2. Mời Đọc/Lấy về Bản chụp dạng PDF (NXB Đời Mới, HN 1942)
3. Tham khảo: Các bài viết liên quan
Mời nghe đọc
Mời Đọc/Lấy về Bản chụp dạng PDF
Thanh đạm
(1903-1977)
Truyện dài (NXB Đời Mới, 1942 - 473 Tr.)
Chương 02 ... Tr 029 (033)
Chương 03 ... Tr 050 (054)
Chương 04 ... Tr 100 (104)
Chương 05 ... Tr 222 (226)
Chương 07 ... Tr 283 (287)
Chương 09 ... Tr 337 (341)
Chương 10 ... Tr 383 (387)
Chương 11 ... Tr 422 (426)
Chương 12 ... Tr 448 (452)
Chương 13 ... Tr 457-473 (461-477)
Tham khảo: Các bài viết liên quan
2. Đọc lại THANH ĐẠM - Nguyễn Thị Nam
[...]
Tuy nhiên, khoảng hai chục năm trước, một cuốn sách giá trị tầm thường mà nhờ một cách quảng cáo rất đặc biệt, đã bán chạy vo vo. Cuốn ấy là cuốn "Thanh đạm" của Nguyễn công Hoan, giao nhà Đời mới, mà giám đốc là Nguyễn Gia Vỹ, xuất bản. Khi in đã gần xong, tác giả thấy nhà xuất bản đã tự tiện bỏ một bài chiếu và một bài biều của ông đã tốn công sưu tầm, tức thì nổi giận, viết thư mắng ông Vỹ là dốt, không hiều được hai bài đó nên mới bỏ đi, làm tác phẩm của ông mất vẻ cổ kính. Cuối thư, văn sĩ còn hầm bạt tai nhà xuất bản:
« Thể là bây giờ tôi thêm được bài học khôn nữa là không những người dốt làm tai hại cho mình, mà có khi làm tai hại cho người khác. Ông đã làm hại tôi, thôi thì tôi chịu, nhưng ông đã làm tai hại cả đến văn chương của tồ quốc, thật đáng đánh cho cái bạt tai ! »Ông Vỹ chẳng lấy làm buồn, đem đăng ngay bức thư của Nguyễn Công Hoan lên mặt báo, ngay dưới chỗ quảng cáo về quyển Thanh đạm. Độc giá hiếu kỳ, ùn ùn kiếm mua và chưa có tiểu thuyết nào của Nguyễn Công Hoan mới ra mà bán chạy như vậy. Tất nhiên là chỉ được một lần thôi. Có người ngờ rằng hai ông ấy xếp đặt đóng trò với nhau.
[...]
Trong Nghề Viết Văn by Nguyễn Hiến Lê
-------------------------------------------------------
Mời đọc Bản đánh máy
Thanh đạm
Để đọc, xin nhấp chuột vào chương muốn xem.
Chương 1
Mặt trời ngả về tây đã lâu. Ở sân, bóng mái nhà đã ra tới bốn hàng gạch.
Chiều nay, dân sự vào hầu thưa thớt. Mà quan phụ mẫu cũng mong như thế. Ngài đã dặn nha lại, có việc gì khó khăn hãy trình hỏi ý kiến ngài. Còn những việc không quan hệ, thì cứ tùy tiện, bẩm qua loa rồi ngài cho chữ.
Đã năm hôm nay, ngài dùng thì giờ xét lại các quyển văn mà ban khảo duyệt đệ lên để ngài quyết định giải thưởng.
Ngài cặm cụi cả ngày, đêm thường trong đèn đến nửa canh ba. Ngài ngồi trước án, trên bộ sập sơn quang dầu, tay cầm bút son, để khuyên hoặc điểm. Gặp câu hay, ngài gật gù, rặt mồi thuốc vào điếu, se lại sợi ruột gà, châm lửa, hút một hơi dài, ngửa mặt lên, tuôn luồng khói đặc, rồi ngài rung đùi, ngâm vang.
Nếu trong buổi hầu, tất ngài vui vẻ gọi các thầy bộ sang, đứng trước mặt. Ngài sang sảng bình lên, bàn luận, giải thích, và vuốt râu, cười ha hả.
Mỗi ngày, bọn nha thuộc... rất lấy làm khoái trí được thưởng thức văn chương và được nghe những lời phê bình của quan thầy, một vị xuất thân khoa bảng, nổi tiếng là hay chữ. Họ khoanh tay đứng, nhếch mép cười, gật gù đầu, có khi cao hứng, cũng rung cẳng chân và đưa tay lên mép vuốt râu. Trước cái súc cảm về tính tình, còn ai giữ yên được tay chân nữa. Cho nên họ đã lãng quên địa vị, cho tinh thần được hưởng hết sự sung sướng bằng tất cả các bộ điệu tự nhiên.
Hiện ngài đương xét đến hai quyển cuối cùng. Ngài đọc đi đọc lại, ngẫm nghĩ rất kỹ để so sánh. Ngài hút thuốc, vuốt râu, rồi lại hút thuốc. Ngài nhìn ra ngoài sân. Ánh nắng làm chói mắt. Lá xoan sào sạc trước gió hiu hiu, làn khói xanh ủ ấp như quyến luyến mái tranh bếp trại lệ. Phong cảnh ít hoạt động không làm nẩy được ý kiến hay. Bỗng ngài với lên án, lấy quản ngọn bút đang tiện cầm trong tay, gõ chiếc kiểng nhỏ treo vào cái giá con, cạnh ống bút. Tiếng đồng khẽ rung, tên lính nhà trẻ đã vội chạy vào, đứng khoanh tay chờ lệnh. Ngài ngước mắt lên, bảo:
- Minh, mày chạy sang bên quan Huấn, khẽ ngó xem ngài đương làm gì?
Đoạn ngài láy lại:
- Ngó xem thôi, nghe chưa, chớ để ngài biết, mất công việc của ngài.
"Dạ" một tiếng để đáp, Minh nhanh nhẩu chạy đi. Một lát nó về, bẩm:
- Bẩm, quan Huấn không làm gì cả.
- Mày thấy thế nào?
- Bẩm con thấy ngài ngồi một mình.
- Ở đâu?
- Ở đầu nhà học.
- Ngài ngồi một mình?
- Dạ.
- Được, càng hay, mày bẩm ngài là tao sang chơi.
Anh lính lon ton chạy. Quan huyện đội lại khăn, cầm chiếc nón rứa chóp bạc, vào buồng nha, dặn qua loa các thầy bộ rồi đi.
* *
Lê sỹ Cử, tức là quan huyện mà ta vừa quen biết đây, quê ở làng Nhân Hậu, vùng Bắc Ninh. Ông đỗ tiến sĩ năm ba mươi hai tuổi. Tuy làm chính chức, nhưng trọng nhậm hạt nào, ông cũng để tâm nhất đến việc học. Ông thân thiện với các văn nhân hàng huyện, và tháng tháng, muốn khuyến khích học trò, ông ra bài thi, phát thưởng. Thỉnh thoảng ông mở ngày bình văn, giảng sách, học trò đến nghe, ngồi chật cả công đường. Trong hạt Văn Lâm này, từ cụ Bảng Hoàng cho đến các ông Cử, Tú ai cũng phục ông là hay chữ. Ông cai trị dân, lấy thanh, thận, cần, làm phương trâm. Ông thương dân như con, vì vậy dân trọng ông như cha. Bốn chữ "Vạn gia sinh Phật" thiếp vàng, chói lọi trên bức hoành treo ở gian giữa nhà tư, để ca tụng ông, thật không ngoa ngoắt chút nào.
Ông bước xuống thềm công đường kia. Ta có thể thấy trong dáng điệu của ông, tất cả một ông quan. Một ông quan, nghĩa là một hạng người, nhưng không phải là người, một hạng người thiêng liêng, một hạng người trên hẳn những dân phàm thường, chỉ kém bậc thần thánh một chút.
Người ông phương phi, nhưng là cái đẫy đà thanh tú của con người phúc hậu... Râu ông dài mà đen, không thưa lắm, cũng không rậm lắm. Da dẻ ông lúc nào cũng hồng hào. Nét mặt tươi. Đôi mắt tinh nhanh nhưng thuần hậu. Ông đi thong thả, hai tay vung vẩy nhẹ nhàng. Đôi tay áo the lủng thùng chỉ để hở mười ngón tay thắp bút, có móng dài, cong tớn như mười chiếc lá lau mầu ngà.
Ông sang chơi với bạn đồng thành là quan Huấn Nguyễn, vì ông có việc khó khăn cần phải bàn bạc kỹ.
Nhà giáo ở ngay trong thành, phía bên trái, cách công đường chừng dăm trăm bước. Đó là một nếp nhà lợp lá, năm gian, dùng làm nhà học, và một nếp nhà nhỏ hơn ở phía sau, dùng để ở. Trước nhà học, một cái ao sen. Ở đầu trái quay về hướng đông, có giàn thiên lý, mỗi cạnh cột bầy một chậu cây có hương mà không có sắc.
Quan huyện theo lối nhỏ bằng gạch vụn nện phẳng, vừa tới đầu nhà học, quan Huấn đã khăn áo chỉnh tề chạy ra. Hai người vái chào nhau, quan huyện đứng dừng lại, nói:
- Xin bắc ghế ra đây ngồi cho mát.
Quan Huấn chắp tay, đáp:
- Xin rước quan lớn vào trong nhà, ở đây tuy thỉnh thoảng có gió, nhưng sợ hấp hơi gạch.
- Vâng, tùy tiện.
Quan huyện theo quan Huấn vào nhà trong. Sau khi bà Huấn dắt các con đã mặc áo dài ra chào, quan Huấn hỏi:
- Bẩm quan lớn đã duyệt xong các quyển?
- Thưa đã, nhưng tôi đương phân vân, muốn bàn lại với quan lớn cho khỏi oan học trò.
Quan Huấn hiểu ngay:
- Bẩm xin quan lớn miễn cho điều ấy, vì trong hai tên mà ban khảo duyệt chúng tôi cho là đáng được nhất thì tôi nhận chữ, thấy một tên là học trò tôi.
Quan Huyện cười ha hả, vuốt râu đáp:
- Vậy a? Thế thì tôi xin có lời mừng quan lớn. Còn tên kia là học trò ai, quan lớn có biết không?
- Bẩm không, nhưng tôi nghe nói đâu nó tập văn quan Bảng.
Quan Huyện lại cười:
- Ồ, thế mà tôi lại cho mời quan Bảng đến sơm sớm một tí để cùng quan lớn bàn xem nên cho quyển nào nhất, quyển nào nhì.
Quan Huấn cũng cười.
Lãng, con quan Huấn, chừng mười lăm tuổi, rón rén bưng khay nước ra. Quan Huyện mỉm cười, xoa đầu cậu bé ngoan ngoãn. Hai chén chè bốc khói ngát. Chủ khách nhấp giọng. Quan Huyện nói:
- Trẻ bây giờ rồi đây nó hơn chúng ta nhiều. Tôi xem văn chúng nó lanh lợi lắm.
Đó là do công quan lớn khuyến khích.
Quan Huyện nhũn nhặn, lắc đầu mấy cái, đáp:
- Không phải, tôi tưởng đó là do đất này là đất học, vả cũng do công giáo hóa của quan lớn, của quan Bảng, của quan Cử Vũ, của cụ Kép Nguyễn, của ông...
- Dạ, không dám. Nhưng nếu không có vị phụ mẫu là bậc đại khoa, luôn luôn săn sóc đến chúng, tôi tưởng không ganh tài đua trí với nhau, chúng không tiến bộ mau được.
Quan Huyện vẫn lắc đầu:
- Tôi chẳng qua làm chính chức...
Rồi ông đăm đăm nhìn ra ngoài, có vẻ nghĩ ngợi. Bà Huấn cầm cháp trầu ở trong buồng khép nép đi ra. Quan Huyện chắp tay, ngồi lại ngay ngắn cho có lễ độ. Bà Huấn đặt ở phản, rồi thong thả, rón rén, lại vào buồng.
Để cho người đàn bà đi khỏi, quan Huyện mới nói tiếp câu chuyện đang bàn dở:
- Thôi được, ta chờ ý kiến quan Bảng.
Rồi ngừng một lát, ông tiếp:
- À, bài của con cháu Vy nhà tôi, tôi cho làm, một là để cháu bạo dạn, hai là thử sức học, chứ thực không có ý lĩnh thưởng, mà tôi thấy các quan liệt vào thứ tư; tôi xét cháu chưa đáng thứ mười, nên đã bỏ bài cháu ra ngoài. Tôi sợ mang tiếng.
Quan Huấn ngạc nhiên:
- Bẩm, cái đó là do tự nhiên, chúng tôi không biết chữ của cô em, vả phách đã rọc, vậy nếu cô em được xếp cao như vậy là ở tài học, chứ không tại ban khảo duyệt thiên vị. Vậy ra cô em bên nhà được xếp thứ tư?
Quan Huyện cười lạt:
- Vâng, nhưng tôi xem cháu còn kém lắm.
- Tôi thiết tưởng nếu quan lớn không muốn cô em lĩnh thưởng thì thôi, chứ đã được xếp thứ tư thì cứ nên để vậy, một là khuyến khích chân tài, hai là làm gương cho học trò hàng huyện.
Quan lớn nghĩ thế chí phải, nhưng tôi cho là nó chỉ lợi về mặt trí dục mà có hại về mặt đức dục của cháu, vì như vậy, tôi sợ là khuyến khích lòng kiêu ngạo của cháu.
- Bẩm, cô em tuổi gì ạ?
- Tuổi Mùi.
Quan Huấn bấm đốt tay:
- Tỵ, Ngọ, Mùi, vị chi là mười tám. Ồ, nếu mười tám mà văn hay địch nổi mấy trăm học trò thì thực đáng khen lắm. Tôi quên mất quyền của cô em, xin quan lớn đọc lại cho nghe một câu.
- Dạ. Xin quan lớn cho tôi nhờ tên bộc.
Quan Huấn gọi:
- Lãng!
Rồi ông cười:
- Có một tên bộc, nhưng nó lại ốm.
Lãng chạy vào, chắp tay. Quan Huyện mỉm cười, dặn:
- Cậu sang bên nhà, nói với thầy Nhì đưa cậu cả tập bài để trên mặt tủ công văn.
- Dạ.
Lãng nhanh nhẩu chạy đi. Quan Huyện cười:
- Tôi không dám để ở nhà dưới, sợ cháu Vy xem trước. Còn hai quyển đầu, tôi phải nhờ các quan định đoạt hộ, bởi vì tôi phân vân quá.
Quan Huấn đáp:
- Xin nhường học trò quan Bảng.
- Không được, ta phải công bằng thì hơn. Tôi định hỏi ý kiến quan lớn và quan Bảng.
- Chúng tôi có học trò, không tiện bầy tỏ. Xin quan lớn hỏi các ông Cử, Tú.
- Vâng, nhưng ngộ ông ấy cũng không phân biệt?
- Thì xin cho người hơn tuổi.
Quan Huyện ngẫm nghĩ, rồi cười:
- Hơn tuổi không phải một lẽ để được nhất, bởi vì đây là cuộc thi văn chương.
- Hay ta xét ai nghèo hơn thì cho người ấy.
- Cũng không được. Làm như vậy, tôi sợ tủi người ta.
- Hay ai đức hạnh hơn?
- Nhưng lấy gì làm chuẩn đích sự hơn kém?
- Khó lắm nhỉ!
Hai người yên lặng. Quan Huấn, sau khi không biết tìm cách nào để nhường thưởng cho học trò quan Bảng, bèn hút thuốc để ngẫm nghĩ cho dễ, rồi tặc lưỡi:
- Quan lớn muốn công bình, âu là, nếu rồi không ai phân biệt bài hơn kém, ta cứ nên để vậy, lấy cả hai giải nhất, mà bỏ giải nhì đi.
Quan Huyện gật gù, khen:
- Đó là một ý hay, tôi xin lĩnh.
Lãng, tay ôm tập văn đặt xuống phản, trỏ ra phía cổng, mách:
- Bẩm, hình như quan Bảng đã đến.
