nên một Lan hoàn hảo, vừa bi, vừa đẹp, vừa thuần khiết.


2.2. Kỹ thuật vọng cổ của Chí Tâm (vai Điệp)

a) Giọng nam trung sáng, rõ chữ
Điều này rất quan trọng trong vọng cổ – vì chữ là linh hồn.
Điệp của Chí Tâm ca chữ nào nghe chữ đó, rõ từng âm.

b) Kỹ thuật “móc luyến – đổ hột” đặc trưng thập niên 70
Điều này giúp giọng Điệp:
  • ngọt,
  • mềm,
  • mang chất thư sinh đạo mạo.
c) Xuống xề đầy đặn – có chiều sâu
Khác với Thanh Kim Huệ, Chí Tâm xuống xề “tròn tiếng”, tạo âm vực chắc và nam tính.

d) Nhịp ca chậm – có độ ngân dài
Những câu Điệp tự trách mình rất mùi vì:
  • Chí Tâm kéo dài chữ cuối,
  • ngân đều,
  • giữ hơi rất chắc.
Nhờ vậy, bi kịch nội tâm được đẩy lên mức trầm cảm nhưng không than vãn.


2.3. Kỹ thuật thoại – ca của Hữu Phước (ông Tú)
Không ca nhiều nhưng mỗi câu lại thể hiện:
  • Giọng sang trọng – ấm
    Phù hợp hình ảnh gia trưởng nhưng hiền từ.

  • Âm sắc đều – không run
    Thể hiện độ chín của giọng ca cải lương miền Nam.
  • Biểu cảm thả đúng chừng mực
    Không quá bi lụy, chỉ đủ để người nghe cảm được nỗi đau của người cha.


2.4. Kỹ thuật thoại – ca của NSƯT Hùng Minh (ông Phủ Trần)

a) Giọng thoại sang – sắc – dứt khoát
Phản diện nhưng không cường điệu.
Âm sắc sắc lẹm như quyền lực của giới quan lại.

b) Các câu xuống dây, ngâm – ẩy chữ
  • đậm chất sân khấu
  • toát lên uy quyền
  • đẩy mâu thuẫn lên cao
Ông Phủ của Hùng Minh tạo nên cái “đinh” cho âm nhạc ở lớp ép duyên.


2.5. Nhạc nền trong lớp Lan ở chùa – tinh hoa của bản thu
Đây được xem là lớp âm nhạc hay nhất của toàn bộ vở.

Nhạc lót có:
  • tiếng mõ chùa tanh… tách…
  • tiếng chuông chùa ngân dài
  • tiếng sáo vi vu như gió qua mái chùa
  • đàn tranh gảy nhẹ từng nốt như giọt nước
Cảnh này mở ra một bầu không khí:
  • tĩnh mịch,
  • thanh sạch,
  • bi thương,
  • thiêng liêng.
Nhạc nền nâng giọng ca Thanh Kim Huệ lên mức “siêu phẩm”.


3. Kết cấu vọng cổ – phối hợp thoại và ca
3.1. Ca – thoại – ca theo phong cách Loan Thảo
Soạn giả Loan Thảo nổi tiếng với cấu trúc:
  • thoại dẫn vào ca
  • ca nối thoại
  • thoại nén cảm xúc rồi lại bung ra bằng ca
Điều này khiến câu chuyện lúc nào cũng dạt dào cảm xúc.


3.2. Điểm nhấn nhịp trong các câu vọng cổ
Các câu vọng cổ trong vở chủ yếu theo:
  • Nhịp 32 → tâm sự dài, nội tâm
  • Nhịp 16 → chuyển cảnh, dẫn mạch
  • Nhịp 8 → cao trào, bật cảm xúc
Đặc biệt, lớp Lan–Điệp chia tay sử dụng nhiều nhịp 32 → tạo cảm giác thời gian kéo dài, nỗi đau dằng dặc.



4. Phân tích đoạn cao trào cuối – Điệp tìm Lan
Đây là đoạn khó nhất về âm nhạc:
  • Nhạc nền bắt đầu nén lại
  • Đàn kìm đánh chậm, trầm
  • Tiếng cò kéo dài → tạo cảm giác hụt hơi
  • Ca của Điệp nghẹn, hơi đứt đoạn → đúng tâm trạng
Khi Lan tắt thở:
  • nhạc ngưng hẳn trong vài giây → “khoảng lặng đau thương”
  • rồi mới vào câu than khóc của Điệp
Sự ngắt nhạc như thế rất nghệ thuật, chỉ có trong các bản thu tinh tế trước 1975.



