Ads 468x60px

.
Hiển thị các bài đăng có nhãn PDF. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PDF. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

Một đời văn lực lưỡng NGUYỄN CÔNG HOAN (GS. Phong Lê)


Một đời văn lực lưỡng
NGUYỄN CÔNG HOAN

Trong "85 chân dung văn hóa - văn chương Việt (tập 1)"
GS. Phong Lê


Tính từ những năm 1920 cho đến nay, Nguyễn Công Hoan vẫn cứ là nhà văn thuộc trong số không nhiều người thật sự được quen biết và được nhắc nhở trong dư luận của nhiều thế hệ bạn đọc. Ông bắt đầu được chú ý từ những truyện trong tập Truyện thế gian của Tản Đà thư cục, năm 1922; rồi Kiếp hồng nhan, năm 1923; để trở nên nổi tiếng với những chuyện đời trong chuyên mục “Xã hội ba đào ký”, thời An Nam tạp chí cũng của Tản Đà đầu những năm 1930. Và đến hôm nay, sau bao nhiêu biến thiên xã hội, ông vẫn tiếp tục là nhà văn thân quen của nhiều thế hệ bạn đọc, trong số đó không ít người đã từng qua một tuổi trẻ hoặc tuổi học đường sớm biết đến Nguyễn Công Hoan, qua Bước đường cùng và các truyện ngắn được chọn lọc trong chương trình văn học ở nhà trường.

Cố nhiên ở mọi thời kỳ, sự quan tâm của bạn đọc đối với Nguyễn Công Hoan là có khác nhau. Nguyễn Công Hoan xuất hiện với một bút pháp lạ, một cách nhìn lạ, một giọng điệu lạ, hài và bi, cười cợt và nghiêm trang, đùa mà tỉnh táo, đã được báo hiệu ngay từ Kiếp hồng nhan (1923). Rồi Nguyễn Công Hoan với truyện ngắn và truyện dài, dồn dập và xen kẽ, chuyển dịch qua bao xu hướng nghệ thuật trong những năm 1930. Nhà văn muốn tỏ ra trung thành với chủ nghĩa hiện thực trào lộng trong truyện ngắn lại rất nghiêm trang, mực thước trong Tấm lòng vàng, Cô làm công... Chủ nghĩa lãng mạn tưởng như xa lạ với Nguyễn Công Hoan, khi nhà văn cố tình trở về với các khuôn mẫu cổ điển, để chống lại Đoạn tuyệt của Nhất Linh, trong Cô giáo Minh, lại là người đẫm ướt trữ tình và nước mắt lãng mạn trong Tắt lửa lòng và Lá ngọc cành vàng. Thanh đạm u trầm trong một khí hậu hoài cổ nhằm dẫn dắt con người vào một thời xưa, trong lúc Bước đường cùng lại rất quyết liệt phanh phui, lật tẩy hiện tại - sách bị cấm mà thành danh to, năm ngàn bản hết veo và được in đi in lại nhiều lần... Nguyễn Công Hoan, tóm lại, đó là người viết dường như muốn có một mục tiêu để trung thành, để chung thủy, nhưng lại nhiều đổi thay, chuyển dịch và không ít giọng điệu. Có phải vậy chăng cùng lúc có ở trong ông vừa khách quan vừa chủ quan, vừa mới vừa cũ, vừa hoài cổ vừa cách tân, vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa cổ điển vừa tự nhiên và cả tự nhiên chủ nghĩa... Vậy là, phải chăng về cái gọi là “phức tạp”, qua con mắt người đương thời và hậu thế, thì xem ra Nguyễn Công Hoan cũng có mặt nổi danh không kém Nguyễn Tuân.

Nhưng rút lại thì cái lớn, cái duyên và có thể là cả cái may, của Nguyễn Công Hoan là ở đâu và lúc nào ông cũng được quan tâm. Có thể nói ông là nhà văn chưa bao giờ bị lãng quên. Ông là người thường xuyên được nhắc nhở. Quả là trong làng văn Việt Nam hiện đại, người có vị trí như Nguyễn Công Hoan không phải thật quá hiếm hoi. Nhưng có người danh đang như cồn, bỗng bị quên ngay. Có người rất thực tài nhưng chịu rất nhiều thăng trầm. Có người chịu một số phận âm thầm thật lâu rồi mới sáng sủa dần lên. Còn ông, nhà văn Nguyễn Công Hoan thì lúc nào cũng là người hiện diện cùng độc giả. Tham gia cách mạng, hoạt động ở nhiều cương vị, cho đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp, trở về hòa bình, ông là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đầu tiên từ khi có Hội, năm 1957, cương vị ấy ở ông gợi nhớ chức danh Tổng Thư ký Hội Văn nghệ của Nguyễn Tuân trước đó gần một thập niên trong Đại hội lần thứ nhất Hội Văn nghệ Việt Nam. Những chọn lựa của lịch sử và nghề nghiệp quả thật là tinh. Nghề và nghiệp, danh và thực, quả đã tìm được sự hội tụ ở những người viết có bản lĩnh, có chân tài. Qua hai hiện tượng trên, ở hai cương vị đại diện: một cho chủ nghĩa lãng mạn, một cho chủ nghĩa hiện thực, tôi thấy thật thú vị về sự gặp gỡ của hai phong cách lớn trong văn học Việt Nam hiện đại.

Nhà văn Chủ tịch Hội Nguyễn Công Hoan đã khẩn trương trở về với vốn sở trường của mình qua một loạt các tiểu thuyết dài dồn dập, hơn bất cứ ai, trong giao điểm những năm 1950 và 1960: Tranh tối tranh sáng (1956), Hỗn canh hỗn cư (196l). Đống rác cũ, tập I (1963) như là một sự tổng hợp và nâng cao, trong quy mô sử thi, theo cách nói quen thuộc của chúng ta những năm trước đây, để có thể đồng thời diễn đạt cho được cả hai mặt: mặt tối tăm bi thảm và mặt cách mạng của cuộc đời cũ. Mặt tối tăm, dường như hầu hết những gì ông đã viết trước năm 1945 có thể xem là một tập đại thành; còn mặt sáng sủa, mặt cách mạng của xã hội cũ thì có dễ đến bây giờ ông mới có chủ trương và có quyết tâm trong một nỗ lực nhận thức rất cao. Còn nhớ có lần ông nói: “Tôi vẽ người xấu nhạy hơn người tốt. Bởi vì tôi vốn bi quan nên nhìn mọi vật bằng con mắt hoài nghi, chỉ thấy phía xấu. Phía xấu dễ nhập tâm hơn phía tốt”.

Vậy là có phải đến bây giờ mới là lúc ông thấy cần và ông có điều kiện thể hiện mình trên cả hai thái độ: phê phán và khẳng định. Nhưng gắn cho được cả hai mặt đó vào một chỉnh thể, sao cho nó hữu cơ, cho nó nhuần nhị, có nhân và quả, hoặc vừa là nhân vừa là quả, có quan hệ và tác động theo cả hai chiều, thật là cả một sự nặng nhọc. Ấy là chưa nói những đòi hỏi theo “phép biện chứng” ở người đọc, theo lý luận về hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi nhìn cuộc sống trong quá trình phát triển cách mạng và khẳng định mặt đang lên của hiện thực, phải đâu dễ đáp ứng được, nếu nó không tìm được lối thuận trong tạng của nhà văn.

Thiên chức nhà văn: nói cho toàn diện về hiện thực, hướng con người về phía cái tốt cái thiện, là câu chuyện ta từng bàn đi bàn lại, nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Ai cũng mong đạt cái đích cao và xa ấy. Nhưng đòi hỏi của cả một nền, cả một thời có khác với đòi hỏi riêng ở từng người. Và ở mỗi người, chuyện lực và tâm, và cả tạng nữa, có gắn bó hô ứng được với nhau không cũng còn phải tính. Một đời dài theo nghiệp văn, Nguyễn Công Hoan đã để lại cho ta một di sản lớn về nhiều mặt. Nhưng tôi lại nghĩ nếu Nguyễn Công Hoan biết chiều cái tạng riêng của mình và xã hội một thời dài cũng sẵn sàng chấp nhận, hoặc biết bao dung cái tạng ấy thì hẳn chắc sự nghiệp của ông còn lớn hơn, thậm chí lớn hơn rất nhiều. Ông cứ viết, tiếp tục với giọng trào lộng của riêng ông về cái cũ, cái ác trong xã hội cũ và cả về cái cũ, cái xấu trong xã hội mới nữa, cũng được chứ sao!

Chúng tôi là những người đọc hậu sinh trung thành và chuyên cần của nền văn chương quốc ngữ, chúng tôi càng quý trọng một trong những người đặt nền móng đầu tiên là Nguyễn Công Hoan. Cũng chính ông là người tiếp tục cần mẫn lần lượt vươn lên nhiều tầng giàn giáo của công trường văn xuôi quốc ngữ Việt Nam. Một công trường thật sự là đông đúc, nhưng những bậc thợ cả trong số đó như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam. Khái Hưng, Tô Hoài, Nguyên Hồng... thì quả chưa phải là nhiều. Còn chưa nhiều nên mới quý. Và càng quý khi tất cả họ, khi trong con số ít ỏi ấy ở họ, lại là những chân dung rất khác nhau, những gương mặt hoàn toàn không lẫn vào nhau. Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn luôn nhớ đến một tiếng cười riêng, tiếng cười Nguyễn Công Hoan, tiếng cười gây cười, lập tức làm ta bật cười, cười không cản được, cười to lên hoặc tủm tỉm, nhưng rồi sau đó là một vị chát có lúc như nghẹn đắng, có lúc làm cay nơi mắt ta. Ngẫm ra thật là “sợ” cho ngữ ngôn, cho văn tự, cho chữ nghĩa Nguyễn Công Hoan: Oẳn tà roằn, Ngựa người và người ngựa, Báo hiếu - trả nghĩa cha, Cô Kếu - gái tân thời, Thế là mợ nó đi Tây... Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn thấy sống động cả một thế giới người thật đông đúc và cũng thật là lúc nhúc trong văn ông: những phu phen, thuyền thợ, dân quê; những địa chủ, lý dịch, cường hào; những nghị viên, dân biểu, quan lại (huyện, phủ, bố, án, tuần...); những ký, lục, phán, tham; những con buôn, tư sản, chủ thầu; những giáo chức, nghệ nhân, viết văn, làm báo; những me tây, cô đầu, kép hát; những gái điếm, con sen, thằng nhỏ; những “ván cách”, lính cơ, thày quyền; những bồi, bếp, tây trắng, tây đen... Nghĩ đến Nguyễn Công Hoan tôi nghĩ đến cả một gia tài truyện ngắn thật đồ sộ mà ông để lại; và truyện ngắn - đó mới chính là sở trường của ông, trào phúng mới là giọng điệu của riêng ông. Một thứ trào phúng rõ ràng là bắt nguồn từ gia tài dân gian và cổ điển, nhưng vẫn là rất riêng của ông, không lẫn với ai, và không ai bắt chước được.

Thế kỷ XX rồi sẽ ghi nhận tên tuổi Nguyễn Công Hoan - tác giả của hàng trăm truyện ngắn sáng giá - là người hiếm hoi, cùng với Nam Cao, Thạch Lam có công đưa thể loại dễ mà khó này lên một tầng cao thật siêu việt. Là người có một tiếng cười riêng thật đặc sắc trong một bối cảnh vốn lúc nào cũng rất cần có tiếng cười. Một cuộc sống tối tăm đau khổ, thật đáng khóc như cuộc sống trước năm 1945, vẫn cần có tiếng cười; đã có một chuỗi cười dài trong Số đỏ, lại có tiếng cười của Nguyễn Công Hoan, cùng tiếng cười trong thơ của Tú Mỡ, Đồ Phồn. Cuộc sống mới sau năm 1945, dẫu có nhiều niềm vui lớn, đâu phải đã hết cần đến tiếng cười phê phán. Cái lý đó và sự thật đó, phải chăng ta nhận ra khá muộn, khiến cho một người biết cười, một người dám cười như Nguyễn Công Hoan thật đáng giá, thế nhưng lắm lúc ông đã phải nghiêm trang. Nguyễn Công Hoan, trong cả đời văn nói chung là một người may mắn, nhưng ông cũng có đôi lúc không may. Dẫu thế, trong di sản của ông, bên những thứ đã bị quên, có nhiều giá trị sẽ là bất tử.

Thái Hà, tháng 2/1993






Thứ Năm, 2 tháng 1, 2025

Nhà văn Việt Nam đầu tiên viết những mánh lới ma mãnh trong vấn đề “huy động vốn” là ai ?


Nhà văn Việt Nam đầu tiên viết những mánh lới ma mãnh trong vấn đề “huy động vốn” là ai ?