Quan Huấn vui vẻ hỏi:
- Thật à? Đâu?
- Bẩm, kia ạ.
Hai người nhìn ra ngoài. Một cái cáng từ cổng huyện tiến vào, theo sau có tên người nhà, khăn lượt, áo the, cắp cháp điếu.
Quan Huyện mừng rỡ, đứng dậy, mời quan Huấn:
- Xin rước quan lớn sang cả bên tôi.
* *
Từ sáng tới giờ, phố huyện mỗi chốc một đông vui. Nhưng không phải người các làng cạnh gánh gồng đến chợ để mua bán. Vì không phải ngày phiên. Cũng không phải dân sự đưa nhau đến cửa công đường để kiện cáo nhau, vì hôm nay là ngày tết, tết đoan ngọ làm cho phố huyện thêm tấp nập huyên náo, lại là những người chân yếu tay mềm, nhu mì hiền lành. Họ toàn là học trò. Họ không thể thiếu mặt ngày hôm nay, ngày mà họ coi như một ngày hội của họ, ở văn miếu hàng huyện, quan mở cuộc phát thưởng, bình văn và giảng sách. Nếu hôm nay chỉ có phát thưởng, hoặc chỉ có bình văn, hoặc chỉ có giảng sách thì dù họ có không dự cũng không lấy làm tiếc lắm. Lần này phần thưởng lại phát tại văn miếu, chứ không ở công đường như mọi bận, thì quyết nó phải long trọng. Ấy thế mà những bài hay lại được ông Tú Giáp bên Đông Lai bình lên! Trời ơi, tiếng đâu có thứ tiếng tốt đến thế! Ai còn có thể không mê được. Rồi lại được nghe hai vị đại khoa giảng sách, thì đến ngay như các bậc Cử, Tú còn phải tấm tắc khen hay, huống chi họ, là học trò.
Họ vào các hàng cơm, để nghỉ chân uống nước, hoặc đi ngoài phố, ngắm nghía các hiệu tạp hóa. Mấy khi bước chân đến chỗ đông vui, tội gì không xem nơi nọ nơi kia.
Được dịp làm quen nhau, họ thử thách nhau về chữ nghĩa, bàn tán nhau về văn bài. Tựu chung ai cũng muốn dò xem kỳ này những ai được lĩnh thưởng, và tin rằng văn mình không đến nỗi bị loại. Người đồn anh Nguyễn Hữu Phu học trò cụ cử Lương được thưởng đầu. Người bảo vinh dự ấy lại về tay một người bên Xuân Cầu, huyện Văn Giang, bên cạnh. Nếu vậy tức lắm nhỉ.
- Sao các quan lại cho người ấy thi?
- Đạo Thánh là đạo rộng, ai là học trò đều được phép nộp quyển.
- Tôi như các quan, tôi đánh hỏng tuột bọn ấy đi. Chứ sao lại để họ đè anh em huyện nhà.
- Không, các quan rất công bình, trước khi chấm, đã rọc phách. Vả lại cuộc thi này là để chúng ta thử sức đua tài chứ có phải đỗ đạt gì mà phải thiên vị.
- Đành vậy, nhưng mình cũng xấu hổ.
Có nơi, học trò túm tụm ở gốc cây râm mát, đọc cho nhau nghe những đoạn của bài mình để hỏi ý kiến bạn. Được khen, họ sung sướng vui vẻ, phải câu nào chê, họ lo lắng sượng sùng.
Tất cả, ai nấy đều cho nhau những tin tức mình vừa nghe lỏm được về phần thưởng và người được thưởng. Và ai nấy đều cố dò cho biết tin tức thêm và đích xác hơn để làm quà lại nhau. Có những lời trái hẳn nhau. Có những lời rất vô lý.
Nhưng không hề gì. Chuyện của học trò chỉ có thế. Chuyện của học trò ngày hôm nay chỉ có thế. Những chuyện ấy nó làm cho cuộc vui chốc nữa thêm thần bí và long trọng.
Họ chờ, nhưng không nóng ruột. Mà các bà hàng nước, hàng cơm thấy họ ngồi ám lâu, cũng không lấy làm khó chịu. Họ không ăn cơm, ăn quà, chỉ uống, uống mỗi người một bát chè tươi ba đồng kẽm. Có người không khát, song cũng trả tiền nước cho có cớ kiếm chỗ ngồi. Nhưng không hề gì. Người ngoa ngoắt đến đâu cũng phải làm thinh trước sự hà tiện của bọn thư sinh. Người ta còn chiêu đãi ngọt ngào là đằng khác, bởi vì, nay tuy là học trò thật, nhưng họ là rồng chưa gặp mưa, chứ những hạng tiện sĩ hàn nho này, biết đâu một ngày kia không Bảng nhỡn, Thám hoa, Thượng thư, Đô đốc.
Họ nào phải như dân thường, bọn nọ thưa gửi nhau, kiện cáo nhau, bọn kia được nhờ đến công môn là chè chén, thuốc sái, hoặc cãi nhau ỏm tỏi, lý sự cùn.
Học trò chỉ nói chuyện khẽ, dù có bẻ bai nhau cũng là trong nghĩa lý văn bài.
Bỗng trong huyện dậy lên chiếng trống ba hồi chín tiếng. Rồi trống ngũ lôi nhịp nhàng nổi lên. Bọn học trò sửa lại khăn, vớ vội chiếc nón, đâu đâu đều tề tựu kéo cả đến cổng huyện. Đàn ông, đàn bà, trẻ con sắp sửa hai bên đường để xem đám rước các quan ra văn miếu.
Một đoàn cờ đi hàng đôi, phu mặc áo nỉ đỏ, đội nón sơn, chân quấn xà cạp xanh, khuỳnh tay trái, tay phải cầm cán cờ cắm vào cái cối gỗ nhỏ đeo trước ngực. Cứ đôi một đi song song, liếc mắt sang nhau để bước cho đều. Bỗng một người đội nón dứa, thắt lưng xanh buộc múi ra ngoài áo the thâm trùng, vác loa đồng, chạy từ cổng huyện ra, trịnh trọng hô một câu dài, đến tiếng cuối thì vung tròn cái loa cho tiếng đi xa. Ai nấy đứng bên đường, im phăng phắc.
Rồi đến trống cái, chiêng, hai người khênh, một người đánh. Họ múa may cái dùi, tiến lên, lùi xuống theo nhịp trống con, thỉnh thoảng điểm một tiếng hoặc dồn hai ba tiếng. Tiếp đến cờ biển và đôi thanh quất. Rồi phường bát âm, chân bước theo điệu lưu thủy.
Quan Huyện mặc áo gấm, ngồi võng trần có che hai lọng xanh, theo sát đó, tên lính lệ cắp cháp điếu. Sau võng quan Huyện là võng quan Bảng Hoàng, cũng lọng, cũng cháp điếu. Võng thứ ba là võng quan Huấn, đi một lọng và cháp điếu theo hầu. Sau võng là những người đi bộ, ông đề lại, hai ông thông lại, các ông Cử, Tú, cùng những người chức sắc.
Võng các quan đến đâu, người hai bên đường đều ngả nón. Họ thì thầm khen quan phụ mẫu đẹp, khen cụ Bảng phúc hậu và khen quan Huấn lành. Học trò đi nối vào đám rước để ra văn miếu, cách huyện không xa, ở ngay đầu phố quặt vào một tí.
Từ lối rẽ đến văn miếu, hai bên đều cắm cờ. Đám rước uy vệ đi rất thong thả.
Đến nơi, dứt tràng pháo, các quan xuống võng, đi bộ vào trong nhà.
Ở đây, người ta đã quét tước sạch sẽ, mở cửa rộng từ ba hôm trước cho sạch mùi mốc hôi hám. Trên nền đất lúc nào cũng ẩm, còn rõ vết những vùng chổi tre in sâu trên mặt rêu xanh.
Các quan ngồi ở sập bên cạnh có dải chiếu cạp điều mới, mặc áo thụng để sắp sửa lễ. Ông Đề lại soát qua một lượt bàn thờ, đoạn ra gần quan Huyện, gãi tai đứng trình.
Quan Huyện gật đầu, hút điếu thuốc rồi đứng dậy. Thế là ai nấy đều đứng theo, để quan phụ mẫu làm lễ. Bát âm và chiêng trống nổi lên.
Quan Huyện đi đến gian giữa, tụt giầy ra, bước vào chiếu, đứng ngay ngắn, chắp tay yên lặng nhìn phía trước. Ông rặng hắng, giơ hai tay cao lên, tiến mấy bước, rồi khom lưng, quỵ gối. Ông lễ rất thong thả. Hết bốn lễ, ông quỳ xuống chiếu. Quan Bảng và quan Huấn thong thả tiến gần hương án. Quan Bảng cầm chai rượu bằng hai tay, quỳ cạnh quan Huyện. Quan Huyện đỡ lấy, vái một cái, rồi trao trả quan Bảng. Quan Huấn rút thẻ hương mới cắm ở bình, cũng làm như quan Bảng. Rồi quan Bảng cầm rượu đi phía bên phải, quan Huấn cầm hương đi phía bên trái. Hai người cùng tiến vào hậu cung. Quan Bảng rót rượu vào ba chiếc chén để trên đài. Quan Huấn châm ba nén hương, cắm vào bát. Đoạn hai người chắp tay cùng đi ngang nhau, ra đến chiếu quan Huyện thì quay lại, vái một cái, rồi đứng rạt sang hai bên. Tiếng nhạc im bặt.
Lúc bấy giờ quan Huyện mới bắt đầu khấn. Ông suỵt soạt mấy tiếng, rồi khuỳnh hai tay trước miệng. Đôi mắt nhìn xuống, ông nói lầm rầm, lưng rún rẩy. Khấn xong, ông phục xuống đất, lậy bốn lậy. Bát âm và chiêng trống lại nổi lên.
Trầm tỏa ra mùi thơm thiêng liêng. Lửa ngọn bạch lạp sáng trắng như những con mắt hiền hậu.
Quan Bảng và quan Huấn vào lễ. Hai ông lên xuống rất đều và rất thong thả.
Rồi đến bọn Cử, Tú, chức sắc, lễ bằng áo chẽn, hai người một. Bọn học trò khoanh tay đứng từ bậc cửa đến sân. Họ cố kiễng chân để xem, và nhất là nhìn những phần thưởng đặt trên bàn. Họ che tối cả nhà văn miếu.
Lễ xong, quan Huyện gọi ông Đề lại đến gần, ghé vào tai nói thầm. Ông Đề dạ, rồi nhìn ra phía học trò, nói to:
- Quan truyền học trò vào cả trong nhà, gian bên trái. Học trò quan Bảng, học trò quan Huấn đứng trong cùng, còn thì thầy nào trò nấy, đứng dần dần ra ngoài.
Tiếng dạ nổi lên, tức thì sĩ tử ồ ạt, gọi khẽ nhau lấy chỗ. Văn miếu lại sáng sủa, và chẳng mấy chốc, hơi người đã đánh bạt hơi mốc.
Khi đâu đấy tề tựu, quan Huyện vẫy các ông Cử, Tú sang bên phía mình, mời ngồi, rồi ông dõng dạc nói:
- Các học trò, lần này ta duyệt lại các quyền của các người, ta nhận thấy các người tiến bộ nhiều lắm. Ta có lòng mừng. Vậy ta hẹn đến kỳ sau, sẽ ra Kinh Nghĩa, tuy phần thưởng ít hơn, nhưng to hơn.
Ông im một lát để nhìn. Những tiếng xì xào nổi dậy khắp nơi. Thấy ai nấy phấn khởi, ông mừng lắm, mỉm cười, gọi ông Đề:
- Thầy bảo thầy Nhất đem sổ ra đọc tên.
Ông thông Nhất đã đứng cạnh đó, dạ một tiếng, rồi lên ngọn kính, dơ quyển danh sách ra ánh sáng.
Im phăng phắc. Người ta hồi hộp chờ tên người được danh dự đầu hàng huyện.
- Nguyễn Văn Sáng!
Một tiếng "ơ" ngạc nhiên đồng thời nổi lên, ai nấy cùng lấy làm lạ, quay cả cổ lại sau để tìm.
- Dạ.
Tiếng "dạ" mừng rỡ mới ran làm sao! Một người lủn củn lách đám đông đang trố mắt nhìn theo, đầy tức tối. Họ im phăng phắc.
Sáng đứng giữa, khoanh tay, quay lại phía các quan.
Quan Huyện nghiêm trang nhìn Sáng, hỏi:
- Anh học ai?
Sáng cảm động, ngờ đâu tên hắn được gọi đầu tiên, ấp úng thưa:
- Bẩm lậy quan lớn, con học trò thầy Tú con ạ.
Hắn vừa nói, vừa trỏ vào ông Tú Cáp, đương mỉm cười vuốt râu. Quan Huyện tiếp:
- Anh đáng đánh đòn, vì chưa đủ sức đã dám dự thi. Câu cú không ra nghĩa ngọn, còn viết chữ nọ thỉnh ra chữ kia và phạm húy rất nhiều.
Tất cả học trò đều bưng miệng khúc khích. Ông Tú Cáp tái mét mặt. Sáng run lên.
Một tên lính cầm chiếc roi mây và hai tên khác đến cạnh Sáng, đè vật hắn xuống đất. Anh học trò khốn Nạn nằm hai chân duỗi thẳng, hai tay khoanh để úp vào mặt cho khỏi sát đất. Quan Huyện nói:
- Có thưởng tất phải có phạt, ta mong rằng vì sự phạt này, anh chăm học hơn lên, rồi biết đâu, lần sau, hoặc lần sau nữa, anh được lĩnh thưởng.
Rồi quay lại ông Tú Cáp:
- Ông phải chọn kĩ học trò, tên Sáng vào trường mà làm bài như vừa rồi thì cả ông cũng phải liên lụy.
Ông Tú cúi mặt lễ phép thưa:
- Dạ.
Nhưng quan Huyện mỉm cười, nói:
- Song, ta hãy tạm tha anh lần đầu, cho đứng dậy, lậy tạ đi.
Sáng lóp ngóp đứng. Mặt đỏ bừng, anh lậy vào bàn thờ bốn lậy rồi lui ra. Nhưng ông Tú chợn mắt chạy theo, túm được áo hắn, ghé vào tai nói nhỏ. Hắn vội vàng quay lại chỗ các quan, thụp lậy hai lậy, rồi lủi mất.
Mọi người nhìn theo, bật cười. Các quan cũng không thể nhịn được. Cười xong, quan Huyện hất hàm, thày bộ đọc danh sách:
- Đệ nhất danh...
Ai nấy im phăng phắc.
- ... Hoàng Bá! Lê Hữu Tộ!
Thấy không ai dám thưa, quan Huyện mỉm cười gật đầu giảng cho bọn sĩ tử đang ngạc nhiên:
- Hai người được thưởng đầu.
- Hoàng Bá! Lê Hữu Tộ!
Hai tiếng dạ ran. Ai nấy xôn xao. Bá và Tộ nhanh nhẹn tiến ra giữa, khoanh tay đứng. Quan Huyện gật gật ra ý bằng lòng lắm, nói:
- Hai anh không ai hơn ai kém, ta ngợi khen. Ta đã đọc kỹ hai quyển, thấy nhiều câu rất xuất sắc. Vậy ta xếp hai người ngang nhau.
Ông Đề cầm hai gói nhiễu đỏ để sẵn trên bàn, trao cho Bá vào Tộ. Hai người học trò cảm động, chắp tay vái, một vái rồi dật lùi về chỗ cũ.
- Đệ tam danh: Nguyễn Long!
- Dạ.
Quan Huyện giảng:
- Vì có hai giải nhất, nên bỏ giải nhì.
Rồi thấy Long tiến đến, ông nói:
- Bài anh cũng đáng nhất, nhưng chỉ phải đoạn cuối, làm khí vội. Nếu anh cẩn thận hơn, thì anh Bá và anh Tộ phải chật vật mới đè nổi.
Ông Đề đưa Long gói nhiễu đỏ, nhỏ hơn hai gói trước.