Kết luận
Âm nhạc và kỹ thuật vọng cổ trong Lan và Điệp (1973–1974) đạt đến mức:
  • chuẩn mực về truyền thống,
  • sâu sắc về cảm xúc,
  • giàu nghệ thuật nhưng không phô diễn,
  • tôn vinh giọng ca – diễn xuất của nghệ sĩ,
  • đặt cảm xúc khán giả lên hàng đầu.
Đây chính là lý do bản thu của Hãng dĩa Việt Nam không chỉ là một sản phẩm âm nhạc mà đã trở thành một tượng đài nghệ thuật trong lịch sử cải lương Việt Nam.




Nam Xuân trong Lan và Điệp

🎭 Nguyệt Cầm.VN –
Nơi lưu giữ và lan tỏa
tinh hoa nghệ thuật
Cải lương Việt Nam.


Ba bản Nam: Nam Xuân

Bài này sẽ viết về bài thứ hai trong Ba bài Nam: Nam Xuân.

Bài viết được biên soạn với tâm huyết gìn giữ văn hóa dân tộc. Nếu bạn yêu thích và muốn chia sẻ, xin vui lòng ghi rõ nguồn Nguyệt Cầm.VN để cùng nhau lan tỏa giá trị nghệ thuật truyền thống. 🙏


Thể điệu Nam Xuân là bài thứ hai trong ba điệu cơ bản của “bộ ba Nam” trong hệ thống bài bản Đờn ca tài tử và Cải lương. Bản Nam Xuân không chỉ mang tính chất nhạc lễ, mà còn phản ánh tâm hồn thanh nhã, phóng khoáng của con người vùng đất Nam Bộ.

Từ Nhạc cung đình đến cải lương

Giống như Nam Ai, nguồn gốc của Nam Xuân có thể truy nguyên từ ca Huế và bản Nam Bình trong nhạc cung đình Huế. Vào khoảng cuối thế kỷ XIX, ông Ba Đợi – người được xem là một trong những tổ sư của Đờn ca tài tử – đã cải biên bản Nam Bình thành Nam Xuân, mở rộng cấu trúc câu, chỉnh sửa nhịp và hơi cho phù hợp với Đờn ca tài tử. Từ đó, Nam Xuân trở thành bản đại diện cho “hơi Xuân” – mang phong thái thanh thản, lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng và đậm chất văn nhã, “tiên phong đạo cốt”

Nam Xuân” là điệu nhạc nằm ở vị trí giữa trong bộ ba: “Nam Xuân – Nam Ai – Nam Đảo”:
- Nam Xuân (thể hiện niềm hân hoan, lễ mừng – tượng trưng cho Thượng nguơn, mùa xuân);
- Nam Ai (diễn tả nỗi buồn man mác – Trung nguơn);
- Nam Đảo (hùng tráng, mạnh mẽ – Hạ nguơn).
Ngày nay, điệu Nam Xuân vẫn là bản mở đầu của các chương trình Đờn ca tài tử và Cải lương cổ nhạc, được xem là bản nhạc “khai xuân”, tượng trưng cho những khởi đầu tốt đẹp. 




Cấu trúc bản Nam Xuân

Nam Xuân được viết trên thang âm ngũ cung: Hò – Xự – Xang – Xê – Cống, thuộc hơi Xuân.  Nếu ta dùng khái niệm cứng (Bắc) mềm (Ai) thì hơi Xuân vẫn còn giữ một phần độ cứng của điệu Bắc xem như hơi trung tính giữa hơi Bắc và hơi Ai. Hơi Xuân thể hiện sự thăng bằng, không quá bi lụy cũng không quá rộn ràng. Các chữ Xừ, Xang và Xê thường được rung nhẹ và nhấn mảnh để tạo cảm giác thư thái, trang nhã, man mác. Âm chủ của hơi Xuân là Xàng Xang
Về nhịp, Nam Xuân viết theo nhịp tư. Bản gốc có tới 68 câu, nhưng do nhiều lớp trùng lặp, nên trong Đờn ca tài tử hiện nay rút gọn còn khoảng 20 câu. Còn trên sân khấu Cải lương, các nghệ sĩ thường chỉ sử dụng 8 câu đầu để tạo không khí và chuyển đoạn. Mỗi hai câu trong bài thường tạo thành một cặp đối xứng – câu lẻ mở ý, câu chẵn kết ý – thể hiện một cấu trúc đối xứng chặt chẽ.