Lê Minh Quốc


Đó là nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977). Từ thập niên 1930, ông đã viết truyện ngắn Bạc đẻ đăng hai kỳ trên Tiểu thuyết thứ bảy: Ông Cửu Ấu ở trọ nhà ông Trưởng Sắc có hành tung rất khả nghi, xài tiền như nước, thường hay vắng nhà.
“Song hễ ở nhà thì ông ta hay mượn chiếc chậu thau đồng lên buồng làm gì, để hàng hai ba tiếng đồng hồ, rồi khi dùng xong thì tự tay đem ra ao, lấy trấu và cát đánh cho thực sáng rồi mới đem trả. Ông ta có một tính khác người thường, là hễ ở nhà, thì không thích cho ai lên buồng riêng của mình. Có một lần ông đã mắng đứa đày tớ vô ý trước khi mở cửa vào, không đánh tiếng hoặc gõ cửa. Nhưng khi ông đi vắng thì tha hồ, ai vào cũng được, tuy đồ đạc, quần áo ông để bừa bãi, mà có một lần ông Trưởng sợ quá, cái va li của ông Cửu, trong để rặt những đồng bạc, mà ông quên không khóa”.
Rồi trong một lần chè chén say sưa, ông Cửu “vô tình” cho ông Trưởng biết là mình đang nắm giữ “công nghệ” làm cho bạc đẻ thêm nhiều, cứ một đồng thì đẻ ra một đồng! Mà bạc nó cũng ở cữ nên ông phải đi xa khi nó thụ thai, nếu ở gần thì bạc tịt lại, không đẻ được gì cả. Nghe “nhỏ to tâm sự” như thế, ông Trưởng nổi máu tham, đưa tiền cho ông Cửu làm cho bạc đẻ và đúng như vậy. “Tiếng lành đồn xa”. Sau đó, cả làng đều biết chuyện và ùn ùn đưa tiền cho ông Cửu.
“Cả làng, từ ông già cho chí trẻ con, ai cũng tấp nập rủ nhau đến nhà ông Trưởng để đưa bạc đi đẻ. Thôi thì có bao nhiêu bạc giấy, hào, xu, họ đổi thành bạc đồng và đánh cho thật bóng nhoáng. Ông Cửu mỏi tay biên sổ trong hai ngày, vì từ thằng khố dây trong làng, cũng cố cầm cố bán chác đồ đạc trong nhà để kiếm vài đồng bạc trắng. Ông chánh Bá, giầu nhất tổng, đưa đẻ hẳn năm trăm, mà còn tiếc vì vội quá, không kịp bán nốt mấy chục mẫu ruộng, ông lý Thới, ông lý Sang, ông phó Ung, ông cả Sích, vân vân, và những nhà có máu mặt, đều cùng nhau đưa hàng trăm; còn hạng đưa hàng chục, hàng đồng, thì tên biên vừa đen kịt hai mươi trang giấy. Khi cộng sổ, ông Cửu phải lắc đầu lè lưỡi nói với ông Trưởng:
- Sáu nghìn bảy trăm sáu mươi tư đồng, chà! Có lẽ tôi phải lánh đến bảy tám hôm chắc!
Ông Trưởng cười gượng:
- Chúng tôi chỉ dám phiền ông có lượt này nữa thôi đấy ông chịu khó vậy.
- Vâng, tôi có dám phàn nàn đâu!
Vừa xẩm tối, mọi người đã chen chân nhau vào nhà ông Trưởng để được xem phép lạ. Nhưng họ có được trông thấy gì đâu, vì phải đứng cả ở ngoài sân, mà ông Cửu thì ở tận trong buồng để làm việc. Hàng năm sáu giờ đồng hồ sau, bỗng ông Trưởng, vẻ mặt quan trọng như ông tướng chạy ra hè hô lớn:
- Bây giờ ai phải về nhà nấy để bạc dưỡng thai. Cấm không ai được dòm, vì nếu có hơi người lạ thì bạc tiểu sản, biến ra bùn mất cả. Ai không tuân lệnh mà làm hỏng mẻ này thì phải đền sáu nghìn bảy trăm sáu mươi tư đồng, một thành hai!
Mọi người thấy câu nói đều sợ thiệt đến của riêng, bèn kéo ồ cả ra về. Độ năm phút sau, sân nhà vắng vẻ, ông Cửu đi dò la chung quanh hàng rào, rồi một mình khênh bạc ra vườn, lúi húi làm nốt công việc.
Lúc chôn xong thì vừa hai giờ sáng, ông Cửu mệt nhoài, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, nhưng theo phép, ông phải lánh xa chỗ bạc dưỡng thai, nên ông vội vã khăn áo ra đi, và dặn lại ông Trưởng:
- Bốn giờ kém năm sáng thứ bảy sau, tôi sẽ trở lại. Trong chín hôm tôi không có đây, ông phải cấm không cho ai lai vãng ra vườn nhé!”
Thế là sau khi cầm gọn một số tiền lớn, ông Cửu... biến luôn!

Rõ ràng cái mánh này vẫn còn được các “đại gia” ngày nay áp dụng nhưng tinh vi hơn bội phần. Đó là các trường hợp tiêu biểu như Lâm Cẩu, Nguyễn Văn Mười Hai, Huỳnh Là v.v... đã huy động vốn trong nhân dân để kinh doanh với chiêu bài trả lãi suất cao hơn ngân hàng gấp nhiều lần, nhưng thật ra họ chỉ lấy tiền... người trước trả cho người sau! Đến khi đồng loạt các con nợ đến rút lại tiền mà các “đại gia” đã huy động thì... “bể mánh” là lẽ tất nhiên!
Và thêm một điều thú vị khác của truyện ngắn này, là khi ta liên hệ với hai vụ lừa đảo có “tầm vóc” xuyên lục địa vừa mới xẩy ra gần đây tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 3.1998, hai tên tội phạm quốc tịch Camơrun đã dùng “chiêu bài” rất hấp dẫn... “biến giấy trắng thành đô la”! Chúng đã lừa và “ẵm” trót lọt của ông Trần Chính Hưng - một doanh nhân người Hoa ngụ tại quận 5 là 100.000 USD.

Tương tự như vậy, vào ngày 15.7.2003, hai đối tượng tội phạm khác cũng quốc tịch Camơrun là Lata và Simo đã tìm đến ông Long - một Việt kiều đang làm ăn tại Việt Nam. Sau khi giả vờ trao đổi về một số phương thức để hợp tác kinh doanh thì chúng tiết lộ với ông Long rằng, chúng có một số lượng ngoại tệ rất lớn ở nước ngoài đã đưa vào Việt Nam. Do số tiền lên đến hàng triệu USD nên không thể đưa vào một cách hợp pháp, vì vậy, chúng phải ngụy trang bằng cách nhuộm trắng toàn bộ số đô la trên giống như những tờ giấy trắng và đóng thành một “kiện hàng”. Tuy nhiên, hiện chúng không đủ tiền mua một hóa chất đặc biệt để “tẩy rửa” toàn bộ “kiện hàng” này thành đô la. Nếu ông Long đồng ý cho chúng mượn tiền, thì sẽ được “trả công” 50% trong tổng ngoại tệ mà chúng đang có! Lời đề nghị quả là hấp dẫn. Để đưa “con mồi” vào tròng, chúng đã dẫn ông Long lên một khách sạn để tận mắt chứng kiến... “công nghệ chế biến đô la”! Qua một màn phù phép, chúng đã tặng không cho ông Long 5 USD xài chơi! Tin thật, ông Long đã cho chúng mượn trước 30.000 USD, nhưng với tinh thần cảnh giác nên cùng lúc ông đã bí mật báo cho công an. Lúc 16 giờ ngày 17.7.2003, tại một địa điểm trên đường Nguyễn Đình Chiểu - nhà riêng của ông Long, hai tên tội phạm này đã thao tác “tẩy rửa” 200.000 USD nhuộm trắng thành đô la thật.
Loại hóa chất mà chúng sử dụng thật ra rất đơn giản - sau này theo giám định của Bộ Công an - chúng hòa tan iốt, tức loại thuốc sát trùng rất rẻ tiền, có bán tại các nhà thuốc tây trong cồn ở nồng độ cao để trở thành dung dịch có màu nâu đen. Khi thả những giấy trắng được cắt bằng kích cỡ của tờ đô la thì chúng cũng “nhanh tay lẹ mắt” thả luôn vào tờ đô la thật. Tất nhiên cả thẩy đều bị nhuộm nâu đen. Xong, chúng vớt những tờ đô la thật bỏ vào trong xô nước có pha sẵn xà phòng, thì những tờ giấy bạc này trở lại sắc màu như cũ. Trò ảo thuật đã khiến người ngoài cuộc tưởng hóa chất đã tẩy rửa những tờ giấy bạc bị nhuộm trắng thành đô la thật. Quá trình thao tác này nhanh đến mức dù tận mắt chứng kiến, nhưng khó ai có thể phát hiện ra trò đánh tráo này. Khi Lata và Simo xếp từng tờ đô la “bàn giao” cho ông Long thì cũng là lúc công an ập vào bắt quả tang và giám định toàn bộ số tiền trên là... tiền giả!

Thì ra, với truyện ngắn “Bạc đẻ” nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng đã “dự báo” một cách tài tình những thủ đoạn lừa đảo của bọn tội phạm quốc tế trong thời đại mà chúng ta đang sống.



Lê Minh Quốc





PDF

Nghề làm xe tay


Nghề làm xe tay

Lê Minh Quốc


Người phu kéo xe do nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc vẽ
(báo Le Paria số 5 ra ngày 1.8.1922).


Có lẽ Tú Xương là nhà thơ trước nhất đưa chất liệu thực tế vào thơ: “Ông chồng thương đến cái xe tay”. Trước kia các quan nước ta thường đi ngựa, đi võng hay đi cáng. Sau Đốc lý Hà Nội Bonnal mua được bên Nhật Bản hai cái xe tay, một biếu quan Tổng đốc, một để dùng. Về sau, năm 1884, ông tham tá nhà Đoan là Ulysse Leneveu dù hưu trí, nhưng chưa vội về cố hương mà ở lại Hà Nội để kinh doanh. Ông sang Hồng Kông mua được 6 chiếc xe tay, vừa để cho thuê, vừa mướn thợ Việt Nam căn cứ vào mẫu mã có sẵn để sản xuất thêm. Mãi đến ngày 24.3.1887, ông Leneveu mới có được hơn 100 chiếc xe để cho thuê. Từ đó những người thợ của ta đã làm xe cho ông Leneveu cũng bắt đầu sản xuất loại xe này, hầu hết xe tay dùng bánh sắt. Chỉ có quan tuần vũ, quan tây mới dùng loại xe bánh cao su- mà người lính kéo thường mặc áo “kép nẹp”, đầu đội “nón gù”, đi chân không. Rồi mãi đến năm 1932 mới có tập phóng sự Tôi kéo xe của nhà báo trứ danh Tam Lang (Vũ Đình Chí) ra đời - mở đầu cho thể loại viết phóng sự ở Việt Nam. Nhân đây, ta đọc lại một đoạn ngắn trong tập phóng sự này. Một người “cựu binh” trình bày “kỹ thuật” kéo xe cho người mới vào nghề:
“- Kéo xe cũng là một nghề. Đã đành cầm đến cái tay gỗ thì ai cũng kéo, ai cũng đi, nhưng phải kéo làm sao, đi làm sao cho đỡ vất vả.
Tôi chắc bác chạy một cuốc xong, thể nào bác cũng phải thở dốc một hồi, lúc mới buông hai chiếc tay xe ra. Thế là không biết kéo rồi, người kéo thạo tuy cũng thở, nhưng không phải thở dốc ra như thế.
Làm cái nghề chạy quanh năm suốt ngày này, người đã không thể nhớn lên được, cứ cọc dần đi, nếu không biết chạy mà lần nào cũng thở hồng hộc như bò thì phổi mình phải yếu dần đi, rồi đến mắc ho mắc xuyễn. Ăn đã chẳng có gì béo bổ, ở cũng ở chui ở rúc, lại còn dãi gió dầm mưa, phơi sương phơi nắng, đến đá cũng phải ốm, đừng nói là người. Nhưng giời đã đầy vào kiếp ấy, cũng chẳng chống lại được với giời! Biết giữ được phần nào, hãy cứ hay phần ấy.
Nói đến đấy, chẳng biết cảm động thế nào mà anh Tư nhỏm dậy, cầm tích nước, tu thẳng một hơi.
Bây giờ thì anh ta ngồi, nhón chiếc kẹo bỏ vào mồm, nhai rau ráu rồi lại nói:
- Cầm hai chiếc tay xe lên, phải liệu xem khách ngồi chiều nào, định trước cho cân rồi hãy chạy. Người ta ngồi ngả vào đệm dựa, thì phải cầm dài, ngồi giữa đệm thì cầm giữa càng; ngồi tì đệm tai (hai cái đệm con để tựa khuỷu tay) thì cầm ngắn.
Trước khi chạy, phải dún càng xe lấy mực rồi hãy bước. Cầm tay xe, không nên cầm tay dài tay ngắn, vì lúc chạy ngoắt đường này sang đường khác, đà xe đang mạnh, mình giữ không vững, xe phải lật nghiêng.
Không nên ăn no, phải thắt chặt dây lưng; thắt lưng không chặt thì ruột vặn từ rốn đưa lên; ngon miệng ăn no thì bụng xóc. Lúc chạy, phải mím môi lại, chỉ được thở đằng mũi, đừng thở đằng miệng. Cầm hơi như thế, sức bao giờ cũng mạnh; hễ há hốc luôn miệng mà thở là thấy mệt liền. Giữ như thế cho đến lúc thật tức hơi thì há mồm thở phào ra một cái thật mạnh rồi lại phải mím miệng lại liền; lấy hơi vào, phải thở luôn bằng mũi. Xe dừng lại, khách xuống rồi, bấy giờ tha hồ thở, nhưng không nên ngồi nghỉ ngay. Phải bước một mà đi cho chân khỏi chồn, lúc thuận chân hãy ngồi nghỉ lại. Quạt cho ráo mồ hôi rồi hãy uống nước; uống nước vội vã chẳng đỡ khát, lại thêm mồ hôi...’’
Bài học vỡ lòng ấy, anh Tư giảng giải cho tôi nghe làm nhiều đoạn, nhiều hồi.
Mỗi điếu thuốc là một cái chấm xuống dòng. Mỗi chiếc kẹo là một cái chấm phẩy!”.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan có viết truyện ngắn “Người ngựa ngựa người” mà nhân vật chính cũng là người kéo xe... Riêng thi sĩ Tản Đà có viết “hài đàm” tựa “Cái đòn cán và anh phu xe” đọc thấy chua chát trong cái buổi giao thời thuở ấy:
“Có một anh phu xe nguyên ngày trước là phu cáng chuyển nghề. Từ ngày đi làm xe, anh ta hay học đòi nói năng kiểu mới. Một hôm anh ta định đem đòn cáng chẻ thành củi và nói rằng:
“Trước ta làm cùng mày thì hai đứa chỉ khiêng được một người mà cũng ì ạch. Giờ ta làm xe , một mình kéo được hai ba người mà lại chạy nhanh. Thế là văn minh, tiến bộ hơn”.
Đòn gánh liền đáp:
“Trước cùng tôi anh chỉ phải khiêng một nửa người. Bây giờ anh phải mang nặng gấp 4, 6 lần. Vậy mà đời sống và phẩm giá của anh chẳng hơn gì trước. Vậy thì văn minh, tiến bộ là phải, nhưng nên tiến lên làm người ngồi xe, và đừng làm người kéo xe”:
Đời thế anh ơi, thế cũng khoe,
Hết trò phu cáng lại phu xe!
Văn minh chừng mấy ki-lô mét?
Tiến bộ như anh nghĩ chán phè.