Rồi đến người thứ tư, thứ năm, cho đến thứ hai mươi, ai nấy đều được quan Huyện ôn tồn khuyến khích. Ngài nói rõ bài hay chỗ nào, được chỗ nào và vì sao kém quyển trên. Nghe lời phê bình sác đáng, ai nấy phục ngài rất công bình. Họ chịu nhất là thấy ngài thông minh quá, vì có quyển ngài đọc thuộc cả từng đoạn văn dài, và chữa một vài chữ, một vài chữ thôi, mà cái tứ hay tự nhiên nổi bật lên.
Xong cuộc phát thưởng, ông Đề nói:
- Các học trò hãy xuống nghỉ cả dưới hành lang, chốc nữa có lệnh gọi hãy lên.
Họ ồ ạt kéo nhau ra. Lúc ấy họ mới dám mở xem phần thưởng. Họ chuyển sang tay nhau những thoi mực Hoàng Tam xương, Chu Vĩnh Phu đen nhánh, những ngọn bút đại kinh thủy, thử tu hoặc riệu tự, ngòi trắng và nhọn hoắt, những hộp giấy cán tuyết trai cánh sen, hoặc những tập giấy lệnh trắng như ngà. Họ nhìn mặt hớn hở của hai mươi người vừa được thưởng, đầy thèm muốn.
Lý trưởng sở tại sai tuần bưng nồi ba mươi nước trè tươi ở bếp lên. Người ta lấy gáo múc ra từng bát, mời học trò giải khát.
Ngoài sân hơi có gió, cái gió nồm mát hây hẩy. Trên trời xanh ngắt, ánh nắng vàng trong trẻo chiếu xuống làm tinh thần thêm khoan khoái. Học trò uống nước, nói chuyện ồn ào. Một lát ông Đề đứng ở hiên, vẫy tay gọi:
- Học trò lên nghe bình văn.
Người ta chạy cố chạy mau để chiếm một chỗ gần, nghe cho rõ để luyện lấy giọng ông Tú Đông Lai.
Ông Tú ngồi xếp bằng tròn ở phản vừa mới kê giữa nhà. Ông quay vào phía bàn thờ, lau đôi mắt kính, đằng hắng để lấy giọng.
Thấy mọi người đã im phăng phắc, quan Huyện nói:
- Xin bình hai quyển đầu.
Ông Tú chắp tay, lễ phép nói:
- Xin phép quan lớn, xin phép các quan.
Rồi ông đằng hắng một lần nữa, vươn phồng ngực lên để lấy hơi, bắt đầu đọc. Tiếng ông rất tốt, sang sảng như tiếng chuông. Giọng trầm, giọng bổng xen nhau, khi mau khi khoan, ông làm cho câu văn thêm màu mè, ý nhị. Các thính giả bên phía các quan, ai nấy gật gù, người nhắm mắt, người vuốt râu, người rung đùi. Thỉnh thoảng, quan Huyện hoặc quan Bảng ngắt lại để giảng thêm cho mọi người hiểu thấu câu văn hay, hoặc thử chữa một chữ cho câu văn thêm cứng.
Bình hai bài được thưởng đầu của học trò xong, ông Tú Bình đến văn của các vị đại khoa xưa và nay. Nào văn sách rất đài các của các cụ Nghè Ngô, nào kinh nghĩa rất bay bướm của cụ Tiến Nguyễn. Rồi bài phú của cụ Bảng Trần, đến những bài thơ tứ tuyệt, bát cú cùng trường thiên của các vị khoa bảng ít được truyền tụng. Quan Huyện, quan Bảng, quan Huấn thay nhau giải thích cho học trò nghe. Các ngài ăn nói thật có duyên, nhất là quan Bảng. Thỉnh thoảng, ngài lại dùng vài giọng khôi hài, khiến ai nghe cũng lấy làm vui. Tiếng bình đã như rót vào tai, lời giảng lại như khắc vào trí não. Học trò đứng im lặng, quên cả mỏi chân, quên cả nực nội. Họ chỉ mong ngày nào cũng được may mắn như hôm nay, cho nên nhiều người không bỏ lỡ dịp, mang sẵn bút, mực, giấy, cố biên cho kịp những bài văn tuyệt tác mà chỉ có dịp này mới có người đọc cho họ nghe. Họ thấy rằng một buổi này có ích bằng một tháng học ở nhà. Mà nếu ngày nào cũng được nghe giảng sách như hôm nay, thì họ tấn tới trông thấy, và khoa thi tới, họ quyết có thể có nhiều hi vọng. Chẳng được tiếng dạ cửa trường cũng không đến nỗi phải là ông Tú tài đội bảng.
II
Ởvăn miếu về, quan Huyện vui vẻ, xuống thẳng tư thất. Bà Huyện đương dệt vải, cô Vy đương đánh suốt, thấy ông thì mỉm cười. Bà hỏi:
- Tôi không thấy ông bảo làm cơm khách?
Ông gật đầu:
- Hôm nay là Tết, cũng có nhà cúng buổi chiều. Tôi không muốn lưu ai lại.
Cô Vy ngừng tay quay guồng, nói:
- Bẩm thầy, cai việc vừa vào xin thêm tiền mua đậu để mai ngâm mẻ mới.
- Được, con đã đưa chưa?
Bà đáp:
- Tôi đưa rồi.
- Thế mẻ đậu làm vừa rồi chưa bán à?
- Đã, nhưng hắn nói phiên chợ mai muốn làm nhiều hơn.
- Càng hay.
Nói đoạn, ông gọi:
- Minh! Mày gọi cai việc lên đây tao hỏi.
Minh vừa chạy đi, ông đã gọi giật lại:
- Thôi, để tao xuống trại cũng được.
Tên lính chạy trước. Quan theo sau. Đến đầu trại, cai việc, một người chừng sáu mươi tuổi đã đứng đón, chắp hai tay, khom lưng vái. Quan hỏi:
- Chúng nó có chăm chỉ không?
- Lạy quan lớn, trong bẩy đứa, chỉ có tên Chi, tên Bản ra dáng hơi khó bảo, còn tên nào cũng chịu khó.
Quan Huyện cau mặt. Cai việc nói thêm:
- Chỉ khi nào có mặt bà lớn, nó mới sợ, còn sểnh ra thì chỉ hút thuốc với chạy chỗ nọ chỗ kia hết ngày.
- Gọi cả chúng nó đến đây.
Quan Huyện đứng ở sân chờ. Cai việc lấy thìa sắt, đến mở cửa buồng giam cho tội nhân ra. Chúng khoanh tay, cúi đầu đi. Khi đến trước mặt quan phụ mẫu, chúng cung kính vái. Vừa lúc ấy, đội lệ cũng đến, trỏ từng tên và nói:
- Lạy quan lớn, đây là tên Bản, tên Lư can tội ăn cướp, đây là tên Sắc, tên Toét, can tội ăn trộm, còn ba tên này: tên Chi, tên Công, tên Canh, ăn mày.
Quan Huyện nhìn chúng một lượt, ôn tồn nói:
- Ta bảo chúng mày không phải lần này là lần đầu, phải chăm chỉ mà học lấy nghề. Ta biết, sở dĩ chúng mày phải ăn cướp, ăn trộm, ăn mày, không phải do chúng mày thích làm nghề xấu xa, nguy hiểm ấy. Chẳng qua là đói. Những thằng ăn cướp, ăn trộm chúng mày đã phải bắt và phải tù. Theo phép nước, ta giam ở đây. Đáng lẽ chân chúng mày phải cùm, cổ chúng mày phải gông. Nhưng ta nghĩ, trừng phạt như vậy chỉ là để chúng mày chịu nhục vì đã phạm tội gian ác, nhưng hết hạn tù, chúng mày vẫn đói, mà khi thiếu ăn, ai cũng có thể gian ác được. Cho nên ta muốn cho chúng mày trở nên người lương thiện, biết kinh tởm nghề trước. Bởi thế, nhân trong khi chúng mày bị giam cầm, ta dạy nghề cho để rồi có thể kiếm ăn được. Ta biết, khi đã có cách sinh nhai bằng lối thực thà, tự khắc người ta hóa ngay thẳng. Ta cho dậy những thằng ăn mày cũng ý ấy. Chúng bay sẽ thấy lười là xấu, chỉ đi lạy van người ta để cầu no, vừa không chắc chắn, vừa nhục nhã. Ta thấy ở hạt này không có nghề làm đậu phụ, cả hạt phải mua đậu phụ Chiền đông nên dạy chúng mày, ta chắc khi thành nghề, chúng mày có thể nuôi sống được cả chúng mày lẫn gia đình chúng mày.
Ngài nghỉ một lát, rồi tiếp:
- Cho nên ta thấy thằng Bản, thằng Chi khó bảo, ta không bằng lòng. Ta cho chúng mày nghĩ kỹ đêm nay. Nếu thằng Bản không muốn học, ta bắt gông cổ, cùm chân cả ngày đêm ở trong trại tối. Nếu thằng Chi ra ý khó bảo, ta đuổi về đi ăn xin. Chúng mày có biết thằng Pháo, thằng Si, cùng bao nhiêu thằng nữa, trước kia cũng ăn cướp, ăn trộm, ăn xin, nhưng bây giờ đứa nào cũng chăm chỉ, hiền lành, thằng Pháo đã có vợ và có đôi gánh hàng đi chợ, thằng Si đã nuôi được con lợn trong nhà. Nếu chúng nó lười lĩnh, bướng bỉnh, không học nghề, ta quyết chúng nó lại đi đường cũ và bị khổ sở hơn nữa. Ta không muốn trong hạt có một đứa lười lĩnh, đứa gian ác. Đứa lười lĩnh ăn phần của người chăm chỉ, đưa gian ác cướp phần của người lương thiện. Như thế, nhân dân yên ổn làm ăn sao được. Mà đã không yên ổn làm ăn thì nó đủ sao được mà đã không no đủ thì sống còn vui vẻ gì.
Bọn người lắng tai nghe, thỉnh thoảng dạ một tiếng. Quan Huyện nói với đội lệ:
- Dạo tháng giêng thằng pháo đem biếu cô Vy một cái đế gỗ để nghiên rất đẹp. Tôi thấy nó thành tâm, cũng cảm động. Nghề thợ mộc của nó phát tài, và nó nhớ ơn người trông nom cho nó, thế là thủy chung lắm. Thì ra người ta mà làm ăn lương thiện, tự khắc lấy lại được các đức tính đã mất.
Đội lệ chắp tay, gãi tai:
- Dạ, bẩm quan lớn, quan lớn thương dân, muốn ai nấy được yên ổn làm ăn mãi mãi. Quan lớn muốn trừ trộm cướp đến gốc, nên dậy cho chúng nghề để sinh nhai.
- Phải, tôi có thể không tội gì phải khó nhọc, là dùng võ lực trị hết bọn gian trong huyện này. Như vậy chúng nó sợ, nhưng vẫn có thể trốn tránh sang hạt khác để kiếm ăn, làm hại người ta. Tuy tôi chắc chắn rằng trong khi tôi ngồi hạt nào, hạt ấy yên ổn, thịnh vượng thật... Bởi vậy, tôi bắt chúng học nghề, lớp học nghề đan, lớp học nghề làm bún, lớp học nghề làm đậu. À, thế chỗ tiền lãi của chúng, thầy đã nộp vào trong nhà chưa?
- Bẩm, con vẫn nộp và có sổ sách phân minh.
- Được, -ngài quay sang bọn tội nhân- Chúng bay ở đây ra, mỗi đứa sẽ có một món tiền nhỏ, đủ làm vốn sinh nhai. Ta nói rõ lại cho mà nghe: Ta cho vay tiền mua đậu. Lớp đậu phụ đầu tiên, chúng mày mới học làm, chưa thể tiêu thụ được ra ngoài, thì hãy bán đủ vốn vào trong nhà, hoặc dưới trại này. Rồi khi chúng mày khéo, bán có lãi, lãi ấy tức là của chúng mày. Ta giao cho thầy đội, có sổ sách cẩn thận.
Đội lệ nói tiếp:
- Bẩm hôm qua, cô Vy lấy món tiền lãi ấy mua hai tấm vải, bán liền tay, được ngót một quan lãi, lại giao cả cho con.
Quan Huyện cười:
- Ai cũng muốn giúp chúng mày, vậy ta chỉ còn chờ tự chúng mày giúp chúng mày nữa, là thành công.
Bản và Chi thấy những lời lẽ hiền từ, gục mặt, ra dáng cảm động lắm. Chi nói:
- Bẩm lậy quan lớn, quan lớn thương chúng con, bây giờ chúng con mới hiểu.
Quan Huyện gật đầu:
- Vậy từ mai, chúng mày phải chăm chỉ. Rồi đến cuối tháng, ta mở cuộc thi, đứa nào khéo, ta sẽ thưởng tiền.
Chúng đồng thành đáp:
- Dạ.
Rồi chúng hớn hở nhìn theo quan Huyện thong thả đi xa chúng, cho đến lúc khuất sau hàng rào dâm bụt.
* *
Dưới ánh đèn dầu lạc sáng trong, cô Vy đương mở tập văn được thưởng ra để đọc. Bà Huyện ngồi trên phản, xỉa tiền ra chiếu, miệng lẩm bẩm tính. Quan Huyện đi đi lại lại ngoài hiên, đầu cúi, như có vẻ nghĩ ngợi để giải quyết một việc khó khăn.
Mà là việc khó khăn thực. Việc khó khăn nó làm ông bực mình nhiều lần...
Vừa nãy đây, lúc thu không, tên lính canh vào bẩm là có người trên tỉnh xin vào hầu. Mà tên này đến làm gì? Một là xin tiền, hai là xin việc.
Nó xin tiền. Nếu ông không cho, quân tiểu nhân sẽ hại ông. Nó hại ông bằng cách nói xấu ông... hoặc rình xem ông làm bậy việc gì, thì xui dân kiện. Song ông thẳng thắn, không làm bậy, ông không sợ gì hết. Vả lại, dân coi ông như cha, lẽ nào họ phản. Đã hai ba lần, có đứa đến xin tiền, nhưng ông không cho. Ông thấy rằng cho nó tức là xui nó làm càn, tức là xui nó khinh mình, tức là dùng đồng tiền làm việc vô nhân đạo. Nếu thừa, ông giúp kẻ nghèo khó, hoặc làm việc ích khác.
Nó xin việc. Ông không thể cho một việc gì... Làm quan, ông cần phải công bằng, không thể vì lẽ này hoặc lẽ khác, mà thiên vị được. Xưa nay, xử việc quan, ông rất công minh. Người bị oan được ông xét tới. Người có tội, dù thế nào ông cũng tìm ra. Ông không làm trái lương tâm bao giờ. Cho nên người dân, dù giầu, dù nghèo cũng thế thôi, hễ có việc đến công môn, là không cần nhờ cậy ai nói hộ, tự khắc được ông xử rất thẳng thắn.
Thấy tên lính vào bẩm có người trên tỉnh, ông nhăn mặt, bắt nó tả hình dung, rồi bảo đuổi ra, vì quá buổi hầu, quan vào nhà trong, không tiếp riêng ai cả. Nhưng quan Huyện đoán thể nào tối nay nó lại xin vào, nên ông đi bộ, nghĩ cách nên đối phó ra làm sao. Lại đuổi ra, đến buổi hầu sáng mai hãy cho vào? Hay cứ tiếp nó, rồi mắng một trận để bận sau nó chừa?
Đương băn khoăn mà thỉnh thoảng cô Vy lại hỏi một vài nghĩa sách, ông phải ngừng để giảng. Có lúc ông nói rất lâu, dẫn những điển tích tỉ mỉ. Ông thấy con chóng hiểu và học đâu nhớ đấy, nên thích giảng rộng. Tựa hồ như chỉ việc về văn học mới làm ông bẵng quên được một chút những việc về chính trị.
Nhưng bỗng tên lính canh lại vào:
- Bẩm quan lớn, cái người ban nãy lại đến xin vào hầu.
Ông nghĩ một lát, gật đầu, nói:
- Được, dẫn nó lên công đường.
Tên lính chạy đi châm đèn, rồi ra đưa "người trên tỉnh" vào.
