2. Mời đọc Bản đánh máy
3. Mời Đọc/Lấy về Bản chụp dạng PDF (NXB Đời Mới, 1943)
4. Tham khảo: Các bài viết liên quan
Mời nghe đọc
Mời đọc Bản đánh máy
Nghịch cảnh
(1903-1977)
I
Bóc đến tờ lịch đề ngày 15 tháng Juin in mầu đỏ thắm, Phương mỉm cười một mình. Nàng vội-vàng quay lại nhìn. Nàng sợ có ai biết nàng đã lộ vẻ vui sướng thì ngượng chết. Nhưng cả nhà chưa ai dậy. Vẫn còn sớm quá.
Là vì sớm tối hôm nay, Thanh, chồng nàng, học ở ngoài Hà-nội, được nghỉ hè về.
Nàng mới làm dâu nhà họ Trần ở Nguyệt-Áng này từ cuối tháng ba dư, và mới ăn ở với chồng vỏn vẹn có hai hôm. Độ cưới, Thanh xin phép được một tuần-lễ, nhưng không dám ở nhà cả bẩy ngày. Nhị-hỉ xong, chàng về Hà-nội để kịp thi bài toán-pháp chiều thứ sáu. Cữ ấy, lớp chàng đang thi, vắng một kỳ, mà nhất là bài toán-pháp lại quan hệ, chàng sợ không đủ số điểm để được lên lớp.
Phương còn văng-vẳng thấy Thanh bảo :
- Đã có vợ, nếu học kém đi, anh em bạn chế, xấu hổ không chịu được.
Bây giờ nàng chỉ còn hơi nhớ mặt Thanh mà thôi. Thật thế, trước ngày cưới, nàng có được rõ chàng lắm đâu. Nàng chỉ thoáng trông thấy chàng có một lần, cái lần đầu tiên, ông Nghè, là cha Thanh, đưa chàng đến phủ Kiến-xương chơi với cha nàng. Ấy, may nàng tình-cờ gặp, chứ giá biết mục-đích ông Nghè đến để xin nàng cho Thanh, nàng đã trốn như trạch. Rồi ngày vấn danh, nàng ngồi thụt trong buồng từ sáng đến tối mịt; ra ngoài, sợ chị em họ hàng chế. Rồi hôm cưới, phần nhớ nhà, phần thẹn- thùng, phần hồi hộp, nàng không thể đánh liều liếc nhìn trộm chàng, dù nàng đã phải cùng lễ tơ hồng một chiếu với chàng. Vả lại, bàn thờ tơ hồng bầy ngay giữa sân, hàng trăm mắt đổ dồn cả vào cô dâu. nàng đã phải một phen thẹn cuống-quýt, đến nỗi giá cô Cử của nàng không dúi đầu nàng xuống, nàng cũng chẳng biết lúc nào phải lễ nữa là. Sự thực, lúc ấy nàng chỉ nhìn thấy ở chàng cái áo thụng xanh mới, cái quần là nếp cứng và đôi bít-tất tơ trắng.
Rồi hai ngày ăn ở với chồng là hai ngày mới mẻ của người con gái mới làm dâu. Chỉ có đến khuya, chờ cả nhà gần đi ngủ cả, chàng mới dám vào buồng trò chuyện với nàng dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn Hoa-kỳ. Còn ban ngày, lúc ăn, chàng ngồi với cha và Liêm, Khiết, là hai em trai, trên nhà trên. Nàng ngồi với mẹ và Thúy, là em gái, dưới nhà dưới. Ngoài ra, chồng cặm cụi học thi, và nhát, nên chẳng dàn mặt nàng. Nhưng nói cho đúng, giá chàng xông-xáo, nàng cũng chẳng dám làm ra mặt bạo-dạn mà nói chuyện với nhau trước mặt mọi người. Nàng loanh quanh, hoặc trong buồng, hoặc nhà ngoài, têm trầu để mẹ chồng tiếp khách, hoặc xuống bếp làm cơm. Đôi khi gặp Thanh, nàng đưa mắt nhìn xuống, lén sang một bên để chàng đi. Thế mà nàng cũng đỏ mặt đỏ tai, buồn buồn sau gáy, như có cái gì nó bò khắp người.
Song, tuy được sum họp với chồng ít, chưa rõ tính nết chàng ra sao mà nàng rất lấy làm mừng, vì thấy chàng chăm học. Chính bà Phủ, là mẹ đẻ nàng, đã khen Thanh với nàng rằng :
- Anh ấy khá đấy, con trai mới cưới vợ mà không quên lo-lắng văn bài. Quan Án Nam-sơn nói chẳng sai tí nào.
Ông Án Lê bên làng Nam-sơn vốn dâu gia với ông Phủ Kiến-xương, lại là bạn đồng khoa thi hội với ông Nghè Trần. Chính ông làm mối cho Thanh lấy Phương. Ông thấy nàng dâu ông, mợ cả Vĩnh — trước kia còn ở nhà thì tên là cô Chân — rất ngoan-ngoãn, mà Phương giống chị như đúc, cả người lẫn nết, nên tháng giêng vừa rồi, ông mới đánh tiếng với ông Nghè. Giá ông còn con hoặc cháu trạc tuổi Phương, quyết hoa thơm ông đánh cả cụm đấy. Ông Nghè vốn đã biết tiếng mợ cả Vĩnh nên nhờ ông Án đến nói với ông Phủ.
Ông bà Phủ nghe ông Án khen bên họ Trần phúc hậu và Thanh chăm học. Vả gặp chỗ đại gia, môn đăng hộ đối, nên chẳng ngại xa, bằng lòng gả Phương cho Thanh. Được năm thanh-long, ông bà cho cưới ngay vào tháng ba dư, tuy vội-vàng, nhưng tháng thừa, làm việc gì chẳng lành.
Thanh hơn vợ hai tuổi. Chàng đã hai mươi mà mới học năm thứ hai trường Bảo-Hộ. Sự đó không lạ lắm. Bởi vì trước kia, chàng học chữ nho mãi đến năm ông Nghè nghe rục rịch bỏ thi Hương mới cho chàng xoay học chữ Pháp. Vì thông minh lại chịu khó, nên mới ba năm, Thanh đã đỗ bằng tiểu học, được vào lớp thành-chung trường Bảo-Hộ.
Chàng là con trai lớn ông Nghè Trần, nhưng là rể thứ hai ông Phủ Kiến. Thấy Vĩnh, người anh rể, chỉ hơn mình có ba tuổi mà đã học trường Hậu-Bổ, nên chàng càng phải cố gắng, để khỏi mang tiếng con ông cháu cha mà làm nên chậm hơn người .
Từ ngày cưới, Phương chưa về thăm cha mẹ. Nàng nhớ nhà lắm, nhưng biết làm thế nào ? Nàng đã đi làm dâu, có biết bao bổn-phận mới mẻ và nặng-nề. Vả ông bà Nghè đã hứa đến nghỉ hè nàỵ, cho vợ chồng nàng về Kiến-xương một tháng, ở đến ngày kỵ tháng bẩy, nên từ hôm xé đến tờ lịch đề mồng một tháng Juin, nàng mong mỏi từng ngày, cho đến sáng nay, những nét chữ tươi thắm làm nàng vui sướng.
Nàng rũ tóc, lấy lược chải, vẩn-vơ nhìn qua cửa sổ. Những giọt sương đọng trên lá rung động trước gió, lấp-lánh như kim-cương. Mặt trời đỏ ối sau lũy tre xanh. Nàng áy-náy lo Thanh phải đi đường nắng vất-vả. Đi xe ké hơn ba mươi cây số vào mùa này, ai không mỏi mệt. Nàng đã tính rằng sớm lắm thì mười hai giờ, chàng mới tới nhà. Nhưng biết đâu chàng không ăn cơm sáng ở nhà trọ rồi mới về. Như vậy, được thong-thả, song phải đi vào buổi trưa nóng nực. Chàng không viết giấy hẹn trước.
Từ ngày cưới đến nay, chỉ mỗi lần chàng có thư về, nhưng không viết riêng cho nàng. Hôm nghe loáng-thoáng trên nhà, thấy nói có thư « anh Cả », nàng đã vừa bồn-chồn, vừa thẹn-thùng. Nàng chỉ sợ là chàng viết cho nàng. Nếu chàng viết cho nàng thì không biết làm thế nào đây. Tất nàng phải nhờ Thúy đọc hộ và trả lời hộ, vì nàng mới bắt đầu học quốc-ngữ độ ngót tháng nay, chưa đánh vần được. Mà cô em chồng ấy, vì chỉ kém nàng có một tuổi nên thân với nàng, vả tính cô hay đùa, rồi chế nàng, thì nàng đến phát khóc lên được.Chải đầu, vấn khăn xong, Phương cầm chổi quét nhà, thì vừa bà Nghè dậy. Thấy con dâu hay lam hay làm, bà rất vui-vẻ, nhưng không thích nàng tranh việc của đầy tớ, nên bà cau mặt, bảo :
- Gọi chúng nó lên quét cho, tội gì, con ! Thầy với các em còn ngủ cả à ?
Phương dựng chổi vào xó cửa, đáp :
- Vâng ạ.
- Đánh thức các em dậy, anh Cả sắp về mà chúng nó cứ quen ngủ muộn thế là anh không bằng lòng đâu !
Thấy mẹ cũng nghĩ đến chồng mình, tự nhiên mặt nàng nóng bừng bừng. Nàng lên nhà trên, gọi các em, rồi xuống bếp xem siêu nước.
♣
Vào khoảng mười giờ, ăn cơm xong, Phương đứng xỉa răng ở sau mành, nhìn ra phía cổng. Bỗng có tiếng xe lạch cạch trên đường. Nàng hơi bồn chồn, rồi chiếc xe đỗ hẳn. Nàng thoáng thấy một người đội mũ trắng. Tự nhiên nàng hồi hộp. Thì vừa lúc ấy, Liêm và Khiết chạy ùa ra sân, reo ầm :
- A, anh Cả !
Phương giấu vẻ mừng rỡ, vội-vàng chạy vào buồng. Trống ngực nàng đánh thình thình.
Tiếng chào hỏi xôn-xao ồn ào, bỗng Thúy gọi nàng :
- Kìa, đẻ bảo chị ra cất hòm quần áo cho anh.
Nàng đỏ mặt vừa vì sung sướng, vừa vì thẹn thò.
Nàng ra nhà ngoài, thấy Thanh đương quạt phành phạch, mồ-hôi mồ-kê nhễ nhại. Thanh cũng đã nhìn thấy nàng. Nhưng cả hai người đều e-lệ. Không ai chào ai. Bà Nghè trỏ cái hòm đặt ở hè, bảo :
- Mợ xem cậu ấy có cái gì thì cất đi, rồi bảo chúng nó làm cơm.
Nhưng Thanh vội-vàng nói :
- Bẩm để con mang lên nhà trên, chỉ có sách vở thôi đấy ạ.
Phương đưa mắt nhìn xuống, mỉm cười cho đỡ ngượng. Ông Nghè hỏi :
- Thì cũng có quần áo chứ ?
- Vâng ạ, nhưng phần nhiều là rách.
Thúy ranh-mãnh nhìn Phương :
- Năm nay có chị thì chị vá, em đỡ bận.
Ông Nghè bật cười :
- Con bé !
Phương lẳng lặng ra hè, đến gần hòm. Nàng ngồi xổm, toan giương nắp lên. Nhưng sực nhìn thấy cái khóa, nàng bẽ bàng không biết làm thế nào. Nàng bèn đánh liều, đến gần mẹ chồng :
- Bầm đẻ, hòm khóa ạ.
- Thì bảo cậu ấy đưa chìa cho.
Nhưng Thanh nhanh-nhẩu đứng phắt dậy :
- Khóa chữ, để con mở lấy ạ.
Chàng lúi-húi vặn mấy vòng đồng, rồi dựng nắp hòm lên. Phương đến gần chồng. Thấy thoảng cái mùi quen quen và thân yêu ở cạnh, nàng xao-xuyến. Nàng ngồi xuống, nhắc quần áo của chàng ra, đặt vào lòng. Chàng cũng ngồi xuống, đặt những chồng sách lên thành hòm. Nàng tưởng tượng ở sau nàng, từng ấy con mắt đương ngắm chòng chọc. Lấy xong quần áo, nàng đứng dậy, quay ngay lại Thúy. Cô em chồng quả đương nhìn nàng, chế nhạo nàng bằng một cái mỉm cười, làm cho hai má nàng đỏ ửng.
Bỗng Thanh gọi :
- Mợ cất cả cho tôi cái này nữa.
Nàng quay lại. Thanh đưa chiếc khóa chữ vẫn còn mở.
Không dám nhìn ai, nàng đi thẳng vào buồng. Lúc đó, một mình, nàng như được hoàn hồn, mới quay ra, thấy chồng đương lúi húi ở hè, chọn sách. Nàng giở quần áo ra xem, để riêng những cái rách. Rồi tẩn-mẩn, nàng xem cái khóa. Nàng thử so xem chàng đề những chữ gì, thì dần dần, nàng thấy bốn chữ T.H. P. H. Nàng hiểu ngay. Hai chữ đầu ở tên chàng. Hai chữ sau ở tên nàng. Nàng mừng thầm, thấy chàng không phụ lòng yêu mến, nhớ-nhung của nàng trong những ngày phải xa cách.
Nàng xuống bếp. Tưởng chừng lũ người nhà đều nhìn nàng bằng đôi mắt chế nhạo. Cho nên nàng chẳng dám trông ai. Nàng mở tủ đồ ăn và tự xếp mâm bát.
Bỗng chợt ngẩng lên, nàng thấy chiếc mành treo cửa buồng rung động. Nàng chắc Thanh vào tìm nàng. Nàng vội-vàng rửa tay để lên. Nhưng được ba bước, không biết nghĩ thế nào, nàng dừng lại. Rồi lại không biết nghĩ thế nào, nàng lại đi.
Nàng hồi-hộp, đánh bạo mở mành.
Thanh nhìn nàng, mỉm cười. Nàng cũng mỉm cười để tỏ vẻ âu yếm.
- Tôi đi sớm quá, đỡ nực nhưng mà mệt,
- Thầy đẻ cứ chắc đến chiều cậu mới đến nhà.
Thanh gật đầu :
- Mọi bận vẫn như thế. Mợ thì đoán tôi về sớm hay về chiều ?
Phương cười :
- Tôi không đoán, nhưng mong từ tang tảng sáng.
Vợ chồng tình-tứ nhìn nhau. Thanh nắm cổ tay nàng, kéo ngồi cạnh. Nàng giật ra, khẽ nói:
- Chết, đừng thế, lỡ các em vào… Hôm nào cậu phải đi học ?
- Còn lâu, đến mồng mười tháng tám kia.
Nàng ngồi, nhưng cuối giường, nói :
- Cậu lên nhà đi, xem thầy đẻ có hỏi chuyện gì không chứ.
- Hỏi rồi.
- Nhưng cứ lên nhà. Mọi khi thế nào, bây giờ cũng nên thế.
Chắc Thanh cho là phải, đứng dậy. Phương xuống bếp trông cơm nước. Nàng không ngờ quen với chồng nhanh chóng thế. Cứ như hôm qua, nàng tưởng chừng không biết bao giờ mới dám bạo-dạn nói chuyện với chồng giữa ban ngày. Nàng sực nhớ câu trong truyện Kiều :« Từng cay đắng lại mặn-mà hơn xưa ».
♣
Thanh yêu vợ, nhưng không xao-nhãng sự học. Chàng đã đặt chương-trình làm việc, và theo rất đúng. Cũng như ngày đi học, chàng dậy từ năm giờ để tập thể-thao và tắm. Buổi sáng, chàng ôn tập văn bài; buổi chiều, chàng dạy các em. Chỉ có chủ-nhật, chàng mới nghỉ cả ngày để đi chơi nhà họ-hàng, bạn hữu. Chỗ học của chàng ở chái nhà trên, sách vở xếp đặt ngăn nắp. Không mấy khi Phương lên đó. Nàng không dám mất thì-giờ của chồng. Bởi vì lần đầu tiên, nhân ông bà Nghè đến nhà ông trưởng họ lễ giỗ, nàng lên xem chồng học. Thanh chiều vợ, bỏ cả buổi để nói chuyện. Rồi tối hôm ấy, chàng làm việc đến tận khuya. Và lúc đi ngủ, chàng vỗ trán, phàn-nàn :
- Mỏi quá !