Lê Minh Quốc

Cảnh phu kéo xe tay trước khách sạn Morin (Đà Nẵng) năm 1900.

Cảnh phu xe trước khách sạn Métrpole (Hà Nội) trong thập niên 1920.


PDF


Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2024

Tổ nghề đóng giày


NGUYỄN THỜI TRUNG, PHẠM THUẦN CHINH, PHẠM ĐỨC CHÍNH, NGUYỄN SĨ BÂN -
Tổ nghề đóng giày

Trong "Dấu ấn khơi dòng văn hóa Việt"
Lê Minh Quốc

Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2024

Xưng hô trong giao tiếp vợ chồng nông dân người việt


Xưng hô trong giao tiếp vợ chồng nông dân
người việt

(Trên cứ liệu một số tác phẩm văn học giai đoạn 1930 - 1945)

KHUẤT THỊ LAN
(ThS; Đại học Sư phạm II, Hà Nội)

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2024

Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2024

Nghe/Đọc Sách "Oẳn Tà Rroằn" - Tập truyện ngắn Nguyễn Công Hoan


Sách - Oẳn Tà Rroằn - Nguyễn Công Hoan

NXB Văn Học
2018




Thông tin chi tiết:
Nhà xuất bản: NXB Văn Học
Tác giả: Nguyễn Công Hoan
Năm xuất bản: 2018
Kích thước: 14,5 x 20,5 cm
Số trang: 220
Giá bìa: 49.000₫
Cân nặng: 200g
Oản tà rroằn là tiêu đề cho tập truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, do NXB Văn học ấn hành tháng 3 năm 2018. "Oản tà rroằn" tuyển tập 25 truyện ngắn đặc sắc của Nguyễn Công Hoan như: "Nhân tình tôi", "Oẳn tà rroằn", "Thật là phúc", "Lập-gioòng", "Nỗi vui sướng của thằng bé khốn nạn", "Xin chữ cụ nghè", "Thịt người chết", "Đàn bà là giống yếu"...v.v.
Nguyễn Công Hoan là nhà văn viết sớm, viết nhiều và là người đi tiên phong của trào lưu văn học hiện thực phê phán. Văn nghiệp của ông có tới gần 20 truyện dài và hàng trăm truyện ngắn. Với một số lượng khá lớn như vậy, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, hợp lại thành một bức tranh rộng lớn, khá đầy đủ về xã hội cũ. Truyện của Nguyễn Công Hoan thường rất ngắn. Lời văn khúc triết, giản dị. Cốt truyện được dẫn dắt một cách có nghệ thuật và kết cục thường rất đột ngột để hấp dẫn người đọc. Mỗi truyện như một màn kịch ngắn có giới thiệu, thắt nút và mở nút.





Mời nghe đọc tại YouTube - #nguyenconghoan
Nghe/Đọc Sách "Oẳn Tà Rroằn" -
Tập truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Diễn đọc: Khởi Nguyên

Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: Bích Thuận, Hồng Trinh, Phạm Hằng, Quỳnh Hoa, Cô Vân...
TT Truyện Internet Archive - mp3
1 Nhân tình tôi - (Hà-thành Nữ-Sỹ)
Diễn đọc: Hồng Trinh
2 Oẳn tà rroằn
Diễn đọc: Bích Thuận
3 Thật là phúc
Diễn đọc: Bích Thuận
4 Lập gioòng
Diễn đọc: Bích Thuận
5 Nỗi vui sướng của thằng bé khốn nạn
Diễn đọc: Bích Thuận
6 Chuyện chó chết
Diễn đọc: Cô Vân
7 Xin chữ cụ nghè
Diễn đọc: Bích Thuận
8 Kìa! Con… (Chiều khách)
Diễn đọc: Mắm Tôm
9 Ái tình tiểu thuyết
Diễn đọc: Quỳnh Hoa
10 Cái nạn ô-tô
Diễn đọc: Phạm Hằng
11 Tôi chủ báo, anh chủ báo, nó chủ báo
Diễn đọc: Khởi Nguyên
12 Cái lò gạch bí mật
Diễn đọc: Hồng Trinh
13 Nghĩ người ăn gió nằm mưa
Diễn đọc: Mắm Tôm
14 Đàn bà là giống yếu
Diễn đọc: Bích Thuận
15 Tinh thần thể dục (1)
Diễn đọc: L&H
16 Tinh thần thể dục (2)
Diễn đọc: Bích Thuận
17 Thịt người chết
Diễn đọc: Hồng Trinh
18 Giá ai cho cháu một hào
Diễn đọc: Hồng Trinh
19 Sáng, chị phu mỏ
Diễn đọc: Phạm Hằng
20 Chính sách thân dân
Diễn đọc: Phạm Hằng
21 Hai cái bụng
Diễn đọc: Cô Vân
22 Người vợ lẽ bạn tôi
Diễn đọc: Hồng Trinh
23 Một đám cưới
Diễn đọc: L&H
24 Công dụng của cái miệng
Diễn đọc: Quỳnh Hoa
25 Con ve
Diễn đọc: Hồng Ngọc


Mời Đọc/Lấy về Bản chụp dạng PDF


Thứ Bảy, 10 tháng 2, 2024

Anh Dụ



Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Kim Lê & Khánh Hoài



Mời đọc Bản đánh máy

Anh Dụ

Nguyễn Công Hoan
(1903-1977)





Trong Tuần báo Văn số 32 (13/12/1957): truyện ngắn: Nguyễn Công Hoan (Anh Dụ).



Trích (Tr. 698-704) "Nhớ gì ghi nấy" (NXB Hội Nhà Văn 1998 - PDF-SCAN)


2. Mời đọc Bản đánh máy
3. Mời đọc Bản chụp dạng ảnh
4. Mời Đọc/Lấy về Bản chụp dạng PDF
5. Tham khảo: Các bài viết liên quan