Sắc thái tình cảm và giá trị biểu cảm

Nam Xuân mang âm hưởng thanh cao, nhẹ nhàng, thơ mộng, được ví như hương xuân thoảng qua không gian, mang nét “lâng lâng, sảng khoái, tiên phong đạo cốt”. Giai điệu của Nam Xuân thể hiện sự ung dung, trầm mặc, nhưng rạng ngời, phản ánh tinh thần an hòa và niềm vui giản dị trong cuộc sống.

Về cảm xúc, hơi Xuân phổ biến trong các lớp hát diễn tả niềm vui gặp gỡ, đoàn viên, nỗi lòng thanh thản, đôi khi còn chứa đựng nét trữ tình, lãng đãng của mùa xuân, khác hẳn với sự ai oán của Nam Ai hay tính dồn dập, kịch tính của Nam Đảo.

Một đặc điểm đáng chú ý là các nhạc sĩ, nghệ sĩ xưa thường dùng Nam Xuân để tạo “không khí thiền” – loại cảm xúc tĩnh lặng, thanh tao gợi nhớ đến tinh thần “nhạc lễ – nhạc đạo”. Vì thế, Nam Xuân thường được gọi là “điệu nhạc dành cho bậc hiền nhân, quân tử”.

Nam Xuân thường xuất hiện trong những phân đoạn mang tính chất cao nhã, trữ tình hoặc nghi lễ, chẳng hạn:
- Cảnh đón xuân, lễ hội, yến tiệc cung đình, hoặc dịp đoàn viên sum họp.
- Cảnh nhân vật bộc bạch tâm tư sâu lắng nhưng thanh thoát – biểu hiện của nội tâm hướng thiện, không bi lụy.
- Các trường đoạn khánh tiết, chúc tụng hoặc tả cảnh thiên nhiên tươi đẹp.

Liên Nam: Giới Tài tử thường đờn bản Nam Xuân từ câu 1 đến câu 8 – là phần hội tụ đặc trưng của hơi Xuân. Khi biểu diễn Liên Nam, người ta sẽ nối Nam Xuân (8–12 câu) với Nam Ai (8–12 câu) rồi sang Nam Đảo (Đảo ngũ cung) – thể hiện hành trình cảm xúc từ vui sang buồn rồi đạt đến cường thịnh. Trong những cuộc thi đờn tài tử hoặc các chương trình giao lưu, Nam Xuân thường được chọn làm bản mở đầu nhờ tiết tấu dễ cảm và kỹ thuật uyển chuyển.

Nam Xuân - kết tinh giữa nhạc lễ cung đình Huế và phong cách dân gian Nam Bộ, biểu trưng cho sự dung hòa giữa cái đẹp bác học và cái đẹp dân gian. Với đặc điểm âm nhạc ngũ cung linh hoạt, nhịp chậm khoan thai, âm sắc trong trẻo, thanh cao, Nam Xuân không chỉ là khúc mở đầu cho những buổi đàn ca, mà còn là biểu tượng của mùa xuân, của sự an lành, vui thanh và tĩnh tại trong tâm hồn người Việt.




Nam Xuân trong Lan và Điệp:

Từ khi biết cha mẹ hai nhà đã hứa với nhau. Thì tôi coi như cả cuộc đời tôi đã gởi trọn cho người...ta. Coi như yên phận rồi, dù hổng có nói ra.Từ mấy năm qua, tuy gần như lúc xa. Dù chưa có nói lại nói qua, nhưng đã coi như một nhà, tôi coi bác như mẹ già. Tui nghĩ, anh cũng thiệt thà, ai dè người ta tính gần tính xa.