Phương ái-ngại, nói :
- Tại cậu thức nhiều.
Chàng ôn-tồn đáp :
- Để đền lại cái thì-giờ mất lúc buổi sáng nói chuyện với mợ.
Bởi vậy, Phương hối-hận mãi. Từ đó, nàng rất quý thì-giờ học của chàng,
♣
Từ ngày Thanh về, mãi vui thú với chồng, Phương ít khi tưởng nhớ đến nhà. Nàng quả thực hoàn-toàn sung-sướng. Nàng thấy chàng chăm chỉ, và rất nhiều đức tính. Bởi vậy, nàng càng cố ăn ở cho khỏi phụ bụng chàng.
Một hôm về đầu tháng sáu, ông Phủ cho người nhà đem thư về xin phép ông Nghè đón vợ chồng Thanh xuống chơi. Phương vui sướng. Nàng xếp quần áo của Thanh và của nàng vào va-li. Ông Nghè vốn lo xa, sẻ những thuốc cấp cứu, như thuốc đau mắt, thuốc đau bụng, thuốc nhức đầu, v.v.. vào trong các lọ con, bắt nàng mang theo.
Thanh biết vợ rất cẩn-thận, nên không phải bận việc sửa hành-lý lặt vặt, chàng chỉ nghĩ đến những thứ cần riêng của chàng, tức là một vài cuốn sách xem giải-trí, một cái bút chì và một quyển sổ con.
Mồng bốn tốt ngày, vợ chồng Thanh được phép đi. Từ ngày cưới, hôm nay Phương mới lại qua đường này là lần thứ hai. Nàng để ý nhận xét, hỏi chồng tên từng làng, và lối rẽ nầy, lối rẽ nọ về đâu. Trời nắng chang chang. Nước ruộng trắng lóe như mặt gương. Gió im bặt. Song nàng không thấy nóng. Mải ngắm phong cảnh lạ, nàng quên hết nỗi bức bối. Nhất là nàng được đi với chồng về thăm cha mẹ, ý nghĩ ấy làm nàng trông cái gì cũng ra vui đẹp.
Tới Hà-nội, Thanh đưa Phương vào nhà trọ để chào bà chủ. Nhân tiện, nàng được biết nơi ăn chốn ở của chồng. Nàng thấy chàng được ở riêng trong buồng con, và bà chủ phúc-bậu, tử-tế, nàng sung sướng lắm. Bà chủ làm bún chả thết vợ chồng nàng. Chừng hơn hai giờ, Thanh đưa vợ đi xem một vài nơi mà nàng ước ao biết, rồi ra tuột bến tầu thủy.
Tầu thủy nhổ neo vào khoảng bốn giờ. Vì đi xuôi, và độ ấy nước lên to, nên chạy rất chóng. Chừng gần hai giờ sáng đến bến Tân-Đệ.
Từ đây, Phương thành người dẫn đường . Lên bờ, nàng bảo người nhà đưa đến chỗ trọ mọi khi, cao ráo và sạch sẽ. Cả Thanh lẫn Phương, không ai ngủ được. Chàng vừa thấp thỏm, vừa lạ chỗ. Nàng thì mong mỏi chóng tới sáng. Đến gà gáy thứ ba, tiếng gọi đã ồn lên ở ngoài cửa. Thì ra bọn phu xe đã xuý từng món từ khi khách bước chân lên bờ. Chúng đến đánh thức khách, vì trời đã rạng đông. Người nhà Phương mặc cả thành giá, bèn trả tiền trọ, rồi lên xe về Thái-Bình.
Buổi sáng xanh. Không-khí mịn màng làm da thịt mát rượi. Phương vui vẻ được trông thấy phong-cảnh quen. Nó như chào bạn cũ. Ánh sáng trong như sữa lọc qua tầng mây đen dầy. Trời cũng như nhăn mặt cười. Cây cỏ như nhẩy múa.
Phu xe chạy rất nhanh. Vành bánh sắt nghiến trên đường đá kêu ầm ầm.
Một lát, trời sáng rõ. Vầng đông chói lọi. Phương hỏi :
- Anh xe, chạy một mạch về tỉnh, hay còn phải nghỉ ?
- Bẩm buổi sáng mát, chả phải nghỉ.
Được chừng sáu bảy cây số, Phương nhìn sang Thanh, mỉm cười với chàng, trỏ tay về phía trước, nói:
- Cậu có trông thấy cái nhà thờ kia không ?
Thanh gật đầu. Phương giảng :
- Nhà thờ tỉnh đấy. Chốc nữa, ta sẽ thấy nhiều mái ngói lố nhố.
Thanh lắc đầu, nhăn mặt :
- Tưởng gần, hóa cũng xa đấy nhỉ.
Bỗng Phương nghển cao đầu lên để nhìn cho rõ, và hỏi anh người nhà :
- Anh Thùy, có phải xe ngựa nhà kia không ? Tôi trông thấy rõ ràng con ngựa ô.
Rồi nàng cuống quýt;
- Đích rồi, anh Bái rong xe đấy mà !
Rồi nàng bảo Thanh :
- Thầy me cho đi đón.
Nàng bảo phu xe :
- Thôi, hạ xuống.
Thanh vừa trả tiền xong, thì xe ngựa vừa tới. Thùy và Bái chuyên hành-lý sang và cho ngựa chạy nước kiệu. Phương hỏi :
- Ở nhà đi từ mấy giờ ?
- Bẩm từ tờ-mờ.
- Sao quan biết hôm nay chúng tôi về mà cho anh ra đón ?
- Bẩm, sáng hôm qua con cũng đã đến tận Tân-đệ.
Thanh thấy ông Phủ quý con thì vui sướng, nói với vợ :
- Chắc thầy me mong lắm.
Bái đáp :
- Bẩm cậu, cả nhà mong cậu mợ từ ba hôm nay. Để phần ế cả cơm.
Xe vào tỉnh. Vì không muốn phụ lòng người đợi, Thanh không ghé vào phố — vả chẳng bận mua bán gì — bảo Bái đánh xe về tuột phủ.
Độ nửa giờ sau, đến Kiến-xương.
Vì nghe quen tiếng nhạc ngựa nhà, nên các em Phương đã đứng đón cả ở cổng.
Thanh và Phương xuống đất. Nàng vui quá, chảy nước mắt. Nàng đưa chàng vào nhà tư chào mẹ. Ông Phủ đương buổi hầu đông, bỏ cả dân, xuống mừng con.
Ông hỏi thăm Thanh về sự học-hành, rồi nói:
- Anh xuống đây ở với thầy me, và con ở lâu nên thầy đã bắt dọn riêng buồng bên kia, có sẵn bàn ghế, tha hồ anh học.
Bà Phủ cười :
- Thầy khéo biết tính rể, đã mượn mấy bộ gì ấy, bầy sẵn trong buồng.
Ông Phủ bảo:
- Nào, anh sang nhận chỗ đi.
Nói đoạn, ông đưa Thanh sang buồng cạnh. Thanh thầy trên bàn có mực, bút, giấy, tự-vị, và chừng mươi quyển sách in. Ông mỉm cười, vuốt râu nói :
- Chữ Tây thầy không biết, anh thử xem những sách gì đây ?
Thanh nhìn từng quyển một, đáp :
- Bẫm bốn quyển này là tiểu-thuyết lịch-sử, hai quyển này là toán-pháp, quyển này là tiểu-thuyết tình, quyển này dạy nghề buôn bán, quyển này dạy cách nuôi tằm.
Ông cười rũ :
- Thầy cho nó mượn với một ông Phán trên tỉnh, thấy quyển nào đem về quyển ấy.
Thanh làm ra bộ vui sướng, nói :
- Bẩm, quyển nào cũng có ích cả, con đều chưa đọc.
- Thế thì hay lắm ! Anh xem sách nào hay, nói chuyện lại cho thầy me nghe, cũng vui.
Rồi ông mở toang hai cánh cửa sổ. Thanh nhìn thấy cái ao, nước trong mát. Ông tiếp :
- Anh ở đây, lúc mới chắc lấy làm buồn, vì em Chính còn nhỏ, không có ai trò chuyện, nhưng rồi thầy cho đi chơi đó đây. Có muốn bắn chim thì lấy súng đạn của nhà. Chiều chiều bảo đóng xe ngựa đi thăm phong-cảnh, cho em theo.
Đoạn ông đưa Thanh ra nhà ngoài.
Phương đương ríu rít với mẹ và Chính cùng các em nhỏ. Bà Phủ mỉm cười, bảo Thanh :
- Anh cởi khăn áo ra. Ở nhà thế nào thì về đây cũng thế, đừng e lệ.
Thanh lễ-phép đáp :
- Dạ.
Ông Phủ nói :
- À, độ mươi hôm nữa, vợ chồng anh Cả Vĩnh cũng xuống. Anh ấy vừa viết thư cho thầy hôm qua.
Phương hớn-hở :
- Thế ạ ? Vui quá nhỉ!
♣
Ông bà Phủ rất chiều-chuộng rể, cho nên Thanh rất vui vẻ. Ở đây, cũng như ở nhà, chàng theo chương-trình đã ấn-định để làm việc cho khỏi mất thì-giờ. Ông Phủ lại mượn thêm ít sách nữa, có vài cuốn cũng có ích.
Một buổi chiều, Thanh vác súng đi chơi với Chính. Phát đầu, chàng bắn trúng ngay con cò trắng đương lò dò ở ruộng. Phát thứ hai, chàng được con chim gáy đương véo von trên ngọn tre.
Được cả nhà khen, chàng vui sướng, và thấy có kết-quả, nên chàng mê đi bắn lắm. Không chiều nào chàng không đi kiếm chim. Chàng mong Vĩnh xuống chơi. Có Vĩnh, chàng sẽ có bạn. Từ ngày cưới, chàng mới gặp Vĩnh một lần, nhưng chưa nói với nhau chuyện gì. Nhất là Phương, nàng càng mong Chân. Nàng rất yêu chị, và Chân cũng rất yêu em. Hai chị em gái mà gặp nhau thì những chuyện từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, lúc nào cũng thủ thỉ cùng nhau. Mà Chân tuy đã ở riêng, nhưng việc nhà vẫn săn-sóc đến. Bởi vậy, các em coi nàng như còn ở nhà. Phàm có việc gì, chưa thấy ý-kiến Chân thì vẫn là chưa đủ.
Bởi vậy, ngày vợ chồng Vĩnh hẹn xuống, cả Thanh lẫn Phương cùng xin phép ông bà Phủ đánh xe đi đón ở giữa đường.
Thanh cầm cương, ngồi cạnh vợ. Qua phố phủ và phố tỉnh, thấy nhiều người nhìn và chỉ trỏ nói với nhau, cả hai người cùng ngượng.
Đến gần Tân-đệ, Thanh gặp bọn Vĩnh. Hai bên mừng rỡ, xếp đồ đạc và người lên chật xe. Trẻ con ngồi lòng Phương và Thanh. Vĩnh rong cương. Chân nói :
- Đáng lẽ mai chị mới xuống, vì bên nhà có khách, nhưng các cháu cứ đòi đi. Vả sợ thầy me mong.
Vĩnh giật roi ngựa kêu đánh đét, hỏi Thanh :
- Chú xuống hầu thầy me, ở một mình từng ấy hôm, chắc buồn ?
Thanh mỉm cười, lắc đầu :
- Không buồn lắm.
Phương đỡ lời chồng :
- Nhà em đọc sách, đi bắn, lúc rỗi thì đi chơi.
Chân gật, khen :
- Thế là chú khéo dùng thì-giờ, chứ nhà tôi thì tệ lắm, chỉ ở độ hai hôm là kêu buồn, nằng nặc đòi về, lắm lúc bực cả mình.
Vĩnh lại quất ngựa :
- Nhưng hè này có chú Cả, thì tôi ở lâu. Các cậu thì bé, ông thì bận việc quan cả ngày, tôi chả buồn thì vui với ai được.
- Thế sao chú Cả ở được ?
- Tại chú là rể mới, không dám đòi về.
Cả bốn người lớn phá lên cười. Phương đáp :
- Không phải thế. Bên nhà em cho vợ chồng em về hầu thấy me một tháng kia mà.
Vĩnh đáp :
- Đó lại là một lẽ nữa mà chú không dám đòi về.
Mọi người lại cười. Vĩnh tiếp :
- Chị vẫn cự anh về tội không ở phủ lâu.
Chân cười :
- Chứ lại gì ! Quanh năm chỉ có nghỉ hè được rỗi rãi. Tôi thì chả được phép, chứ ở nhà suốt năm cũng được.
Phương đáp :
- Thật đấy, chị về lần nào, dù ở lâu đến đâu, em cũng không muốn cho chị đi vội.
Vĩnh giật ngựa cho quành về ngã tư, nói :
- Thế nào là yêu nhau như chị em gái.
Rồi tiếp :
- Anh em rể nào, chứ chú Cả với tôi, không sợ đánh nhau vỡ đầu.
Cả bốn người lại cười vang. Phương ngẫm-nghĩ, rồi hỏi :
- Ừ, tại sao người ta nói thế nhỉ ?
Vĩnh và Thanh nhìn nhau, lai bật cười, khiến Phương thẹn đỏ mặt.
Xe chạy bon bon trên đường đá, chẳng mấy chốc tới phủ.
Vì hôm ấy là chủ-nhật, nên ông Phủ không bận. Thấy các con các cháu, ông bà mừng-rỡ, mỗi người bế một cháu lên lòng
Thanh nhận thấy ông bà Phủ đối với Vĩnh khác đối với chàng. Vì Vĩnh học trường Hậu-Bổ nên câu chuyện đứng-đắn hơn, và sự tiếp-đãi gần như có vẻ khách sáo. Chứ không thân mật, âu yếm như với chàng.
Ông không hỏi thăm học-hành thi-cử, mà chỉ nói đến chuyện quan nọ quan kia, cùng việc thuyên bổ, thăng giáng trong hoạn-giới.
Thanh theo thói quen mọi ngày, mặc áo cộc nhưng thấy Vĩnh vẫn đóng áo dài, nên chàng lấy làm ngượng.
Ăn cơm xong, ông Phủ cho gọi người vào đánh tổ-tôm. Ông nói :
- Nhà có bốn chân rồi, mời thầy thừa Chí đến nữa là đủ.
Phương hiểu ngay, bốn chân là hai cha mẹ, Vĩnh và Thanh, nàng vội-vàng nói ;
- Bẩm thầy, nhà con không biết đánh.
Ông ngớ mặt :
- Không biết thật hay không biết dối ?
Thanh đáp :
- Bẩm thật ạ.
Bà Phủ cười :
- Phải học dần chứ.
Thanh mủm mỉm :
- Bẩm con đã học, nhưng mãi không thuộc chữ.
- Ờ, mẹ cũng chỉ nhớ vẽ ở quân bài thôi. Nhưng tưởng không khó gì, anh học chữ còn đỗ được nữa là học quân bài.
Thanh vui vẻ đáp :
- Bẫm, con xin chầu rìa.
Ông Phủ rung đùi, vuốt râu :
- Chầu rìa thì chả phải xin ai.
Bà Phủ gật đầu :
- Được, mai me dạy anh, chả có ông bà bên nhà lại trách thầy me không biết dạy rể.
Cả nhà cười. Vĩnh hỏi :
- Hay chú công-ty với anh ?
Thanh lắc đầu :
- Em xem là đủ.
Ông Phủ nói .
- Được, tùy thích.
Vĩnh nhìn Thanh, có vẻ ái-ngại :
- Nhưng cả nhà vui vẻ, để chú Cả buồn một mình.
Bà Phủ khen :
- Anh thật chu-đáo.
Thanh đáp :
- Nhưng em có lỗi là không biết đánh, em phải chịu buồn, là lẽ công-bằng.
Bà Phủ chọn miếng trầu ngon bỏ vào miệng, nói :
- Hay gì cái biết cờ bạc mà cho là lỗi. Biết cái gì, chứ biết cái này chỉ tổ hại tiền !
Rồi thấy Thanh vào buồng, bà gọi Phương lại gần, hỏi khẽ :
- Anh ấy không biết đánh thực, hay không có tiền ?
Ông Phủ móc tay vào túi, bảo :
- Không có thì tiền đây.
Nhưng Phương đáp :
- Bẩm, nhà con không biết đánh thực. Tất cả cờ bạc chỉ biết mỗi cái búng quay.