Mời đọc Bản chụp dạng ảnh


Mời Đọc/Lấy về Bản chụp dạng PDF
Tham khảo: Các bài viết liên quan
Anh Dụ Trại giam hôm nay có thêm một người khách. Điều làm cho nhiều người ngạc nhiên là người khách mới không có vẻ gì buồn rầu bỡ ngỡ sợ sệt đến ủ rũ như những người mới bị tống giam khác. trái lại khi tên lính Nhật mở cánh cửa sắt và ấn anh ta vào thì cái con người trạc 30 tuổi sương sương có đôi mắt nhanh nhẹn ấy đứng sừng sững tủm tỉm cười nhìn một lượt khắp trại hết người nọ đến người kia như để tìm những mặt quen thuộc. Tự nhiên trong trại nổi lên một tiếng rì rầm rồi tên lính đi khỏi thế là dậy lên một trận ồn ào giữa người mới và những người cũ. Họ nói to cười vang hỏi thăm nhau vui vẻ mừng rỡ như những bạn cũ lâu ngày gặp nhau vậy.
Dụ Dụ Tiên sư thằng Dụ đã tái hồi Kim Trọng rồi Tại sao thế mày Dụ là người khách mới nhỏn miệng cười nhận ra từng người quen một anh ta gật đầu lia lịa để chào và nói Lâu lắm là đến mai tao sẽ được tha. Lần này thì nói lạy giời lời lạy Phật thằng Lâm vào tống tiền nhà Xương Ký chứ không phải tao. Thế mà tiên sư chúng nó, chúng nó cứ bắt tao khó chơi quá phải tao vẫn lương thiện kia mà có phải không hở Tao thấy bạn giỡn Anh dụ phá ra cười rồi nói cho nên chúng nó không tha tao không xong không tha thì tao trốn tao bị bắt vào sở Mật thám lần này là lần thứ 18 về tội tống tiền rồi tao còn lạ đếch gì chỗ này Các bạn xúm quanh anh Dụ mỗi lúc một đông nghe anh kể tỉm mỉ vụ tống tiền tao đã dặn thằng Lâm rồi hễ nó mà bị bắt thì phải cung khai thế nào cho sở Mật thám phái người đến khám nhà để nhân lúc vắng vẻ mà đấm mõm cho Mạnh tụi chó săn thì thế nào cũng được tha ngay hôm sau Lâm bị bắt và hôm sau nữa quả nhiên Lâm được tha nhưng anh dụ vẫn bị giam anh sốt ruột lắm Anh đoán là bọn ăn tiền muốn tha cho Lâm Tất phải gắn cái tội thủ phạm cho anh anh càng tức cho nên từ hôm đó mỗi lần tên mật thám khám nhà Lâm qua ngoài sân trại thì đứng trong trấn song Anh dụ réo to bằng những tiếng nói rất chậm cụ Tiên ơi tại sao thằng Lâm là thủ phạm vụ tống tiền nhà Xương Ký thì cụ tha mà tôi thì cụ lại bắt hở cụ mỗi lần rêu dao như thế anh xi các bạn cười to lên lần đầu cụ tiên còn làm oai đứng lại quay vào phía trại quắc mắt nhìn nhưng lần thứ hai thứ ba cụ làm ra dáng bận việc lờ như không nghe thấy và lần thứ tư trở đi cụ cắm mặt Bước thật nhanh như chạy rồi sau lần thứ tám cụ Ê quá không dám vác cái mặt mo qua trại giam để nghe tiếng réo và tiếng cười nữa Rốt cục Anh dụ vẫn bị giam để phát biểu cảm thưởng về cái kế hoạch không thành quả. Anh nói ba tiếng rất cửa miệng tiên sư nó tôi nào cũng vậy Vào quãng 7 8 giờ anh em phạm nhân chẳng kể là tù chính trị hay tù kinh tế từng tốp túm tụm với nhau chuyện trò nở như cơm gạo vàng vì tôi thích biết những thủ đoạn ly kỳ nên tôi nhập bọn những tay tống tiền ra đời như anh Đại anh Tháp bây giờ thêm anh Dụ nữa tôi cho là một kho tư liệu rất phong phú để khai thác. Anh dụ quả là một tay tống tiền vào bậc thầy. Cái thành tích vĩ đại nhất của anh về nghiệp vụ là vụ tống tiền nhà hai người Nhật Bản hồi mùa hè năm ngoái, lấy được 49 vạn. Để chuẩn bị việc này, anh đã mất khá công phu. Hai người Nhật ở chung với nhau ở một cái nhà có gác, cách vườn hoa, xung quanh là tường có chấn song sắt. Họ nuôi một con chó bec-giê lớn, dữ như con hùm. Có hai người Việt Nam giúp việc cho họ, một người bếp và một người bồi. Vì tính người Nhật đa nghi nên người bếp chỉ được phép lên nhà trên có trong hai bữa cơm và người bồi thì buổi sáng khi họ dậy, cửa chính mở ra mới được lên lau dọn quét tước và mở các cửa, đến sẩm tối người ấy mới lại lên một lần nữa để quét tước lau dọn, rồi đóng các cửa. Ngoài những việc ấy, ban ngày, hai người bếp và bồi phải luôn luôn có mặt ở dưới nhà, còn ban đêm, ai có gia đình có thể về ngủ ở nhà mình. Vậy thì muốn tống tiền nhà này anh Dụ thấy có hai bước trở ngại, một là không biết két bạc này ở đâu, hai là làm sao mà quen được với con chó. Anh đã vượt những trở ngại ấy như thế này: anh ăn mặc như một người bếp, xách bị đi đứng chờ gần cửa nhà người Nhật. Người bếp nhà này ra, anh lân la làm quen. Hai người cùng nghề, đi cùng một đường ra chợ nên dễ hợp chuyện. Hôm sau anh lại đi cùng người bếp của người Nhật đến chợ. Anh thết người này một bát phở tái. Hôm sau nữa anh mua tặng bạn một bao thuốc lá thơm. Tình cảm có món quà như vậy đưa theo dễ trở nên mặn mà và thơm tho. Rồi nay thết, mai tặng, người bếp đâm nghiện anh Dụ. Khi anh Dụ đã chinh phục được lòng thân yêu của bạn, anh mới kể chuyện tâm tình, phàn nàn rằng chủ mình ác nghiệt, muốn thôi việc. Rồi anh sầu dầu nét mặt, nói bằng giọng tha thiết: giá tôi được cùng anh làm một nhà thì thú biết mấy. Thật ra người bếp cũng lấy làm thú nếu được gần gũi bạn hào phóng này. Dần dần anh Dụ nói xấu người bổi ở nhà Nhật Bản để tuyên truyền chia rẽ hai người. Ngày nào anh cũng nhồi vào sọ người bếp một ít ác cảm với người bạn đồng nghiệp vô tội: nào là nó khinh khỉnh, nào là nó ích kỷ, nào là nó xỏ xiên... Cố nhiên người bếp so sánh người bồi với anh Dụ quả là hắn không thiệp thời, không rộng rãi, không đúng đắn cũng không chân thành, không tốt với người và không dễ lợi dụng bằng anh bạn mới này. Vì vậy người bếp ghét người bồi. Hai người cãi nhau nhiều lần và khi anh Dụ xui người bếp bới lông tìm vết kẻ thù để nói với chủ thì anh ta nghe ngay. Quả nhiên không bao lâu người bồi phải đuổi và người bếp xin chủ cho anh Dụ vào thay. Anh Dụ rất chăm chỉ làm việc. Đối với con bec-giê anh làm cho nó nhận anh là tri kỷ bằng cách luôn luôn vuốt ve nó và cho nó những mẩu đường. Dạo ý trời nóng lắm, nhưng một buổi chiều, cơn dông nổi lên, mưa rào như chút nước, thời tiết trở nên mát mẻ và dễ chịu. Anh Dụ đoán thế nào đêm nay người sứ lạnh cũng phải mổ say ngủ bù những đêm trước phải trằn trọc với oi bức. Cơ hội đã đến. Chiều hôm ấy quét tước lau dọn xong anh đi đóng các cửa nhưng trừ một cửa sổ trông ra phía đường anh chỉ khép khít lại không vặn chốt cắm. Vào ngưỡng hai giờ sáng, anh trèo rào vào vườn rồi mở cái cửa không khóa để vào nhà. Anh rón rén lên gác nghe ngóng. Hai người Nhật ngủ trần chuồng trên hai chiếc vải giường chải xuống mặt sàn, cạnh mỗi gối là cái quần đùi và khẩu súng lục. Họ ngáy pho pho. Anh thó hai chiếc quần đùi giấu vào một chỗ kín, còn súng anh tháo đạn để trả lại chỗ cũ. Rồi anh xuống nhà dưới, mở két bạc. Vì làm nghề này lâu năm nên khóa két kiểu gì và cỡ nào anh đã biết lâu. Anh mở cánh cửa sắt không một tiếng động. Anh không ngờ trong két đựng lắm tiền thế. Anh đã vét sạch sành xanh những giấy từ 500 cho đến 1 đồng, còn giấy năm hào thì vô thiên lổng sợ lồng cổng quá anh đành bỏ lại. Về nhà, anh đếm được hơn 49 vạn. Anh cho vợ và các bạn mỗi người một ít rồi sáng hôm sau đem 30 vạn theo anh tuốt thẳng một mạch vào Sài Gòn. Ở đây anh nẫng một cô đầm lai và trẻ đẹp đưa nhau lên Đà Lạt, thuê một biệt thự xinh xinh để ở ba tháng ăn chơi thỏa thích. Anh tiêu hết 29 vạn, vì vậy anh phải lén về Hà Nội để lấy thêm tiền. Không ngờ vừa về nhà được vài hôm thì anh bị bắt. Sở Mật thám Pháp giao cho người Nhật. Anh bị đánh đòn thù thừa sống thiếu chết trong hơn một tháng, khắp mình mảy anh không có chỗ nào có thịt mà không thối khắm lên. Khi thấy trong người anh không còn chỗ nào hở ra để tra tấn nữa người Nhật trả anh cho tòa án. Tòa khép tội anh 5 năm tù. Anh bảo Tây với Nhật họ có ưa gì nhau cho nên thời Tây thì nên tống tiền Nhật mà thời Nhật thì nên tống tiền Tây. Lỡ có bị bắt tòa cũng xử nhẹ thôi không bao giờ nên tống tiền người Việt Nam vì người Việt Nam nghèo và nam quốc và nam quốc nam nhân với nhau lấy của nhau mình ăn tiêu không đang tâm. Cái thủ đoạn tống tiền và cái triết lý tống tiền của anh Dụ làm tôi không nỡ liệt anh vào hạng lưu manh tầm thường. Thật vậy anh không tầm thường đâu anh vẫn ức chế về việc bị bắt lần này sở Mật thám định gán cho tôi cái tội tống tiền nhà Xương Ký là chúng nó muốn bôi nhọ tôi. Anh Dụ bị giam ở Hòa lò Hà Nội được ba tháng thì đến ngày mùng 9 tháng 3 Nhật đảo chính Pháp. Trong lúc lộn xộn, anh cho là dịp may để chuồn. Anh vào nhà kho lấy bảy cái quần, năm cái áo mặc vào người rồi buộc chăn làm dây ch lên mái nhà giữ ngói nhảy truyền ra tường rồi đu sang cột đèn tụt xuống đất. Thế là xong năm năm tù. Ra khỏi ngục anh Dụ đi ngay Nam Vang. Anh cho là đất làm ăn của anh trong thời gian này chưa phải là cái tủ két nhà Tây hay là nhà Nhật, bởi vì chính quyền hiện nay còn nhập nhàng không rõ là nó sẽ về bọn lùn hay là lại ở trong tay bọn mũi lõ. Chi bằng trong lúc chờ thời, chắc chắn hơn hết anh hãy chịu kiếm ăn cò con bằng những món tiền nhỏ nhoi của bọn Tây moi của bọn Tây đen bán hàng bông bay ở Nam Vang từ trước đến nay, Tây đen vẫn là hạng người lép vế, không có thế lực nào che chở. Thành phố Nam Vang theo anh biết có tất cả 17 hiệu lớn của Ấn kiều bán tơ lụa. Anh tính rằng chỉ cần mỗi tháng anh rút nhẹ của mỗi nhà một cuộn hàng quý cũng đủ ăn tiêu phong lưu. Các hãng này thường chứa hàng ở trong kho mỗi năm chỉ có một lần tính toán sổ sách và kiểm soát hàng hóa cho nên khó lòng mà biết ngay được sự mất mát để truy người ăn cắp. và lại theo lần lượt mỗi năm rưỡi một cửa hàng mới cung phụng một cuộn thì đối với họ thấm tháp vào đâu. Muốn thực hiện được kế hoạch, anh Dụ cũng dùng thủ đoạn mua cuộc. Anh làm quen với một người Việt Nam làm công bán hàng cho một hãng lớn nhất anh đã dử cho người này bắt thân tình với một ả giang hồ có nhan sắc. Anh xui ả này đòi người yêu mua cho thứ nọ, mai đòi người yêu mua cho thứ kia để anh tung tiền ra cho gã si tình chiếm lấy trái tim móm đến khi anh biết hắn mê gái như điếu đồ có dứt cũng không ra anh mới lên giọng đạo đức mà khuyên can hắn bởi vì lương anh ít thế thì lấy gì mà cho cô ấy mãi tôi thu thực với anh là tôi cũng hết tiền rồi không thể giúp anh được nữa đâu cố nhiên hắn không nghe và đành một liều ba bảy cũng liều để chọn chữ thủy trung với người ngọc. Lúc đó anh mới bày kế: Thế thì có một cách để chúng ta có tiền tiêu, cách ấy tôi sẽ làm và chịu trách nhiệm. Nhưng tôi cần anh giúp. Việc anh giúp tôi không khó khăn gì đâu miễn là anh trố thấy tôi làm gì ở nhà chủ anh, anh cũng lờ đi kệ cho tôi làm, được bao nhiêu sẽ chia ba, tôi nhường cho anh một phần. Anh Dụ vốn biết lối sinh hoạt của người Ấn K Kiều sáng nào cũng vậy cửa hàng mở rồi nhưng vì lúc ấy còn ít khách nên thường thì chỉ có một người phụ cửa hàng ra coi hàng còn thì tất cả họ ở trên gác rửa mặt cạo râu đánh kem đánh sáp và ăn uống chán chê rồi mới xuống nhà làm việc nhưng lúc vắng này anh đưa một người con gái ăn mặc thật diện đím vờ mua hàng cốt để buộc chân người Ấn Kiều vào một chỗ còn anh đóng vai nhà tư sản vào chỗ Bày đồ tơ lụa quý giá để chọn khi đã tìm được cuộn hàng đắt tiền anh mới ra hiệu người con gái đang ngồi trên bục cạnh người chủ lúc ấy mới tấn công mạnh nào vỗ vai nào nắm tay nào quệt đùi nào cười nào liếc rồi lại ngồi sát lại cầm cuộn vải Tây thâm giơ lên trước mặt người chủ mở rộng ra coi xem xem vải này dày hay mỏng trong khi người Ấn Kiều ngây vì tình không còn nghĩ được gì lại bị màu đen che lớp mắt không còn trông thấy gì t anh Dụ cuỗm cuộn hàng và lỉnh ra phố song vốn là người quen kiếm ăn đại quy mô anh Dụ không thú cái lối làm tiền trẻ con này mất nhiều thì giờ mà lợi ích thì ít và anh cũng nhớ nước nhớ nhà nhớ bạn nên khi anh thấy dứt khoát là ở Đông Dương Người Nhật làm chủ rồi anh mới quyết định trở về Hà Nội tống tiền người Pháp không may cho anh vừa về nước đương để thì giờ nghiên cứu thì xảy ra vụ tống tiền nhà Xương Ký anh bị Sở Mật Thám chóp vào tủ một đêm khi tôi Đư ngủ bỗng cứ người nay vai tôi tôi mở mắt ra thì ra là anh Dụ tôi nhìn anh thấy vẻ mặt anh nghiêm trang khác thường tôi chưa hiểu anh có việc gì quan hệ định nói anh ghé vào tai tôi thì thầm anh phải trốn ra mới được chứ chịu giam đến bao giờ ở ngoài phong trào Việt Minh lên cao lắm anh có biết không câu hỏi làm tôi ngạc nhiên và phải suy nghĩ về anh vì chưa rõ bụng anh Dụ ra sao tôi vờ ngáy ngủ đáp ú ớ anh nói tôi mến anh tôi muốn rụ anh trốn với tôi tôi đi một mình cũng thế nên đưa anh ra thì thêm lợi Anh nghĩ sao tôi đáp một cách hững hờ trốn thì tôi cũng muốn nhưng chỉ sợ không thoát hình như biết tôi chưa tin anh anh nói sao lại không thoát Tôi đưa anh đi cơ mà anh đừng nghi tôi lừa anh tôi vào đây lần này là lần thứ 18 Tôi đã trốn chín lần rồi Ở đây đường đất thế nào Tôi thuộc như ở nhà biễn là làm sao