Lan à! Tôi.. cũng thương Lan hết dạ hết lòng. Nhưng sợ Lan khổ Lan buồn, khi có một tấm chồng tương lai thật là tối tăm.

Cái chuyện tương lai, ai mà biết được, vui sướng hay buồn phiền cũng số phận mà thôi. Hay là tại tui dốt nát quê mùa, nên người ta bày điều đặng đổi thay.





━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━
📖 Nguồn: Nguyệt Cầm.VN - Tinh hoa Cải lương Việt Nam
📰 Bài viết: Ba bản Nam: Nam Xuân
🔗 Link: https://nguyetcam.vn/ba-ban-nam-nam-xuan
Vui lòng ghi rõ nguồn Nguyệt Cầm.VN để cùng nhau lan tỏa giá trị nghệ thuật truyền thống. 🙏
━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━








Nam Ai trong "Lan và Điệp" (Thanh Kim Huệ ca)

🎭 Nguyệt Cầm.VN –
Nơi lưu giữ và lan tỏa
tinh hoa nghệ thuật
Cải lương Việt Nam.


Ba bản Nam: Nam Ai

Bài này sẽ viết về bài thứ nhất trong Ba bài Nam: Nam Ai.

Bài viết được biên soạn với tâm huyết gìn giữ văn hóa dân tộc. Nếu bạn yêu thích và muốn chia sẻ, xin vui lòng ghi rõ nguồn Nguyệt Cầm.VN để cùng nhau lan tỏa giá trị nghệ thuật truyền thống. 🙏


Từ Nhạc cung đình đến cải lương

Ba bài Nam có mặt trong 20 bài bản tổ của cải lương, được xếp vào mùa thu nên giọng nhạc mang nét trầm buồn, ai oán. Bộ ba này được xem là một tuyệt tác trong đờn ca tài tử, mỗi bài mang một âm điệu khác nhau và được sử dụng rất phổ biến. Trong đó, Nam Ai là bi thương, ai oán và kinh điển nhất của sân khấu cải lương.

Nam Ai, có một hành trình lịch sử lâu dài và phức tạp, bắt nguồn từ chốn cung đình uy nghiêm, được tinh luyện qua nghệ thuật ca Huế, đờn ca tài tử trước khi trở thành một phần không thể thiếu, chuyên chở những cung bậc cảm xúc bi lụy nhất trong các vở diễn, bài ca cải lương đến ngày nay.

Vào cuối thế kỷ 19, khi bức màn nhung của triều đại phong kiến dần khép lại, những người nhạc công tài hoa đã mang tiếng đờn của mình rời khỏi cung cấm, hòa vào đời sống dân gian. Tiếng nhạc cung đình gặp gỡ những điệu lý, câu hò của miền Trung mà hình thành nên nghệ thuật Ca Huế thính phòng. Theo bước chân lưu dân vào khai phá miền đất phương Nam trù phú và phóng khoáng,
những điệu ca Huế ấy, bao gồm cả Nam Ai, lại tiếp tục cuộc hành trình, giao thoa với âm nhạc bản địa để làm nên một hình thức nghệ thuật mới: đờn ca tài tử. Đây là một bước chuyển mình vô cùng quan trọng, đưa những giai điệu vốn bác học, uy nghiêm đến gần hơn với giới mộ điệu bình dân.

Đến đầu thế kỷ 20, khi ánh đèn sân khấu cải lương lần đầu rực sáng, các bậc tiền nhân đã không ngần ngại chắt lọc những tinh hoa từ đờn ca tài tử để xây dựng nên cơ nghiệp. Và dĩ nhiên, với thế mạnh biểu đạt nỗi niềm bi thương đến tột cùng, Nam Ai đã nhanh chóng được lựa chọn. Trên sân khấu, Nam Ai thường vang lên ở những lớp diễn cao trào nhất, bi kịch nhất: là cảnh chia ly tử biệt, là nỗi oan khuất không lời nào tỏ, là tâm trạng đau đớn đến quặn thắt cõi lòng của nhân vật. Giai điệu ai oán, não nề của nó như một lưỡi dao cứa vào tâm can người xem, khiến họ phải khóc, phải đồng cảm sâu sắc với số phận nhân vật. Biết bao vở tuồng kinh điển đã lấy đi không biết bao nhiêu nước mắt của khán giả chỉ bằng vài câu Nam Ai thống thiết.