♣
Vì Chân và Phương âu-yếm nhau, nên Vĩnh và Thanh cũng dễ thân-mật. Tuy hai người có nhiều sở-thích khác nhau, nhưng biết lựa ý nhau. Ban ngày, Vĩnh chiều Thanh nói chuyện về sự học, thì ban tối, Thanh chiều Vĩnh chầu rìa tổ-tôm. Từ hôm Vĩnh xuống, tối nào trong phủ cũng có đánh bài. Đó là cuộc tiêu-khiển có tính cách gia-đình, nên được thua không đáng kể. Có khi ông Phủ bỏ tiền góp cho ông thừa, nếu ông này cạn túi. Vì ông cầu vui, nhân tiện chiều rể. Thanh đã hơi biết đánh, thỉnh-thoảng cầm hộ Vĩnh một vài ván, được Vĩnh khen là không hớ nước gì.
Bởi vậy, hai anh em rể ấy tự ép cho hai tâm bồn gần nhau, nên nhiều khi nói chuyện với nhau hàng giờ, mà không phải là chuyện đưa đẩy. Vĩnh nhận rằng vì có Thanh, nên tự-nhiên chàng thân với gia-đình vợ hơn trước. Chàng thấy ông bà nhạc coi Thanh như con, và Thanh coi ông bà nhạc như bố mẹ đẻ, nên chàng không tự coi như rể, và ông bà nhạc không coi chàng là khách nữa.
Chính Chân cũng thấy rõ vẻ thân-mật ấy, và biết là vì có Thanh. Bởi vậy, Thanh được cả nhà yêu quý. Phương thấy cha mẹ và chị khen chồng, nàng nở-nang tấm lòng. Nàng cố sức chiều chuộng Thanh, cho chàng càng thân-thiết với gia-đình mình.
Nhưng ngày vui đi rất chóng. Chẳng bao lâu đã đến kỳ hẹn vợ chồng Thanh phải về, vì ở nhà có kỵ. Và sáng mồng hai tháng bảy, ông bà Nghè đã cho người xuống đón Thanh và Phương về. Vợ chồng Vĩnh cũng xin về. Ông bà Phủ buồn lắm. Ông bảo làm một bữa cơm Tây, để tối ăn, dọn bàn ra sân, thắp đèn măng-xông cho sáng.
Bữa cơm ấy đáng lẽ vui-vẻ, nhưng vì ai cũng rầu rầu, nghĩ đến cảnh biệt ly, nên ít chuyện.
Rồi sáng mồng ba, bà Phủ, Chân và Phương, không ai bảo ai mà mắt người nào cũng đỏ hoe. Thanh nao nao cả lòng. Vĩnh cố đe đánh lũ con, không cho chúng nô đùa. Bởi vì chỉ lũ trẻ được đi là sướng thôi. Chúng chẳng nhớ-nhung ai.
Ông Phủ gọi riêng Thanh vào buồng, nói:
- Đối với anh cả Vĩnh, thầy me xử khác ; đối với con, thầy me xử khác. Thầy có cái này cho con để con mua sách vở mà học tập.
Đoạn, ông đưa Thanh một cọc bac. Thanh đáp :
- Thầy me thương con, nhưng thầy me cho nhiều quá.
- Không, thầy thiên quan thiên lộc, không thiếu gì.
- Dạ.
Chợt lúc ấy Chân vào. Nàng hiểu ngay, bèn giục Thanh :
- Thầy cho chú, chú cầm lấy đi.
Ông Phú sợ phật ý con gái lớn, bèn nói với Chân :
- Anh chị thì nhờ ông bà bên nhà, chả thiếu gì.
- Vâng, thầy có cho nhà con, nhà con cũng tiêu phí đi thôi.
Thanh giơ hai tay đỡ lấy số tiền nặng chĩu :
- Thầy me cho con, con xin lĩnh.
Ông Phủ vui-vẻ, lại lấy lòng Chân :
- Con nào cũng là con, rể nào cũng là rể. Thầy có rể là anh Vĩnh với anh, thầy rất vui.
Nói đoạn, ông lại mở tủ, lấy ra bốn mươi đồng, chia đôi, đưa Chân một nửa, Thanh một nửa :
- Hai con cầm lấy để ăn đường.
Thanh nói :
- Thôi ạ, thầy đã cho con rồi. Xin chị cầm cả.
Chân lắc dầu :
- Không, thầy đã cho đều, không nhận không phải đạo.
Nàng cầm hai mươi đồng đưa Thanh. Thanh ngần ngừ. Nàng nói :
- Có là con, thầy mới thương yêu.
Thanh cảm-động về cử-chỉ đại-lượng và âu-yếm của ông Phủ và Chân. Chàng suýt ứa nước mắt.
Lúc phân ly thực là bịn rịn. Phương khóc hẳn ra tiếng. Ông Phủ cố gượng cười. Bà Phủ quệt vôi vào sau tai cháu, hôn-hít và dặn-dò mãi chúng. Bà nói trong nước mắt. Thanh mấy lần suýt thổn thức. Chàng thấy chàng trẻ con hơn Vĩnh. Chân thì cứ đăm đăm trông đi đâu, nàng không dám nhìn mẹ.
Rồi tiếng chào ồn ào. Xe quay bánh. Qua phố phủ, không ai nói với ai. Gần chỗ quành, bỗng Thanh yên lặng quay cổ lại. Hình như chàng nhìn một lần nữa chỗ ông bà nhạc ở. Bất-đồ cái cử chỉ ấy làm cho Chân và Phương hiểu, và hai người lại nước mắt chạy quanh.
♣
Về đến nhà, Thanh thấy bâng khuâng. Chàng nhớ bên nhạc-gia, bèn viết thư về Kiến-xương, để ông bà Phủ yên tâm là vợ chồng chàng đã đi đường vô sự. Chàng lại viết cho Vĩnh, hẹn thế nào đến ngày sắp hết nghỉ hè, chàng cũng sang chơi. Chàng nhớ lũ em vợ, vì chúng quyến-luyến chàng, nhất là trong những ngày vừa qua, chàng đã trông nom cho chúng học, lại dạy cho chúng vài trò chơi lý thú.
Phương cố nén lòng. Nàng không dám tỏ sự nhớ nhà, và cố làm ra vui vẻ, cùng kiếm việc làm cho khuây. Thanh hiểu tâm-sự ấy, nên thương vợ lắm. Chàng thấy rằng ở phủ với cha mẹ, nàng có kẻ hầu người hạ, nhưng về bên này, nàng vần-vật cả ngày. Song, nàng không hề phàn-nàn, trái lại, nàng hết sức đầy đủ bổn-phận, và lúc nào cũng lo-lắng, chỉ sợ không được tròn công việc. Chàng thấy cha mẹ yêu quý nàng, nên rất vui sướng. Quả vậy, nhiều lần bà Nghè khuyên chàng nên chiều chuộng vợ. Bà bảo nàng rất có đức, đáng làm dâu trưởng một gia đình. Bà lại khuyên chàng nên thân mật với nhà vợ ; và đối với bên ông bà Phủ, bà quý mến tất cả mọi người. Nay thấy Thanh nói chuyện ông bà nhạc xử với chàng đặc-biệt, bà càng quý Phương bội phần. Thật vậy, bà đã coi Phương như con gái. Bà dạy Phương từng tí. Bà không hề thử thách hoặc bóng gió. Mà thấy nàng dâu thông-minh, ý-tứ và ngoan-ngoãn, nên bà càng thật bụng bảo ban. Suốt mấy tháng trời, bà chưa hề phải gắt Phương nửa lời. Lúc nào bà cũng ngọt-ngào, dịu-dàng. Về phần Phương, nàng thấy rằng ở nhà chồng cũng như ở nhà mình, tưởng chừng như không phải nàng đi làm dâu vậy.
Cho nên những ngày vợ chồng Thanh ở Kiến-xương, bà Nghè thấy nhà vắng-vẻ hẳn đi. Bà nhớ con và nhớ dâu. Bà nhớ Phương nhất là những lúc bà phải làm việc thay nàng. Thúy tiếng là đã lớn, nhưng không thạo bằng Phương. Mà từ ngày có dâu về, bà giao-phó mặc nàng, nên nàng đi vắng, bà phải bận, bà thấy gia-đình thiếu Phương là thiếu nhiều quá. Những lúc bận, bà thường phàn-nàn Thúy không giúp được việc gì, và bảo con gái nên trông chị dâu mà ăn ở. Không oán-thán mẹ, không ghen ghét chị, Thúy càng cố noi gương chị cho cha mẹ vui lòng.
Bởi thế Phương đi vắng lâu, lúc về, thấy mẹ và các em mừng rỡ và thân mật hơn, nàng đỡ nhớ nhà, và càng hết sức chăm-chỉ và ngoan-ngoãn.
Thấy Thanh ngẩn-ngơ, nhiều lúc buồn bã đến nỗi chểnh-mảng học-hành, nàng vẫn phải khuyên-giải. Nàng giục chàng nên đi chơi chỗ họ hàng. Để rồi khi đã khuây khuây, chàng mới dần dần theo đúng chương-trình làm việc như trước.
♣
Nghỉ hè năm nay tưởng chừng như chóng hết hơn mọi năm. Cái đó không phải không có cớ. Cớ thứ nhất, là Thanh đã không ở nhà quê cả từng ấy ngày trời. Chàng ở Kiến-xương ngót một tháng. Cớ thứ hai, là Thanh có vợ. Chàng muốn thì-giờ đi chậm để được hưởng vui-vẻ cạnh người yêu.
Ngày khai-trường sắp tới, chàng chẳng mong-mỏi chút nào. Chàng viết cho Vĩnh, nói thác rằng vì nhà bận việc, nên không thể sang thăm được. Chàng xin lỗi anh rể vì đã sai bẹn. Mà chàng lại khéo nói dối Vĩnh, sợ Vĩnh sang chơi, phải tiếp mất thì-giờ, nên bảo vài hôm nữa phải đi vắng, rồi đến ngày vào học, chàng sẽ về tuột Hà-nội.
Phương thấy chồng mưu mẹo, xem thư, chỉ rúc rích cười.
Nhưng ông Nghè nhớ việc Thanh hẹn sang chơi Vĩnh. Ông nhắc Thanh và cho cả hai vợ chồng cùng đi. Chàng lo quá, bàn với vợ. Sau hết, tuy không dám cưỡng lời cha, nhưng trước ngày đi một hôm, chàng làm như tiếp thư Vĩnh báo trước là Vĩnh sẽ không ở nhà. Thế là vợ chồng lại rúc-rích cười với nhau.
♣
Thanh được lên năm thứ ba. Chàng định theo bước một người bạn lớp trước, là cố học cả chương-trình năm thứ tư để cuối năm quyết thi bằng tiểu-học Pháp. Sự trúng tuyển của người ấy đã làm rung động dư-luận học-giới Bắc-kỳ.
Vậy Thanh cũng phải đỗ. Chàng đỗ để cũng làm rung động dư-luận một phen nữa.
Chàng rất sợ vi-trùng ho lao. Cái vật quái ác này không kiêng nể những người có chí học. Nó chỉ e dè những người có sức khỏe mà thôi. Bởi vậy, Thanh tuy cặm-cụi cả ngày vào sách vở, có khi thức đến nửa đêm, nhưng chàng không xao nhãng thể-thao. Một ngày, thế nào chàng cũng bỏ ra nửa giờ để vận-động. Mà do thế, luôn luôn thân-thể chàng tráng-kiện, nên tinh-thần chàng sảng-khoái, chàng thấy vui-vẻ làm việc, thỉnh thoảng đọ sức với anh em lớp trên, chàng lấy làm hãnh diện vì mội đôi khi chàng làm người ta phải ngượng.
Song, tuy chăm học và tiếc từng giây từng phút, mà đến ngày nghỉ lễ, chàng không thể lãnh-đạm được với Phương. Chàng về nhà quê đủ bốn hôm lễ Các Thánh, và nhất-định không nghĩ ngợi gì đến bài vở, để được hoàn-toàn giải-trí.
Thấy chồng về, Phương rất mừng. Điều thứ nhất nàng nói với chồng, là báo cho chàng biết tin nàng có mang.
- Tôi không muốn viết thư, sợ thư không kín-đáo.
Nàng nói thế. Bất-đồ sự giữ ý ấy lại làm cho Thanh thở dài. Trong óc chàng luẩn-quẩn những ý-tưởng không được vui lắm. Song chàng mỉm cười, và theo sau cái mỉm cười, chàng khẽ thở dài. Thực vậy, chàng vui-vẻ thế nào được khi nghĩ đến vài tháng nữa chàng đã có con.
Một người còn là học-trò mà đã là bố, bạn hữu trong trường rõ việc ấy, họ sẽ chế-nhạo chàng.
Kể ra ở lớp chàng cũng có đến mươi người có vợ, và có lẽ hai ba người có con rồi. Nhưng họ đều giấu-giếm rất kỹ. Vả lại có con, chàng thêm một bổn-phận nữa để gánh vác : bổn-phận làm cha.
Cái bổn-phận làm con của cha mẹ, chàng có ngay từ thuở lọt lòng, nên không thấy rõ rệt lắm, vả cha mẹ đối với con, bao giờ không sẵn đại lượng. Đến khi lớn lên, cắp sách đi trường, chàng thấy thêm một bổn-phận của người học-trò. Bổn-phận ấy đầy đủ, thì chỉ có lợi cho chàng thôi. Bởi vì tương-lai của chàng, tương-lai của tổ quốc là ở chàng. Song, vì có sẵn đức tính, nên chàng vẫn coi là nhẹ nhàng.
Rồi chàng lấy vợ. Chàng thấy có cái bổn-phận làm con một gia-đình khác với gia-đình chàng, chàng nhận họ hàng với một loạt người chàng chưa từng quen biết. Và chàng lại có cái trọng trách là từ nay để cho một người nương tựa, cả về vật-chất lẫn tinh-thần. Hạnh-phúc và tương-lai của vợ chàng là ở trong tay chàng. Thế mà vừa thấy cái bổn-phận nặng nề ấy vượt được, nay cái bổn-phận làm cha đã sắp tới.
Chàng không tán thành cái ý-kiến của ông cha, là lấy vợ cho con ngay từ lúc con đang đi học. Như vậy, tức là các cụ du con cháu xuống vực sâu, bóp bẹp tương-lai của chúng. Các cụ muốn có dâu về để đỡ đần, muốn có cháu bé để bế ẵm, nhưng các cụ quên là đã bắt con mình phải gánh một gánh nặng gấp hai gấp ba, trong khi chúng đương lặc-lè về biết bao bổn-phận của học-trò còn chưa nổi. Thật vậy, vợ con là cái trở lực lớn của chí tiến thủ. Mắt chàng đã trông thấy nhiều người vì có vợ con mà xao nhãng việc học. Nhiều người chỉ được học dở dang đã phải kiếm kế sinh-nhai cho cái tiểu gia-đình mình.
Nay Phương đã có mang. Nàng vui vẻ bảo cho chàng biết tin ấy. Nàng vui vẻ, vì nàng là đàn bà. Đàn bà lấy chồng để đẻ con, nối dõi tông đường cho nhà chồng. Ấy là đầy đủ bổn-phận. Nàng sẽ được tiếng khen là mắn.
Nghĩ như vậy, Thanh âu yếm nhìn vợ, nói :
- Thế thì nhà thêm vui.
Phương sung-sướng, mỉm cười :
- Nhưng ở cữ vào mùa hè, phải nằm lò than, nực lắm.
Thanh không hiểu vợ nói sai hay nói đúng, chàng sực nhớ chưa hỏi vợ một điều quan-hệ :
- Thế mợ ở cữ vào tháng mấy ?
- Nếu tính đúng thì vào đầu tháng tư sang năm.
- Đầu tháng tư chưa nực. Tháng ba bà già còn chết rét kia mà ! À,tháng tư, dễ thường dạo ấy tôi sắp thi.
Phương ngạc-nhiên :
- Cậu thi gì ?
Thanh tặc lưỡi :
- Thi gì thì tên tiếng Tây, nói mợ cũng chẳng hiểu. Đáng lẽ sang năm tôi mới thi, nhưng cũng cố học để thì chơi.
Phương ngậm ngùi, nhìn Thanh :
- Thế thì cậu phải học vất-vả lắm nhỉ! Tội gì thi sớm, để đến khi đủ sức hãy hay có được không ?