Bà Huyện nghe mang máng, tưởng có khách, liền hỏi:
- Thưa ai vào chơi?
Ông cười:
- Thằng đầy tớ cụ Tuần, một là nó đến xin tiền, hai là đến xin việc.
Bà nhăn mặt, phàn nàn:
- Ông cho vào làm gì!
- Không có hại. Nó xin gì, tôi cũng không cho.
.........
Bà Huyện hỏi:
- Bẩm, có phải trầu cau nước nôi không ạ?
Ông huyện bật cười:
- Nó như đầy tớ nhà mình, bà định tiếp nó long trọng thế kia à?
Nói đoạn, ông vuốt râu, lững thững lên công đường.
Ngồi trên sập, ông gọi:
- Minh!
- Dạ.
- Cho nó vào.
Một người trạc ngoài ba mươi, đôi mắt tinh nhanh, tụt dép ở ngoài hè, tiến vào, chắp tay vái:
- Lậy quan lớn, con là Lãnh, đến hầu quan lớn.
Không gật đầu, ông hỏi:
- Có việc gì?
- Lậy quan lớn... chúng con có một... tấm danh thiếp xin đệ lên quan lớn.
Nói xong, nó lại gần, đưa quan Huyện chiếc phong bì giấy đỏ, rồi lui ra xa, khoanh tay, tựa vào tường, im lặng.
Quan Huyện đeo kính, nhìn qua mấy dòng chữ trong tờ hoa tiên, rồi ngấc lên, hỏi:
- ...Mày muốn xin một việc, vậy là việc gì?
- Lãnh ức về tiếng "mày tao" lắm, nhưng vẫn phải gãi tai, tiến mấy bước để nói cho có vẻ kín đáo thân mật.
- Lậy quan lớn, nguyên con có đứa em về bên họ ngoại, tên là Nguyễn Văn Xiển ở làng Trai Túc.
- Tao biết rồi, thằng Xiển đang bị làng nọ kiện về tội chiếm ruộng công.
- Dạ.
- Thế làm sao?
- Lậy quan lớn, thực tình làng ghét nó, chứ chính ruộng ấy là của ông cha tên Xiển để lại.
Quan Huyện mỉm cười:
- Thế thì được lắm, tao sẽ đòi hỏi, xem xét giấy má, rồi ruộng của tên Xiển lại về tên Xiển.
Lãnh ấp úng:
- Lậy quan lớn...
Quan Huyện hiểu ý, vừa đứng giậy vừa nói:
- Thôi, cho ra, tao sẽ xét công minh.
- Lậy quan lớn...
Biết có sự ngoắt ngoéo, quan Huyện vờ:
- Được rồi, cứ về...
Lãnh càng bối rối:
- Lậy quan lớn...
- Thế nào?
- Lậy quan lớn, xin quan lớn... thương đến con.
- Mày còn muốn gì hơn nữa?
Nói đoạn ông quay lưng vào. Lãnh vội vàng thưa:
- Lậy quan lớn, việc này, nếu quan lớn cứ công bằng xét, thì sao tên Xiển cũng mất ruộng.
- Không, tao đã công bằng, thì ruộng của ai, sẽ giả lại người ấy.
- Bẩm nó lại không có giấy má gì. Mà sổ sách dân làng đệ trình quan lớn đều là giả dối cả.
- Được càng hay, nếu vậy tao bỏ tù hương lý.
- Dạ, lậy quan lớn...
- Sao?
- Lậy quan lớn, thế nào con cũng bắt tên Xiển tạ quan lớn.
- Tao không cần tạ...
- Lậy quan lớn, nhưng mà...
Quan Huyện mỉm cười, cố ôn tồn, hỏi:
- Hắn có điều gì quắt quéo, mày cứ nói thực.
Lãnh gãi tai, đáp:
- Bẩm quan lớn, nếu quan lớn cứ công bình, thì con chẳng dám kêu cự lớn...
Quan Huyện cười mát:
- Vậy mày không muốn tao công bình?
Lãnh lại ấp úng:
- Lậy quan lớn, xin quan lớn... thương lại...
Quan Huyện ngồi xuống sập, cất bức thư màu đỏ vào tập giấy để trên yên:
- Mày muốn tao thương tên Xiển?
Lãnh sung sướng, đáp:
- Dạ, lậy quan lớn, thế nào tên Xiển cũng không dám quên ơn quan lớn.
Quan Huyện dỗ dành:
- Được rồi, tao là ông lang, tên Xiển là người ốm. Muốn ông lang chữa có công hiệu, phải nói thực bệnh. Nếu không đúng, hoặc giấu giếm, tất thuốc uống vô ích.
- Dạ.
- Tên Xiển có phải em họ vợ mày không?
Nhưng không để Lãnh kịp đáp, ông chặn ngay:
- Dù không phải em vợ mày cũng không hề gì, tao đã hứa thì tao bênh đến kỳ cùng. Nó có phải em vợ mày thực không? Tao cần biết như vậy, vì còn hỏi nhiều điều về cha mẹ, họ hàng nó.
Lãnh không thể giấu:
- Lậy quan lớn, nó không có họ với con, nó nhờ con kêu quan lớn hộ.
- Ừ, không quan hệ. Thế ruộng ấy có thực của ông cha tên Xiển để lại không?
- Bẩm, bẩm...
- Bẩm không, phải không?
- Dạ, lậy quan lớn, dù không phải của tên Xiển thực, nhưng tên Xiển có thể chiếm ruộng vì...
Quan Huyện lúc đó mới để cho cơn giận phát ra. Ông đập tay xuống chiếu:
- À, mày láo, mày muốn tao làm hại dân Trai Túc!... Minh!
Thấy tiếng gọi gắt, Minh dạ to, chạy vào.
- Nọc cổ nó xuống!
- Dạ.
- Gọi cai việc, bảo vài đứa mang roi lên đây!
Tức thì những tiếng dạ ran, Lãnh bị đè nằm sấp xuống. Quan Huyện mở tập giấy, lấy chiếc phong bì
Tr42-43
Quan Huyện quát:
- Lôi cổ nó đi!
Ba tên lính ẩy mạnh Lãnh ra. Lãnh không dám kêu van, lẳng lặng theo xuống trại. Hắn bị nhốt vào buồng giam, một chân vào lỗ cùm lim.
* *
Năm nay nhãn sai, chắc nước to lắm, các quan lại vất vả về đê.
Nói xong, bà Huyện nhìn ông, rồi tiếp:
- Nhưng dễ từ thuở bé, tôi chưa thấy nước năm nào to bằng năm Mão, hồi tôi còn nhỏ.
Quan Huyện gật đầu:
- Tôi thấy thầy nói chuyện lại rằng năm ấy cụ lớn nhà tri huyện Thư Trì...
- Thư Trì có đê sông Nhị Hà...
- Nạn ở lụt không khổ bằng nạn đói. Nhiều người bàn nên đắp cao đê. Có người bảo nên phá đi.
Cô Vy ngạc nhiên, hỏi:
- Thưa thầy, con tưởng đắp đê cao còn có lý, chứ phá thì nguy to.
Quan Huyện mỉm cười:
- Chưa chắc đã nguy. Không có đê, thì năm nước nhỏ, cố nhiên không sợ gì. Nhưng năm nước lớn, thì nó tràn vào đồng, lan khắp cả, mỗi nơi chịu một tí, nhưng nó rút chóng. Đồng điền được lợi có phù sa. Cứ như thầy nghĩ, thì đắp cao đê, chưa phải toàn lợi. Vì sông của ta mang theo rất nhiều phù sa, càng đắp cao đê, càng phải giữ nước khổ. Mà rồi cứ phải đắp cao theo mực nước, vì phù sa chất đầy lòng sông, một ngày kia nó cao hơn mặt đồng cũng nên. Vấn đề đê điều ở nước ta vốn là một vấn đề khó giải quyết lắm. Hàng trăm nghìn năm nay, dân ta vẫn chịu nạn lụt.
Bà Huyện nói:
- Đắp đê vững còn khá, lỡ vỡ chỗ nào, chết riêng chỗ ấy. Tôi tưởng khơi thêm sông, cho nước thoát nhanh ra biển, hoặc nắn lại giòng cho bớt cong queo, nước chảy mạnh được, cũng đỡ nguy hiểm.
Quan Huyện gật đầu:
- Bà có lý, nhưng làm được như vậy rất tốn tiền. Tôi tưởng nên phái người ra ngoại quốc, tìm xem thiên hạ có những lúa gì, mua hạt giống về mà ương thử. Sao chẳng có thứ lúa như lúa chiêm ta, bắt đầu gieo mạ từ tháng một, đến tháng năm thì gặt. Như vậy, dù ruộng chiêm hay ruộng mùa, không lo bị ngâm nước nữa, vì những tháng lụt, là tháng để ruộng không.
Cô Vy thấy cha nghĩ đến một sự không ngờ thì sung sướng, bật ra một tiếng cười trong trẻo. Quan Huyện tiếp:
- Thầy cai trị dân, bao giờ cũng nghĩ đến sự no ấm của thiên hạ. Có thực mới vực được đạo. Muốn làm gì, trước hết hãy phải no đã. Vì vậy, thầy vẫn khuyên đẻ con dậy các con, dù giai, dù gái, ai cũng phải có chức nghiệp. Đàn ông nhờ vợ, nhục đã đành, nhưng đàn bà nhờ chồng cũng không phải là điều nên mong. Làm người mà phải sống nhờ, tức là vứt hết những cái đáng quý của mình đi.
Bà Huyện tiếp:
- Đấy, con xem, tiếng thầy làm quan, nhưng đẻ không bao giờ nghĩ đến mình là bà quan, vẫn bồ nâu áo vải, không dám sao nhãng chức nghiệp. Đẻ vẫn đi các chợ, rỗi thì dệt vải. Đẻ làm việc, trước là để vui, sau là đỡ thầy được phần nào hay phần ấy.
Quan Huyện rung đùi, vít xe điếu, hút một hơi dài, rồi nói:
- Thầy thấy nhiều vợ con các quan hay ăn không ngồi rồi. Như vậy không tốt. Ăn không ngồi rồi tất sinh ra tiêu pha. Tiêu pha thì cần tiền. Mà cần tiền, tất ông quan không thể thanh liêm được. Một người cũng như một nhà, một nhà cũng như một nước, nếu tránh được sự xa xỉ, sự dâm dật, thì thế nào cũng sung sướng lâu bền.
Cô Vy ngồi nghiêm chỉnh nghe lời cha mẹ dậy. Bà Huyện nói:
- Cho nên tuy con còn học chữ, nhưng cũng nên để ý đến sự học nghề.
Cô Vy đáp:
- Thưa đẻ, con có sao nhãng bao giờ đâu.
Quan Huyện gật:
- Đành vậy. Nhưng đẻ muốn nói con nên kiếm lấy một nghề hợp với sở thích của con. Con học hành tấn tới. Cái đó rất tốt. Sự học của con chỉ giúp cho con mở mang trí tuệ, biết nghĩa lý, biết phải trái, để biết đạo làm người. Nhưng về nhà chồng, con không thể đem sách vở thơ phú đi làm dâu người ta được. Nhà ta thanh bạch. Tiếng rằng thầy làm quan, nhưng có gì. Ở làng, vẫn chỉ có cái nhà gianh và mươi mẫu của ông bà để lại. Mà ruộng và nhà, là do ông bà suốt đời chăm chỉ, hà tiện, mà gây nên, chứ thầy làm quan, hơn mười năm nay, có tậu thêm được tấc đất nào đâu.
Cô Vy lẳng lặng, cúi đầu. Quan Huyện tiếp:
Thầy lấy hai chữ thanh đạm làm quý. Nghèo mà trong sạch, còn hơn giầu mà dơ bẩn. Cho nên thầy muốn rồi con cũng phải có một nghề.
- Vâng, con xin theo đẻ đi các chợ, học buôn học bán, rồi thì tập bánh trái thêu thùa.
Quan Huyện cười:
- Bánh trái thêu thùa, không phải vô ích, nhưng nó không thực dụng. Con thử nghĩ xem, ngay như nhà ta, mỗi năm mấy lần cần đến bánh trái thêu thùa? Thầy tưởng con gái, ai cũng nên biết muối cà, muối dưa, thổi cơm, chẳng hạn.
Cô Vy bật cười:
- Thưa thầy, những cái thường ấy, ai không biết mà phải học.
Quan Huyện nghiêm trang:
- Nếu không học, sao biết được. Nói đến đàn bà nước mình tức là nói đến vại dưa, vại cà. Xem vại dưa, vại cà trong bếp thế nào, người ta có thể biết được bà nội tướng.
Bà Huyện gật đầu:
- Phải, đàn bà con gái chỉ nên học những cái thường dùng, nhưng cần, còn những cái cao kỳ quá, biết càng hay, không biết không sao. Chứ làm đàn bà mà khâu áo cho con phải đi mượn, làm cơm cho chồng phải đi thuê, thì thực đáng xấu hổ.
- Thầy thấy nhiều người làm quan chỉ đem cái nạn về cho gia đình. Quanh năm thấy bố có bổng lộc, các con đâm ra ngay xương, giai biếng học, gái biếng làm, thành thử các ông ấy gây cho con cái rất nhiều thói xấu.
Cô Vy đáp:
- Điều ấy thầy đừng lo cho chúng con sau này.
Quan Huyện mỉm cười:
- Là nhân vui chuyện, thầy nói thế, chứ thầy nghèo, các con không mong gì thầy để của cho đâu. Vả dù có của, thầy cũng không cho các con.
Bà Huyện nhìn chồng:
- Ông nói lạ, có của chả để cho con, thì cho con hàng xóm à?
Quan Huyện lắc đầu:
- Để của cho con, tức là xui con lười lĩnh, xa xỉ. Nguy lắm. Bởi vậy, tôi vẫn trọng cái nghèo. Cái nghèo mới là ông thầy dậy vừa khôn, vừa khéo, vừa tốt bụng. Chỉ có cái nghèo mới gây nhân cách cho con người ta. Mỗi lần có cuộc phát thưởng, thầy trông thấy bọn học trò nghèo mà thầy đem lòng thương yêu. Chúng nó mặt sáng, mắt sáng, đứa nào cũng có một hi vọng hiện cả ra ngoài, là ganh nhau học. Thật là đáng mừng.
Cô Vy chợt sượng sùng. Cô nghĩ ngay đến hôm có đầu bài dán ở cửa nhà học, bên quan Huấn. Cô sang chép để làm, khi ra về, nhác thấy ba bốn người học trò trạc tuổi cô đương vào, vừa ba hoa vừa cười nói. Cô thẹn, cúi đầu đi. Cô không dám nhìn mặt ai cả. Và bọn học trò, biết cô là con quan Huyện, cũng nghiêm chỉnh đi. Nhưng cô chỉ sượng sùng qua loa thôi, vì quan Huyện đã nói tiếp, làm cô quên việc ấy:
- Nhờ giời thầy được làm đốc học thì học trò hàng tỉnh được ơn nhiều.
........
........
* *
Chương 3
Mấy hôm nay oi bức quá. Trên trời, mây vẩn dần.
Quan Huyện thấy đàn kiến đen tha mồi, bò từ dưới đất theo mặt tường lên xà nhà, bèn gọi Đề lại:
- Có lẽ sắp gió mưa to đến nơi.
Thầy Đề ngắm đường kiến, đáp:
- Bẩm, con thấy nói chiều hôm kia có cái mống.
- Thật à?
- Con không được trông thấy, nhưng nghe nói thế.
Thầy Thông nhì chắp tay:
- Bẩm, con cũng nghe nói thế.
Quan Huyện nghĩ một lát, rồi gật đầu:
-Thế thì tôi không xuống tỉnh nữa, thầy thảo cho tôi tờ bẩm xin phép đi đê. Mà trông giời từ hôm qua đến nay, tôi chắc trên mạn ngược mưa nguồn to lắm, nước mới đổ về nhiều. Thầy Đề với thầy Nhì sửa soạn đi với tôi, có lẽ ta phải đóng ở đình làng Tầm Phương vài hôm, sau trận mưa này hãy về. Mà nếu còn mưa, còn nước thì chửa biết chừng.