Cấu trúc bản Nam Ai

Bản Nam Ai nguyên gốc là một tác phẩm đồ sộ và phức tạp, hiếm khi được trình diễn trọn vẹn trong các chương trình thông thường.

Cấu trúc đầy đủ của nó gồm:
- Độ dài: Toàn bài có 84 câu.
- Phân đoạn (Lớp): 84 câu này được chia thành 10 lớp (hay 10 đoạn nhạc).
- Khúc Dạo Đầu: Trước khi vào lớp 1, thường có 4 câu nhạc dạo đầu đặc biệt gọi là "Phản Xuân qua Ai" để dẫn dắt mở đường vào không khí ai oán của toàn bài.

Với quy mô kỳ công như vậy, việc trình diễn đầy đủ bản Nam Ai là một thách thức, đòi hỏi tài năng và sự am tường sâu sắc của cả người đờn lẫn người ca, và thường chỉ xuất hiện trong những dịp mang tính bảo tồn, học thuật hoặc trong các chương trình đờn ca tài tử chuyên sâu.



Cấu trúc Nam Ai phổ biến

Để phù hợp với tiết tấu của vở diễn và khả năng thưởng thức của địa chúng, các nghệ sĩ thường sử dụng những phiên bản Nam Ai rút gọn. Phổ biến nhất là:

- Nam Ai 8 câu: Đây là phiên bản thông dụng nhất, thường chính là Lớp 1 của bản gốc. Với sự cô đọng, súc tích, phiên bản 8 câu được sử dụng rộng rãi trong các trích đoạn cải lương, tân cổ giao duyên, đặc biệt là những tình huống bi kịch cần đẩy cảm xúc lên cao trào.
- Nam Ai 12 câu và 16 câu: Những phiên bản dài hơn một chút, cho phép nghệ sĩ có thêm không gian để phô diễn kỹ thuật và đào sâu hơn vào các cung bậc cảm xúc của nhân vật.
- Ngoài ra, còn có một biến thể được gọi là Nam Ai Lớp Mái (hoặc Mái Ai), cũng là một phần của hệ thống bài bản Nam Ai, thường được dùng để diễn tả nỗi buồn man mác, nhớ nhung, khắc khoải.

Về nhịp điệu, Nam Ai viết theo nhịp tư (4 nhịp chính mỗi câu). Cái hay của Nam Ai nằm ở hơi Nam, với cách nhấn và rung mạnh ở chữ Xự, chữ Xang. Đặc biệt khi qua lớp Mái, tiếng đờn nhấn rung mạnh ở chữ Cộng nghe nức nở, tuyệt vọng. Cảm giác nghẹn ngào như tiếng khóc ấy một phần cũng do kỹ thuật đảo phách tinh tế trong lòng câu, tạo nên một nét đặc trưng không thể trộn lẫn.




Các Lớp Nam Ai kinh điển trong cải lương

Sức sống của Nam Ai chỉ thực sự thăng hoa khi nó được cất lên qua giọng ca và nỗi niềm của người nghệ sĩ trong những vở tuồng kinh điển: 

Trong Lan và Điệp (Thanh Kim Huệ ca)

Tôi vùi chôn xác bướm khô nơi đáy mộ. Như vùi sâu chôn kín nỗi niềm...riêng.
Đã từ lâu...đeo đẳng trong lòng. Chôn cành lan khô, như chôn mảnh tơ lòng. Hai nấm mồ song song để Xuân, Hạ, Thu, Đông. Dẫu mưa nắng dãi dầu, cùng hứng chịu chung đôi.

Chú đã đem thân...gởi chốn cửa thiền. Sao lòng còn vương vấn chuyện thế gian? 

Kể từ bây giờ, tôi quên hết chuyện xưa. Xác bướm cành Lan đã vùi sâu nơi đáy mộ. Là chôn đi bao nỗi đau buồn.
 