- Chà, thấy người ta thi đỗ, mình cũng thi chơi, được thì hay, không được chẳng xấu hổ nào kia mà.
- Nếu vậy, mùa hè sang năm, nhà ta có hai tin mừng. Tin cậu đỗ, tin tôi đẻ con giai!
Thanh âu-yếm nắm tay Phương :
- Tôi mong những điều ấy là sự thực.
Nhưng Phương thở dài :
- Cậu gầy nhiều đấy, cậu ạ.
Thanh bật cười, lắc đầu :
- Có là mợ tưởng-tượng, vì thấy tôi nói là cố học để đi thi. Nếu tôi gầy thực, thì mợ đã nói ngay, và thầy đẻ vẫn săn sóc đến sức khỏe của tôi, mà không thấy nói là tôi gầy kia mà.
- Nhưng tôi không muốn cậu học quá ! Trước hết hãy nghĩ đến sức khỏe.
- Tôi đã nghĩ rồi. Và thấy đủ sức học, nên tôi mới cố.
- Đành vậy, nhưng cũng nên dùng thuốc bổ.
Thanh nhăn mặt, lắc đầu :
- Tôi ít khi dùng thuốc, nhất là khi vô bệnh tật. Dùng thuốc là xa-xỉ, là rồ dại. Thuốc bổ của tôi là ánh sáng, là không khí, là nước lã và là vận động. Từng ấy cái cho tôi khỏe mạnh để ăn được nhiều cơm rồi.
- Ngày cậu với tôi ở phủ về, thầy me có cho mấy chục bạc, tôi vẫn định để ít mua sách, còn bao nhiêu làm mấy tễ thuốc cho cậu.
Thanh lắc đầu :
- Về phần tôi, tôi không cần thuốc, mà tôi cho là chính mợ, mợ cần tẩm bổ thì hơn, vì mợ có mang.
Phương cảm-động ;
- Tôi ăn được, không cần tẩm bổ thêm. Vả nếu tôi cần thuốc thang, tôi sẽ xin thầy đẻ bên này, hoặc thầy me bên nhà. Món tiền tôi vẫn giữ đây, là của riêng cậu về sự học, tôi không muốn tiêu tạm vào.
Thanh nghĩ ngợi một lát, rồi nói:
- Mợ công-bình và có lý lắm. Được, vài hôm nữa tôi ra học, mợ đưa tôi cả, để tôi được tự-do tiêu.
♣
Hôm hết nghỉ lễ, Thanh xin phép cha mẹ ra Hà-nội sớm. Phương tiễn chồng đến cổng, căn dặn :
- Thế nào cậu cũng nhớ mua thuốc mà dùng nhé.
Thanh gật :
- Quên sao được.
Đến Hà-nội vào buổi trưa, Thanh nghỉ ngơi một lát, rồi hơn hai giờ, chàng lên phố Tràng-tiền, vào hiệu thuốc Tây.
Chàng nhìn tên những hộp thuốc, nhưng không hiểu gì cả. Thuốc nào chữa bệnh nào, chàng biết làm sao được. Người bán hàng đon đả đến gần chàng để tiếp. Chàng muốn hỏi, nhưng thấy ngường ngượng. Là vì chàng nhìn vào gương, thấy mình chỉ là anh học-trò còn trẻ quá. Vậy mà anh học-trò lại hỏi thuốc bổ cho vợ có mang. Nhưng rồi bất-đắc-dĩ, chàng không thể giấu mãi ý định. Người bán hàng đưa ba thứ thuốc giá tiền khác nhau. Chàng nghĩ ngợi một lát, rồi lấy thứ đắt tiền nhất vì nó công hiệu nhất. Chàng mua hẳn bốn hộp, và trả tiền hơn hai mươi đồng.
Về nhà trọ, chàng xem đơn thuốc, rồi dịch cẩn-thận ra quốc-ngữ. Chỗ biên cách dùng, chàng viết càng rõ ràng. Chàng đến phố Hàng Chiếu, nhà bác hai Lăng, là người làng, hỏi xem hôm nào bác về quê, để nhờ mang thuốc cho Phương.
Năm hôm sau, khi Thanh giao thuốc cho bác Lãng, lúc trở về, chàng thấy phong thư nhà Dây-thép đưa đến, đặt trên bàn. Nhìn chữ đề bì, chàng nhận ngay ra là chữ của bố vợ. Mừng quá, chàng vội vàng mở ra đọc, thì thấy có kèm một ngân-phiếu trăm bạc.
Anh Cả,
Thầy vừa tiếp thư chị ấy nói nghỉ lễ anh về nhà quê hầu ông bà, nhưng người không được bằng trước, vì anh quyết chí học liệp-đẳng để ứng thí cuối năm nay.
Sự học của anh thế nào, tùy ông bà bên ấy và anh định. Riêng thầy, tuy rất mừng có rể có chí, song thầy cũng không thể đừng mà không khuyên anh một vài lời.
Ở đời nàỵ, nghĩ cho kỹ, không gì quý bằng sức khỏe. Người giàu sang mà không có sức khỏe, thì khổ hơn cả người nghèo kiết mà quanh năm mạnh mẽ. Sức khỏe nó làm cho người ta vui vẻ, sung sướng, và có bao nhiêu đức tính khác nữa. Cho nên thầy thiết tưởng anh nên tự lượng sức, rồi hãy cố, nếu không thể, chi bằng để đến sang năm hãy thi.
Từ ngày thanh-niên ta xoay ra tân-học, thầy thấy trong đám học-trò rất nhiều người mắc bệnh lao. Bệnh ấy đã không thương ai, thì một đời thông-minh anh tuấn cũng phải bỏ. Thầy không hiểu nguyên-nhân bệnh ấy thế nào. Vì thầy nhận thấy học-trò chữ nho không phải lười biếng gì, gần kỳ thi, lắm người học ra rả suốt đêm, gào rất lo. Họ ngủ ít, làm việc nhiều, ăn uống không có điều-độ, ngồi viết, ngồi học lại không hợp với dáng tự-nhiên của thân-thể như học-trò chữ Tây.
Vậy mà thầy chưa thấy nói có người nào mắc chứng lao bao giờ. Thầy đoán là giấy Tây, mực Tây, bút chì, hoặc một vài thứ đồ dùng của học-trò chữ Tây có chất gì, khiến người ta năng gần mà có hại hay sao. Thầy không rõ trong khoa-học, người ta nói về bệnh lao thế nào. Song, nghĩ đến bệnh nguy-hiểm ấy, thầy phát rùng mình, muốn tha-thiết khuyên anh không nên làm việc quá sức.
Nhà ta vốn dòng dõi thi thư, thầy rất mong anh nối được nghiệp nhà, nhung anh nên nghĩ kỹ. Thầy có món tiền nhỏ, gửi cho anh mua đồ tẩm bổ, tùy anh dùng thuốc ta hay thuốc Tây nhưng nên mua ngay. Nếu anh có cần thục, nhung, hay thức gì khó kiếm, thì cho thầy biết, thầy sẽ gửi lên.
Anh dùng hết món tiền này, nếu còn thiếu thầy sẽ gửi thêm. Nhà người ta kia, thì rể là khách, nhưng nhà ta, rể cũng là con. Anh chớ nề hà. Và anh đừng lấy tiền này mua thuốc bổ cho chị ấy, vì thầy đã cho chị ấy món khác rồi.
Thầy me chúc ông bà tràng thọ, anh chị mạnh khỏe. Được như thế, thầy me rất mừng.
Đọc xong thư, Thanh cảm-động lắm. Chàng thở dài, nhắm mắt lại để nghĩ. Chàng hồi tưởng trong dạo nghỉ hè, những ngày gần ông bà nhạc. Chàng thấy ông bà âu yếm, săn sóc chàng không khác gì cha mẹ chàng. Tự nhiên, chàng sung sướng, và yêu Phương gấp bội.
Chàng bèn lấy giấy viết về Kiến-xương, nói rõ sức khỏe của mình để ông bà Phủ yên tâm. Chàng lại trình ông Nghè để ông cám ơn tấm lòng quảng-đại của ông Phủ.
♣
Chiều ngày mười hai tháng tư, ăn cơm xong, Phương đứng trong mành. Chợt nàng thấy tiếng xe đỗ. Nàng chú ý nhìn, bỗng reo lên. Bà Phủ Kiến, tay cắp nón, tay cầm hộp trầu, tiến vào trong sân. Phương chạy ra đón chào. Bà Nghè ở dưới bếp, nghe tin dâu-gia tới, cũng vội vã lên tiếp. Hai bà gặp nhau rất vui vẻ. Ông Nghè khăn áo chỉnh-tề, ở nhà trên cũng hấp tấp xuống. Thúy dắt Liêm và Khiết ra chào. Con Sen đi hầu, cởi sải sơn, lấy những thức để bà Phủ biếu ông bà Nghè, đặt trên chiếc mâm đồng và chia quà cho trẻ con.
Phương sắp khay chén pha chè. Thúy xuống bếp giết gà làm cơm. Ông bà Nghè hỏi thăm ông Phủ, rồi nhắc lại chuyện ông Phủ cho Thanh tiền để tỏ ý cám ơn lần nữa. Bà Phủ mỉm cười, đáp lại mấy câu thủ lễ, rồi nói:
- Chúng tôi đến Hà-nội, có tạt vào thăm anh cháu, nhưng không gặp, vì không nghỉ ra là vào buổi học.
Bà Nghè hỏi Phương :
- Hôm nay thứ mấy nhỉ, con ?
- Bẩm thứ tư ạ.
Bà Nghè nói với bà Phủ :
- Giá là thứ năm thì cháu được nghỉ học.
- Vâng, chúng tôi cũng biết thế, chúng tôi vẫn định mai mới về, nhưng ông cháu cứ giục, vì nhận thư chị cháu, ông cháu cứ bảo không về ngay thì chị cháu ở cữ rồi, còn trông nom gì.
Dâu-gia vui vẻ cười với nhau. Bà Nghè đáp :
- Vâng, chị cháu ở cữ vào kỳ này, nhưng không biết ngày nào. Cũng độ mai kia.
Bà Phủ gọi Phương đến gần :
- Me có sắm cho con một vài thứ, bảo con Sen nó lấy cho.
Bà Nghè nói :
- Chúng tôi cũng đã sửa soạn đủ, bà lớn lại cho. Đến nửa tháng nay, chị cháu may hết áo nọ lại cắt quần kia, lúc nào cũng cặm cụi,
- Cụ Cả chúng tôi ở bên nhà, năm nay đã ngoại tám mươi, có gửi cho cái vạt áo the trắng.
Ông Nghè gật gù ;
- Quý hóa quá !
Rồi ông để bà Nghè tiếp bà Phủ, đứng dậy lên nhà trên.
Bà Nghè đưa bà Phủ đi xem nhà cửa, vườn tược mọi nơi. Bà Phủ thấy chỗ nào cũng ngăn nắp, sạch sẽ. Bà tấm tắc khen ngợi, thì bà Nghè nói:
- Nhà tôi có phúc, được dâu hiền. Xin bà lớn để lời khen chị Cả cháu, vì nội việc to, việc nhỏ trong nhà này, là ở tay chị cháu hết. Tôi phục quan lớn, bà lớn dạy con.
- Cháu nó được thế nào cũng là do phúc ấm của cả hai gia-đình. Trước kia cháu có biết gì đâu ạ !
Cơm dọn xong, bưng lên, bà Nghè ngồi tiếp bà Phủ. Phương và Thúy đứng hầu. Bà Phủ tuy đi đường mệt nhọc, nhưng vì vui bụng mà thành ra ăn không kém bữa thường.
Ăn xong, nói chuyện một lát, bà Nghè sai Thúy dọn giường chiếu trên nhà trên để mời hà Phủ đi nghỉ, nhưng bà Phủ xin phép tối đầu tiên này, hãy ngủ trong buồng với Phương, vì mẹ con lâu ngày không gặp nhau, bà có nhiều chuyện nói với con gái.
♣
Hai hôm sau, Phương thấy rơm rớm đau bụng. Nàng nói với bà Phủ, rồi đi nằm. Bà Nghè cho mời bà tắm đến.
Phương càng đau. Nàng quằn quại, kêu rầm rĩ. Bà Phủ nhìn con, nhăn nhó. Nếu có thể đau thay nàng được, bà cũng chẳng từ. Bà Nghè không kém thương xót. Bà ngồi cạnh Phuơng, đặt đầu nàng lên lòng, một tay quạt, một tay xoa bụng nàng, và dỗ dành :
- Nhịn đi, đừng kêu, con ạ. Chỉ một lát nữa thì xổ thôi.
Bà tắm thấy mẹ chồng âu yếm con dâu, lấy làm cảm-động lắm, nói :
- Phải gan mới được chứ ! Mợ cháu để hai cụ sốt ruột.
Nhưng Phương càng cố gan, càng thấy đau. Nàng quằn quại, kêu ran. Mồ-hôi toát ra như tắm. Chỉ lúc nào mệt quá, nàng mới lịm đi để thở. Nhưng được một lát, nàng lại kêu.
Chừng tám giờ tối, nàng đau một trận kịch-liệt. Nàng nghiến răng, cắn cái quạt. Rồi sau vài tiếng « ối giời ôi ! » dồn dập như hết hơi, nàng hồng hộc thở. Tức thì có tiếng nhoe nhoe khóc.
- A, con giai !
Cả nhà mừng. Phương mở bừng mắt ra, nhưng nàng chẳng thấy gì.
Một lát, trong khi thiêm thiếp ngủ, nàng thấy bên mình có cái gì vương vướng. Nàng sờ tay để xem. Thì ra con nàng. Xung quanh nàng, cả nhà còn thức. Nàng ôm con, rồi mỉm cười, hỏi Thúy :
- Mấy giờ rồi, em ?
- Mười một giờ.
Nàng nhìn bà Nghè với bà Phủ ngồi ở giường :
- Mời đẻ với me đi nghỉ, khuya rồi.
Thúy nói :
- Thầy đã sai anh Tá mai ra Hà-nội sớm, báo tin cho anh Cả biết. Chắc đến chủ-nhật, anh về.
Phương nghĩ đến chồng. Hẳn lúc này chàng đương cặm cụi với sách vở. Chàng chưa biết là chàng đã có con, và trước đây mấy giờ đồng-hồ, vợ chàng đã chịu đau đớn thế nào. Giá mà chàng biết.. Chàng sẽ thương hại nàng biết ngần nào. Rồi sự thương hại ấy, chàng nhớ mãi, nó làm cho chàng học kém đi. Gần đến kỳ thi, chàng cần làm việc gấp. Chợt nghĩ ra, nàng gọi Thúy :
- Chị bảo !
Thúy cúi xuống, nàng nói :
- Hễ anh về, em đừng nói cho anh biết rằng chị đau nhé.
- Vâng.
- Thầy đặt tên cháu là gì ?
- Thầy chưa đặt, thầy bảo chờ anh về để hỏi, lỡ trùng tên phạm húy ở bên nhà.
Bà Nghè vui vẻ nói to :
- Cứ gọi là thằng Cu. Mợ đã nhìn mặt con mợ chưa ?
- Bẩm chưa.
Bà nhanh nhẩu cầm chiếc đèn cầy ghé gần giường, rồi hớn hở nói :
- Thật là giỏ nhà ai, quai nhà ấy, trộn cũng không lẫn.
Phương cúi xuống con. Thằng bé giống Thanh như đúc. Hai mắt cũng to. Sống mũi cũng cao. Nàng sung sướng, ôm rịt lấy con vào cạnh sườn. Bà Phủ hỏi :
- Thế nào, con còn mệt không ?
- Bẩm con đã chợp ngủ được một tý, không mệt lắm.
♣
Sáng chủ-nhật, vào khoảng chín giờ, Thanh đã về tới nhà. Chàng đi xe đạp. Vì chàng muốn sớm biết mặt con. Nhưng cả nhà cho là chàng liều lĩnh quá.
Chàng vào buồng. Vợ chồng âu-yếm mỉm cười chào nhau. Thấy mặt nàng vàng những nghệ, chàng ngồi cạnh, mặt đăm đăm. Nàng đưa con cho chàng bế :
- Bận sau, cậu chớ đi xe đạp như thế, cảm thì khốn.
- Tôi chắc không hề gì nên mới thế.
- Lúc mới đi là sáng sớm hãy còn sương, bây giờ lại nắng. Cậu làm việc khó nhọc, nên giữ trong mình, tránh sương nắng.