ra khỏi cái cửa sắt của chạy ra còn khi đã ở ngoài sân Thì chắc chắn thế nào cũng ra được đến phố phía sau chạy này là nhà ô tô sau nhà ô tô có một bức tường thấp là ngõ Trạng Trình nhưng phải vượt qua bao nhiêu tầng dây điện kia mà dây điện thì đã có chăn để chồm không sợ bị giật Tôi sẽ dạy anh cách ném chăn dễ thôi Tôi sợ có tôi theo anh thì thêm thì thêm vướng cẳng Anh không Tôi bảo đảm cả hai đứa cùng thoát Dụ đã hứa là Dụ làm mà Dụ đã làm thế nào cũng được Nhưng làm thế nào mà ra được ngoài sân Tôi muốn ở trong này chơi với các anh em đến ngày nào thì tôi ở không muốn ở nữa thì tôi về tôi bị bắt từ sáng mùng 10 tháng 8 Tính ra được năm hôm rồi Tôi định đêm 20 thì về rồi anh chỉ cho tôi bốn cách để ra nếu cần đi ngay ngày mai thì ta phải cần nhiều người giúp sức chờ đến tối thằng nế Nhật mở cửa vào trại thì vài người ôm lấy chăn trùm vào đầu nó ôm gì lấy nó làm cách này thì nhiều người chạy thoát nhưng rồi nó khủng bố khổ cho những người không dám trốn Còn ở lại Cách thứ hai là làm mềm chấn song sắt ở cửa sổ bằng muối và chanh rồi lấy tay bẻ cho nó rộng ra muối thì ta có sẵn rồi chanh thì ta nhắn người nhà gửi vào ta phải lấy rẻ thật bẩn cuộn nó vào trong như điêu thuốc lá dài để cuốn xung quanh cái chấn xong ngày ngày ta vắt chanh vào chất muối và chanh sẽ ăn sắt rất nhanh Sở dĩ cần rẻ bẩn là để người khác thấy tởm mà khỏi đứng gần rồi buồn tay táy máy tháo vứt nó đi Cái thứ ba là đánh một cái chìa khóa để mở cửa trại tôi làm nghề này nên thoáng một cái là nhận ra ngay cái chìa khóa trại kiểu gì to nhỏ thế nào Tôi đã bảo thằng Lâm được tha về nó đánh hộ tớm nọ thì đánh xong nhà tôi sẽ cho vào giữa Nắm Cơm thứ năm này gửi quà vào cho tôi còn cách thứ tư thì bí mật tôi không thể nói cho anh biết được ta sẽ ra bằng lối trong chuồng xĩ tôi bố trí xong 3/4 rồi từ tối hôm đó anh Dụ với tôi trở nên thân hơn mỗi lần tôi hỏi thăm tin chuẩn bị trốn thì anh đáp cứ yên chí nhất định tối 20 là tối 20 nhưng tôi không phải chờ đến ngày 20 mới ra khỏi trại gi ngày 18 người Nhật đã trả lại tự do cho tất cả các chính trị phạm mà chúng đã bắt thấy chúng tôi hớn hở Anh Dụ cũng vui vẻ nói tốt lắm Anh ra trước tôi ra sau rồi tiễn chân tôi Anh dặn thế nào ngày 21 Tôi cũng có mặt ở nhà rồi Tôi ở số tá phố C1 Anh nhớ đến chơi tôi nhé Tôi quyết đ n để đi theo Việt Minh ngày 19 tháng 8 nhân dân thủ đô Cướp chính quyền phóng thích cho tất cả các phạm nhân bị giam trong cái nhà tù của Pháp Nhật Thế là anh Dụ được về nhà sớm hơn một ngày tôi vẫn định đến thăm anh để biết thêm cả lối sinh hoạt hàng ngày trong gia đình của con người lưu manh không phải hạng tầm thường ấy nhưng một tin Đang ở báo cứu quốc mới xuất bản làm tôi bỏ ý định ấy có bốn người đi tống tiền bị công an của chính quyền nhân dân cách mạng bắt được trước khi ra tòa để chịu tội bốn người phải đeo biển số sau lưng giải dong khắp phố có một người báo y tên là dự Tôi đoán là anh Dụ ngựa quen đường cũ là thường trong khi trật tự an ninh chưa được ổn định thì thế nào bọn bất lương chả nhân dịp mà kiếm ăn Anh Dụ Tuy chỉ nói rằng chỉ tống tiền của Pháp của Nhật và bỏ nghề để đi theo Việt Minh nhưng biết đâu khi túng thiêu lại gặp cơ hội thuận tiện thì lòng tham trả xui cho con người không tầm thường trở nên tầm thường năm 1947 vào tháng 7 tôi đi công tác lên thị xã Bắc Cạn được nhìn phố xá nhà gạch còn đèn điện ngoài đường cán bộ các cơ quan đi lại tấp nập và người tàn cư buôn bán xầm uất Tôi thấy vui mắt nhưng rất ngại ngùng thế nào ở đây bọn Việt gian cũng trà trộn vào không ít tôi đưa nghĩ như vậy bỗng ở một hàng giài khát một người chạy ra ôm chầm lấy tôi giú lên gọi tên tôi và rất mừng rỡ Mùi thuốc lá thơm mà người ấy đương hút thoảng vào mũi tôi sau một dây hoa MT Tôi định thần lại ngay Tôi nhận ra người ấy là anh Dụ ngay lúc ấy tôi sực nhớ đến bài báo cứu quốc Hồi hai năm trước Người tống tiền thật tên là Dự Trăng hay chính là anh Dụ mà nay anh đã vượt ngục hai anh ta đã đổi nghề và theo Việt Minh thực Anh Dụ vẫn ôm lấy tôi dồn dập hỏi công tác ở đâu lên đây từ bao giờ tự nhiên tôi cảnh giác một người chuyên môn tống tiền tiêu xài coi của như giác bão mà đến hôm nay chưa dính tê mà đến hôm nay chưa dinh tê còn đứng ở Bắc Cạn làm gì cho ai anh ta tin tưởng gì ở cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ này khỏi phải trả lời câu hỏi của anh Dụ mà tôi cho là để moi sự bí mật tôi liền hỏi anh bằng những câu anh hỏi tôi thì anh mừng rỡ đáp Tôi bây giờ lái xe cho quân nhu anh ạ câu trả lời có vẻ khoe khoang làm cho tôi suy nghĩ anh Dụ đã theo Việt Minh làm công tác kháng chiến thật hay lợi dụng quân nhu để lấy tài liệu tin tức đổi cho giặc lấy thuốc Philip và cốc trứng đường anh mời tôi vào hàng để nói chuyện và theo lời anh thưởng thức phong vị thủ đô nhưng tôi nhớ ngay đến thủ đoạn mua chuột lòng người của anh ngày trước tôi thoái thác rằng bận và vội hẹn một lần khác Anh trỏ tay dặn cơ quan Tôi ở gốc cây bàng kia bây giờ tôi L B danh là dụng đời của dụng không phải đời của Dụ đâu anh nhá câu nói này của anh làm tôi không ân hận chút nào về cái thái độ lạnh lùng của tôi đối với anh tôi lạnh lùng là đúng Anh nói bỏ nghề theo Việt Minh lái xe cho quân nhu chẳng qua là anh tưởng tôi khờ khạo nên khuếch khoác để tôi tin chứ Bây giờ tôi có thể khẳng định rằng anh vẫn chỉ là một tên lưu manh cố tận thật thế Anh là cái thá gì mà phải dùng bí danh chẳng qua anh muốn giấu diếm cái tung tích của người mang tên là Dụ dụ trước cách mạng đã bị bắt 18 lần về tội tống tiền Dụ sau cách mạng vẫn làm Người tống tiền phải đi bêu phố phải ngồi tù và đã trốn ra khỏi cải hối thất thế thì đích xác Bây giờ anh làm do thám cho địch nay chưa bị lộ Anh còn ở Bắc Cạn nhưng biết đâu ngày mai ngày kia anh không vào thành với tây nghĩ vậy tôi đi thẳng vào công an thị xã báo cáo về anh Dụ để ti ấy theo dõi anh ta sau này anh Dụ thế nào là người ngay thẳng yêu nước vẫn theo đuổi công tác kháng chiến là Việt gian đã chỉ điểm cho giặc Pháp khi chúng nhảy dồ Bắc Cạn vào tháng 10 năm ấy và đã theo chúng vào thành khi chúng rút lui hay anh bị bắt trước chiến dịch Việt Bắc hoặc đã bị thủ tiêu trong chiến dịch này tôi cũng không biết nhưng tôi còn nhớ rằng ngày hôm ấy sau khi tôi tự đặt vấn đề Anh dụ và giải quyết bằng cách đi trình ti công an tôi được nhẹ nhõm thành thơi vui vẻ như ngày còn đi học vừa làm xong một bài tính đố khó vậy năm 1953 Một hôm vào sầm tối tôi đi công tác trên đường qua xã Dân Tiến thì bị lên cơn suốt rét run bắn cả người một bà thấy tôi vừa đi vừa rên mách tôi rằng cách đường cái rẽ vào một quãng có một nhà đồng bào tôi có thể xin ngủ nhờ Ở đó Đêm nay tôi theo lối rẽ quả có một nếp nhà lá trong có lửa l nói tôi gọi cửa một em bé Trạc 12 13 tuổi mở tấm liếp ra tôi hỏi thầy em có nhà không bác em đi họp xóm anh xin ngủ nhờ phải không anh cứ vào nhà em có một giường làm riêng cho cán bộ trọ Tối hôm ấy vì mệt và ly bì tôi ngủ thiếp một mạch đến sáng khi tỉnh dậy khát nước quá tôi ngóc cổ lên để nhìn chỉ toàn những khẩu hiệu dán ở lip không thấy một ai không có một tiếng động Bỗng có người đàn bà gọi ở ngoài đường anh giáo ơi tôi đi chợ đây có gửi mua gì tôi mua giúp ở ngoài vườn Tiếng Đàn ông đứng tuổi trả lời cảm ơn chị để phiên Sau hôm nay nhà còn rau biết rằng Chủ nhà là một ông giáo đương ở ngoài vườn tôi bèn ra để chào và cảm ơn giữa những luống cải luống diếp và luống hành xanh tươi có hai người ngồi quay lưng lại tôi em bé thì cúi xuống nhổ cỏ người lớn hẳn là ông giáo ngồi trên đôi nạng gỗ đứng lúi hối sới đất ông giáo này què chân đó là điều tôi vừa biết thêm Tôi chào để đánh tiếng chào ông giáo Ông chủ nhà quay ra nhìn tôi bỗng cả ông ta lẫn tôi chú mắt nhìn nhau và trong khoảnh khắc hai người nhận ra nhau cùng rú lên để gọi tên nhau và cùng nói tôi không ngờ là anh quả thực Tôi không ngờ người đứng trước mặt tôi hiện giờ lại là Anh Dụ anh vẫn sương sương hai mắt vẫn nhanh nhẹn thú thực rằng lúc ấy tôi tuy mừng rỡ nhưng rất sượng sủng bẽn lẽn còn anh Dụ thì vui vẻ cười khanh khách Anh lập cập chống nạn đứng dậy chập choạng suýt ngã tôi vội vàng chạy đến Đỡ lấy anh và ngắm cái chân cụt của anh Anh dụ không đợi tôi hỏi kể ngay chuyện của anh cho tôi nghe Ngày tôi gặp anh ở Bắc Cạn thì tôi lái xe cho quân Nhu đến tháng 10 năm ấy địch nhảy rổ tôi không trốn kịp nên bị bắt trong những ngày bị giam Chính mắt tôi được trông thấy chúng nó cướp hiếp đốt giết rất tàn ác dã man tôi trốn mấy lần nhưng không thoát đến khi chúng nó rút chúng nó bắt tôi tải những thứ cướp được về Hà Nội Hà Nội bây giờ còn vắng nên chúng nó cần lùa người vẻ dỗ dành cho C ăn việc làm vì sợ ta đánh úp chúng nó không dám đi thẳng đường xuống Thái Nguyên mà phải vòng sang Chợ Chu rồi từ chợ Chu lại đi xuôi giữa quãng đường này tôi đã trốn thoát Nguyên là đến Quảng nạp cả đoàn người nghỉ lại để ăn cơm như lúc chỉ có một người lính da đen canh giữ tôi bèn giả vờ đau bụng kêu rên nhăn nhó xin với nó cho vào rừng đi ngoài Thế là tôi chuẩn thẳng được thoát tay giặc tôi xin vào bộ độ chiến đấu để trả thù cho đồng bảo tôi đã được dự nhiều trận Nhưng đến Chiến dịch bên giới thì tôi bị thương nạng ở chân phải cưa đi Nói đến đây Anh Dụ đã đưa tôi vào đến trong nhà anh ngừng lại tìm ấm để Đôn nước trong khi ấy tôi đứng lặng nhìn anh từ nãy đến giờ Tuy tay tôi nghe anh Nhưng những chuyện tôi biết về anh phần phật Diễn lại trong óc tôi việc anh tống tiền nhà người Nhật việc anh lấy hàng của hãng ấn Kiều việc anh rụ tôi trốn trại ở trại giam sở mặt Thám việc anh hứa bỏ ng cũ để theo đuổi Việt Minh việc tôi cho anh là bị bắt vì tội tống tiền hồi tháng Tám năm 1945 việc Tôi đoán Anh ở Bắc Cạn làm gián Điệp cho địch và đến bây giờ việc anh đi bộ đội giết giặc t Hiến một chân cho tổ quốc tất cả những việc ấy hợp lại tách ra làm cho tôi vừa cảm phục anh và đồng thời vô cùng hối hận vì đã nhìn anh bằng con mắt nghi ngờ khinh bỉ đặt ấm nước lên bếp xong anh Dụ mỉm cười năm ngoái dã Dân Tiến đón thương binh vẻ nên tôi đến ở đây nhân dân đối với tôi tốt lắm thanh niên phụ nữ giúp tôi làm cái nhà này và vỡ cho tôi cái vườn này thành thử tôi tuy một mình mà không thấy lẻ loi bên cạnh tôi có vô số người gần gũi để giúp tôi làm lúc tôi thấy như không những còn nguyên cả hai chân mà lại thêm nhiều chân hơn để đi đứng nhanh nhẹn và vững chắc tôi xin được thằng bé này để nuôi cho vui nhà bố mẹ nó chết đói nằm Ất Dậu hai bác cháu tôi tăng gia manh vườn này cũng tạm đủ ăn để đáp lại ơn của nhân dân tôi dạy bình dân học vụ Thôi thì một một bên là cột chân một bên là m chữ cùng là nạn nhân của đế quốc thì cùng phải giúp nhau mới sống lành mạnh khỏe khoắn để đánh Tây chóng Thắng Anh Dụ chất thêm củi vào bếp còn tôi tôi bâng Khuông nhớ lại ngày gặp anh ở Bắc Cạn tôi có tự hỏi anh tin tưởng gì ở cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ này vì không thể trả lời được nên tôi đã nghĩ sai về anh mà nghi anh khinh anh đem tên anh đi vào sổ tình nghi của Ti Công an Bắc Cạn nhưng hôm nay thì tôi thấy câu hỏi ấy dù có trả lời cũng chưa thể cắt nghĩa hết lẽ cho tôi tin chắc chắn rằng là anh Dụ thay đổi kiên quyết muốn trở nên một người tốt phải đặt câu hỏi tựa vào lời nói gốc gác của anh từ ngày anh biết cái tin Sắp tổng khởi nghĩa Tôi quyết đổ nghề để theo Việt Minh gặp anh tôi sựong sùng bẽn lẽn hối hận vì tôi đã đối với anh rất quan liêu nhận xét phớt lớt hẹp hỏi cứng nhắc Giả sử hôm gặp anh ở Bắc Cạn hay ngay sau ngày anh được tha vào năm 1945 mà tôi không e ngại cứ nói chuyện với anh lâu thì không phải đợi đến ngày hôm nay là ngày tôi trông thấy anh là thương binh tôi mới yêu mới quý anh chất củi xong anh Dụ nhìn tôi bằng đôi mắt hãnh diện mỉm cười rồi nói tiếp giả sử ở Quảng nạp mà tôi không trốn thoát nhỉ tất nhiên tôi phải về Hà Nội và cuộc đời tôi lại xoay ra thế khác cố nhiên tôi không cụt mất một chân vẻ vang như thế này mà cả thể xác tôi bị bệnh hoạn như bẩn như cũ Bởi vì tất là tôi lại làm nghề tống tiền để tiêu xài Đế Vương sống Dưới chế độ thực dân ăn cướp người ta dễ trở thành ăn cắp và dễ trở lại nghề ăn cắp cho nên tôi phải trốn không thoát Lần này thì lần khác Nếu phải về Hà Nội cũng cố mà bỏ ra chứ sống thế nào được với chúng nó chỉ mới từ cách mạng theo Việt Minh tôi mới được h hưởng cái sung sướng sống bằng công lao của mình tôi thấy tôi sạch sẽ nhẹ nhàng thành thơi Tôi đã trở lại lương tiện thì tôi phải bám chắc lấy chế độ lương thiện đó nó đã tạo cho tôi thành Lương Thiện