Sao giọng nói chú nghẹn ngào? 
Sao lệ đẫm hoen mi?
Trong Người tình trên chiến trận (Thanh Tuấn  - Mỹ Châu ca)

Không! Yêu nhau không bao giờ có tội. Nhưng anh chỉ muốn nói với em một điều mà bấy lâu ôm ấp mãi trong... tim. Mà giờ đây đã muộn màng rồi, anh có còn gì nữa đâu. Để nhớ thương những kỷ niệm trong đời. Mình đã một thời chắt chiu, trong tuổi còn thơ ấu hồn nhiên. Để tạo dựng một thiên đường, một thiên đường đầy hoa thơm.
Lời anh nói ra em đâu hiểu được gì. Anh đã buồn đã khổ vì ai, và từ bao lâu rồi? Cho mãi đến ngày hôm nay.
Đã từ lâu anh muốn nói một điều quan trọng, nhưng cứ lặng câm theo ngày tháng lạnh lùng. Anh muốn nói với một người, nỗi đau sầu vì... yêu.




━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━
📖 Nguồn: Nguyệt Cầm.VN - Tinh hoa Cải lương Việt Nam
📰 Bài viết: Ba bản Nam: Nam Ai
🔗 Link: https://nguyetcam.vn/ba-ban-nam-nam-ai
Vui lòng ghi rõ nguồn Nguyệt Cầm.VN để cùng nhau lan tỏa giá trị nghệ thuật truyền thống. 🙏
━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━




Tứ Đại Oán của "Nàng Lan"
trước khi sắp lìa bỏ cõi trần

🎭 Nguyệt Cầm.VN –
Nơi lưu giữ và lan tỏa
tinh hoa nghệ thuật
Cải lương Việt Nam.


Thể điệu Tứ Đại Oán

Một trong những bản đầu tiên trong đờn ca tài tử đó là bài Tứ đại oán “Bùi Kiệm mê sắc Nguyệt Nga”.

Bài viết được biên soạn với tâm huyết gìn giữ văn hóa dân tộc. Nếu bạn yêu thích và muốn chia sẻ, xin vui lòng ghi rõ nguồn Nguyệt Cầm.VN để cùng nhau lan tỏa giá trị nghệ thuật truyền thống. 🙏


Nguồn gốc bản Tứ Đại Oán

Tiền thân của Tứ Đại Oán là bản Tứ Đại Cảnh, tương truyền là của vua Tự Đức sáng tác để ca ngợi cảnh 4 mùa trong trời đất: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Nhưng cũng có người cho là vua Tự Đức có ngụ ý tôn vinh bốn cảnh đời thạnh trị của vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (chữ Đại là Đời). Trong đó, Tứ Đại Cảnh là bài bản được biến tấu từ điệu Bắc nhịp đôi hơi dựng (không buồn không vui) của Ca nhạc Huế thành điệu Bắc hơi dựng kiểu Nam bộ. Theo thời gian, các nhạc sĩ bỏ bớt một số câu của Tứ Đại Cảnh, từ 46 câu thành 38 câu, nới nhịp lơi ra, đờn theo cách nhịp 4 tức 19 câu, nhấn nhá chữ Xang, chữ Cộng nhiều hơn thành một làn điệu mùi hơn. Điệu Oán bắt đầu manh nha thành hình. Giai đoạn này Bản Tứ Đại Cảnh biến thể được gọi là Tứ Đại Cảnh Nam Phần (cũng có người gọi là Tứ Đại Vắn).


Từ đó, tên gọi Tứ Đại Oán cũng có nhiều thuyết:

- Để đối lại sự tôn vinh 4 cảnh đời vua triều Nguyễn, giới nhạc Tài Tử Nam Bộ đã mỉa mai chế độ phong kiến triều Nguyễn vì bất lực trước nạn ngoại xâm,
phế lập tùy tiện liên tiếp 4 đời vua Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, mà mảnh đất thân yêu của tổ quốc bị rơi vào tay giặc. Đó là 4 cái oán lớn hoặc 4 đời oán hận của 4 đời vua sau vua Tự Đức.

- Bản Tứ Đại được mang tên Tứ Đại Oán là vì trong cấu trúc bài, số chữ OAN chiếm ưu thế (Oan là chữ Cộng nhấn mạnh, ở hơi Nam gọi là Phan, ở hơi Oán gọi là Oan).

- Hoặc một số nhạc sĩ ảnh hưởng thuyết Phật Giáo cho con người luôn bị đau khổ bởi Tứ Diệu Đế là Sinh, Lão, Bệnh, Tử.