Thanh lắc đầu :
- Không hề gì kia mà !
- Vả lại, không quen đạp đường xa, tôi chắc cậu mệt lắm.
- Mệt xoàng thôi, nhưng nghỉ một lát, khỏi rồi.
- Sao không thuê xe mà đi. Hà-tiện được mấy tí.
- Không phải hà-tiện. Tôi muốn về nhà sớm, được bế con. Nếu đi xe, bây giờ chưa tới.
Nhân lúc trong buồng vắng vẻ, Phương thò tay nắn cánh tay và bắp chân chồng. Nhưng Thanh lắc đầu :
- Không mỏi. Tôi chỉ thương hại mợ đau đớn.
Phương mỉm cười :
- Cũng đau xoàng thôi. Cậu trông con giống ai ?
- Nó giống mợ cái miệng, cái trán.
- Còn đôi mắt và cái mũi ?
- Hình như giống tôi.
- Lại còn hình như !
- Hai bàn tay con giống tay mợ đấy nhỉ.
- Nhưng con giai, tay chân giống bố thì hơn, vì cần khỏe khoắn.
- Đã có thể-thao, ngại gì. À, thầy đặt tên con chưa ?
- Thầy còn chờ cậu. Mấy hôm nay vẫn gọi tạm là thằng Cu.
Thằng bé con cựa, nhăn nhó, khóc nhoe nhoe. Phương bế nó, hôn hít, rồi ôm nó vào lòng, và cho bú. Thanh nói :
- Nên cho con ăn đúng giờ. Mợ có đủ sữa không ?
- Đủ, nhưng me cẩn-thận lắm, bắt thỉnh thoảng phải vắt bỏ đi. Hiện con vẫn phải bú chực.
Bỗng Thúy mở mành bước vào, tay bưng khay cơm, và nước mắm chưng :
- Mời anh lên nhà. Thầy hỏi mãi anh,
Thanh đứng dậy, cười :
- Chắc thầy cũng biết anh ở trong này với cháu.
II
Thanh thi đỗ.
Sau khi đánh dây thép báo tin mừng về Kiến-xương, chàng về nhà quê ngay.
Là vì nghỉ hè này, chàng định ở Hà-nội để học. Chàng đã rủ được bốn người, bắt đầu từ mồng một tháng bẩy Tây, cùng tập-tành bài vở với nhau. Cho nên chàng quyết chí ở nhà độ mươi hôm, rồi xuống Kiến-xương dăm hôm.
Thanh ngỏ ý ấy với ông bà Nghè, được cha mẹ bằng lòng. Phương không dám ngăn, tuy nàng muốn cũng như nghỉ hè trước, được về ở với cha mẹ đẻ hàng tháng. Nhưng nàng tự an-ủi, lấy cớ con bé, không nên cho đi chơi xa, vả lại ông bà nội vắng cháu thì nhớ.
Thanh thấy vợ đã mạnh mẽ như thường, chàng rất mừng. Thằng Cu hơi đổi khác. Nó càng giống chàng. Vì chỉ định ở nhà chơi với con, nên chàng không đem tí sách vở nào theo về. Chàng bế con cả ngày. Chàng ru rín, nựng nịu nó rất khéo. Khéo đến nỗi bà Nghè và vợ chàng lắm lúc bật buồn cười.
Được một tuần-lễ, Thanh xuống Kiến-xương chơi. Phương xếp áo quần vào va-li. Thanh biết vợ buồn, nên cố gượng cười nói để nàng được vui vẻ. Kỳ thực chàng nhớ cha mẹ, vợ con lắm.
Lúc chàng ra xe, Phương nước mắt chạy quanh, phần nhớ chồng, phần nghĩ đến cha mẹ đẻ. Nhưng Thanh an ủi :
- Rồi chừng một hai tuần-lễ, tôi lại về. Học trong nghỉ hè là tự ý mình, chứ có ai bắt buộc đâu.
Phương chùi nước mắt. Giữa lúc ấy, Thúy vào. Phương ngượng nghịu, vờ quay vào trong. Thanh nói:
- Thôi, mợ ở nhà nhé, tôi ra xe đây.
Phương nhìn ra, thở dài :
- Vâng, cậu đi.
Thúy bế thằng Cu theo Thanh. Thanh lên chào cha mẹ. Ông Nghè hỏi :
- Đồ đạc còn thiếu thứ gì không ?
- Bẩm đủ cả.
- À, thầy có ngâm một vò rượu hai mươi ba vị, con đã sẻ để mang theo một chai chưa?
Thanh cho là cha đùa, chàng mỉm cười. Nhưng ông Nghè nghiêm-trang nói:
- Để trừ bệnh thời-khí. Thuốc này công hiệu hơn thuốc mọi năm thầy làm. Ở chốn thị thành dễ sinh chứng bệnh ấy, vả lại ngộ có ai mắc thì cho làm phúc.
Thanh đáp :
-Vâng.
Thúy đưa thằng Cu cho Thanh bế, mở tủ lấy vò rượu thuốc. Cô tìm chai để đựng. Nhưng nhà trên không có. Cô xuống nhà dưới, vừa đến thềm thì gặp Phương :
- Nhà còn cái chai nào không hở chị ?
- Để làm gì ?
- Thầy bảo trút ít rượu thuốc để anh đem đi.
Phương buồn nản, chẳng muốn làm gì, nói :
- Nhưng trong va-li chật lắm rồi, không để vừa nữa đâu.
- Thì cầm ngoài vậy.
Phương nhăn mặt :
- Đã va-li lại chai, trông sao được. Để bận sau anh về hãy lấy.
- Nhưng sợ thầy mắng.
- Thầy không mắng đâu. Cứ bẩm là có rồi.
- Nhưng vò rượu ở trên nhà kia mà.
- Được, thầy hỏi đã có chị bẩm. Vả lại nhà không có chai, thì kiếm đâu ra. Thôi để anh đi, kẻo nắng to.
Dứt lời, Phương lên nhà trên, bưng cái vò xuống nhà ngang, và làm hiệu cho Thanh theo xuống. Nàng nói:
- Cậu ra xe đi, hễ thầy hỏi thì cứ bẩm là có rượu rồi. Tìm được chai bây giờ, mất thì-giờ lắm.
Thanh gật đầu :
- Vả cũng nên đi sớm tránh nắng. Mợ ở nhà nhé.
- Vâng.
Phương bần-thần nhìn theo Thanh. Chàng chào cha mẹ. Thúy bế thằng Cu cùng các em ra cổng tiễn. Thanh hôn hít con, rồi lên xe.
Phương lắng tai nghe. Tiếng bánh xe lọc cọc xa dần. Nàng thở dài…
♣
Thanh ở Hà-nội học, rất vui vẻ. Chàng tạm quên được nỗi nhớ nhà, cho nên định cuối tháng mới về. Thỉnh thoảng, chàng đến thăm vợ chồng Cả Vĩnh, có khi ngồi nói chuyện vui đến khuya. Một vài lần, chàng ngủ lại với anh rể.
Năm ấy nhãn sai, điềm nước to. Thường hai anh em bàn bạc về vấn đề đê điều. Mỗi người một ý, nhưng đều cùng lấy làm phàn-nàn cho bố vợ, kỳ nước này sắp phải vất vả.
Chân nói :
- Năm nọ nước to, thầy phải hòm xiểng lên nằm trên mặt đê hàng tháng, đến hôm về, thầy già hẳn đi, gầy, đen, và khản đặc tiếng lại.
Vĩnh tiếp :
- Làm quan chỉ lo nhất về đê. Có ông đánh vỡ đê, sợ quá hóa điên. Có ông không giữ nổi nước, đâm quẫn, đi trốn.
Thanh bật cười. Vĩnh nói :
- Cho nên nếu anh khuyên được chú, thì anh khuyên chú không nên ra làm quan. Như anh, may có trường Hậu-Bổ, thì theo học, vì chữ Pháp anh kém, chứ nếu anh giỏi như chú thì học thuốc, làm ông đốc-tờ, hoặc sang Pháp du học, khi trở về nước, tha hồ được trọng-vọng.
Thanh đáp :
- Như em, em chưa định ngày sau làm gì, hãy biết học bốn năm ở trường Bưởi thi ra được đỗ đã. Nhưng chắc chắn rằng em không thể sang Pháp, vì đã có vợ con, vả lại thiếu tiền.
Chân nói :
- Hai cái lý chú viện ra đều không vững-vàng. Lý thứ nhất, là chú vốn có chí, thì dù có đến ba vợ, mười con, mà phải đi xa để lập thân, chú cũng coi khinh sự biệt-ly. Lý thứ hai, là nếu chủ quyết sang Pháp, thì sao thầy me bên nhà chả giúp chú.
Vĩnh gật đầu :
- Thật đấy, tài học như chú mà không đi đến nơi đến chốn, thật đáng tiếc.
Thanh thở dài :
- Nhưng chắc thầy đẻ em chả để em đi xa.
Chân cười :
- Có họa cô ấy không cho chú đi thì có.
Thanh thẹn, cười lạt. Nhưng Vĩnh chữa ngay :
- Mợ chỉ biết nói người, thế mợ có dám để tôi sang Tây không nào?
- Sao lại không dám.
- A, thế thì giỏi !
Cả ba người cùng phá lên cười. Tự-nhiên Thanh đâm ra nghĩ-ngợi. Chàng biết rằng anh chị nói đùa nhau, nhưng chàng cũng tự lấy làm xấu hổ. Có lẽ không phải vì cha mẹ chàng không để chàng đi xa. Có lẽ không phải vì hai cái lý chàng vừa viện ra khi nãy, là có vợ con và thiếu tiền. Không thể sang Pháp được, ấy là chàng không muốn. Chàng không muốn, vì bịn rịn vợ con.
Nhưng từ hôm ấy, Thanh có chí muốn đi du học. Chàng đã từng nghe nói nhiều du học-sinh ta, vì thiếu tiền, phải vừa làm thuê, vừa đi học, vậy mà cũng thành tài. Còn sự phải đi xa, chỉ nên kể như chàng được bổ đi làm ở một nơi trên mạn ngược, đi một mình, vắng nhà vài ba năm không về.
♣
Trời tuy không nắng, nhưng oi bức lạ thường. Người ta bảo là oi nước lên. Thực, vậy, mấy hôm nay, nước trên mạn ngược đổ về, đục ngầu ngầu, trôi theo những mảnh củi lềnh bềnh về phía xuôi. Mực nước mỗi lúc một cao.
Buổi chiều, dân thành-phố Hà-nội ra bờ sông xem nước đông như kiến. Nét mặt ai nấy đều có vẻ lo âu. Người ta đồn vỡ chỗ nọ, vỡ chỗ kia. Một con thuyền buồm lừ lừ trên mặt sông, mà đứng trong phố tưởng như nó cưỡi trên mặt con trạch. Thấy cái ráng đỏ rực góc trời tây, người ta đoán trước được thiên-tai. Năm nay, xứ Bắc-kỳ không thoát khỏi lụt. Mà rồi đói to nữa.
Quả nhiên, nước đương lên mực đều đều, thì tự dưng đứng sững lại. Rồi tự dưng xuống.
Đê Liên-Mạc vỡ.
Chỗ xảy ra tai nạn, nước ào ào dội vào cánh đồng. Tiếng ào ào ấy là tiếng reo vang trời của kẻ đắc-thắng. Hay là tiếng than khóc của kẻ bị đọa đầy. Thật vậy, người chết không được nằm yên trong mả. Săng bật lên, trôi phăng đi. Cây cối, nhà cửa, súc vật cuốn theo dòng nước. Người khóc cha mẹ, kẻ tìm vợ con, anh em. Người có nghị-lực hơn thì cứu những thứ còn lại. Cả một cánh đồng, mênh mông những nước trắng xóa.
Chỗ vỡ, nước vẫn còn chảy. Nước đi thật xa, nó bò dần đến những đồng, những làng ở tận chân trời. Nó còn đi quá những nơi đó. Cho đến khi mặt nước ngoài sông và trong đồng thăng-bằng nhau.
Tin vỡ đê làm Thanh lo lắng lắm. Không biết quê chàng có tránh khỏi nạn lụt không, nhưng đường thì đứt quãng rồi. Chàng không thể về thăm nhà được. Và cũng chưa hỏi thăm ai để biết tin đích xác. Nếu làng Nguyệt-Áng bị lụt thì nhà chàng vào chỗ thấp, thế nào nước cũng đến lưng tường. Rồi chàng lo lắng. Không hiểu cha mẹ, vợ con, và các em chàng mấy hôm nay ăn vào đâu, ở vào đâu. Mà một khi lụt loạt, người ta đói, lại hay sinh ra làm càn. Rồi trộm cướp nổi lên như rươi. Nhà chàng, tiếng cả nhà không. Tuy cũng nhà ngói cây mít, nhưng làm gì có ruộng sâu, trâu nái. Sự đó, có lẽ người ngoài cũng hiểu. Nhưng trước kia thì thế, bây giờ khác rồi. Bây giờ nhà chàng có một người có của. Người ấy là con một ông quan tại chức, một ông quan đương trọng-nhậm tại một phủ tốt ở tỉnh Thái-Bình. Người ấy tức là vợ chàng. Nghĩ tới đó, Thanh giật mình. Thật vậy, ai cũng bảo vợ chàng có. Chẳng có tiền mặt, cũng có quần áo đáng giá và đồ tư-trang bằng vàng. Mà ví thử kẻ gian muốn vào, thật không khó khăn gì. Không ai đủ sức chống-cự với quân cướp lực lưỡng và liều lĩnh. Cha mẹ chàng thì già, Phương, Thúy và các em chàng thì thơ dại. Đầy tớ đàn ông không có một ai.
Thanh nghĩ đến những vụ cướp bóc tra khảo sự-chủ cực kỳ vô-nhân-đạo. Nó trói, nó đánh, nó tẩm dầu Tây vào tóc để đốt. Nó có đến trăm cách tàn ác để bắt người ta xưng chỗ để tiền. Ai chống-cự với nó thì khổ. Ai bị nó nghi là có nhiều tiền bạc cũng khổ. Vợ chàng yếu đuối không thể chống-cự, nhưng bị nó nghi là giàu.
Nghĩ khôn chẳng nghĩ, chàng chỉ nghĩ đến dại. Chàng tưởng-tượng một buổi tối, mười lăm, hai mươi tên cướp kề thuyền vào nhà chàng. Thằng nào mặt cũng vẽ đen nhẻm, tay cầm khí-giới. Chúng hung hăng xông vào, trói cha mẹ chàng, chẹn các em chàng, và tìm vợ chàng. Chúng đánh nàng để tra. Thằng Cu sợ hết vía, khóc thét lên. Mà biết đâu bọn gian ác lại không lấy thằng bé vô tội để bắt mẹ nó phải xưng hết chỗ để của.
Không hiểu sự canh phòng trong làng trong lúc bị lụt có nghiêm ngặt không. Không hiểu các đường, các lối có vít kỹ càng không. Không hiểu tuần-tráng có nghĩ ra cách rào giậu không. Còn gì dễ cho bằng bịt các đường lối trong lúc trong làng bị ngập lụt. Trong lúc trong làng bị ngập lụt, người ta chỉ cần ngăn ngừa cho thuyền kẻ gian ở ngoài khỏi vào. Thì chỉ cần một cây tre chặt ở thân, bẻ đổ xuống, cho nằm ngang ra đường, ấy là mật cái hàng rào rất chắc chắn.
Lại chợt nghĩ đến tuần-phu trong làng, Thanh càng lo lắng hơn. Nghỉ hè năm ngoái, về Kiến-xương chơi, chàng đã có dịp xem xét sự canh phòng ở vùng ấy. Người tuần nào cũng lực lưỡng, biết đánh gậy. Quân cướp có can-đảm, liều lĩnh đến đâu cũng phải gờm tuần-đinh, là những tay địch-thủ gớm ghê. Trái lại, ở làng chàng, nói đến tuần, thật là buồn. Người thì gầy gò, người thì nghiện ngập, thậm chí có người vẫn còn bé, hình như họ đi tuần không phải để canh phòng cho làng, mà chỉ để kiếm tiền thuê, hoặc ít lúa sương.
Vậy nếu trong làng có xảy ra động dạng gì, phu tuần là những người đi trốn trước tiên. Họ thản-nhiên cạnh những tiếng kêu cứu, chờ đến lúc chắc chắn kẻ gian đã rời khôi làng, đi tận ra xa lắm, họ mới dám nổi trống.