Chủ Nhật, 14 tháng 1, 2024

Hành động nói gián tiếp thực hiện bằng hành động hỏi trên tư liệu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan


Hành động nói gián tiếp thực hiện bằng hành động hỏi trên tư liệu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

TS. Nguyễn Thị Thuận
(Đại học Hải Phòng)
ThS Nguyễn Thị Hồng Toan
(Trường THCS Nguyễn Đình Chiểu, Hải Phòng)

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2023

Tản Đà với “An Nam tạp chí” số Tết


Tản Đà với “An Nam tạp chí” số Tết

Khả Xuân


An Nam tạp chí xuất bản từ năm 1930, do nhà thơ Tản Đà làm chủ nhiệm và Ngô Thúc Địch làm quản lí. Báo khổ 22cm x 30 cm, mỗi số 8 trang. Báo chỉ ra được 48 số từ năm 1930 đến tháng 7-1932 thì đình bản, với lí do: vì báo thiếu tiền để in.

Trong 48 số trên, có 2 số tạp chí là số Xuân. Số 28 là số Tết Nhâm Thân 1932, in màu đỏ thẫm, được làm kỹ hơn các số thường chỉ in tuyền một màu đen.

Dưới măng-sét “An Nam tạp chí. Cơ quan thủ hiến của quốc dân” đặt ở trên, bên phải giới thiệu các bài viết chính, bên trái in cố định tấm bản đồ Việt Nam. Trên trang 2, dưới lá thiếp gấp góc, mang 4 chữ “Cung chúc tân niên”, Ngô Thúc Địch viết bài “Đưa mắt nhìn thế giới hiện tại và tương lai” dưới dạng tạp văn nhẹ nhàng, thỉnh thoảng chêm một vài câu tiếng Pháp minh hoạ. Đó là cách viết thời ấy. Cạnh đó, Vũ Long viết bài “Một bức bí thư” giúp bạn đọc hiểu rõ những điều ước về quyền lợi trong chiến tranh Trung – Nhật. Sau đó là một loạt bài mang hương vị Tết và Xuân.

Với đề dẫn “Ngày tết là ngày đáng mừng hay đáng lo?”, Nguyễn Duy Tường phân tích cái mừng và cái lo của người giàu, người nghèo, người trẻ, người già mỗi lần Tết đến. Thời xưa, không phải nhà nào cũng cái Tết như ngày nay, bởi vậy báo tường thuật buổi thành lập hội đồng Hội nuôi trẻ mồ côi, cơ nhỡ. Tuy cách viết đã cũ nhưng mạnh dạn và hóm hỉnh.

Truyện ngắn “Sĩ diện” viết vui. Nguyễn Công Hoan thuật lại, khi ông 18 tuổi, đi ô tô con từ quê ra Hà Nội để lễ Tết nhà người trong họ mùng 2 Tết. Anh lái xe thấy anh diện sang, lại nghĩ ông xưng là tham tá phủ Thống sứ (lúc ấy ông đang học trường Cao đẳng Sư phạm) thì rất trọng vọng, gọi ông bằng quan, nhưng ông phải dốc hết đồng ba tiền xe, lúc ấy không phải là món tiền nhỏ, chỉ vì…sĩ diện. Ở mục “Xã hội ba đào kí”, nhà văn lại ra mắt truyện “Tôi nói dối bà thì tôi làm kiếp…”, nhà văn mô tả cảnh đòi nợ, bắt nợ giữa lúc năm cùng tháng tận, rồi nhốt con nợ vào cũi khiêng đi.

Còn Tản Đà viết bài kí “Hội hoa đào”, kể rằng Tết Nhâm Thân, báo quán ở Hàng Khoai, người các làng đem hoa đào, hoa mai đến bán hai bên phố, rước đi rước lại qua toà soạn, ra đến ngã tư chợ Đồng Xuân đầu Hàng Giấy, chạy sang cổng chéo Hàng Lược, từ ngày 24 tháng Chạp ta. Cảm hứng trước cảnh đào nguyên ít thấy trong báo giới, Tản Đà ghi nhanh những áng văn lai láng tình xuân, và qua đó cho biết ông đã đăng trong mục “Văn đàn” bài thơ “Bức thư gởi người không quen biết” và bộc lộ: “Thư gởi đi rồi, khối tình ôm nặng, hồn còn phảng phất theo thơ”.
Tản Đà qua ký họa.


Trang thơ xuân có những bài thơ tết, đón Xuân và hai chùm thơ dịch từ thơ Đường (in chữ Pháp và Việt). Nhân dịp đầu xuân, Tản Đà bình hai bài thơ “Cảm đề” và “Chùa cổ” của 2 tác giả và nói lại những chỗ ông sửa lại cho hay hơn.

Từ chuyện kể về gia đình và cuộc đời văn hào, nhà tư tưởng Rút- xô, Nguyễn Tiến Lãng giới thiệu bản dịch “Lư thoa tự thuật”.

Về thể thao, báo tường thuật “Cuộc đời đánh vợt lớn ở Đông Dương” kèm theo ảnh 3 kiện tướng quần vợt: Giao, Dương, Bích nổi tiếng thời ấy.

Báo còn trang tranh vui, truyện vui về ông hai vợ, đều do họa sĩ Lemur (tức họa sĩ Cát Tường- người đã cải tiến chiếc áo dài phụ nữ như ngày nay) minh hoạ rất sắc sảo.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, Tản Đà nổi tiếng với nhiều văn tập, thi tuyển. Tản Đà còn nổi tiếng với nghề làm báo. Trong điều kiện còn nhiều hạn chế, chế độ kiểm duyệt hà khắc của Pháp, phương tiện ấn loát cũ kĩ, kỹ thuật trình bày đơn giản, lại không có phóng viên, hoàn cảnh kinh tế nghèo nàn, vốn đã mỏng, các đại lý nợ tiền, Tản Đà vẫn ra báo được, một lần đình bản, lại cố tái bản. Tấm lòng yêu nước của ông thể hiện qua tấm bản đồ Việt Nam trên trang bìa các số báo, lại được treo cao ở trước cửa tòa soạn. Mục “Xã hội ba đào kí” là chuyên mục đặc sắc nhất, tố cáo mạnh mẽ sự đàn áp, bóc lột của thực dân, phong kiến, và ngay cả ở số Tết này Nguyễn Công Hoan vẫn chỉa thẳng mũi nhọn vào bọn thực dân, bênh vực dân nghèo.

“An nam tạp chí” thời xưa của Tản Đà đã để lại cho làng báo ngày nay nhiều điều đáng suy nghĩ.



Khả Xuân








“An Nam tạp chí” Số 28 - số Tết Nhâm Thân 1932 (13/2/1932) - Bản PDF

Thứ Bảy, 18 tháng 11, 2023

Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan


Nghệ thuật tự sự trong
truyện ngắn Nguyễn Công Hoan



HÀ MỸ HẠNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
Người hướng dẫn: PGS.TS Hà Văn Đức

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ NỘI - 2009




Thứ Năm, 9 tháng 11, 2023

Nghệ thuật xây dựng tình huống trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan


Nghệ thuật xây dựng tình huống trào phúng
trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Nguyễn Thị Thanh Hương
ThS. Giảng viên Khoa Khoa học xã hội,
trường Đại học Hồng Đức.



Thứ Sáu, 1 tháng 9, 2023

Phong cách truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan


Phong cách truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan

Giáo án bài giảng Ngữ văn (CĐ-ĐH)



Chủ Nhật, 28 tháng 5, 2023

Tìm hiểu “Nông dân” (Balzac) và “Bước đường cùng” (Nguyễn Công Hoan) dưới góc nhìn đối sánh


Tìm hiểu “Nông dân” (Balzac) và “Bước đường cùng” (Nguyễn Công Hoan) dưới góc nhìn đối sánh

Đoàn Thị Huệ
Trường Đại học Đồng Nai
Email: doanhuedhdn@yahoo.com


TÓM TẮT
Nếu Honore de Balzac là nhà văn hiện thực lớn của nước Pháp thế kỷ XIX thì Nguyễn Công Hoan cũng là một trong những nhà văn tiêu biểu của trào lưu văn học hiện thực Việt Nam những năm trước cách mạng tháng Tám. Sự nghiệp văn học phong phú, đồ sộ của hai nhà văn bậc thầy chủ nghĩa hiện thực, luôn nhận được sự yêu thích, ngưỡng mộ của bao thế hệ độc giả. Bài viết này là một hướng nghiên cứu của tác giả trong việc tìm hiểu hai tác phẩm “Nông dân” (Balzac) và “Bước đường cùng” (Nguyễn Công Hoan) dưới góc nhìn đối sánh, qua đó xác lập điểm gặp gỡ thú vị giữa hai nhà văn lớn cũng như chỉ ra những đặc sắc làm nên giá trị riêng của từng tác phẩm.
Từ khóa: Balzac, Nguyễn Công Hoan, Nông dân, Bước đường cùng, chủ nghĩa hiện thực, đối sánh



1. Mở đầu
Quan tâm đến Honore de Balzac và những đóng góp của nhà văn cho nền văn học nhân loại, Đỗ Đức Dục trong Hônôrê Đơ Banzăc – một bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực đã viết: “Có thể nói Banzăc là người cách tân lớn nhất về thể loại tiểu thuyết của thời đại ông và chung cho cả châu Âu. (…) Không phải ngẫu nhiên mà Engel đã lấy Banzăc làm mẫu mực để đưa ra một công thức về chủ nghĩa hiện thực, làm kim chỉ nam cho chúng ta đánh giá một tác phẩm văn học hiện thực chân chính của quá khứ và cũng còn có giá trị cho cả ngày nay nữa” [1, tr. 122]. Cùng với đó thì trong hơn 50 năm cầm bút, Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) đã để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ. Ông là nhà văn tiêu biểu của dòng văn học hiện thực Việt Nam.

Không chỉ là nhà văn lớn của Pháp, Balzac còn là bậc thầy về chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam. Trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam những năm 1930 - 1945, do lệ thuộc Pháp về mặt chính trị, sớm tiếp thu và chịu ảnh hưởng văn chương Pháp nên một bộ phận lớn các nhà văn Việt Nam đã sử dụng thành thạo ngoại ngữ, nhất là tiếng Pháp. Nhờ thế, họ đã tiếp xúc với nguyên tác các tác phẩm văn học nước ngoài, lắng đọng tiếng vọng của trái tim nhân loại, để đồng điệu và sáng tạo.
Trong đó, sự ảnh hưởng của các sáng tác theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa của Balzac đối với một bộ phận nhà văn Việt Nam lúc bấy giờ, trong đó có Nguyễn Công Hoan là điều khó tránh khỏi.

Hơn nữa, con người dù thuộc bất kỳ dân tộc nào nhưng khi đạt tới một trình độ văn minh nhất định, khi được trời phú cho một tâm hồn nhạy cảm, với khả năng phát hiện, phản ánh hiện thực theo cái nhìn, suy nghĩ, tưởng tượng, tình cảm riêng thì đều có thể tạo nên những tác phẩm văn học đặc sắc. Nếu cả hai nhà văn ngẫu nhiên có cùng một cơ cấu tâm hồn, một khả năng nghệ thuật tiêu biểu thì trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể gần giống, họ có thể có những tác phẩm tương đồng ở mức độ nhất định. Đây cũng là hiện tượng có thật, thường thấy, không phải là không lý giải được.

Với cách hiểu đó, có thể thấy sự gặp gỡ của hai tác phẩm Nông dân (Balzac) và Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) là một trong nhiều trường hợp cụ thể như vậy. Bài viết này là một hướng tiếp cận của tác giả đối với hai phẩm trên dưới góc nhìn đối sánh, hy vọng qua đó, có thể chỉ ra được điểm gặp gỡ thú vị giữa hai nhà văn lớn cũng như những đặc sắc làm nên giá trị riêng của từng tác phẩm.