Nói đoạn ông ngồi sập, nghĩ tờ bẩm. Thảo xong ông đưa thầy Nhất sai Nho viết, rồi cho gọi Đội lệ.
Thầy Đội già chạy lên, quan Huyện nói:
- Thầy cắt cho tôi vài tên lính, gà gáy mai hầu cáng đi đê Tầm Phương.
Thầy Đề hỏi:
- Bẩm quan lớn, xin sức cả cho lý trưởng Tầm Phương?
- Phải.
Thầy Đề dặn thầy Đội:
- Bác bảo lý sở tại bắt dăm tên phu, tinh sương mai khiêng hòm siểng, đồ đạc.
- Vâng. Bẩm bên lệ, quan lớn truyền những ai đi hầu ạ?
Quan Huyện nghĩ một lát, đáp:
- Tôi chưa đoán được là mấy hôm sẽ về, thầy cứ cắt cho tôi một người cai, hai người lính phụ. Cần thêm, tôi bảo sau.
Ở huyện, quan đi đê là một thời sự khá quan trọng.
Trước hết, anh đồ tề nghỉ mổ lợn, bởi vì quan đi vắng, tất nha lại cũng không có nhà. Gia đình quan Huyện Lê lại tần tiện có tiếng. Quan ông vắng nhà, không bao giờ quan bà bầy vẽ thứ ăn nọ, thứ ăn kia. Thường trong bếp chỉ có rau dưa, cua cá, những thức rẻ tiền.
Bọn lính lệ cũng sắp được rỗi rãi. Họ đã cắt lân nhau lẻn về với vợ con. Cai việc phải ở luôn trại đã ra phố rủ người đánh đụng thịt cầy, ngất ngưởng đánh chén một mình.
Các nhà dân và cả trong quan nữa, ai nấy dặn dò nhau khi đêm hôm, cửa ngõ đóng cẩn thận.
Hàng cơm, hàng nước, hàng quà bánh ngoài phố, thấy mấy ngày sẽ vắng khách, không làm hàng nữa.
Cả ngày hôm ấy, bà Huyện cùng cô Vy bận rối rít.
Bà bắt vú già đem chiếc siểng đan ra ao, rửa, cọ rất kỹ lưỡng, rồi phơi ở sân. Bà xếp đồ dùng vào từng ngăn. Ngăn dưới cùng: một cái niêu, một cái nồi, một cái sanh, một cái chảo. Ngăn thứ ba: mâm, bát, đũa, thìa, mắm, muối. Ngăn thứ nhì: các đồ ăn làm sẵn như dưa, cà, thịt rim, cá rán. Ngăn trên cùng: một bộ khay chén, chai chè cùng buồng chuối tiêu và đổ đầy gạo. Bà sai luồn thừng vào bốn bên thành siểng, rồi buộc túm bốn dây để xỏ đòn càn, hai người gánh cho dễ. Bà quét cái hòm rương, tự tay xếp quần áo trắng, áo thâm, chăn đơn, gối xếp cùng một vài thứ thuốc: thuốc cảm, thuốc đau bụng. Cô Vy không quên hỏi cha xem nên đem lên đê bộ sách gì. Cô lại buộc chiếc màn gọng lên mặt hòm, và chằng trão vào hai quai để xỏ đòn gánh. Giấy má việc quan, bút mực và các đồ lặt vặt thì tự quan Huyện xếp lấy trong cặp bằng vải.
Thực như một người đi ở riêng.
Cả quan Huyện, bà Huyện lẫn cô Vy đều đi ngủ sớm. Nhưng ai cũng nằm, nghĩ kỹ xem còn quên thứ gì thì nhớ lấy để sáng hôm sau mang đi.
Đầu trống năm, bà Huyện khẽ giậy đánh thức cô Vy. Hai mẹ con xuống bếp, gọi vú già. Vú vươn vai đứng ngay dậy. Vì bà dặn từ tối hôm trước nên vú đặt nồi nước, rồi vào chuồng gà, tìm bắt một con, cùng cô Vy cắt tiết. Trong khi vú vặt lông, mổ thịt thì cô Vy lấy gạo, đem xuống vo. Bà Huyện thì trông bếp.
Gần tan canh, trong sân nhà tư đã xào xạc tiếng người. Lý trưởng sở tại cùng Đội lệ đã đem lính và phu vào trực việc.
Họ chào bà Huyện, cô Vy, rồi hút thuốc. Xong, họ dựng đôi trạc ba chân lên, sỏ chiếc võng xanh vào cái đòn trạm sơn son, đặt hai đầu lên trạc. Minh buộc đôi giải gối vào chiếc ngáng ngà. Trống tan canh điểm một hồi, quan Huyện giậy. Trời đã sáng rõ.
Đội lệ giao hòm siểng cho phu, để họ gánh đi trước. Thầy cưỡi ngựa theo sau.
Quan Huyện ăn cơm xong, khăn áo chỉnh tề, mới lên ngồi trên cáng.
Hai tên lính khênh đi nhanh như chạy. Quan nằm trong, vắt chân rất khéo.
Ánh mặt trời đã lấp ló, nhuộm vàng các ngọn cây. Hạt sương đọng trên ngọn cỏ long lanh như ngọc. Thỉnh thoảng thấy phu đổi đòn sang vai bên kia, quan lại hỏi:
- Chúng bay có mệt thì đến hàng nước, hãy nghỉ một lát.
Chúng đáp:
- Dạ, thưa không ạ.
Mặt trời đã lên cao. Tuy cáng có mui là chiếc chiếu cạp điều ép chặt vào đòn bằng cái nẹp tre, nhưng quan vẫn thấy bức. Ông nói:
- Trời oi quá, tất thế nào cũng mưa bão to.
Rồi ông hỏi:
- Chỉ có hai chúng mày khênh, hay có đứa nào thay không?
- Lậy quan lớn, chúng con không biết, chỉ thấy thầy Đội cắt chúng con mà thôi.
Tới một gốc cây đa lớn, quan Huyện hỏi:
- Đã gần đến hàng nước chưa?
- Bẩm quan lớn, còn một thôi nữa, đến ngã tư Gia Cát mới có hàng nước.
- Thế thì còn lâu. Thôi, hãy nghỉ một lát.
Hai tên lính đỗ lại. Quan Huyện thò chân ra ngoài, với đôi giầy mà Minh vừa đặt ở đất. Ông đứng giậy, vươn vai, khục tay, vặn lưng, nói:
- Ngồi cáng còn mỏi thế này nữa là khênh.
Minh cắm cái xe vào điếu ống, rặt mồi thuốc, rồi đánh đá châm lửa. Quan hút thuốc xong, Minh bẩm:
- Bẩm quan lớn xơi nước.
- Quan lắc đầu:
- Lấy cho tao miếng trầu.
Minh đưa cháp. Ông dùng thìa khóa, mở nắp, lấy miếng trầu, vừa nhai vừa đi đi lại lại cho rãn gân. Ba người lính ngồi ở vệ đường, quạt bằng nón. Chúng nhặt chiếc lá đa, cuộn tròn lại, buộc dây rơm cho khỏi sổ, rồi giặt thuốc vào một đầu. Minh đánh lửa, cùng nhau hút. Chúng khoan khoái, mắt lờ đờ say, ngồi thở. Không có một tí gió. Trời mỗi lúc một oi bức thêm. Quan Huyện nhìn phía trước, hỏi:
- Thầy Đội liệu đến đâu rồi?
Minh đáp:
- Lậy quan lớn, khi nẫy chúng con còn trông rõ, nhưng bây giờ khuất đám tre kia. Có lẽ bây giờ thầy con gần tới ngã tư.
Rồi chợt ông nghĩ ra, hỏi:
- À, thằng Pháo ở làng Tất Thắng này, phải không mày?
- Dạ, lậy quan lớn vâng.
- Lâu nay, không biết nó làm ăn có khá không? Mày có gặp nó lên chợ huyện không?
- Lậy quan lớn, phiên trước nó mới lên hiệu chú Thái Hòa cân thuốc.
- Thuốc cho ai?
- Lậy quan lớn, vợ nó đẻ, rồi ốm.
Quan Huyện tỏ vẻ thương hại:
- Thế thì bao nhiêu vốn liếng hết sạch. Mày vào trong làng, gọi lý trưởng ra đây tao hỏi.
Minh đặt cháp điếu và giỏ ấm trước vẫn đeo ở vai cạnh gốc cây, rồi đi. Quan Huyện hỏi hai người lính khênh cáng:
- Chúng bay trước kia làm nghề gì?
Một tên đáp:
- Lậy quan lớn, con làm ruộng.
Một tên đáp:
- Lậy quan lớn, con cũng làm ruộng.
- Chúng mày làm ruộng nhà hay cấy rẽ.
Một tên đáp:
- Lậy quan lớn, con có vài thước, còn cấy rẽ ruộng thầy Chánh con.
- Thầy chánh nào?
- Bẩm, thầy Chánh Vấn.
- Còn mày?
Tên kia đáp:
- Lậy quan lớn, con cũng làm rẽ ruộng thầy Chánh con.
- Có đủ ăn không?
Hai tên cùng gãi tai, đáp:
- Lậy quan lớn thương, chúng con nhờ giời cũng đủ ăn.
Ông Huyện lăm dăm nhìn phía xa. Ông nghĩ đến những trận bão lụt, những hồi đại hạn. Ông thở dài:
- Chúng mày có biết thằng Pháo ở làng này không?
- Lậy quan lớn, chúng con mới vào lính, chỉ được nghe tên, chứ không quen, anh ấy là tay chơi.
Quan Huyện gật:
- Nó đã phải tù, nhưng bây giờ thì lương thiện rồi. Hồi nó bị giam, tao cho nó học nghề thợ mộc.
Một tên nói:
- Dạ lậy quan lớn, con nghe thấy người chú anh ta khoe thế.
- Lâu nay, chúng mày có thấy tiếng tăm nó chơi bời ở đâu hay không?
- Dạ, bẩm không.
- Bây giờ, hai bàn tay nó có thể nuôi nổi cả gia đình. Lúc nó mãn hạn tù, tao cho nó ít tiền. Nó cam đoan không dám đi cướp bóc đâu nữa, xin tu chí làm ăn.
Một tên nói:
- Vâng, bây giờ anh ấy nhập bọn với ông phó già ở dưới Xốm.
Quan Huyện gật đầu. Vừa lúc ấy, lý trưởng theo Minh ra tới nơi. Lý trưởng chắp tay vái, rồi gãi tai bẩm:
- Lậy quan lớn, nhân tiện quan lớn đi qua, rước quan lớn quá bộ vào trong con nghỉ một lát, còn đã quét dọn nhà cửa sạch sẽ.
Minh đỡ lời:
- Lậy quan lớn, trong bác lý cũng lịch sự.
Quan mỉm cười:
- Cảm ơn thầy. Tôi không định nghỉ ở đây. Nhân chợt nghĩ đến thằng Pháo, tôi thấy nói vợ nó ốm phải không?
- Lậy quan lớn, vợ nó đẻ, không nuôi được, rồi ốm.
- Ôốm bệnh gì?
- Bẩm nó lên phố Huyện kể bệnh với ông thầy, thì đâu ông thầy bảo là cảm, có cắt cho chén thuốc.
- Thế vợ nó đỡ chưa?
- Lậy quan lớn, con không biết.
Quan Huyện ôn tồn:
- Thầy đưa tôi đến nhà nó.
- Dạ.
Lý trưởng bẻ cái rong làm roi, rồi mời:
- Lậy quan lớn, mời quan lớn đi.
- Thầy biết đường, cho đi trước.
Quan Huyện cùng lý trưởng vào trong làng, theo con đường hẹp, nhẵn, hai bên có hàng rào dâm bụt. Con chó vàng thấy người lạ, chạy thụt vào dậu, thò mõm ra sủa. Lý trưởng cầm cành rong khua khua. Nhưng chó cắn làm phép, mà người sua cũng làm oai. Nó vẫn cắn, các chó trong xóm đều cắn. Lý trưởng càng sua, nhưng không đánh vào con nào. Thỉnh thoảng hắn lại gọi, đe bằng giọng hách dịch:
- Ba Phúc đâu, mắng chó đi, không thì chết bây giờ!
Hoặc bảo:
- Con mẹ Tề, trông lấy chó.
Thấy tiếng thầy lý, ai nấy sợ sệt, hấp tấp ra gọi "êu êu".
Những người qua đường gặp quan, đều tránh rạt sang một bên, ngả nón, khom lưng chào. Quan Huyện đều mỉm cười, gật đầu trả lời:
- Không dám.
Đến ngã ba, lý trưởng nói:
- Rước quan lớn vào đình, còn cho đòi tên Pháo ra hầu.
Quan Huyện lắc đầu:
- Không, tôi muốn vào tận nhà nó để được mắt thấy bây giờ nhà cửa nó ra làm sao?
- Dạ, thế bẩm cứ đi thẳng đường này.
Nói đoạn, hắn để quan đi trước. Qua điếm canh, hắn vội vã đến gần chiếc mõ gỗ, to bằng cái cột, hình con cá, treo lủng lẳng ở xà ngang. Hắn móc tay vào bụng cá, lấy dùi gỗ dang thẳng cánh đánh công cốc.
Quan Huyện quay lại hỏi:
- Đánh làm gì?
- Dạ, bẩm con gọi khán thủ đòi kỳ dịch ra hầu.
Quan Huyện lắc đầu:
- Không cần.
Nhưng hắn vẫn cứ đánh, đánh chín tiếng đôm đốp.
Quan Huyện cau mặt:
- Tôi không muốn phiền ai. Nhân tôi qua đây, tạt vào xem nhà thằng Pháo, chứ có việc quan gì đâu.
Ở đằng xa, một người con trai hớt hơ hớt hải chạy lại. Thấy quan, hắn sợ hãi, vái. Lý trưởng nói:
- Lậy quan lớn, khán thủ ra hầu.
Quan Huyện gật đầu. Lý trưởng trợn mắt nói:
- Chú khán ra điếm, cho tuần đi đòi kỳ dịch, mau!
Quan Huyện xua tay:
- Thôi, không phải gọi ai cả. Ta miễn.
Nhưng lý trưởng nháy khán thủ, anh này lại cắm cổ chạy.
Tới một cái nhà có hàng rào xương rồng, lý trưởng chạy lên trước, trình:
- Lậy quan lớn, đến nơi rồi.
Quan Huyện trỏ cái nhà tranh thấp, làm trong khoảng đất hẹp, hỏi:
- Nhà nó đây à?
- Dạ, lậy quan lớn, con xin vào trước, báo cho nó biết.
Nói đoạn, hắn vừa nâng cổng chống lên kêu kẽo kẹt, vừa gọi:
- Pháo có nhà không. Quan vào.
Một con chó đứng trên hè, sủa ăng ẳng.
Pháo, một người trạc ngoài ba mươi, mắt to, mặt hung tợn, vội vã chạy ra. Thấy quan, hắn vái chào, rồi tọt vào trong nhà. Hắn rương liếp cửa lên, tìm chiếc áo dài, vừa gài khuy vừa gãi tai:
- Lậy quan lớn, con không được biết quan lớn đi việc quan qua làng con.
Quan Huyện ôn tồn đáp:
- Hôm nay tao đi đê qua đây, nhân thấy nói vợ mày ốm, nên tạt vào, muốn xem bây giờ mày làm ăn ra làm sao? Vợ mày đau ốm thế nào?
Ông nhìn vào trong nhà, thấy cái giường tre, trên có người nằm đắp chiếu, tóc xõa cả xuống đất. Cả nhà, đồ đạc chỉ có thế. Pháo cảm động quá, lộ vẻ sung sướng, vào lay vợ, gọi:
- Này, có quan, ra hầu, mau.
Quan Huyện ngăn:
- Thôi, yên, để nó nằm nghỉ.
Nhưng vợ Pháo đã tung chiếu. Người đàn bà xanh lướt ngồi nhỏm giậy, không kịp vấn đầu, trông thấy quan Huyện, vội vàng thụp xuống lậy hai lậy.
Quan Huyện gật đầu:
- Thôi, cho nằm xuống.