Rồi hôm sau, họ lạy van hương-lý xin giấu quan trên hộ, hoặc trình là trộm vặt. Hoặc nếu phải những nhà quyền-thế, hương lý không giấu nỗi, và họ có phải đền, thì họ lại lạy van phen nữa.
Thế mà chẳng may tai họa đến nhà chàng. Tự-nhiên chàng thấy như máu trong người sôi lên sùng-sục. Chàng muốn bay ngay về. Chàng về để coi nhà. Trong nhà có một người trai trẻ, khỏe mạnh, cũng đỡ lo. Vả nếu chàng ở nhà mà bị mất cướp, chàng cũng hài lòng, vì được san sẻ sự lo sợ, đau đớn với những người thân yêu.
Nhưng bây giờ, gia-đình chàng chỉ có rặt người già và trẻ con. Rồi sau vụ cướp của mất đã đành, người còn sợ hãi, nghĩ ngợi, thêm ốm yếu nữa.
Thanh thở dài, buồn rười rượi. Chàng lại nghĩ đến cái ráng đỏ hôm trước mà lo. Người ta bảo giở trời bão. Nếu lại có tai nạn ấy nữa, thì cái họa mới tới cực-điểm.
Song, chợt nhớ ra là nếu nhà chàng bị lụt, cũng không đến nỗi ngập sâu, vì nền cao. Trong làng, thiếu gì nhà thấp, nước đến mái. Vậy tất họ xin vào ở nhờ. Cha mẹ chàng vốn nhân- ức, không bao giờ từ chối việc nghĩa cỏn con ấy. Như thế, nhà chàng sẽ hóa ra đông người, gian-phi có dòm dỏ cũng khó lòng vào lọt được.
Thanh yên tâm. Chàng bèn đến nhà bác Hai Lăng hỏi thăm tin.
♣
Năm hôm sau, vào buổi chiều, bác Lăng đến tìm Thanh. Chàng mừng rỡ quá, vì chắc thế nào cũng được tin nhà. Bác Hai ngồi xuống ghế, thở dài, ra dáng mệt nhọc lắm, lắc đầu nói :
- Thật là vất vả ! Mà cũng phúc mà tôi không chết đuối.
Thanh chưa kịp hỏi, bác tiếp ngay :
- Tôi mới ở nhà quê ra. Hôm về thì vô sự, nhưng hôm nay, suýt bị đắm đò.
- Thế nào, bác nói rõ hộ.
- Đò thì đầy, sóng đồng thì lớn. Các bà đàn bà thấy rập rềnh, đã nhao cả lên. Nếu không được tay lái giỏi thì thuyền ụp rồi.
- Vậy kia à ?
- Phải, đi đò đồng là một sự tối nguy-hiểm.
- Đi từ quãng nào đến quãng nào ?
- Từ tỉnh làng đến quá phố huyện. Vị chi ngót hai chục cây số.
- Làng ta lụt loạt ra sao ?
Bác Hai chán nản, thở dài nói :
- Lúa má hỏng tiệt. Ngâm nước mấy hôm nay, vả lại nắng này thì gì mà còn ?
- Nhà cửa thế nào ?
- Nhà tôi ngập đến lưng vách.
- Thế nhà tôi ?
- Trong cậu nước mấp mé hè.
Thanh lộ vẻ vui mừng :
- Còn chỗ nào không ngập không ?
- Chà ! Chỗ thì đến bẹn, chỗ thì đến gối. Chỉ trừ có ngõ nhà ông lý Phách là hở thôi.
- Phải, chỗ ấy cao. Thầy đẻ tôi có biết bác về không ?
- Có, cả nhà tôi bây giờ vào ở nhờ trong cậu, dưới nhà ngang.
- Thế thì vui nhỉ !
- Nhà cu Sung, bác nhiêu Hãng, bác đám Ấn cũng kéo vào ở nhờ.Thành thử trong nhà đông đáo để. Mợ ấy dọn lên nhà trên.
- Thế à ?
- Cả làng may còn có ba nhà rộng chưa ngập. Trong nhà là một, bên ông lý Phách là hi, và nhà cụ Tú là ba.
- Nước mấy hôm nay lên hay xuống ?
- Thấy nói từ hôm qua đã rút được độ một tấc. Nhưng từ sáng đến giờ đứng.
- Thế thì còn lâu nước mới ra hết nhỉ ?
Bác Lăng gật đầu :
- Phải.
- Làng ta bình-yên chứ?
- Bình-yên.
- Không xẩy ra trộm cắp gì à?
- Không. Được cái tuần giờ bây giờ nghiêm. Vả các đầu ngõ đều vít chặt lại rồi.
- Thầy đẻ tôi có thư từ gì cho tôi không ?
- Không. Ông bà chỉ nhắn cậu cứ yên tâm mà học, đừng lo nghĩ gì đến việc cửa việc nhà.
- Thế thôi à?
- Phải.
- Tôi định hôm nào về thăm quê.
- À, mợ ấy dặn cậu đừng về nữa. Đường đi nào có dễ dàng như trước. Cùng-bất-đắc-dĩ như tôi, có việc không về không được, chứ về chơi thì tôi tính không nên, vì nguy-hiểm lắm.
- Tôi muốn nếm mùi ở lụt.
- Chà, sung sướng gì ! Chỗ đi chả có, chỗ ngồi thì không. Rồi nước ăn chân, sưng to bằng cái chĩnh.
- Ở lụt khổ, cứ tưởng-tượng cũng thấy, nhưng tôi muốn được trải cảnh khổ ấy. Vả lại cả vùng ta, cả làng ta, cả nhà tôi ở lụt còn chịu được nữa là.
- Tôi ở nhà vài hôm; không chịu được, phải ra ngay. Không về thì sốt ruột.
- Tôi cũng sốt ruột. Từ hôm nghe tin vỡ đê đến nay, tôi có được yên tâm đâu.
- Thôi, nhưng hôm nay cậu biết tin rồi, thế là yên lòng.
- Thằng Cu nhà tôi thế nào ?
- Cu nào ?
- Thằng con tôi ấy mà ! Nó có chịu chơi không ? Nó biết làm gì rồi ? Nó có nhẵn nhụi không?
Bác Lăng nghĩ một lát, đáp :
- Tôi không để ý đến đấy. Nhưng dễ cháu ngoan. Vì cả ngày, tôi không nghe trên nhà có tiếng trẻ khóc.
- Thế nhà tôi không nhắn thêm gì à ?
- Không. Nhưng như vậy là bình-yên vô sự. Chứ nếu có việc gì khác thường, mợ ấy đã cho cậu biết.
- Bác nói có lý, song nhiều khi người nhà muốn yên lòng người ở xa mà giấu những tin không hay.
Bác Lăng gật đầu :
- Ừ nhỉ.
Nhưng bác tiếp :
- Tôi chắc không có sự gì bất thường, vì nếu có thì nhà trên nhà dưới, làm gì tôi chẳng biết. Tôi chỉ thấy các cô, các cậu ấy cười đùa rầm rầm, nhiều lúc ông mắng mới thôi.
- Bác bảo tôi có nên về thăm nhà không ?
- Không nên, phải tránh sự nguy-hiểm mới được. Cậu chưa đi đò đồng bao giờ, nên chưa thấy sợ, chứ thử tưởng-tượng mà xem, cả một cánh đồng bát ngát, chỗ nào cũng sâu quá đầu người, thuyền thì chở nặng mà lại sóng nữa. Nghĩa là lên cạn lúc nào mới biết thoát chết lúc ấy.
- Nhưng tôi biết bơi.
- Đành vậy, nhưng bơi vào đâu ? Bảo rằng ở sông, thì còn có bờ. Nhưng đằng này thì bờ chỗ mút tít.
- Quái, tôi tưởng những hôm như hôm nay, đi đò bình-yên lắm, làm gì có gió mà có sóng.
- Giữa đồng sẵn gió lắm. Mà sóng nào có bé !
Thanh nghĩ ngợi vẩn vơ một lát, nói:
- Thế thì khó lòng về thăm nhà được nhỉ ?
- Mợ ấy đã dặn cậu đừng về rồi kia mà.
♣
Ngày cuối tháng, tính sổ chi tiêu xong, Thanh cười ngặt nghẹo, gọi anh em :
- Này các anh ơi, tài quá, trước tưởng ăn tiêu hà-tiện thì thừa nhiều, hóa ra còn có đồng sáu.
Ba người bạn châu đầu vào quyền vở biên những con số, đưa mắt theo đầu ngọn bút chì của Thanh. Khi mọi người thấy tính đúng, Thanh đề xướng:
- Số tiền còn lại nhỏ mọn, ta nên làm gì cho hết đi chứ ?
Giáp nói :
- Ăn phở.
Lãng can :
- Chớ, để mua sách thì hơn.
Thịnh bênh Giáp :
- Tiền ấy là tiền ăn, nhà cho để ăn, còn mua sách vở hay tiêu vặt, đã có tiền khác. Vậy chỉ ăn phở mới hợp lý hơn cả.
Thanh mỉm cười :
- Ba anh đều đã nhận được tiền nhà gởi cho để chi tiêu về tháng sau. Tôi cũng vừa có người từ nhà quê ra ban nãy, nghĩa là cũng có tiền rồi. Vậy ta nên tiêu hết chỗ đồng sáu này ngay tối hôm nay. Tiền tháng này để tiêu vào tháng sau, độc lắm !
Mọi người phá lên cười :
- Phải.
- Mà người thích ăn, người thích mua sách. Mỗi người một ý. Vậy ta nên bỏ phiếu,
Ai nấy nhao nhao :
- Phải, bỏ phiếu.
Thanh trỏ vào ngực mình :
- Anh Giáp, anh Thịnh muốn ăn, anh Lãng muốn mua sách. Còn tôi, tôi chưa ngỏ ý-kiến . Nhưng tôi ngả về anh Lãng thì anh Giáp và anh Thịnh thua, vì phiếu tôi kể như có giá-trị gấp đôi, vì tôi là thủ-quỹ, chức to hơn cả.
Thịnh đáp:
- Nhưng nếu anh theo ý chúng lôi, thì anh Lãng thua.
- Cái đó cố-nhiên. Vậy bên nào hối-lộ tôi thì tôi theo, không có tôi bỏ phiếu trắng
Thịnh và Giáp vỗ tay :
- Nếu anh bỏ phiếu trắng, thì chúng tôi được đại-đa-số, sẽ thắng!
Thanh tìm giấy ở bàn. Lãng biết mình thua, nói :
- Hay ta oẳn-tù-tì ?
Giáp lắc đầu :
- Không. Anh đừng khôn thế đi.
Thịnh cười ngặt nghẹo :
- Ừ, nó khôn thực, oẳn-tù-tì có khi ba người một phe cũng bị thua nó. Nhất-định đầu phiếu.
Giáp đã tìm được mảnh giấy, bèn xé ra làm tư, giao hẹn :
- Chỉ được viết một chữ, hoặc chữ «ăn», hoặc chữ « sách ».
Bốn người giấu nhau, viết ý mình, rồi gập giấy lại. Lãng chủ-tịch cuộc mở phiếu.
Bắt đầu, chàng mở tờ giấy của Thịnh, cả bốn người đều đồng thanh nói trước :
- Ăn !
Rồi đến phiếu của Giáp, cả bốn miệng lại cùng nói :
- Ăn !
Ai nấy cười vang. Chàng mở đến phiếu của Thanh. Ba ngườì hồi-bộp thốt ra một tiếng :
- Sách !
Nhưng không phải. Nó lại là chữ « Ăn» ! Thịnh và Giáp nhìn Thanh, nắm tay thật chặt và rung tít. Tiếng cười dậy lên. Cười xong, Lãng nói :
- Thôi hỏng, tôi thua mất rồi. Một mình tôi một ý.
Lá phiếu cuối cùng mở ra. Cả tám mắt giương to để nhìn. Bất đồ tiếng đập bàn đánh đét, và cả từng ấy miệng hét lên :
- Ăn !
Họ ôm nhau mà cười, lăn cả ra phản.
Rồi bốn anh em rũ nhau :
- Tối rồi, không cần mặc gì cho nực, cứ áo cộc, lê guốc lên hiệu ăn phở. Mỗi đứa hai hào, tha hồ no phưỡn bụng cóc !
Bốn người xuống gác, cùng đi. Họ làm bộ như những con nhà giầu.
Ăn phở xong, Giáp hỏi :
- Ta làm mỗi đứa chiếc bánh ngọt ?
Lãng xua tay :
- Không. Hôm nay nóng nực, ta đi bộ một tí cho tiêu, rồi ra ăn kem Bờ Hồ.
Thanh nói :
- Ăn thế, đau bụng thì chết.
Thịnh hỏi :
- Hay lại đầu phiếu ?
Lãng xua tay, lôi các bạn đứng dậy :
- Lại mỗi đứa hai hào kem. Thanh, sợ gì, nghe tin nước đã rút ra đến đầu làng mà không khao à ?
- Thì khao!
Bốn anh em lại lê guốc ra bờ sông xem nước rồi về Bờ Hồ, tới chỗ dãy hàng kem. Họ chọn cái bàn ở ngay sát mặt nước, cạnh gốc cây lá um tùm, che lấp ánh sáng điện.
Muốn tỏ vẻ ăn chơi hùng hồn, họ gọi bốn cốc kem một hào, rồi mỗi người ăn thêm hai cốc kem năm xu nữa. Vị chi là tám hào. Như vậy, vừa được tiếng oai hùng, vừa được ngồi hóng mát lâu, vì chỉ ở Bờ Hồ thỉnh thoảng mới có gió, còn ở trong phố thì cả ngày oi bức, nhất là cái gác họ thuê, nó nóng như cái lò.
Khi đã khuya lắm, vả ngồi lâu quá thì ngượng, bốn anh em rủ nhau về. Khỏi Bờ Hồ, họ lại thấy nực nội như cũ, hơi nóng ở đường đá vẫn chưa dịu. Nhưng làm thế nào, họ phải về kẻo nhà dưới đóng cửa, khó gọi. Thuê chung với thợ may, được cái lợi về khuya.
Gác của họ vẫn không kém gì cái lò. Họ kêu trời lên, cởi trần ra, và quạt phành phạch. Họ rủ nhau ra sân, dội mấy gáo cho mát mới có thể ngủ được.
Nhưng nào có nằm yên, Thanh vừa rời tay quạt, mồ-hôi đã ra như tắm. Bỏ màn thì nóng, mà không thì muỗi. Chàng trằn-trọc đến hai giờ đêm.
Thịnh, Giáp và Lãng bàn nhau giải chiếu ra sân gác :
- Mùa hè không có sương, vả sương không độc.
Nhưng Thanh can:
- Thôi, chớ dại dột, lỡ ra thì khốn. Đây quên thuốc ở nhà rồi.
- Không cần, khỏe thì bất chấp.
Ba người ra sân nằm. Một lát họ ngủ được, im thin thít. Thanh thấy các bạn ngáy mà thèm. Chàng luôn luôn cái quạt ở tay, nếu không để phẩy muỗi thì cũng để cho ráo mồ-hôi. Nhưng một lát, chàng tặc lưỡi, đem chiếu ra giải cạnh cửa gác sân để nằm. Chỗ này mát, và thỉnh thoảng có gió. Thanh thiu thiu ngủ được.
Nhưng đến tang tảng sáng, tự nhiên hai tay Thanh quờ quờ ở bên cạnh, rồi chàng mở mắt ra, nhăn nhó, uể oải ngồi dậy. Chàng thấy dấm dẳng đau bụng, phải tìm cái đắp. Chàng bèn đẩy cánh cửa đóng kín lại, và trùm nửa chiếu lên mình. Nhưng bụng chàng sôi lên. Chàng ngồi nhỏm dậy, tay vớ chiếc áo, chạy vội xuống gác.
Nhưng khi lên, chàng tưởng hết đau bụng thì có thể ngủ thêm được, bất-đồ chàng lại phải chạy vội xuống gác lần nữa.
Thằng nhỏ thấy Thanh có vẻ mệt nhọc, nó hỏi thì chàng đáp :
- Tao đau bụng, đi độc. Cho tao miếng gừng.
Thanh nhai gừng, nuốt chửng cả nước đắng.
Chàng thấy nóng ran bụng. Nhưng chàng không đỡ đau, và lại phải xuống gác lần thứ ba.