2. Nội dung
2.1. Cơ sở của sự so sánh
Chọn Nông dân (Balzac) và Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) làm đối tượng so sánh vì chúng tôi tìm thấy ở đây có nhiều điểm tương đồng cơ bản giữa hai tác giả và hai tác phẩm.
Một là về nguyên tắc sáng tác, Balzac và Nguyễn Công Hoan thuộc hai dân tộc, ở vào hai giai đoạn văn học khác nhau, nhưng cả hai đều là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực, có những nguyên tắc sáng tác cơ bản giống nhau.
Một trong những nguyên tắc cơ bản đó, theo cách nói của Engel, là: “Theo ý tôi, chủ nghĩa hiện thực đòi hỏi, ngoài những chi tiết chân thực là sự thể hiện chân thực những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình” [1, tr. 122].
Với bộ Tấn trò đời (nguyên văn tiếng Pháp là La Comédie humaine), Balzac đã trở thành một trong những đại diện xuất sắc nhất cho dòng văn học hiện thực chủ nghĩa Pháp thế kỷ XIX. Ngòi bút tả chân sắc sảo của ông đã đi sâu lật giở và phơi bày tất cả những gì là sự thật về đời sống xã hội. Đó là sự bóc lột của giai cấp tư sản đang lên, cuộc sống đói khổ của người dân lao động và cùng với đó là cuộc đấu tranh giai cấp làm nên những biến cố mang tính quy luật của xã hội đương thời. “Về nhân vật tiểu thuyết, Bandăc đã đạt tới tính cách hiển hình trong những hoàn cảnh điển hình” [1, tr. 133]. Tiểu thuyết Nông dân là một trong 137 tác phẩm trong bộ Tấn trò đời đồ sộ của Balzac. Tác phẩm này được viết vào giai đoạn cuối đời của Balzac, đánh dấu sự phát triển lên tầm cao mới về nhãn quan chính trị của nhà văn trước hiện thực xã hội tư sản Pháp, đồng thời góp phần xác tín một loại hình chủ nghĩa hiện thực Balzac vững chắc trong lòng bạn đọc.
Trong khi đó, trên diễn đàn văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, Nguyễn Công Hoan đã được đông đảo bạn đọc biết đến là một nhà tiểu thuyết tả chân bậc thầy. Với tập truyện Kép Tư Bền, Nguyễn Công Hoan là một trong những người khởi xướng, đồng thời cũng là người dựng cờ chiến thắng cho khuynh hướng văn học hiện thực trong khu vực văn học hợp pháp đương thời.
Ở tác phẩm Nguyễn Công Hoan, tính chất khảo sát phong tục có trong một bộ phận các tác phẩm của Balzac, cũng được thể hiện. Đó là những tác phẩm làm nổi bật sự bất công có tính chất giai cấp trong xã hội, sự xung đột giữa giàu và nghèo, sự đụng chạm giữa xấu và ác, sự giằng co lựa chọn giữa vinh và nhục trên mỗi nẻo đường đời. Đó là những Tấm lòng vàng, Cô giáo Minh, Lá ngọc cành vàng, Thằng ăn cắp, Bữa no đòn, Răng con chó của nhà tư bản…
Hai là về hoàn cảnh sống cũng như bức tranh hiện thực được phản ánh trong sáng tác của hai nhà văn, người viết nhận thấy ở đây có nhiều điểm tương đồng.
Trong sáng tác của Balzac, người đọc dễ hình dung sắc nét bức tranh xã hội Pháp những năm tiền cách mạng tư sản Pháp, năm 1789. Tiểu thuyết Nông dân (Balzac) là khúc bi ca cuối cùng cho bản trường hận ca Tấn trò đời của nhà văn. Tác phẩm đã vạch trần hiện thực xã hội Pháp với khối mâu thuẫn không thể điều hòa giữa giai cấp bóc lột (tư sản, địa chủ) và giai cấp bị bóc lột (nông dân), đồng thời chỉ ra bước đường cùng cho những sụp đổ, tan rã không tránh khỏi của xã hội thượng lưu Pháp giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX. Tương tự, sáng tác của Nguyễn Công Hoan là sự phản ánh chân thực của nhà văn về đời sống xã hội Việt Nam những năm trước cách mạng tháng Tám, 1945. Tiểu thuyết Bước đường cùng đánh dấu sự phát triển đỉnh cao về tư tưởng của Nguyễn Công Hoan và là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam những năm trước Cách mạng. Nhìn chung, đó là hiện thực về một xã hội đang bước vào cuộc biến động dữ dội với sự trở mình mạnh mẽ của giai cấp tư sản đang lên và sự tích lũy năng lượng chuẩn bị cho một cuộc đại cách mạng sau này của đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Không hẹn mà cùng, cả hai nhà văn đã sớm dự cảm được những biến động cách mạng rung chuyển thời đại tại xứ sở mình.
Ba là về đề tài mà cả hai tác phẩm cùng hướng đến. Đó là đề tài về người nông dân cùng khổ. Nhân vật trung tâm ở cả hai tác phẩm đều có thành phần xuất thân từ giai cấp nông dân lao động. Họ đều đã trải qua những năm tháng cơ hàn, chịu đủ mọi thiệt thòi từ giai cấp thống trị đương thời – quý tộc địa chủ và giai cấp tư sản đang lên. Đó là người nông dân sáng suốt như Fuốc-sông trong Nông dân của Balzac, là anh Pha trong Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan. Thông qua câu chuyện về cuộc đời cũng như con đường số phận của các nhân vật trung tâm ấy, Balzac và Nguyễn Công Hoan đã phản ánh chân thực số phận người nông dân cùng khổ, thấp cổ bé họng, chịu nhiều áp bức, thiệt thòi trước sự bóc lột, đè nén của giai cấp thống trị (quan lại, tay sai, tư sản, địa chủ…), bị đẩy vào “bước đường cùng”, không lối thoát.
Từ những cơ sở trên, người viết bước đầu tìm hiểu Nông dân của Balzac và Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan dưới góc nhìn đối sánh, nhằm tìm ra phần giao thoa thú vị giữa hai tác phẩm cũng nét đặc sắc riêng của từng bậc thầy chủ nghĩa hiện thực.



2.2. “Nông dân” (Balzac) và “Bước đường cùng” (Nguyễn Công Hoan) dưới góc nhìn đối sánh
2.2.1. Về hoàn cảnh sáng tác
Nông dân (Balzac) được xuất bản năm 1845, trước Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), năm 1938, gần một thế kỷ. Nhưng ứng với điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng môi trường xã hội mà nhà văn đang sống thì môi trường xã hội tổng thể mà cả hai tác phẩm đề cập đến có nhiều nét cơ bản giống nhau. Đó là xã hội nông thôn bắt đầu có sự phân hóa giai cấp, tiền đề cho những khối mâu thuẫn giai cấp phức tạp sau này. Giai cấp tư sản đang lên, bộc lộ dần những mánh khóe gian ngoa đối lập với lợi ích chính đáng của đại bộ phận nông dân nghèo khổ lúc bấy giờ.
Balzac đã vô cùng bức xúc trước hiện trạng trên. Nguyễn Công Hoan cũng đã không ngoại lệ.
Giới thiệu tác phẩm của mình, Balzac viết: “Tôi nghiên cứu bước đi của thời đại mình và cho xuất bản cuốn sách này”. Khi ấy, tác giả viết lời đề từ cho tác phẩm là “Ai có đất người đó có chiến tranh” [2, tr. 3].
Còn Nguyễn Công Hoan, ông có 16 ngày để hoàn thành Bước đường cùng.
Khi dạy học ở Nam Định, Nguyễn Công Hoan đã viết nhiều truyện ngắn hiện thực xuất sắc thể hiện quan điểm tiến bộ, đứng về phía người nghèo khổ và đã được các nhà phê bình Mác xít khen ngợi.
Khi ấy chính quyền thực dân nghi ngờ ông là phần tử cộng sản nguy hiểm. Nguyễn Công Hoan đã nghĩ: “Ừ, ông cộng sản đấy” và lao vào viết Bước đường cùng trước là để “trang trải món nợ lòng đối với anh em cộng sản ở Nam Định” và sau là để giải tỏa một tâm trạng phẫn uất, một tinh thần chiến đấu bằng ngòi bút của tác giả với chủ nghĩa thực dân lúc bấy giờ.
Có thể nói, hai tác phẩm Nông dân (Balzac) và Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) ra đời trong hai thời điểm khác nhau, ở hai đất nước khác nhau nhưng lại có sự tương đồng ở bối cảnh không - thời gian tác phẩm ra đời, cũng như ở mảng hiện thực mà cả hai tác phẩm cùng phản ánh. Đó là hiện thực xã hội thực dân nửa phong kiến, đầy bất công cám dỗ. Ở đó, thế lực kim tiền lên ngôi, đạo lý sống giữa người với người bị đánh mất, người nông dân chật vật với miếng ăn, thuế khóa, dịch bệnh hoành hành cùng âm mưu cướp đất ngày càng tinh vi của giai cấp tư sản, địa chủ tham lam, gian xảo.



2.2.2. Về phương diện ý nghĩa của tác phẩm
Nông dân (Balzac) và Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) thể hiện cái nhìn thấu đáo của nhà văn về sự thật hiện thực cuộc sống nông thôn trong tổng thể chung của xã hội đương thời. Lịch sử xã hội được nhà văn tái hiện trong tác phẩm không khác gì với những gì đã diễn ra trong bối cảnh xã hội Pháp và Việt Nam lúc đó. Ở đó, đang hiện tồn khối mâu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế giữa các tập đoàn giai cấp: quý tộc địa chủ, tư sản, nông dân.
Nông dân (Balzac) bắt đầu bởi sự kiện bá tước Đờ Mông-cor-nê, nguyên là tướng của Na-pô-lê-ôn, mua được tòa lâu đài và ấp lớn ở vùng E-gơ. Sự việc này đã gây nên sự bất mãn, cừu địch trong bọn tư sản địa phương (vốn muốn mua ấp để chia nhau) và nông dân trong vùng. Sau đó, nhóm tư sản này, do nắm phần lớn quyền hành tại địa phương, đã câu kết cùng Xibile (quản lý của trại ấp) bày mưu xúi giục nông dân phá hoại trại ấp bằng mọi cách. Frăng-xoa Tông-xa, người đứng đầu một nhóm nông dân, đã nghe theo lời bọn tư sản. Chúng lên kế hoạch giết chết Mi-sô, người thân tín nhất của bá tước Đờ Mông-cor-nê, buộc bá tước phải từ bỏ trại ấp và ra đi. Sau sự việc đó, cuộc sống của người nông dân ở trại ấp chẳng những không được cải thiện mà còn trở nên thảm hại hơn bởi sự bóc lột, thao túng của bọn tư sản, thị trưởng, sen đầm.
Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) là bức tranh rộng lớn về đời sống nông thôn Việt Nam những năm trước Cách mạng tháng Tám. Tác giả trực tiếp phản ánh chế độ thối nát chốn hương thôn và đời sống cực khổ của nông dân bị đẩy đến bước đường cùng. Bao tai nạn chồng chất đè nặng lên vai người nông dân ở một xứ thuộc địa. Đó là nạn Tây đoan bắt rượu lậu, nạn quan lại tham nhũng, nạn sưu cao thuế nặng, nạn cường hào ác bá, nạn phu phen tạp dịch, nạn lụt lội đói kém, tình trạng dốt nát, ăn ở mất vệ sinh cùng bao vấn đề phát sinh khác trong giai đoạn giao thời. Nổi bật hơn hết chính là mâu thuẫn không để điều hòa giữa hai giai cấp: địa chủ và nông dân.
Cốt truyện Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) xoay quanh việc địa chủ Nghị Lại dùng mọi thủ đoạn cướp kỳ được tám sào ruộng của anh Pha. Cùng với anh Pha, mà đúng ra là trước anh Pha, nhiều nông dân khác như Trương Thi, Sam, bác Ích, thị Ánh đều đã bị Nghị Lại lần hồi cướp hết ruộng đất.
Dưới ngòi bút Nguyễn Công Hoan, hình ảnh Nghị Lại hiện lên thật xấu xí và đáng khinh. Dục vọng làm giàu bất chính bộc lộ ra hết ở ngoại hình của hắn. Với “nước da xanh mét, môi thâm xịt, thêm hai nếp nhíu soạc hai bên mép” [3, tr. 25], hắn như muốn hù dọa mọi người. Còn về tính cách, hắn đúng thật là một địa chủ phong kiến già đời, khôn lõi và cực kỳ phản động. Hắn luôn thèm khát nhiều ruộng đất và mong muốn làm giàu bằng cách bóc lột địa tô. Sự thật là hắn đã giàu lên trên mồ hôi nước mắt của dân lành lương thiện.
Hắn thật ma quái với người nông dân nhưng lại tỏ ra ngoan ngoãn và trung thành rất mực với bọn chủ thực dân. Hắn có vẻ thành thạo trong việc xun xoe vồ vập Tây đoan, mời rượu sâm banh và bàn việc đổ tội cho người nông dân nghèo.
Bản chất chính trị phản động của hắn còn bộc lộ ở việc hắn vui vẻ dự một phần vào bộ máy chính quyền do bọn thực dân nặn ra. Hắn là Nghị viên của Viện dân biểu, từng được chính phủ thực dân cho hưởng nhiều phẩm tước, quyền lợi. Chính hắn đã vạch ra kế hoạch kết hợp với Tây đoan khám xét bắt rượu lậu, bắt người, lại bày trò dắt mối, đút lót quan xử án, dựa vào thế lực quan trên chi phối bọn hào lý địa phương. Tóm lại, hắn không từ một thủ đoạn nào để bóc lột nông dân.
Muốn cướp tám sào ruộng nhà anh Pha, Nghị Lại đã đe dọa: “Mày không nên ngu dại, nghe hoặc bắt chước những đứa vô luân thường đạo lý, những đứa ngông cuồng, những đứa cộng sản, làm sách viết báo để chúng nói xấu quan này, nói xấu quan kia. Người ta xấu, người ta cũng là ông quan cai trị mình” [3, tr. 117].
Gần như như vậy, trong Nông dân (Balzac), thay cho bọn Tây đoan và Nghị Lại là hình ảnh của hệ thống nhân vật như bá tước Đờ Mông-cor-nê, Gô-bec-tanh (nguyên là quản lý của trại ấp thời chủ trước, về sau trở thành thị trưởng kiêm tổng đại lý bán gỗ), Rigu (nguyên là thị trưởng bị cắt chức, sau trở thành tay cho vay nặng lãi có uy quyền ở địa phương, keo kiệt, thích đồ ăn ngon và gái đẹp), Xudry (đội trưởng sen đầm, lạnh lùng, tàn ác), Frăng-xoa Tông-xa (một tay sừng sỏ, quen nghề săn trộm, đốn rừng trái phép),…
Ứng với hoàn cảnh cụ thể của nước Pháp lúc bấy giờ thì Nông dân của Balzac được hiểu như một tấm gương soi, lần hồi soi tỏ sự xung đột ngấm ngầm và gay gắt giữa ba thế lực: quý tộc, tư sản và nông dân. Ở đó có tướng Đờ Mông-cor-nê, là bá tước đại diện cho quý tộc thời Đế chế Na-pô-lê-ôn, cùng vợ cũng thuộc dòng dõi quý tộc lâu đời và bạn là Emile Blondet. Họ đã không ngừng tích lũy tư bản thông qua việc mua thêm đất và lâu đài ở nông thôn. Tất cả bọn họ vừa gầm ghè nhau lại cấu kết với nhau, sử dụng cả những thủ đoạn hèn hạ và tàn nhẫn, để khai thác, bóc lột và chiếm đoạt dần ruộng đất ở nông thôn. Đến cuối tác phẩm, trước sự bất lực của chính quyền địa phương, bá tước Đờ Mông-cor-nê đành phải bán ấp lớn ở vùng E-gơ (xứ Buốc-gô-nhơ) và đất đai. Phần lớn đất ấy về sau đã thuộc về bộ ba bọn tư sản đểu cáng (Gô-bec-tanh, Rigu, Xudry), một số ít đất còn lại bị chia nhỏ ra và thuộc về nông dân.
Không bao lâu sau, xung quanh ngôi nhà cao lớn như tòa lâu đài của tên tư sản Gô-bec-tanh, những ngôi nhà tranh thảm hại, tồi tàn của nông dân đồng loạt mọc lên. Thế ra, thời của bá tước Đờ Mông-cor-nê hay thời của tư sản Gô-bec-tanh thì số phận của người nông dân giai đoạn tiền Cách mạng tư sản Pháp 1789 vẫn không có gì thay đổi. Đó vẫn là sự nghèo khổ, đói khát, quẩn quanh.
Có thể nói, trên trang viết của mình, qua những chi tiết chân thực, Balzac đã làm rõ được sự mâu thuẫn gay gắt giữa nông dân nghèo lương thiện với một bộ phận quý tộc, tư sản giàu có và bất lương. Một bộ phận người nông dân đã bị đối xử như lớp người dưới đáy. Họ luôn sống trong tình trạng nghèo khổ, tối tăm thậm chí còn bị đày đọa, chèn ép một cách hung hãn. Vì một cành củi bị mất trộm trong rừng, gã gác rừng cho chủ đất có thể dồn đuổi một bà già như săn một con thú. Hơn nữa, thông qua kết cấu của truyện, kịch tính của Nông dân (Balzac) và Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) cũng được thể hiện rõ. Đó là sự xung đột ngấm ngầm mà gay gắt, khối mâu thuẫn không thể điều hòa được giữa ba thế lực địa chủ, nông dân và giai cấp tư sản đang lên. Ở đó người nông dân luôn phải nhận hết mọi phần thiệt thòi.
Rõ ràng, khi chỉ rõ mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa trong lòng xã hội tư bản, cả hai tác phẩm Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan và Nông dân của Balzac đều có được những ý nghĩa thực tiễn tiến bộ.
Ở Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan chỉ ra một hướng đi tất yếu của người nông dân là đấu tranh, làm cách mạng. Người nông dân gần như bị bọn cường hào ác bá tìm mọi cách để dồn đuổi đến tận chân tường. Họ khổ cực đến mức không thể nhẫn nhịn, chịu nhục như trước được nữa mà đã manh nha hình thành ý thức phản kháng, đấu tranh đòi quyền sống cơ bản.
Tính cách nhân vật anh Pha, trong Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), là kết quả của quá trình phát triển về sự giác ngộ quyền lợi giai cấp và ý thức đấu tranh của người nông dân. Đến cuối tác phẩm, anh Pha từ chỗ khúm núm trước Nghị Lại giờ đã mạnh mẽ khi dùng chiếc đòn gánh phang ngay vào đầu hắn với tiếng hét: “Đồ ăn cướp!”. Đến khi bị trói khiêng đi, anh Pha tỏ ra thật căm hờn với suy nghĩ sẽ bỏ làng ra đi, sẽ ra mỏ với Hòa để thực hiện một dự định gì đó: “Trong đôi môi mím chặt thì biết rằng không phải là đau mà anh không nói, mà chính là anh muốn nuôi trong lòng một mối hận nghìn năm”, “Tôi không ở làng nữa. Tôi không còn gì ở làng nữa. Ngày này sang năm, các anh sẽ biết chuyện tôi” [3, tr. 239].
Như vậy, có thể nói Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) là cái nhìn dự báo của tác giả về hướng chuyển biến tích cực trong nét tính cách của người nông dân những năm trước Cách mạng tháng Tám. Đây là hình tượng nhân vật duy nhất có ý thức đấu tranh trước kẻ thù giai cấp để đòi quyền sống. Ở nhân vật anh Pha có cái gì đó mới mẻ, tiến bộ tuy còn mang tính bộc phát, chưa được chuẩn bị trước. Điều này có thể được giải thích bằng ảnh hưởng của phong trào cách mạng thời kỳ Mặt trận dân chủ đối với tác giả Nguyễn Công Hoan.
Cùng với đó, đồng hành cùng Nông dân (Balzac), người đọc cũng dần hiểu được sự dự báo của tác giả về một kết thúc có tính chất tất yếu. Đó là tấn thảm kịch về quyền lợi sở hữu của giai cấp quý tộc, sự thắng thế không gì cưỡng nổi của giai cấp nông dân cũng như sự sụp đổ không gì cứu vãn nổi của xã hội thượng lưu lúc bấy giờ. Người nông dân trong tác phẩm của Balzac có nhãn quan tiến bộ, có ý thức về giai cấp bóc lột và khả năng dự báo về tương lai. Lão nông dân sáng suốt Fuốc-sông đã nói: “Tôi đã thấy thời cũ và thời mới, kính thưa quý ông rất thông thái, cái biển hàng đã có đổi, nhưng cũng là một thứ rượu mà thôi (…). Các vị muốn làm ông chủ, chúng tôi chẳng có gì, các vị chẳng thể nào được chúng tôi quý mến (…). Sự nguyền rủa của người nghèo, thưa đức ông, cái đó sẽ lớn lên và nó sẽ lớn lên hơn tất cả những cây sồi cao to của quý vị và cây sồi này sẽ trở thành giá treo cổ… Chả một ai tại đây nói lên sự thật với các vị, ấy chính là sự thật đó!” [2, tr. 58]. Balzac ca ngợi vẻ đẹp tinh thần của người nông dân già Ni-zo-wrông, người đã từng tham gia cách mạng trước đây, từng là chủ tịch câu lạc bộ những người Jacobanh, thẩm phán tòa án cách mạng địa phương. Balzac tả cái nghèo của Ni-zo-wrông như là một phẩm hạnh chứ không phải “bước đường cùng”. Với cách mạng, Ni-zo-wrông là một người “cao quý, rắn như thép, tinh khiết như vàng”, “Ni-zo-wrông cho đứa con trai duy nhất của mình ra mặt trận… hiến dâng cả những tài sản riêng, xóa bỏ chút còn lại của chủ nghĩa cá nhân” [2, tr. 93].
Mặt khác, ở cả hai tác phẩm, Balzac và Nguyễn Công Hoan đều chỉ ra được một sự phân hóa khác ngay trong lòng giai cấp nông dân giai đoạn tiền cách mạng. Không phải hễ nông dân là hiền lành, lương thiện và khốn khổ. Như Nicola, con trai của chủ quán rượu Frăng-xoa lại là một tên nông dân hết sức lưu manh. Khi mùa gặt đến, hắn đấm bàn thét lên: “Mùa gặt đến rồi đây, đã vậy chưa nhóm lửa hút thuốc vào đống rơm của bọn chúng thì tao chưa đi khỏi nơi đây” [2, tr. 187]. Về điểm này, người đọc dễ hình dung đến nhân vật Trương Thi trong Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan.