Chị ta dạ, rồi vấn đầu, thở hổn hển. Quan Huyện hỏi:
- Đây là nhà ai?
- Lậy quan lớn, quan lớn thương con, bây giờ con tậu được cái nhà này.
- Quan Huyện vui vẻ, gật đầu:
- Tốt lắm. Quanh năm, mày đi làm có đủ ăn không?
- Lậy quan lớn, con cũng để dành được chút ít, nên bây giờ mới được thế này.
Vợ Pháo vấn đầu xong, lần đứng giậy, ra hè, ngồi xổm cạnh cột, nói:
- Lậy quan lớn, chúng con không biết lấy gì tạ ơn quan lớn được. Xưa kia, chồng con...
Quan Huyện gạt đi:
- Chà! Vào mà nằm nghỉ.
Pháo thấy vợ nhắc lại chuyện mình xưa kia, không muốn nghe cái đoạn đời xấu xa, nên trợn mắt, bảo vợ:
- Kìa, quan truyền.
Quan Huyện hỏi:
- Thế vợ mày ốm ra sao?
- Lậy quan lớn, nhà con ở cữ xong thì ốm. Con có lên huyện lấy thuốc.
- Thế đã đỡ chưa?
- Bẩm mới uống có hai thang, ông thầy bảo uống đủ ba thang, nghe ngóng thế nào hãy đổi đơn.
- Ông thầy bảo bệnh gì?
- Lậy quan lớn, con lên kể bệnh, ông thầy bảo nhà con phải cảm.
- Đơn đâu, đưa tao xem.
- Lậy quan lớn, không có đơn ạ.
Quan Huyện lắc đầu:
- Uống thuốc cách bức thế này, chỉ tổ hại tiền.
Nói xong, ông bắt vợ Pháo đến giường nằm.
- Ông lên hè, vào nhà, bảo người đàn bà giơ cổ tay ra cho ông xem mạch.
Trong khi ông yên lặng nghe bệnh, Pháo đứng ngây người, nhìn. Anh ta ứa nước mắt.
Xem mạch xong, quan Huyện hỏi:
- Bã thuốc, mày còn giữ lại không?
- Dạ, bẩm có.
Pháo tìm cái rá bã thuốc còn phơi ngoài sân. Quan Huyện nhìn từng vị, gật gù nói:
- Phải, thuốc cảm đây, nhưng không phải nó cảm.
Ông gọi Minh lấy bút giấy trong cặp, nghĩ ngợi một lát, rồi kê đơn. Ông dặn:
Mày lên ngay phố Huyện mà cân. Cái vị mà tao khoanh tròn này, nếu ở hiệu không có thì vào nhà trong, bẩm cô Vy cho một miếng.
- Dạ.
Pháo không biết làm thế nào tỏ được hết lòng biết ơn của mình, hắn liền thụp xuống đất, vừa sụt sịt vừa lạy tạ quan Huyện. Vợ Pháo cũng ngồi nhổm giậy, vừa khóc vừa lễ.
Quan Huyện cảm động, nhìn hai người, thở dài:
- Bây giờ mày lương thiện, nên tao có lòng thương, mới cứu giúp. Tao thấy đời mày không hỏng, lấy làm bằng lòng lắm.
- Lậy quan lớn, thật là nhờ ơn quan lớn.
- Vợ mày không phải cảm, nhưng nếu không chữa trúng, có thể nguy được. Mày bây giờ có nhà có cửa, tao mừng cho. Nhưng nên sạch sẽ. Nội nhận hôm nay, phải dọn hết rãnh nước kia đi. Chỗ miếng đất đầu nhà, không được để cỏ mọc, nó sinh ruồi muỗi. Sao mày không đánh luống mà giồng rau?
- Lậy quan lớn, con đi vắng quanh năm, ít khi về đến nhà. Giá nhà con không ốm, con cũng chưa về.
- Đành vậy, nhưng dù thế nào, vợ chồng cũng nên khuyên bảo nhau ăn ở sạch sẽ. Hễ sạch sẽ thì ít bệnh tật. Bệnh vợ mày do một phần ở nhà cửa bẩn thỉu.
- Lậy quan lớn truyền, con xin vâng.
- Rồi vợ mày theo đơn thuốc mới này, nếu một thang mà đỡ thì uống thêm thang nữa, bằng không thì lên đình Tầm Phương cho tao biết, tao sẽ liệu.
Rồi ông nhìn Pháo, thương hại:
- Vợ ốm trận này, có bao nhiêu vốn liếng lại sạch thôi!
Pháo thở dài. Quan hỏi:
- Vợ chồng mày đi vắng quanh năm, nhà này cho ai ở?
- Lậy quan lớn, có con đi vắng, còn nhà con ở nhà.
- Vợ mày không làm nghề gì à? Phải có nghề mới được chứ!
- Lậy quan lớn, nhà con làm thuê, làm mướn loanh quanh nên đã nuôi được con lợn, con gà.
Quan Huyện gật đầu:
- Thế thì tốt.
Nói đoạn, ông quay ra, theo con đường đã đi vào. Pháo theo sau tiễn ân nhân. Quan Huyện nói chuyện với lý trưởng:
- Tôi xem làng này phong quang lắm, không có nhà nào tiều tụy quá.
- Dạ. Đội ơn quan lớn, làng con mới mấy năm nay mới phong lưu thôi ạ.
- Làng thầy có bao nhiêu học trò?
- Bẩm có ông đồ, chân nhị trường, đến ngồi nhà ông Lý già, bảo độ dăm chục trẻ. Còn vài người học khá, thì người tập văn quan Huấn, người theo trường quan Cử Đông Môn. Lậy quan lớn, kỳ thưởng vừa rồi, có tên Cung được thứ mười.
- Thế à?
Bỗng phía trước có tiếng xôn xao. Thì ra ở điếm canh, chức dịch trong làng đã tề tựu chờ đón quan.
Nhanh nhẩu quá, họ đã cắm năm lá cờ và bầy hương án bái vọng. Đỉnh trầm nghi ngút tỏa khói sang hai bên, làm mờ cả cây chuối con cắm trong chiếc độc bình.
Khi quan đến, ba bốn chục người đã mặc sẵn cả áo thụng vái chào. Một tràng pháo ngắn đì đẹt nổ. Lý trưởng thấy lời hiệu triệu vội vàng của mình được ai nấy hưởng ứng thì sung sướng lắm, bèn giới thiệu từng người. Quan Huyện niềm nở hỏi han. Đến một ông cụ già tóc bạc phơ, chống gậy lom khom, lý trưởng nói là cụ Nhất. Quan Huyện dắt tay đỡ, hỏi thăm con cháu. Ông cụ vừa run rẩy lưng vừa cố lắng nghe. Song vì ông điếc quá nên lý trưởng phải trả lời hộ. Nhưng ông cau mặt, móm mém nói:
- Để yên, lão hầu chuyện quan. Một đời lão mới được đứng trước vị "vạn gia sinh Phật", sao anh tranh lời lão.
Quan Huyện cảm động, ghé vào tai ông già:
- Cảm ơn cụ, tôi chúc cụ khỏe mạnh, tôi mong sao được tuổi như cụ.
Ông già nghe hiểu, gật đầu:
- Chúng con vẫn nghe nói quan lớn là vị phúc tinh, muốn đến huyện, vào lậy mừng, nhưng già yếu lắm.
Nói đoạn, ông cố khom lưng xuống, hình như để lậy. Quan Huyện vội vàng đỡ giậy. Ông bảo lý trưởng bắc ghế cho cụ Nhất ngồi.
Ông gọi Minh lấy tờ giấy hoa tiên và bút mực, ông đã nghĩ được đôi câu đối. Ông nắn nót viết, rồi đọc cho cả mọi người nghe. Ông ghé tai, giảng cho cụ Nhất hiểu. Ông già sung sướng, giơ hai tay ra bái lĩnh.
Trước điếm, đàn bà, trẻ con rủ nhau ra xem quan... Đối với Quan Huyện Lê Sỹ Cư, họ cốt được trông mặt một vị nhân quan, mà tưởng chừng như nếu bỏ lỡ dịp, họ có thể ân hận, hậm hực và tự trách mình là không thành kính vậy.
* *
Ra đến đường cái, quan Huyện đã thấy lý trưởng Tầm Phương đứng chờ ở gốc đa. Hắn định lên huyện báo khúc đê sung yếu.
Bọn kỳ dịch Tất Thắng vái chào. Quan Huyện từ giã mấy lời, rồi lên cáng.
Đi bộ trăm bước, thấy tiếng thì thào ở phía sau, ông ngạc nhiên, hỏi:
- Thằng Minh nói chuyện với ai thế?
Pháo lên tiếng:
- Dạ, lậy quan lớn, con ạ.
Quan cau mặt gắt:
- Thôi, cho đi về, cố trông nom thuốc thang cho vợ mày. Tao không khiến đi theo.
- Dạ. Lậy quan lớn cho phép con đi hầu quá hạt làng con.
- Thôi không cần. Tao không muốn phiền thế. Đừng làm mất công mất việc đi.
Pháo ngần ngừ, khẽ đáp:
- Dạ.
Quan Huyện nhìn lại phía sau, vẫn thấy Pháo theo, bèn mắng:
- Thôi, đi về. Tao biết lòng mày rồi, nhưng tao muốn mày tỏ lòng cung kính bằng sự làm ăn chăm chỉ, cư xử hiền lành. Mày bỏ công việc để đi tiễn tao, tức là làm trái ý tao. Thế thì còn cung kính gì tao nữa.
Không biết làm thế nào, Pháo chào quan Huyện, rồi tần ngần đứng lại. Phía làng hắn, ở gốc đa, người đi tiễn cũng chưa về. Họ đều nhìn theo hút cáng quan, đợi cho đến khi khuất. Thấy vậy, Pháo cho mình không tiễn được quan theo như ý muốn là thiếu bổn phận lớn, nên hắn cứ lẳng lặng theo sau.
Phu khênh cáng vẫn chạy. Minh rảo bước. Quan Huyện cởi áo tham, bỏ khăn ra, gọi:
- Minh! Lý trưởng Tầm Phương có đấy không?
- Dạ, bẩm có.
Quan Huyện dòm ra ngoài, toan hỏi. Nhưng ông thấy Pháo và lý trưởng Tất Thắng vẫn lẽo đẽo ở sau, ông đập chân vào cáng gắt:
- Hãy đứng lại!
Rồi ông xuống đất, cau mặt, mắng Pháo. Pháo ngậm ngùi vái ông, rồi tần ngần đi. Ông bảo lý trưởng Tất Thắng về. Ông đứng nhìn theo hai người một lát, đi thật xa, mới lại lên cáng. Ông hỏi lý trưởng Tầm Phương:
- Thầy Lý gặp các thầy nha với thầy Đội lệ ở đâu?
- Lậy quan lớn, thầy Đề đến nơi lúc tang tảng sáng. Còn thầy Đội, con gặp ở quá ngã tư.
- Vậy chắc phải biết là tôi đi đê, việc gì còn phải trình, sao không ở lại mà sắp sửa phu phen?
- Lậy quan lớn, thầy Chánh con đã giao cho chúng con ai việc nấy rồi. Phần con là sở tại, chỉ phải tiếp quan nha thôi ạ.
- Quan nha không phải tiếp. Quan nha đi đê là để trị thủy chứ có phải đến làm gì mà phải tiếp. Các thầy phiền lắm. Giữ đê là phòng nạn chung cho cả một miền, thì nơi nào được hưởng lợi phải góp một phần công của mới hợp lẽ phải.
Cáng vẫn chạy. Mọi người rảo bước theo, rất mỏi mệt.
Đi một lát, đến ngã tư, quan Huyện bảo mọi người nghỉ chân để uống nước. Nhưng họ xin cứ đi, vì còn một thôi nữa thì tới.
Đường theo bờ ruộng, chỗ cao chỗ thấp, nên phu cáng phải một phen vất vả. Quan Huyện bảo họ đi thong thả. Ông hé chiếu nhìn ra ngoài. Cả một cánh đồng lúa non xanh rờn, phẳng lặng như bức thảm. Thỉnh thoảng, một vài cái gò nổi lên như ngọn đảo trên biển. Ông hỏi:
- Đây là đồng làng nào?
Lý trưởng đáp:
- Lậy quan lớn, đồng làng con.
- Cả cánh đồng không có một cái cầu, cái quán nào, vậy những lúc nắng nôi, người làm nghỉ vào đâu?
- Lậy quan lớn, họ nghỉ cả trên gò.
- Nhưng vẫn nắng.
- Bẩm, họ có mang nón.
- Đành vậy, nhưng sao mỗi gò không giộng lấy vài cây bàng, cây sấu, hoặc cây vải, cây nhãn, vừa lấy hoa lợi vừa lấy bóng mát?
- Lậy quan lớn, giá có giồng cũng không lại được với trâu, với trẻ con.
- Sao không giữ nổi, đem rào gốc chứ. Vả trâu có làm hại cây cũng là do trẻ con, mà trẻ con thì mình bảo, chúng hiểu ngay. Chúng giữ là giữ cho chúng, sau này lớn, ắt được hưởng hoa lợi và khi đi làm, hưởng bóng mát. Thầy phải nhớ điều đó.
Đoạn ông gọi:
- Minh! Lát nữa nhắc tao bảo thầy Đề sức cho khắp các làng phải giồng cây trên các gò đống hoặc bãi cỏ ở ngoài đồng, nghe chưa?
- Dạ.
Rồi quan nói:
- Có những điều rất nhỏ mọn, nhưng ích to, mà xưa nay không mấy ai nghĩ tới.
Dải đê cao như bức thành đã hiện ra trước mắt. Tiếng trống hộ đê, ba tiếng một, thúc từng hồi, nghe rõ dần.
Đi độ trăm bước nữa, phải lên dốc. Quan Huyện nói:
- Thôi, để tao đi bộ, nhân tiện xem xét. Hai người lính dừng chân. Vừa bước xuống đất, quan Huyện đã tỏ ý không bằng lòng.
Là vì ông thấy cờ bay phấp phới cắm suốt mặt đê. Chánh phó tổng cùng lý dịch các làng gần đó, đã áo thụng, đứng sẵn chực nghênh tiếp. Họ thấy quan, đều khúm núm vái.
Một tràng pháo. Phường bát âm nổi bài lưu thủy. Trống khẩu đánh ba tiếng một. Và hai chiếc lọng xanh đã kèm sát cạnh quan. Đến mặt đê, quan Huyện dừng lại:
- Các thầy đón tôi, tôi lấy làm cảm ơn. Nhưng thôi, tôi miễn hết cả. Những người đánh trống, che lọng, vác cờ, ai về nhà nấy, hoặc phải đi phu thì đi làm việc ngay.
Nói đoạn, ông đội nón tiến lên trước. Đoàn chức dịch theo sau.
Cuộc đón long trọng phải ngừng. Phu phen cởi áo nỉ, cờ tháo, lọng cụp. Họ đi rảo lên.
Quan Huyện nhìn phía sông. Nước đỏ chảy đùn đùn, thỉnh thoảng xoáy, sâu hoắm, tảng bọt ngầu ngầu, hoặc khúc gỗ đương lềnh bềnh trôi phăng phăng phải chìm nghỉm.
Quan Huyện nói:
- Nước mưa trên nguồn đổ về to quá.
- Lậy quan lớn, từ đêm đến giờ, nước lên hơn một thước. Mà còn đương lên.
Ông nhìn trời, lại ngảnh sang cánh đồng xanh tươi thắm:
- Không biết có tránh được mưa gió hay không đây. Chỗ nào nguy cấp nhất, thầy Chánh?
- Lậy quan lớn, rước quan lớn hãy về dinh nghỉ.
- Không, tôi đi thăm đê đã.
Lý Tầm Phương nói:
- Lậy quan lớn, ở quá cây đa kia, chỗ gần giáp giới địa phận Thanh Đức.
Quan nhìn theo ngón tay, phàn nàn:
- Dân Thanh Đức sao không rủ nhau vào nội đê mà ở, thành ra năm nào cũng chịu lụt?