Lúc lên, chàng uể-oải lắm. Thịnh mở mắt dậy, thấy Thanh kể bệnh, bèn sai đầy-tớ đi mua lọ dầu. Thanh xoa khắp người và uống một tí. Nhưng bụng vẫn sôi và sự xuống gác để đi sau vẫn không ngừng. Hơn nữa, chàng lại nôn. Nằm thở một lát, chàng thấy khát nước.
Lãng sợ quá, đoán rằng Thanh mắc bệnh tả, bèn tức tốc báo tin cho vợ chồng Vĩnh biết.
Đến độ mười giờ, Thanh thượng thổ hạ tả rất kịch-liệt. Ông lang đến bắt mạch, xem phân, rồi lắc đầu đi ra, chỉ khuyên một câu :
- Các cậu phải kín lắm mới được, thuê xe cho cậu ấy về nhà quê, kẻo không kịp.
Chân, nước mắt chạy quanh, hỏi chồng :
- Cậu, làm thế nào được ?
- Về nhà thì cố-nhiên không thể, vì không có lối đi.
Lãng mếu máo :
- Tôi chỉ sợ người ta biết, đem anh Thanh đi nhà thương mất. Hay mời ông lang khác?
Thịnh lại chạy đi mời một thầy Khách. Thầy kêu là bệnh nặng quá, nhưng cũng cho uống thử một liều thuốc. Song, thầy cũng khuyên nên lánh ra ngoài thành-phố thì được mồ yên mả đẹp hơn.
Người chủ nhà dưới bàn với Vĩnh nên đem ngay Thanh xuống chùa Thái-Bình, cạnh đường xe điện đi ô Cầu-Giấy. Ông ta quen sư cụ, người sẽ không hẹp lượng đối với những kẻ tai-nạn.
Vĩnh theo lời ông chủ thợ may, nhờ ông ta đi nói trước hộ. Và trong khi chờ trả lời được hay không, vợ chồng Vĩnh và các bạn cố hết sức chạy chữa bằng những thứ thuốc người ta mách. Nhưng sự thất-vọng mỗi lúc một rõ rệt hơn. Mặt Thanh xám hẳn lại. Đầu ngón tay bấm mạnh, chỉ thấy trắng toát. Chàng mệt lắm rồi, người thì mê man, và tiếng thì ú ớ không rõ nữa. Vậy mà chàng vẫn đòi uống, và uống bao nhiêu, lại thượng thổ hạ tả bấy nhiêu. Ai trông thấy mà không sợ ! Ai trông thấy mà không thương! Nhưng lòng thương thắng nỗi sợ, nên không ai nghĩ đến sự lây. Họ đều hết lòng. Còn nước thì còn tát. Nhưng họ nơm nớp lo lỡ có người ngoài biết.
Chừng một giờ sau, ông chủ thợ may về, nói rằng sư cụ bằng lòng lời yêu cầu, và có mệnh-hệ nào, người cho thuê một miếng đất trong chùa mà chôn.
Lập tức Lãng thuê xe, và Giáp cõng Thanh xuống gác, đã lả như sợi bún. Thịnh ngồi giữ Thanh. Trừ có Chân lên phố Mới nhờ bác Hai Lăng sáng hôm sau về sớm báo tin cho gia-đình Thanh biết, cùng đánh dây thép về Kiến-xương, rồi đi mua bán các thứ cần dùng việc tống táng, còn cả mọi người đều đưa Thanh xuống chùa..
Và đến ba giờ sáng, Thanh tắt thở.
III
Chiều hôm sau, bác Lăng về tới nhà.
Lúc ấy, ông bà Nghè vừa ăn cơm xong, đương đùa với cháu. Thúy, Liêm và Khiết ngồi quây quanh giường, nhìn thằng Cu làm trò, cười như nắc-nẻ. Thấy thằng bé tập lẫy, ngã ngửa ềnh ra, rồi há mồm ra reo, bà Nghè sằng sặc cười, ôm lấy nó, hôn lấy hôn để :
- Không có thằng chó thì hôm nay bà nóng ruột như cào.
Phương nói :
- Vâng, từ đêm qua, con cũng thấy nóng ruột tệ.
Bà Nghè lại đặt thằng Cu xuống giường :
- Nó chó thế này mà cậu nó không ở nhà xem. Ừ, giá hôm nay không vỡ đường, dễ hôm nay là ngày cậu nó hẹn về đây.
Thúy đáp :
- Rồi gần hết hè, nhờ giời đường sá khô ráo anh con về chơi, thằng Cu lại biết thêm nhiều trò nữa.
Bỗng bác Lăng chào một cách sửng sốt.
Tự nhiên cả nhà im lặng quay ra. Ông Nghè, như tâm-linh đã báo trước điềm gở, hốt-hoảng hỏi :
- Về có việc gì thế, anh ?
- Bẫm, cậu Cả con…
Giật nảy mình, ông hỏi dồn :
- Làm sao, làm sao ?
- Bẩm, cậu con giở giời, mà nghe chừng nặng.
Phương sực nghĩ ngay đến rượu thuốc mà chàng không có để đem theo. Nàng run bắn người lên, nhìn bác Lăng, không nói được. Bà Nghè xám mặt :
- Giở giời thế nào ?
- Bẩm, cậu con mắc bệnh kia ạ.
Phương như muốn vồ lấy hết ý-tưởng của người báo tin để biết ngay hết chuyện :
- Bệnh gì ?
- Thưa mợ, bệnh thời-khí !
- Thôi chết rồi !
Thốt ra được ba tiếng, nàng vật mình xuống giường, tru lên khóc.
Ông Nghè muốn bắt mọi người đều giữ hết nghị-lực, bèn trợn mắt, mắng :
- Dại nào ! Im ngay để thầy hỏi,
Rồi ông nhìn bác Lăng :
- Thế nào ?
- Bẩm ông, chiều hôm qua, con thấy mợ gì là chị mợ Cả nhà, hớt hơ hớt hãi đến nhà con, nhờ con về mời ông bà với mợ cả ra ngay Hà-nội, vì cậu Cả mắc bệnh thời-khí nặng.
- Thế bác có lại thăm anh nó không ?
- Bẩm không, vì đã đưa cậu con xuống chùa Thái-Bình rồi.
Bà Nghè hỏi :
- Chùa Thái-Bình ở đâu ?
- Bẩm, ở đường đi ô Cầu-Giấy.
- Đưa xuống bao giờ ?
- Bẩm, con không biết.
- Thế anh nó có thuốc thang gì không ? Có đem theo rượu thuốc hai mươi ba vị kia mà ?
- Bẩm, con không biết.
Phương càng thấy hối-hận. Nàng lại phía giường, vo viên mấy chiếc quần áo, nhét vào trong va-li, rồi nói :
- Bẩm thầy, con xin phép cho con ra ngay thăm nhà con.
Bà Nghè mếu máo :
- Chờ thầy đẻ cùng đi cả.
Rồi bà than thở :
- Không biết bây giờ thuyền bè có dám chở không đây !
Ông Nghè bảo Thúy :
- Xếp quần áo, thầy đẻ và các con cùng đi.
Đoạn ông bảo bác Lăng :
- Anh gọi cho tôi người lái thuyền vừa chở anh vào đây.
Một lát, người lái vào, ông hỏi:
- Tôi thuê anh ra ngay tỉnh bây giờ, anh lấy bao nhiêu ?
- Bẩm quan lớn, con không dám chở.
Phương cáu tiết:
- Anh định bắt bí, bao nhiêu tiền cũng thuê.
Người lái ôn-tồn đáp :
- Bẩm mợ, không phải thế. Độ này tối giời, chúng cháu không dám đi đêm.
Ông Nghè hỏi:
- Anh sợ không được nghiêm hay sao ?
- Bẩm vừa sợ thế, vừa sợ tối thì lạc, vả đến khuya, sóng gió thường to.
Bà Nghè nói :
- Anh không ngại, có hai người tuần đem tay thước đi kèm.
Người lái đò ngần ngừ, rồi nói:.
- Bẩm quan lớn, bà lớn, con chở hầu quan lớn, bà lớn, tất con không bị thiệt, nhưng thực tình, con không dám.
Phương hỏi :
- Hay tôi thuê thuyền bác, mặc tôi tìm người chở lấy ?
Người lái đò nghĩ ngợi, rồi đáp:
- Bẩm mợ, cứ gà gáy sáng mai, cháu xin đi.
- Đêm nay không có giăng, đã có sao, vả lại im gió, anh sợ gì ?
- Thưa mợ, thực tình từ thuở bé, cháu chưa dám đi đêm. Vả lại cháu cũng mệt.
Bà Nghè, khi ấy đã xếp dọn và sắm sửa xong, bèn nói :
- Này, tôi bảo, việc của tôi là việc kíp, cậu Cả bị cảm nặng ở ngoài Hà-nội, nên mới phải đi đêm. Nếu anh không chở, thì anh tìm hộ xem có ai dám đi hay không. Nếu không, anh làm cách gì cho chúng tôi đến được Hà-nội đêm nay thì làm.
Phương bế con, đứng chờ, lấy vạt áo quệt nước mắt. Thằng Cu hập miệng vào ngực mợ nó, đòi bú. Nàng nhìn nó, mếu máo.
Người lái vâng lời đi ra khỏi, bà Nghè, Phương và Thúy nhìn nhau, bỗng oà lên khóc.
Ông Nghè cau mặt, gắt :
- Làm gì mà ồn ào lên thế nào ? Chỉ dại thôi!
Nhưng không ai ghìm nổi được nỗi lòng quá xúc-động.
Đến sẩm tối, người chở thuyền trở lại, trả lời rằng không ai dám đi đêm.
Cả nhà thất-vọng.
Đêm hôm ấy, Phương không ngủ được. Nàng trằn trọc, có lúc dậy ôm lấy vò rượu thuốc, nức nở khóc.
♣
Đến Hà-nội, ông Nghè cùng người nhà lại ngay nhà Vĩnh. Ở đó, ông bà Phủ Kiến-xương đã đến từ tối hôm trước.
Bà Phủ thoạt thấy Phương, đã oà lên :
- Con ơi, me không ngờ số con long đong !
Thế là không cần hỏi đích xác, ai nấy đều biết tin và ồn ào khóc theo.
Bà Nghè hỏi Chân :
- Thế chôn em bao giờ, hở mợ ?
- Thưa bà, em con mất hồi ba giờ đêm hôm kia, thì tám giờ sáng hôm qua chôn ngay trong chùa. Bệnh ấy nên không dám để lâu.
Ông Nghè thở dài, đứng dậy :
- Chúng tôi xin xuống chùa .
Bà Nghè hỏi Chân :
- Em có giối giăng được gì không ?
Vĩnh đáp thay vợ :
- Thưa bà, chú ấy không giối gì cả.
Bà Nghè giậm chân xuống đất, nhăn nhó :
- Khổ quá, không muốn giối hay không kịp giối ?
- Thưa bà không muốn. Con có hỏi nhiều lần, nhưng chú ấy cứ lắc đầu.
- Thế lúc em đi, có những ai bên cạnh ?
- Có hai vợ chồng con, ba người bạn ở cùng nhà, và sư cụ.
- A, cũng còn là may.
Phương khóc:
- Em không ngờ nông nỗi này!
Vĩnh thở dài :
- Còn ai dám ngờ, nhất là chú ấy đầy đặn, vạm vỡ. Thật người khôn chóng già.
Ông Nghè đứng dậy, giục :
- Ta xin xuống chùa.
Bà Nghè mếu máo :
- Có cửa có nhà thì chả ở, thật là đau xót…
Xe đã thuê được, tất cả mọi người đều xuống chùa Thái-bình.
Phương ngồi chung với Chân. Nàng than thở với chị:
- Nhà em mất, thật là tại số. Em chỉ thương nhà em một mình ở ngoài này. Song may có anh chị là người thân, chứ nếu không, ai lo tống táng cho được tử-tế.
Rồi nàng nhìn con, nó đương vừa gậm nắm tay, vừa reo. Nàng khóc :
- Không ngờ cháu bé bồ-côi cha sớm thế.
Chân thở dài :
- Chị không biết lấy lời lẽ thế nào để an ủi em được. Chị chỉ khuyên em là người chết, đến lúc chết là hết bổn-phận, còn chúng ta phải gánh vác bổn-phận không biết đến ngày nào. Vậy ta nên lấy bổn-phận để làm đích cho sự sống. Mà bổn-phận của em bây giờ là một mình ghé cả hai vai vào giang-sơn nhà chồng, nuôi nấng cháu Cu cho nên người, và giữ thanh-danh cho họ Lê nhà ta nữa.
Phương chán nản :
- Thôi, em liều, đời em là đời bỏ đi.
- Em chớ thất-vọng quá thế. Hiện nay, em nên làm thế nào cho hai bên cha mẹ đỡ phiền lòng. Hôm qua, thầy lên cơn sốt cả đêm. Chị sợ quá. Me cứ đòi ngủ ở dưới chùa, chị can mãi mới chịu về. Bệnh này hay lây, lỡ ra thì khốn.
- Em chỉ mong được đi theo nhà em, thế là nhẹ nợ.
- Nhưng em có cháu bé phải nuôi, phải dạy, em bỏ liều cho ai ?
Phương thở dài, yên lặng.
Xe đi một lát thì đến chùa. Vĩnh giới-thiệu mọi người với sư cụ, rồi ra mộ Thanh.
Những tiếng khóc thảm thiết nổi dậy. Phương giãy giụa, rồi ôm lấy mả, tru tréo :
- Ối anh ơi, ngờ đâu nên nông nỗi này !
Rồi nàng lăn lộn, quật mình xuống đất. Chân cố ôm lấy em, nhưng nàng hăng quá. Tưởng chừng như nàng thù hằn với tất cả, muốn bới đất lên, mở áo quan ra, dựng chồng dậy mà thở than, mà gào thét cho hết hơi, để cùng được chôn ngay một hố ấy.
Bà Nghè, bà Phủ, Chân và Thúy ngồi quanh mả đều ôm mặt khóc sướt mướt. Ai nấy kể lể để gợi thêm cho mình nỗi thương tâm.
Mặt trời tuy đã ngả về tây, nhưng vẫn còn oi bức quá. Gió như tạt hơi lửa vào mặt.
Vĩnh không muốn nhìn cảnh thương tâm lâu, nói :
- Mời ông bà với thầy me về phố.
Bà Nghè đứng dậy, lau nước mắt, đáp :
- Thôi, giả ơn cậu, xin mời quan lớn, bà lớn về xơi cơm không muộn, chúng tôi ở lại đây đêm nay.
- Thưa bà, bà coi nhà con như ở nhà.
- Đành vậy, nhưng chúng tôi mới đến, muốn ở lại chùa này.
- Bẩm, xơi cơm xong, mời ông bà lại xuống đây, chúng con không dám giữ.
Ông Nghè đáp :
- Còn bụng dạ nào ăn cơm nữa.
Rồi ông nói với ông bà Phủ :
- Chẳng may cháu xấu số thiệt phận, chúng tôi như chết một nửa người. Trăm sự là tại bên nhà tôi kém phúc nó mới xui nên như thế.
Ông Phủ nắm tay dâu-gia :
- Thôi, trong lúc này thì bố mẹ đẻ hay bố mẹ vợ cũng đều đau đớn ngang nhau. Hãy mời quan lớn, bà lớn về nhà anh chị Cả cháu, tối hoặc mai, ta lại xuống.
Ông Nghè lại rưng rưng nước mắt:
- Xin rước quan lớn, bà lớn, và cậu mợ về, chúng tôi thế nào cũng ở lại đêm nay. Cháu chết đã xa chúng tôi, thì hôm nay chúng tôi muốn ở gần cháu, vả cũng có câu chuyện muốn nói với sư cụ.
- Mọi việc đều chu tất cả rồi, quan lớn không phải nghĩ đến.
- Vâng, đành vậy, nhưng chúng tôi xin ở đây đêm nay. Tôi phiền mợ Cả mua cho ít vải trắng để làm khăn, làm áo.
Rồi ông nói với bà Nghè :
- Những cái gì phải mua bao nhiêu, bà dặn mợ Cả đi.
Bà Nghè nhăn nhó :
- Tôi không còn ruột gan nghĩ ra nữa, xin mợ cứ tùy sắm sửa, ứng hộ tiền, rồi tôi tính toán nộp lại sau.
Ông Phủ biết là ông Nghè nhất định ở lại, bèn cùng vợ con đi về.