Việc đúng hay sai của các thuyết trên còn cần phải được nghiên cứu thêm. 
Điệu Oán là một âm điệu chủ đạo của nền Đờn ca Tài tử Nam Bộ qua nhiều thập niên. Các tập bài ca Tứ, Lục, Bát, Thập Tài Tử xuất bản từ năm 1909 đến 1915 tại Sài Gòn đã minh chứng điều này. Vào năm 1915, bản Tứ Đại Oán "Bùi Kiệm mê sắc Nguyệt Nga" là bản ca Tài Tử đầu tiên được ông Tống Hữu Định tục danh ông Phó Mười Hai ở Vĩnh Long đưa lên bộ ván để ca ra bộ, mở màn cho sự ra đời của sân khấu cải lương.





Tính chất bản Tứ Đại Oán

Đối với các nhạc sĩ trong làng Tài Tử, chữ Oán trong ngũ cung là để chỉ một điệu nhạc buồn sâu xa nhưng bi hùng chớ không bi lụy như hơi Ai trong các điệu Nam. Hơi điệu Oán khi ấy vừa xuất hiện, đã tạo được một thời vàng son không thua kém gì bản Vọng Cổ ngày nay. 

Thể điệu Tứ Đại Oán là một điệu nhạc thể hiện sự thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chân chất hơn. Hai lớp Xang vắn thường hay được dùng. Đây là một điệu đặc thù được sáng tạo tại đất Nam Bộ.
 
Những ngày đầu thế kỷ 20, bản Tứ Đại Vắn trên được phát triển từ nhịp tư sang nhịp 8, được phân câu, phân lớp, nhịp nội, nhịp ngoại, gỏ mô, đờn chầu thì hơi điệu Oán mới xứng danh là một điệu riêng biệt với hơi Ai của điệu Nam. Điệu Oán có cấu trúc các láy đờn thường đi từ 2 ngũ cung và một điểm đặc thù của điệu này là nhiều câu trong các lớp thường xuyên có mặt chữ Oan (chữ Phan nhấn và rung mạnh) nên nghe buồn nhưng kiểu buồn bi hùng. Điệu hát được ưa thích nhất thời đó chính là Tứ đại oán với các bài "Khóc chồng", “Bùi Kiệm thi rớt”, “Bá Ngộ Mai”.




Cấu trúc và các bản đờn Tứ Đại Oán

Bản Tứ Đại Oán gồm 38 câu nhịp 8,
chia làm 7 lớp



Tứ Đại Oán (Lớp đầu 6 câu nhịp tám)
  1. (-) (-) (-) Tồn là (liu)
    liu liu (-) tồn xề oan (liu) tồn xang xế (xê) xế xang xư (xề)
  2. Xề oan (liu) tồn xang xế (xê) lỉu liu oan (xừ) “xàng cộng (xề)”
    xề oan (liu) tồn liu oan (xề) lỉu liu oan (xề) tồn xề oan (liu)
  3. Xề oan (liu) tồn xang xế (xê) lỉu liu oan (xừ) “xàng cộng (xề)”
    xề oan (liu) tồn liu oan (xề) lỉu liu oan (xề) tồn xề oan (liu)
  4. Tồn là (liu) xế xang xư (xề) tồn xề oan (liu) “xề xán xư (liu)”
    tồn là (líu) tồn xế xán (líu) tồn xang xế (xê) xề xang xư (lịu)
  5. "Tồn xế xang xừ (xang)" (-) xế xang xư (lìu) tồn xang xế (xê)
    xê oán (líu) líu líu cống (xê) tồn xang xế (xê) xề xang xư (lịu)
  6. Tồn (xang) xế xê (-) xề xang xư (lìu) “xề xề oan (liu)”
    xế xang (xự) tồn xang xế (xê) líu líu cống (xê) xề xế xang xừ (xang).
Tứ Đại Oán (Lớp đầu 6 câu nhịp tám)
(viết cho đàn kìm, dây Tố Lan)