- Bẩm, làng ấy có cụ Kép với cụ Cửu, hai cụ không đi trước thì ai dám đi.
- Mặt đê mà có cây to là một cái nguy. Phải chặt hết đi mới được. Thế phu phen ra sao, đủ chưa?
Chánh tổng đáp:
- Con mạn phép quan lớn, đã bắt một trăm phu tổng Tầm Phương đương làm ở chỗ ấy.
- Thầy nên lấy ở khắp các làng. Mỗi làng phải có tre, có phu đều nhau, như vậy họ không tị được, nghe chưa?
- Dạ. Lậy quan lớn, con hãy tạm lấy như thế, còn chờ lệnh quan lớn sau.
Quan Huyện thong thả đi. Trời lúc ấy đã râm hẳn. Nhưng râm mà không mát. Mây đen lẩn vẩn kéo từng mảng, như còn chờ nhau, hoặc như đợi một lệnh mới cùng tấn công xuống đất.
Tới chỗ phu làm tấp nập, quan Huyện dừng lại. Lý trưởng nói:
- Lậy quan lớn, đêm qua, cả một mảng chỗ này lở xuống. Nhưng may, chúng con đắp ngay được.
Quan Huyện ngắm một lúc, ngạc nhiên hỏi:
- Quái, sao tự nhiên lở được nhỉ?
- Dạ, bẩm tại trước kia có một cây đa.
- Thật là tai hại!
Một người hớt hải, báo:
- Lậy quan lớn, con thấy nước đỏ đùn đùn sang bên đồng.
Quan Huyện quay lại. Quả nhiên thửa ruộng gần đó có nước chảy sang.
- Chắc nó theo cái rễ cây, lâu ngày mục đi.
Ông bèn bảo Chánh tổng đốc thúc phu đến đó.
Nhét đầy đất để lấp cái lỗ nhỏ bên phía đồng không khó khăn gì, nên chỉ trong nháy mắt, nguồn nước tắc. Nhưng quan nói:
- Đó mới là tạm yên. Nội phu phen đây, có ai lặn giỏi không?
Một anh lực lưỡng chạy ra trước, bẩm:
- Lậy quan lớn, con biết lặn.
- Anh làm nghề gì?
- Bẩm, con làm nghề thuyền chài.
- Thế thì tốt lắm. Ta sai anh một việc nguy hiểm, liệu anh có chịu nhận không?
- Lậy quan lớn, nguy hiểm thế nào, con cũng không dám chối từ. Con là tôi con quan lớn, gì con cũng xin nghe.
- Anh giỏi lắm. Nhưng đó không phải là một lẽ anh nên liều. Anh liều là liều để cứu cho dân khỏi bị tai nạn. Ta sẽ thưởng công cho.
- Bẩm quan lớn, không phải thưởng công, mà cũng không phải vì cứu dân mà con dám liều. Con liều là vì quan lớn sai làm, dù có chết cũng hả.
Quan Huyện cảm động. Chánh tổng nói:
- Lậy quan lớn, tên này là anh ruột tên Can, năm ngoái nhờ quan lớn minh xét, được thoát tội.
Quan Huyện gật đầu:
- Tôi nhớ tên Can rồi. Anh tên là gì?
- Bẩm lậy quan lớn, con tên là Nguyễn Văn Mịch
- Ta muốn mượn anh lặn xuống sông, tìm cho được cái lỗ để nước vào đồng. Lấp được lỗ ấy mới có hy vọng, nếu không nước mạnh cứ thúc sang, chỗ lấp bên kia chỉ lát nữa là bục ra như trước.
Mọi người nhìn Mịch, sợ xanh mắt. Mịch nói:
- Dạ, con xin cố.
- Nhưng anh thử liệu xem, nước chảy xiết thế, có làm nổi việc hay không? Nếu không, ta nghĩ cách khác.
Mịch quả quyết:
- Dạ, bẩm được ạ.
- Nếu không được, ta phải khai tâm đê. Làm như vậy mất lâu công, nhưng nếu kịp thì chắc chắn không sợ vỡ.
Mịch chạy xuống chân đê, cởi quần áo, đóng khố. Quan Huyện sai lấy chão bện cho to, nối cho dài. Mịch buộc một đầu dây vào người, còn một đầu, mười người phu cầm lấy.
Làm xong, Mịch nhảy ùm xuống nước, lặn xuống. Bọt sủi lên ngầu ngầu theo dòng nước, cuốn đi mất, đoạn dây chão trên mặt nước, lúc căng ra, lúc chùng lại. Mọi người cầm dây, đều hết sức đứng choãi chân để lấy gân chực níu co Mịch lại, nếu hắn bị trôi.
Không thấy Mịch nhô đầu lên. Ai nấy có bụng mừng. Họ yên lặng, hồi hộp chờ. Nhưng một lát, lờ mờ gần mặt nước có đám tóc đen, rồi Mịch hiện lên, hết sức phấn đấu với sóng để bơi vào. Mọi người co dây. Mịch bò lên bờ, vuốt nước ở mặt, rồi nằm nhoài ra, thở hồng hộc. Chánh tổng cúi gần hỏi:
- Thấy chưa?
Mịch không nói được. Anh lắc đầu. Bỗng có người kêu:
- Nước lại chảy vào đồng rồi!
Quan cho xuống xem. Họ nói:
- Bẩm bây giờ lỗ to hơn trước.
Quan tần ngần nghĩ, lẩm bẩm với thầy Đề:
- Mà khai tâm cũng nguy hiểm lắm, vì đoạn này mới lở.
Rồi ông gọi to:
- Thầy Đề, làm giấy sức bắt thêm hai trăm phu với hai trăm tre, mau!
- Dạ!
Thầy Đề đi khỏi, quan hỏi Chánh tổng sở tại:
- Còn ai lặn giỏi nữa không?
Mịch lúc ấy đã ngồi dậy được. Mặt anh đã đỡ nhợt nhạt. Anh nói:
- Lậy quan lớn, còn dò thấy một lỗ, nhưng không chắc có phải hay không?
- Sao không chắc?
- Bởi vì nó ở đằng kia chứ không phải đằng này.
Quan gật đầu:
- Mặc dầu, ta cố lấp lại. Anh có nhớ nó ở đâu không?
- Bẩm chỗ cây tơ hồng cao kia xuống.
Mọi người trông theo tay chỏ. Mịch nói:
- Bẩm nghỉ một lát, rồi con lại xin xuống.
- Nhưng lấp bằng gì? Có rơm sẵn đây không?
Lý trưởng nói:
- Bẩm, con xin đi lấy.
- Phải trộm rơm với đất thó, rồi ôm xuống mà lấp. Nhét cho thật chặt. Nếu còn hở, lại lấp lần nữa, cho kỳ thấy kín mới thôi.
Chẳng mấy chốc, vật liệu đã đủ cả. Mịch lại buộc chão vào người, ôm đất lặn xuống. Lần này anh không vất vả lắm, vì đã nhô đầu lên ngay. Mọi người thấy anh hai bàn tay không lên, reo hò ầm ĩ. Anh nói:
- Xin chuyến nữa.
Mịch ôm tảng đất lặn xuống, rồi lại nhô lên. Anh lên hẳn bờ, nói bằng giọng đắc thắng:
- Bẩm đã kín.
Quan Huyện nhìn sang phía đồng:
- Thầy Lý thử xuống chân đê xem còn thẩm lậu nữa không?
Lý trưởng tuân lệnh, nhưng thất vọng:
- Bẩm, vẫn chẩy.
Ai nấy thở dài. Thì ra Mịch đã lấp một lỗ khác.
Quan Huyện hỏi:
- Còn ai có thể lặn xuống nữa? Lần này không lấp được, ta đành khai tâm. May thì được, nếu không may, chịu để vỡ đê à?
Mịch lại nói:
- Xin quan lớn chớ lo. Thế nào con cũng làm kỳ được mới nghe.
Thấy Mịch can đảm và kiên tâm, ai nấy kính phục. Quan Huyện gật đầu. Nhưng Chánh tổng đã dẫn ra hai người, cùng là tay thuyền chài thiện nghệ.
Quan Huyện dặn dò cách làm việc. Một lát, hai người lặn xuống, nhưng một anh bị dòng nước cuốn đi ngay, phải lập tức co lên bờ. Còn một anh lặn được lâu hơn, nhưng chưa tìm thấy gì.
Chánh tổng nói:
- Lậy quan lớn, con tưởng hãy tạm khoét lỗ bên đồng cho rộng và sâu, rồi lấp đất chặt vào, như vậy giữ được lâu hơn. Trong khi ấy, ta hãy tìm kế để cứu bằng cách chắc chắn. Chứ nếu nay nhất định chữa từ gốc mà chưa tìm thấy gốc, con e nước cứ chảy, khoét lỗ to dần, thì rồi khó cứu.
Cho là một ý kiến hay, quan vui vẻ nói:
- Phải lắm. Còn ai nghĩ được cách diệu hơn, cứ nói. Ta nên gom góp mỗi người một ý.
Khi lỗ lấp xong, thấy quan dân tạm yên, thầy Chánh mới nói:
- Xin rước quan lớn về đình. Rồi thế nào dân phu cũng tìm được lỗ ở bên sông.
Đình ở xa đó, quan Huyện đi một quãng, rồi xuống dốc, vào trong làng. Vừa đi, ông bàn bạc với mọi người cách cứu đê.
Ở đình, cơm đã sắp sẵn. Bữa ấy Lý trưởng sở tại cung đốn.
Quan Huyện nói:
- Từ chiều, thầy Lý không phải bận việc cơm nước nữa. Phải ở luôn trên mặt đê, nghe chưa! Thầy bảo cất tạm một cái nhà quan cư, để tôi có chỗ làm việc gần, chứ ở đây xa lắm, đi lại mất công.
Trời đã lất phất mưa. Những hạt nước lăn tăn bay theo gió.
Việc hộ đê đã trông thấy là vất vả.
Một lát, luồng gió mạnh từ tây nam thổi lại. Lá cây lật úp, phơi mặt xanh nhợt lên, kêu phần phật. Ăn xong, nhìn ra hàng rào, quan trợn mắt:
- Hỏng! Bão đến nơi rồi! Ta phải đi mới được.
Rồi ông giục:
- Các thầy đi mau lên!
Thầy Chánh nói:
- Lậy quan lớn, giời mưa, xin rước quan lớn cứ nghỉ ở đây, kẻo sáng ngày quan lớn dậy sớm, lại vừa đi mệt.
Ngay lúc đó, một người tuần làng Tầm Phương hớn hở chạy vào đình reo lên:
- Lậy quan lớn, tên Mịch đã lấp được lỗ cáo rồi!
Ai nấy vui vẻ. Quan Huyện bảo Minh:
- Mày lấy ra năm quan, đưa thầy Chánh thưởng cho tên Mịch.
Bỗng có người báo lính tỉnh đến. Quan Huyện biết có việc thượng khẩn. Ông cầm giấy sức của quan Tuần, đọc xong, bảo mọi người:
- Tôi phải sang hộ đê bên Mỹ Hào bây giờ đây. May, hạt nhà thế là yên ...
....
Rồi ông cắt người ở nhà, người đi hầu, và bảo Minh thắng ngựa. Chánh tổng sai mượn đôi giày guốc, cái áo tơi, để quan dùng tạm.
Quan Huyện xắn quần lên, chống gậy, đi trước lên mặt đê. Trời mưa như tầm như tã. Gió càng to. Áo tơi và nón dứa, ông nhẩy lên ngựa. Mọi người theo ông, phải dẫm chân đất, xắn quần đến bẹn.
Đường đã bắt đầu trơn. Nhưng vì bổn phận thúc giục, ông thúc ngựa đi rất nhanh. Gió thổi càng mạnh. Mưa vẫn nặng hạt đều đều. Thỉnh thoảng, áo tơi tung ra, nón lật lên. Ông phải nhanh tay giữ cho chặt.
Đi được một lát, ông dừng lại, quay nhìn bọn tùy tùng. Ông thương họ vất vả. Sóng sông dồn dập, vỗ vào mạn đê óc ách. Nhìn cái mốc đo nước, ông nghĩ: "Vẫn lên đều".
Một con thuyền đi ngược dòng, kéo buồm căng ra, chạy như bay. Bụng ông bảo dạ: "Bây giờ sợ gió hơn sợ nước".
Đi một thôi đường, đến hạt đê Mỹ Hào trống ngũ liên đánh rầm rĩ. Ông thầy phu phen mà ái ngại cho họ. Chỉ có vài chục người, ướt như chuột lột, vừa vuốt nước mặt, vừa làm việc. Người đào đất, người chuyển đất, người đắp con trạch. Họ đứng hàng một, từ mặt ruộng đến mặt đê. Sắn được tảng đất, họ nhanh nhẹn chuyển sang tay nhau. Vậy mà lý dịch vẫn quát tháo, đánh đập, ốp họ làm.
Quan Huyện vào nhà quan cư lợp dạ ở cạnh đó. Ông ướt hết quần áo. Quan Phủ Mỹ Hào mừng rỡ, ra đón. Quan Huyện hỏi quan Phủ tình hình phu phen. ....... Ông nói với quan Phủ:
- Một là chúng nó thất vọng về đê không thể cứu, hai là chúng nó thấy bão, lại lo lắng nỗi cửa nhà...
Quan Phủ đáp:
- Đệ biết là vì cả mọi lẽ, nhưng không làm sao được.
- Vậy xin quan bác sức ngay cho đệ ba trăm phu, nói rõ là làm việc với đệ.
Quan Phủ bảo Nho viết tín bài, phái lính cầm đi, và bắt đánh trống thúc cho rền. Rồi ông nói với quan Huyện:
- Vì đệ bất tài mà quan bác phải vất vả, đệ lấy làm áy náy lắm.
Quan Huyện gạt đi:
- Xin quan bác chớ nghĩ ngợi, có việc này, anh em mình mới được dịp gặp nhau lâu.
- Xin quan bác hãy tạm lấy quần áo đệ mà thay.
Quan Huyện cười:
- Vô ích, đệ phải ra mưa ngay bây giờ đây. Đệ có đem theo các thứ dùng, nhưng gia nhân chưa tới.
- Vậy hãy mời quan bác sơi chén nước nóng cho ấm đã. Vừa mưa vừa bão, đệ không biết khúc đê này rồi ra làm sao, đệ lo quá. Hiện từ sáng, đệ bị cảm.
- Xin quan bác cứ yên tâm nghỉ ở đây, đệ xin đi một mình. Đệ xin hết sức.
Ông uống chén nước. Hơi nóng vào tận ruột, ông thấy ấm áp, dễ chịu. Bỗng ông cười:
- Nhà này chỉ lát nữa là đổ, nếu không cũng tốc hết mái. Vậy mời quan bác vào đình sở tại mà trú.
Nói đoạn, ông mặc áo tơi, đội nón, bước chân ra ngoài mưa. Giọt nước to bắn rát cả mặt. Ngọn gió vu vu thổi bạt cả hơi. Nhưng ông cứ hăng hái. Nha lại Mỹ Hào phải theo sau. Đến chỗ đông phu phen, ông dừng lại, nhìn họ một lát, rồi nói to:
- Các phu phen, hãy ngừng tay lại, nghe ta nói!
Mọi người im phăng phắc.
- Các anh phải cố giữ cho vững khúc đê này. Giời này còn mưa. Mà có khi bão to hơn nữa. Mà gió to, mưa to, ấy mới là nguy hiểm. Nhưng hãy quay cả lại, nhìn phía ruộng kia. Lúa má xanh tốt thế, mà không biết chừng bị ngập lúc nào đó! Song, không những lúa má bị ngập mà thôi đâu, nhà cửa các anh, của cải các anh, cả phần mộ tổ tiên các anh, không biết có được vững bền không đấy! Lúa má, nhà cửa, của cải, phần mộ có còn, cũng là do các anh có hết lòng hay không. Hai cánh tay các anh bây giờ mới là vật đáng quý, các anh phải lấy hết gân sức, dấn một hôm, hai hôm, để cứu lấy những thức quý hóa. Các anh không gắng dùng hết sức của hai cánh tay trong một, hai ngày này để giữ vững đê, thì các anh phải gắng sức gấp mười trong mươi, mười lăm năm, mới lại được như hiện giờ. Giời mưa, lại bão. Các anh làm việc vất vả. Ta biết công cho các anh lắm. Ta là quan, tuy không có phần nào thiệt hại chung với các anh đâu, nhưng không đành tâm trông thấy các anh khó nhọc. Ta khuyên các anh nên mặc gió, mặc mưa. Đây này, ta không muốn hưởng sung sướng hơn các anh đâu!