2.2.3. Về phương diện hình thức nghệ thuật
Viết về đề tài người nông dân, cả Balzac và Nguyễn Công Hoan đều đã đạt được những thành công nhất định về phương diện ngôn ngữ diễn đạt. Đọc Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), người đọc dễ nhận ra chuỗi lời ăn tiếng nói vô cùng phong phú của người nông dân Việt Nam xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm. Còn Balzac, khi viết quyển tiểu thuyết Nông dân, ông cũng đã dùng rất nhiều từ ngữ của nông dân, đặc biệt là tiếng lóng của nông dân địa phương, để tạo nên cảm giác về sự thủ cựu, hoang dại của một bộ phận nông dân đương thời. Với hệ thống ngôn ngữ người nông dân được sử dụng phong phú, đa dạng trong Nông dân, Balzac đã “khiến cho kẻ đang câm lặng và đang lặng lẽ chiến đấu cất nên lời” [4, tr. 348].
Cùng với đó, cả hai nhà văn đều đã xây dựng câu chuyện theo trình tự thời gian hợp lý. Ở đó, cả Balzac và Nguyễn Công Hoan đều rất thành công khi xây dựng được những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Đó là những nét tính cách điển hình, diễn biến trong cả một quá trình, hoàn cảnh dựa trên những sự kiện chính của lịch sử xã hội. Đó là sự giải quyết mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh trên cơ sở tính đến một khối lượng lớn những chi tiết cụ thể của nông thôn Pháp và Việt Nam đương thời.
Nhìn chung thì Nông dân (Balzac) và Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) đều là hai quyển tiểu thuyết hiện thực tiêu biểu có những nét tương đồng về phương diện nội dung ý nghĩa và hình thức nghệ thuật. Cả hai tác phẩm đều thể hiện một cái nhìn sâu sắc của nhà văn về cuộc sống nông thôn trong bức tranh tổng thể là hiện thực xã hội Pháp trong thế kỷ XIX và hiện thực xã hội Việt Nam vào thế kỷ XX.
Tuy mức độ về sự phong phú và phức tạp ở mỗi tác phẩm có khác nhau nhưng cả hai tác phẩm đều có chung một điểm đến. Đó là làm nổi bật cuộc đấu tranh giai cấp ở nông thôn, chỉ ra nguyên nhân xã hội khách quan đã tạo nên diễn biến và sự hình thành tính cách nhân vật hiện thực. Nguyên nhân xã hội được thể hiện qua các tình huống, hoàn cảnh cụ thể, chân thực. Từ đó, nhà văn lý giải được những dục vọng và đam mê của các nhân vật. Đó là sự ham muốn, đam mê tranh chấp của cải, giành giật ruộng đất và bóc lột nông dân ở nông thôn của giai cấp tư sản đang lên và một bộ phận của giai cấp địa chủ phong kiến thủ cựu. Vì thế mà nội dung truyện cũng có sự bứt phá khác hẳn so với những truyện đậm tính lãng mạn, thi vị hóa như các tác phẩm của George Sand ở Pháp và truyện ngắn của nhóm Tự lực văn đoàn ở Việt Nam. Đó chính là thành công của tác phẩm cũng như sự đóng góp đáng ghi nhận của hai nhà văn lớn đối với nền văn học dân tộc trong một giai đoạn văn học có tính lịch sử cụ thể.



3. Kết luận
Trong hoàn cảnh Việt Nam là thuộc địa của Pháp, Balzac lại là nhà văn hiện thực tiêu biểu của văn học Pháp đã xuất hiện và thành công trước Nguyễn Công Hoan gần một thế kỷ, rất có thể Nguyễn Công Hoan đã đọc và chịu ảnh hưởng từ những tác phẩm hiện thực của Balzac. Nếu có thì đây cũng là một lẽ bình thường, một biểu hiện cụ thể về sự ảnh hưởng của văn học Pháp đến một bộ phận nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945. Nên hiểu sự học tập và chịu ảnh hưởng này như thế nào để người nghiên cứu không mơ hồ giữa sự gặp gỡ ngẫu nhiên giữa các nhà văn lớn khi cùng quan tâm đến các vấn đề muôn thuở của nhân loại với những tác phẩm có tính chất phóng tác đơn thuần. Như hiện tượng tác phẩm Ngọn cỏ gió đùa của Hồ Biểu Chánh là kết quả được phóng tác từ tiểu thuyết Những người khốn khổ của Victor Hugo.
Văn học so sánh đã, đang và sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự thật của những chân giá trị đó.
Trong quá trình hội nhập, trong sự so sánh đối chiếu các thành tựu tiêu biểu của các nền văn học khác nhau,
văn học so sánh giúp mỗi dân tộc hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa của dân tộc mình, hiểu được những gì mà dân tộc mình cần học hỏi và phát huy. Đây cũng là tư tưởng chủ đạo của tiến trình hiện đại hóa xã hội Việt Nam, như cách nói của Huỳnh Như Phúc trong Tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: “Nhìn từ góc độ văn hóa, tiến trình hiện đại hóa xã hội Việt Nam chính là quá trình Việt Nam nỗ lực vượt thoát ra khỏi vòng ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa để tiếp cận với văn minh phương Tây” [5, tr. 606].
Chính nghĩa đi từ nước này sang nước khác không cần giấy thông hành, nghệ thuật chân chính thì không biên giới. Với thủ pháp so sánh khi tìm đọc Nông dân (Balzac) và Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), bài viết đã tìm được một minh chứng cụ thể cho chân lý trên, góp phần xác lập điểm gặp gỡ thú vị giữa hai nhà văn lớn cũng như chỉ ra được những đặc sắc làm nên giá trị riêng của từng tác phẩm.




TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Đức Dục (2002), Hônôrê Đơ Banzăc – một bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực, Nxb Hải Phòng, Hải phòng
2. Honere de Balzac (1981), Nông dân, (dịch giả Trọng Đức), Nxb Văn học, Hà Nội
3. Nguyễn Công Hoan (2014), Bước đường cùng, Nxb Văn học, Hà Nội
4. Nhiều tác giả (2001), Văn học phương Tây, Nxb Giáo dục, Hà Nội
5. Đoàn Lê Giang (chủ biên), (2011), Văn học cận đại Đông Á –từ góc nhìn so sánh, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh




THE FARMERS BY HONORE DE BALZAC AND THE DEAD END BY NGUYEN CONG HOAN: A COMPARATIVE ANALYSIS ABSTRACT
While Honore de Balzac was a great realist writer of France in the nineteenth century, Nguyen Cong Hoan was also one of the typical writers of the trend of Vietnamese realist literature in the years before the August revolution. The huge and voluminous literary career of the two masters of realism writers has always received the interest and admiration of many generations of readers. The following article is an author's research in analyzing the two works of “The Farmers” by Balzac and “The Dead End” by Nguyen Cong Hoan under a comparative perspective. Thereby establishing an interesting meeting point between two great writers as well as pointing out the characteristics that create the unique value of each work.
Keywords: Balzac, Nguyen Cong Hoan, The Farmers, The Dead End, Realism, Comparative
(Received: 14/9/2021, Revised: 27/11/2021, Accepted for publication: 17/12/2021)