  1. (-) (-) (-) Xế xang xư (LÌU)
    liu liu liu tồn liu (-) xế xang xư xề xừ xử xang xư (LÌU)
    tồn lìu xang xư xàng cống xừ xang (XÊ) tồn xê tồn liu xứ liu cống xê tồn xảng xang xư (XỀ)
  2. Xể xề xề xừ xử xang xư (LÌU) lìu tồn lìu cống xừ xang (XÊ)
    tồn liu xứ liu cống xê tồn xảng xang xư (XỪ) “cống xê xang xư lìu tồn xang cống (XÊ)”
    xề xê xề xê tồn liu oan xề oan lìu (LIU) liu liu liu liu tồn xán xư liu oan (XỆ)
    xệ xề xề xáng xảng xang xư (LÌU) tồn xự xán xan xư xề liu lìu xề liu oan (LIU)
  3. Liu liu liu tồn liu oan (LIU) tồn liu oan xề liu tồn xự xan cống (XÊ)
    xán xư liu liu liu tồn xán xư liu oan (XỪ) “líu cống xê xế xang xư lìu tồn xang cống (XÊ)”
    xề xê xề xê tồn oan liu xề oan lìu (LIU) liu liu liu liu tồn xán xư liu oan (XỆ)
    xệ xê xê xángxảng xang xư (LÌU) tồn xự xán xan xư xề liu lìu xề liu oan (LIU)
  4. Liu liu liu liu liu oan xề liu oan (LIU) liu liu tồn liu xán xan xư (XỀ)
    xể xế xê xê lìu xề liu oan (LIU) tồn liu tồn xán xứ xề liu lìu xề liu oan (LIU)
    liu liu liu xề xề liu oan (LIU) liu xản xán xan xư xề tồn xán xứ xề xừ (LIU)
    liu oan liu tồn liu xứ xề liu oan (LIU) cống xể xê tồn xê xang (LỊU)
  5. Xề xế xê xư xề xư xề (XANG) (-)
    o Xừ xử xang xư (LÌU) tồn lìu cống xê xang xự cống xề xự xang (XÊ)
    xê xề xề xê tồn oan liu xề liu lìu (LIU) liu liu liu liu tồn xán xư liu oan (XỆ)
    xệ xê xê líu oan công xê (XANG) xang xư lìu xư lìu tồn xảng xang xư (LỊU)
  6. Xự xự xự tồn xế xang xự tồn (XANG) xê cống xừ xang xê (-)
    tồn công líu công líu xê tồn xảng xang xư xừ (LÌU) tồn xự xán xan xư xề xư lìu xề liu oan (LIU)
    liu liu cống xê xang (XỰ) xự xự cống xê xang xự cống xề xự xang (XÊ)
    xê xê tồn oan liu xề liu lìu (LIU) tồn cống xế xê xề xế xang xự (XANG).




Tứ Đại Oán của "Nàng Lan" trước khi sắp liền bỏ cõi trần

Đây có thể xem là đoạn não lòng nhất trong vở cải lương Lan và Điệp. Cố NSND Thanh Kim Huệ kể cứ mỗi lần ca đến đoạn này là cô khóc, lời ca cứ như nghẹn lại trong cổ:

“Con không phải là Vũ Khắc Điệp. 
Mà tên thật là Nguyễn...Thị...Lan. 
Vì...đứt đoạn mảnh tơ lòng. 
Tìm vào đây, vui mỏ sớm với chuông chiều. 
Mong...lãng quên nỗi khổ sầu của mối tình ly tan. 
Tình...đã xa, tơ đã dứt tự lâu rồi. 
Nhưng bóng trăng bao lượt khuyết đầy mà sầu vẫn chưa nguôi.

Nay biết...con không sống được bao lâu. 
Nên khúc nôi, con xin bày tỏ cùng thầy. 
Xin thầy, cảm thương cho kẻ nặng sầu đau, mà ban cho lời tha thứ tội. 
Ở xa xôi, người xưa có biết cho lòng? 
Anh điệp! Anh có hiểu nỗi khổ đau quàng nặng lòng Lan.”




━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━
📖 Nguồn: Nguyệt Cầm.VN - Tinh hoa Cải lương Việt Nam
📰 Bài viết: Thể điệu Tứ Đại Oán
🔗 Link: https://nguyetcam.vn/the-dieu-tu-dai-oan
Vui lòng ghi rõ nguồn Nguyệt Cầm.VN để cùng nhau lan tỏa giá trị nghệ thuật truyền thống. 🙏
━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━