Nói đoạn, ông bỏ nón, cởi áo tơi, và tụt guốc ra, đưa cho người lính theo hầu, rồi vừa sắn áo vừa tiếp:
- Ta cũng chịu một phần khổ với các anh.
Ai nấy kêu la rầm rĩ:
- Không, xin quan lớn đừng thế!!
Quan Huyện nói to một lát đã thấy rát cổ. Gió lại làm bạt tiếng đi, nên ông phải nói to hơn:
- Thôi, các anh đừng nhìn ta nữa, lại bắt đầu làm việc đi. Lát nữa, sẽ có ba trăm người đến hợp sức với các anh. Khúc đê này không vỡ được! Các anh phải tin thế!
Mọi người phấn khởi, rất hăng hái.
Chánh tổng ái ngại cho quan, nhăn nhó nói:
- Xin rước quan lớn mặc áo và đội nón.
Quan Huyện lắc đầu:
- Không, hãy cứu được khúc đê này đã.
Rồi ông bảo lý dịch đứng ốp phu:
- Các thầy nên thương con em phải ngọt ngào cho chúng nó vui lòng làm việc. Các thầy vứt cả roi mây đi. Tôi nghe nói ai đánh đập một tên phu nào, sẽ thẳng tay trừng trị.
Nước mưa thấm qua ba lần áo, quan Huyện đã thấy lạnh. Khăn và tóc ông đẫm những nước. Mặt ông sám ngoẹt. Đứng trước gió, ông lạnh run lên. Nhưng nhìn lũ dân reo hò vui vẻ, ông đi đi lại lại, quên cả mưa bão.
* *
Càng mưa. Càng gió. Gió ào ào. Mưa ào ào. Tạo hóa như muốn thỏa cơn thịnh nộ. Gió giật từng cơn, rít trong cây. Luồng tây bắc thổi lại, đè dí thân cây xuống. Các cành con trụi lá như cuồng dại, đánh vào nhau cuống quýt. Những hạt mưa như thi nhau chạy hết tốc lực về phía đông-nam. Rồi cây gẫy, mái tốc. Ngói tung lên từng mảng, bay đi xa, rơi xuống, vỡ loảng xoảng. Rồi cây đổ, nhà đổ. Hạt mưa mau làm mờ cả những nơi gần. Nước sông chảy cuồn cuộn, mỗi lúc một lên cao. Sóng lăn đi, quật vào mạn đê, vỡ tung ra đánh ầm. Trời như căm người kiên tâm. Nước như giận con đê còn đứng vững. Trời, nước hợp sức nhau để tàn phá. Thỉnh thoảng, năm sáu làn sóng dồn dập, lăn xả vào sườn đê. Nếu không có con trạch be, thì đã nhẩy xổ được sang đến đồng rồi.
Nhưng, theo gương quan Huyện, bọn phu vẫn bình tĩnh, vui vẻ làm việc. Hôm nay, năm sáu trăm người đứng ở giữa nước, - vì trên là nước, dưới là nước, xung quanh cũng là nước, - không một ai đội nón. Vì đội để làm gì? Nón có che được mưa này đâu! Để trên đầu, chỉ tổ bận tay phải giữ, vì quai nào lại được với sức gió! Họ như không để ý đến báo, đến mưa. Họ vẫn nhanh nhẹn lấy mai sắn đất, truyền tay nhau những tảng lớn, để phụ con trạch cho to thêm. Dân mỗi làng một quãng đê. Họ thi nhau làm, xem bọn nào tất lực. Họ vẫn đùa nhau, vẫn cười vui vẻ. Từ quan, cho đến Chánh phó tổng, Chánh phó lý, ai nấy ướt như chuột lột, quần áo dán sát vào thân, môi thâm sịt, rét run lẩy bẩy, nhưng không ai nói đến chuyện mưa, chuyện gió, không ai cầm một cái roi vọt để thị uy. Ai cũng ngọt ngào, dù cần phải gióng giả con em làm việc. Họ nghiệm từ hôm qua, là làm những việc không công như đi phu đắp đê, hễ người cầm đầu mà ngọt ngào thì ai cũng tất lực, tất lực hơn mọi ngày phải trừng phạt bằng cách chôn chân hay cách đánh đập. Họ thấy lần này, phu phen và vật liệu, lấy dễ dàng hơn, dù mọi lần, công việc không vất vả bằng. Không có một người nào trốn. Không có một cây tre nào bị thải. Ai nấy đều vui lòng vâng mệnh quan mà chịu nhọc nhằn. Lý dịch không phải nài ép, bắt bớ ai, mà trong khi làm, không phải dọa dẫm, đe nẹt gì. Cây roi mây, lời quát tháo, không phải những thứ đắc dụng nữa.
- Nhà tôi dễ tốc hết mái!
Một người chợt nói thế. Người khác đáp:
- Nhà tôi tất đổ rồi!
Lại người khác nói:
- Nhà tôi cũng chẳng vững vàng gì!
- Nhưng tôi kệ thây, đã có đàn bà, trẻ con ở nhà.
Một giọng thân mật trả lời:
- Phải, mình giúp tay vào cứu lấy đê, nó mà vỡ thì mấy trăm, mấy nghìn nhà đều đổ sụp, dù là những nhà vững nhất.
Người ta quay lại, thì té ra là quan Huyện Văn Lâm. Quan Huyện mỉm cười. Và thấy có mặt ông, họ lễ phép, ngượng nghịu, nên ông nói luôn:
- Các anh có thấy bao giờ bão to như năm nay không?
- Dạ, lậy quan lớn, cái trận bão năm Thìn cũng to, đổ cả đình làng Vàng.
Một người khác bẩm:
- Bẩm từ sáng đến giờ vẫn gió tây-bắc.
Quan Huyện gật:
- Phải, từ đầu giờ Mão, bây giờ cuối giờ Thìn rồi.
- Thế thì, lậy quan lớn, bão năm Thìn chỉ gió mạnh hơn trận này, nhưng không lâu bằng.
- Vậy ra trận này tai hại hơn à?
- Dạ. Rồi lát nữa, gió xoay chiều mà lại mạnh và lâu như thế này, thì cây cối, nhà cửa nào đứng vững được!
- Tôi mong cho gió chóng đổi, chứ cứ như bây giờ, thì chả cần sóng đánh vào đê, chỉ gió cũng có thể làm đổ đê được.
- Lậy quan lớn, liệu có khỏi lụt được không ạ?
- Các anh làm việc tận tâm như thế này thì dù mưa, dù bão to nữa cũng không hề gì. Tôi nói gió làm đổ đê là nói chơi, chứ Trời, Phật, Thánh, Thần nào nỡ phụ công các anh! Chỉ có là gió tây-bắc còn dai, ta còn vất vả mà thôi. Chứ nếu không hi vọng gì, tôi đã trả bắt các anh phải khó nhọc!
Một người đáp:
- Bẩm, khó nhọc thì có khó nhọc, nhưng mà chúng con chưa thấy bao giờ lại vui vẻ như thế này.
Quả vậy. Trông mặt họ, ai cũng biết là họ kiên trì và tận tâm. Họ cặm cụi làm việc. Chưa lúc nào họ uể oải. Từ đầu đến chân, ai nấy đất bùn như chát, tuy mưa dội xuống, nhưng không trôi đi được. Quan Huyện cũng lấm hết. Ông xắn quần đến đầu gối, chân đi đất, tay chống gậy cho đỡ trơn ngã. Ông đến chỗ nọ chỗ kia, nói chuyện với bọn này bọn khác. Ông rất vui lòng, vì gần dân, ông rõ rằng họ sợ ông nhưng vẫn yêu ông, mà cả sợ lẫn yêu là do thật bụng cả.
Bỗng người ta reo lên:
- A, gió đã đổi!
Ai nấy ngấc cổ lên nhìn. Ngọn cây bây giờ đã ngả về phía đông. Và hình như sức gió đã hơi yếu. Tuy vậy, cây nào cây nấy vẫn gục xuống, đứng lên, có vẻ khốn nạn như lậy lục vì bị đau đớn.
Quan Huyện cho bắc loa gọi:
- Quan truyền gió đã đổi và yếu, đê có thể vững được, cho anh em nghỉ tay một lát.
Tiếng loa đi xa nhưng bị mưa ào ào, không mấy người nghe rõ. Xong, từ miệng nọ truyền sang miệng kia, chỉ trong một loáng, phu ngừng làm việc. Cán mai chổng ngược lên trời. Quang, thúng nghiêng ngả. Họ khum hai bàn tay vào nhau, hứng lấy nước, rửa mặt. Rồi sẵn mưa rào rội xuống, họ kỳ cọ chân tay, mình mẩy. Họ pha trò, tiếng cười vang dội khắp mọi nơi. Nhưng bỗng tiếng cười to hơn, vì giữa lúc họ đương tắm mưa thì nguồn nước tự nhiên ấy ngớt đi. Thành thử họ lại bôi bùn thêm khắp mình.
Một người ngửa mặt lên trời, giục:
- Mưa nữa đi, người ta đang tắm dở dang!
Lại những hồi cười giòn tan. Người nọ nhìn người kia, chế nhạo nhau bằng những lời ý vị.
Bỗng khu làng nào, thấy Phó lý ấy đến. Tay hắn cầm nón úp lại, nhưng không che lên đầu, mà trong nón lại có khói bay ra. Bọn phu bảo nhau:
- Chắc quan truyền lại bắt đầu làm.
Rồi họ đố nhau:
- Đố ai biết thầy Phó cầm gì?
Người đoán thế này, kẻ đoán thế nọ, nhưng không đúng. Vì sự thực không ai ngờ đến. Khi Phó lý đến gần, mới nói:
- Nào ai hút thuốc thì lại, quan phát lửa cho đây.
Họ nhìn mồi rơm che nón, nhưng chợt nghĩ ra, lại cười ồ:
- Ai cũng thèm hút, nhưng chỉ phải một nỗi, là giời tẩm cả thuốc bằng nước mưa mất rồi.
- Có sẵn đây, quan thưởng mỗi làng một bánh, tha hồ hút. Quan bảo hết lại có.
- Thuốc lào ở đâu mà quý hóa thế?
- Quan vừa bảo cụ Chánh cho quân mua đấy.
Bọn phu xúm cả lại, quây quanh chiếc điếu cầy. Anh nọ thổi lửa, nhờ mấy người đứng che gió, rồi ghé điếu xuống dưới nón, ngửa cổ lên rít một hơi dài, rồi đưa anh kia đã chìa tay đón sẵn.
- Ban nãy mải làm việc, không ai nhắc đến hút thuốc nhỉ!
- May mà quên, chứ thèm thì làm thế nào?
- Đành chịu!
- Thuốc ngon quá! Có anh nghiện nặng và đã nhịn lâu, hút một hơi thực dài, rồi nuốt chửng cả khói vào ngực, một lát, mới mắt lờ đờ, há rộng miệng, thở ra. Có anh hút đến lần thứ hai cho bõ cái khổ phải nhịn từ sáng.
- Nghỉ được đến bao giờ, hở thầy?
- Bây giờ, ai có cơm lấy ra mà ăn, đến Ngọ lại bắt đầu làm.
- Quan truyền thế?
- Phải.
- Thầy liệu cái gió này rồi có mạnh và lâu như buổi sáng không?
- Không thể biết trước được, nhưng quan bảo hiện giờ gió thổi theo dọc đê, thế là vững, không sợ sóng, dù nước lên to, đã có con trạch, không cần. Nên bây giờ, nhân lúc ngớt này mà nghỉ ngơi, ăn uống.
Dân phn tản mỗi người một nơi. Họ đến chỗ để lương thực. Họ có cơm và muối vừng, hoặc tôm rang, gói trong mo. Nhưng cả cơm lẫn thức ăn đều ướt đẫm. Họ bốc cơm chấm vào đồ ăn. Cơm của họ đỏ và rời rạc, nguội lạnh, lại ướt át. Nhưng họ ăn ngon lành lắm. Những người có thức ăn khác nhau, hợp lại một bọn, cùng hưởng với nhau. Vừa ăn, họ vừa nói chuyện về đê, về bão. Họ hỏi Phó lý:
- Không biết liệu làng ta có nhiều nhà đổ không?
- Thôi, quan bảo đừng lo nghĩ gì đến việc ấy vội. Đáng lẽ các anh phải ở đây ba hôm, nhưng vì suốt ngày hôm nay vất vả, quan đã cho đi bắt bọn khác để thay rồi. Chiều nay, bọn mới đến, ta được về, tha hồ mà chữa nhà.
Họ mừng quá, hỏi lại để đỡ ngờ vực:
- Thật à? Quan truyền thế à?
- Quan đã cho trát đi rồi.
Họ vỗ tay reo lên, báo cho nhau tin mừng. Họ nhìn qua cánh đồng trắng xóa những nước, về tới làng họ:
- Quan... nhân đức quá. Ngài thương dân như con . . . .
Phó lý gật đầu:
- Cái đó đã hẳn . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Họ ăn xong, tu nước vối đựng trong ấm tay. Bữa cơm dưới trời mưa bão, họ thấy ngon lành quá. Họ lại hút một lượt thuốc nữa:
- Quan chu đáo quá. Không có ngài, anh em mình không biết làm thế nào để hút thuốc bây giờ.
Một người hỏi:
- Quan Văn Lâm chắc đương sơi cơm trong đình với quan nhà?
- Không, ngài vào trú tạm nhà Tư Khoa.
- Ồ, sao lại ở nhà Tư Khoa? Các ông không chọn nhà sạch sẽ, đẹp đẽ để ngài vào à?
- Ngài bảo không cần. Ngài nói anh em mình phải ăn cơm giữa gió bão, mà ngài được ngồi trong nhà che gió che mưa, đã là quá lắm rồi.
- Ồ, ngài làm quan, ai bắt ngài chịu khổ!
- Ai dám bắt ngài, là ngài thương anh em mình đấy chứ.
Phó lý gật đầu:
- Phải, ngài bảo thấy nhân dân khổ, ngài không nỡ hưởng sung sướng một mình.
- Ai oán ngài mà ngài nghĩ thế! Thật vậy, lần này tôi muốn ai cũng tất lực để ngài vui lòng.
- Thì ai chả tất lực, tôi chắc ai cũng nghĩ như chú, ngài tử tế, ta đền ơn ngài bằng cách tận tâm.
- Tôi chỉ sợ ngài không hiểu lòng chúng ta.
- Ồ, sao ngài chẳng hiểu. Một ông quan đỗ đại khoa, chứ có phải người tầm thường đâu.
Bỗng một hồi loa gọi, theo gió đưa đi. Người ta lắng tai, nhưng không ai nghe rõ gì cả. Họ hỏi nhau, nhưng ai nấy ngơ ngác. Người đoán:
- Quan đã ra, chắc ngài giục làm việc.
- Chưa đến Ngọ.
Phó lý chạy lên mặt đê để hỏi, mới rõ lệnh truyền bây giờ gió yếu hơn lúc nẫy, quan cho phép dân ăn uống thong thả.
Quá Ngọ, quan Huyện ăn cơm xong, ra ngay mặt đê. Vẫn áo quần sắn gọn, vẫn đi chân không, ông đến chỗ Chánh phó tổng đứng để chuyện trò. Đoạn, ông xuống dưới chân đê, hỏi han từng bọn phu. Thấy ông, họ đều đứng dậy, đáp bằng những giọng lễ phép.






0 comments:
Đăng nhận xét
[im]your image url..[/im]
[youtube]your video url..[/youtube]
[si="10"]your text[/si]
[co="red"]your text[/co]
〈div style=""〉 TEXT〈/div〉