Khi ông bà Phủ ra khỏi, ông Nghè lên nhà tiếp chuyện sư cụ, bà Nghè và các con lại xúm quanh mả Thanh để khóc.
Một lúc lâu, ông Nghè đến gần Thúy, gọi :
- Thôi, bảo đẻ, chị và các em lên nhà uống nước kẻo mệt. Thầy đã nhờ nhà chùa thổi giúp cơm, và dọn cho một chỗ để tạm ngủ đêm nay.
Tiếng khóc im lặng. Phương tấm tức, đứng dậy.
Mặt trời lặn từ lâu. Song, lưng áo nàng đẫm những mồ-hôi. Nàng không ngờ, ngôi chùa này, trước kia về phủ Hoài-Đức, nàng vẫn đi qua và nhìn bằng đôi mắt hững hờ, thì bây giờ lại là một nơi quý mến, luôn luôn nàng để tâm-hồn tới. Nàng nhìn kỹ hàng rào cây ổi cho chí cái cổng bé nhỏ, nàng thấy thân yêu và tưởng chừng như những vật ấy cũng có cảm-tình mật-thiết với nàng.
Nàng theo bà Nghè lên nhà trên. Nàng mong chính Thanh đã thở hơi cuối cùng ở đó, và nằm trên giường hiện nàng đương ngồi. Nàng bèn bỏi sư cụ :
- Bạch cụ, nhà tôi khi yếu thì nằm ở đâu ?
Sư cụ gật đầu :
- Chính ở đây, khi ấy các liếp cửa hạ xuống, kín đáo lắm.
- Bạch, ở gian này hay ở gian kia ?
- Ở gian ấy, nhưng giường chiếu người ta đã xin mất cả rồi. Vả tôi đã bắt đốt bồ-kếp và xương-truật để hun nhà, mợ đừng sợ.
Phương thất-vọng thở dài. Trái lại, nàng muốn được thấy những thức chồng nàng dùng đến phút cuối cùng. Đến cả hơi thở của chàng cũng không còn lưởng-vưởng quanh quẩn ở đây để đợi nàng nữa. Nó đã phải bạt đi vì mùi bồ-kếp và xương-truật mất rồi.
Nàng cho con bú. Thằng bé không biết gì, toét miệng cười. Hai chân nó đập vào bụng nàng để đùa. Nàng nhìn nó, thương hại hỏi :
- Con có thương cậu không ?
Bỗng người vú già của Vĩnh đội mâm cơm đến:
- Bẩm ông bà, cậu mợ con sai đem xuống đây để ông bà với các cô, các cậu xơi.
Rồi vú mách :
- Lại còn thằng nhỏ đi theo sau, mang chiếu, màn với gối, nữa.
Ông Nghè cảm-động, thở dài :
- Cậu mợ tử-tế quá!
- Cậu mợ con định mời ông bà con tối nay cũng xuống đây ngủ cho vui. Một mình con ở coi nhà, sợ quá.
Thúy nói :
- Có thằng nhỏ nữa, sợ gì ?
- Thằng nhỏ phải ở dưới này hầu đêm nay.
Bà Nghè mở lồng bàn, rồi hỏi:
- Dễ có bao nhiêu thứ thì mang cả xuống đây.
- Vâng. Ông bà và cậu mợ con lên hiệu.
- Thế đã xơi cơm chưa ?
- Bẩm chưa. Còn chờ mợ con đi mua vải và may áo, dễ đến tám chín giờ mới về.
Thằng nhỏ đầu đội chăn gối, nách cắp chiếu, đi vào.
Phương băn khoăn, hỏi:
- Mợ về chưa ?
Vú già mỉm cười, đáp :
- Nó cũng cùng đi với con, xe nó chạy chậm.
Rồi vú trải chiếu lên giường, đặt mâm cơm vào giữa:
- Mời ông bà, các cô, các cậu. Con phải về nhà trông các em.
Ông Nghè nói :
- Ta nên ăn, dù no cũng cứ ăn, ăn để khỏi phụ lòng cậu mợ Cả.
Vú nghe tiếng chuông xe điện, vội vàng chào mọi người, rồi chạy ra, dặn với lại thằng nhỏ :
- Hầu cơm cẩn-thận nhé.
Ông bà Nghè cùng các con xin lỗi sư cụ, ngồi quanh mâm cơm. Nhưng mọi người nhìn nhau, nước mắt ròng ròng. Ai cũng nghĩ đến Thanh, nằm ở cách đây không xa. Phương nghẹn ngào, không nuốt được, bèn nói
- Dễ thường nhà con làm ma đói. Từ hôm mất đi, không được ai cúng bữa nào.
Ông Nghè gạt đi :
- Chà, tin nhảm nhí, đã chết rồi còn ăn uống gì!
Bà Nghè cãi:
- Chết là chết cái thể xác, chứ còn linh-hồn thì chết sao được. Ta thờ cúng các cụ thì ta biết.
Thúy nhanh-nhẩu đứng dậy, mượn nhà chùa cái bát đôi đũa, xới cơm vào, rồi đặt cạnh chỗ Phương ngồi :
- Anh khôn thiêng, mời anh về xơi cơm với thầy đẻ, với chị, với các em, anh phù-hộ cho cả nhà, cho thằng Cu hay ăn chóng nhớn, học giỏi thi đỗ, ngày sau nên người.
Phương kín-đáo, trong bụng cũng thầm khấn chồng.
Bỗng có cơn gió thoảng vào nhà. Tự-nhiên thằng Cu khóc thét lớn. Nàng rợn tóc gáy, tưởng như hồn chồng phảng phất về thật. Nàng ôm con ghịt vào lòng, lầm rầm:
- Cậu khôn thiêng, có về đùa với con thì đùa, chứ đừng trêu ghẹo con như thế.
Nàng dỗ con một lát. Thằng bé được ru-rín thì ngủ yên. Nàng và cơm, cố nuốt một bát.
Ông Nghè nói :
- Mai là ba ngày, ta sửa mâm cơm cúng.
Thằng nhỏ nghe lỏm, mách :
- Bẩm, cậu mơ con đã mua các thứ từ trưa rồi, định mai cúng cậu Cả nhà.
Bà Nghè thở dài :
- Sao quan Phủ có người rể quý-hóa thế!
Phương hỏi :
- Bẩm, thầy đẻ, hôm nào thì rước vong nhà con về ?
Ông Nghè đáp :
- Thầy định mai, ở đây lâu chỉ thêm đau lòng. Nhưng nghĩ đến cậu mợ Cả Vĩnh chu-đáo, nên ở rốn lại một hôm trên Hà-nội.
- Bẩm, thầy me con bao giờ xuống phủ ?
- Thấy ngài nói xin phép được hết ngày mai. Chắc độ trưa mai ngài xuôi.
Phương đặt con nằm xuống giường. Nàng ra hè đứng nhìn ra phía mả chồng. Trời đã tối sập. Bốn bề đen như mực.
Chừng hơn tám giờ, ông bà Phủ và mợ Cả Vĩnh tới . Chân bảo Phương :
- Anh Cả dễ đến nửa đêm mới xuống được , vì còn chờ thợ may xong quần áo.
♣
Thanh chết trẻ, nên thờ rất giản-dị, bầy ở gian bên, dưới nhà ngang. Đó là một cái bàn nhỏ, phủ vải trắng, trên có tấm truyền-thần nửa người, lồng trong chiếc khung mộc. Trước ảnh là cái bát hương, có đôi đèn nến gỗ hai bên.
Hôm rước vong, bà Phủ cũng theo về. Bà ở lại chơi với ông bà Nghè, nhất là để an ủi Phương. Ngày ngày, lúc cúng cơm, Phương lại áo sô, tóc xõa. Nàng mặc cho thằng Cu mũ mấn, áo sô, và buộc chiếc gậy con vào cổ tay. Nàng đặt nó ngồi xuống đất, và ấn đầu nó xuống, lạy bốn lạy. Thằng bé không biết gì, có lúc tưởng đùa, cười sằng sặc. Có lúc nó khó chịu, vòi khóc ầm lên. Không hôm nào Phương lễ mà cầm nổi nước mắt. Nàng khóc tru tréo, khóc thảm thiết, không ai khuyên nổi. Mà người nhà cũng không thể đứng đó để khuyên Phương được, vì chính mình không thể tự khuyên nổi mình. Mình cũng xúc-động quá, trong lòng thổn-thức, rồi tự-nhiên nước mắt trào ra, và cũng bù-lu bù-loa, ngồi phệt xuống đất, khóc-lóc với người quả-phụ. Rồi nước mắt lan người nọ sang người kia, thế là có một cuộc khóc ồn-ào, khóc xót-xa như khi trong nhà có người mới thở hơi cuối cùng.
Mà nếu Phương khóc một mình, thì độ nửa giờ nàng mệt, nàng nằm lăn ra đất và thở. Rồi nàng gượng dậy, lên nhà trên ăn cơm với cha mẹ và các em. Song, nếu có người cùng khóc, như thêm gợi mối đau lòng, nàng vật mình vật mẩy, lăn lộn trên mặt đất, nàng gào thét như để được hết sức, hết hơi, như để được đứt mạch máu mà chết theo người yêu. Có bận nàng đã ngất đi, sờ người lạnh toát, khiến ông bà Nghè và bà Phủ đã sợ. Đầy tớ vực nàng lên giường, bà Nghè xoa dầu, bà Phủ lay gọi, và Thúy hu-hu lên gọi:
- Chị ơi!
Nhưng may quá, nàng chỉ thiếp đi có một lát, rồi tỉnh được ngay. Nàng mở mắt ra, và sau một giấc thiêm thiếp, nàng được như thường.
Bởi vậy, Phương gầy xọp hẳn lại. Nàng có ăn và có ngủ được đâu. Hai mí mắt đen và quầng hẳn lên.
Ông Nghè cắt cho nàng thuốc bổ, nàng có uống, nhưng thuốc nào lại được với sự buồn phiền. Nàng rất hối hận, thường kể chuyện với Thúy rằng:
- Anh chết là tại chị. Thầy đã bảo sẻ rượu thuốc mà chị lười, nên mới xảy ra như thế này.
Nhưng Thúy an ủi:
- Người ta sống chết có số. Vì số anh như thế, nên nó xui ra cho chị không tìm thấy chai để rót thuốc. Mà biết đâu, số đã chết thì thuốc cũng không được dùng, có khi anh đi đường hoặc ở ngoài ấy đánh vỡ chai thuốc, rồi mới bị bệnh cũng nên. Vả người ta mà giời đã bắt chết về bệnh gì, thì có họa thuốc thánh cũng không chữa khỏi.
Thúy rất thương Phương, vẫn thường dỗ-dành nàng:
- Anh mất đi, thôi cũng là tại số, còn như chị, chị nên gượng vui, trên còn thầy đẻ, còn quan Phủ, bà Phủ bên nhà, đừng để bực cha mẹ trông thấy mình đến nỗi phải tổn thọ.
Thằng Cu, từ ngày bồ-côi, cũng không được như trước. Nó chửa biết gì. Nhưng nó còm đi, xanh đi, và không ngoan nữa. Là do mợ nó khí-huyết kém thì sữa ít và không tốt. Lắm hôm, bú không đủ, nó cằn-nhằn, nó gắt, nó quấy. Và rồi mợ và cô không năng chăm-chút như trước, nên nó bị phá lở. Nó đau-đớn, khóc ngằn-ngặt. Trời nực mà nhiều đêm, vì nằm xuống chiếu thì đau, nó phải úp mình sấp trên bụng mẹ, như con nhái bén. Mẹ và cô thì không lúc nào rời tay quạt. Nhưng phần đau, phần nực, không ngủ được, nó càng khóc..
Bà Phủ thấy cảnh con gái như vậy, chỉ dám ngấm ngầm thương. Bà không tỏ cho Phương biết. Vì đã có một lần, bà bế cháu, nhìn nó, bà nước mắt chạy quanh. Nên Phương vừa thương mẹ, vừa tủi thân, nàng đã khóc một phen tưởng đứt ruột. Bà cũng không dám tỏ cho bà Nghè biết bụng mình, vì không có ích gì, chẳng qua chỉ gợi của dâu-gia ít nước mắt. Ngày nào bà cũng đánh tổ-tôm nhỏ. Ông bà Nghè sợ bà buồn, gọi người vào để bầy ra cuộc tiêu-khiển này. Bà thì sợ ông bà Nghè buồn, nên chiều lòng ngồi vào. Thực ra, chính ông bà Nghè còn bụng dạ nào mà đánh với chác, mà bà Phủ cũng thiết gì chơi. Thành thử hai bên dâu-gia, vì muốn chiều lẫn nhau mà chỉ lợi cho hai anh hàng xóm, ngày nào họ cũng được đồng bạc hoặc một vài hào.
Ở Nguyệt-Áng nửa tháng, khi nước rút hết, và đường có thể đi xe được, bà Phủ nói với ông bà Nghè xin về. Ông bà Nghè lưu mãi lại, không được. Phương đành để mẹ về : Nàng đã lớn, đã xuất-giá, và đã có con. Không lẽ ngần này tuổi đầu, nàng chưa được việc gì gọi là để báo hiếu, mà chỉ làm cho cha mẹ đau phiền vì trông thấy mình góa bụa, lẻ loi.
Lúc sắp ra xe, bà Phủ nước mắt chạy quanh, xuống nhà, bảo Phương thắp mấy nén hương ở bàn thờ Thanh, pha chén chè tầu, rồi đứng cạnh, nhìn vào ảnh, nói :
- Thôi anh Cả ạ, me về đây nhé, rồi đến năm mươi ngày me lại sang, nhân tiện chơi với cháu. Anh có khôn thiêng thì phù-hộ cho cha mẹ già, cho vợ trẻ, cho con thơ…
Chưa dứt lời, bà nức lên, lấy vạt áo chùi mắt. Thế là những tiếng khóc lại loạn lên.
Bà Phủ biết mình đã làm một việc vô-lý, bèn gượng vui, lên nhà trên chào ông Nghè bà Nghè. Phương và Thúy vội vàng đi tiễn bà, nên đều phải nín.
♣
Phương đứng ở cổng, nhìn theo xe mẹ cho đến chỗ khuất.
Rồi nàng thở dài, cùng Thúy quay trở vào. Nàng bần thần, nhìn vạch vôi ở tai con mà lòng thấy trống trải. Nàng đưa Thúy bế con hộ, vào buồng nằm thở dài.
Nàng thương mẹ đi đường nực nội, vất vả. Nàng thương mẹ nghĩ ngợi về mình. Chính bà cũng có một tâm-sự. Có lẽ bà cho là bà chịu trách-nhiệm về sự đau đớn của nàng vì ông bà gả nàng cho Thanh nên nàng phải góa trẻ. Và hiện bây giờ thì chưa, nhưng vài ba năm sau, khi nàng hết trở chồng, tất ông bà nghĩ đến tương-lai nàng. Hẳn ông bà phải đắn đo chứ không dám bắt buộc, vì đã đành việc gả bán cho con là quyền cha mẹ, nhưng quyền ấy, cha mẹ chỉ dùng một lần thôi. Còn như sau này, đứng vậy hay đi cầu nữa, là tùy nàng. Ông bà không thể khuyên nàng nên ở lại thờ chồng nuôi con, vì như vậy, nàng sẽ phải khổ sở, mà đàn bà đương vào thời-kỳ sinh nở, lỡ ra không kiên gan mà một lầm hai lỡ thì mang tiếng đến cả cha mẹ. Ông bà cũng không thể khuyên nàng nên tái-giá để làm lại cuộc đời bởi vì một người đàn bà góa, dù mới ăn ở với chồng có hơn một năm, dù chỉ ngót hai mươi tuổi, nhưng bước đi cầu nữa là một cái nhục, và lại con nhà dòng dõi trâm-anh, càng phải nén sự sung sướng cho mình mình để giữ thanh-danh cho ông cha.
Nhưng sự thực, nàng cho là chính nàng đã giết chồng. Nàng đã không sẻ rượu thuốc nên mới có nông nỗi này, để thương để khổ cho nàng, cho bao người thân-thiết xung quanh nàng. Nàng nghĩ đến đời người góa. Đời gái góa là đời của một người chửa chết, chưa chết về thể-xác, nhưng về linh-hồn thì đã chôn theo chồng xuống suối vàng. Đời gái góa là một tấm bia chịu bao mũi tên độc của những lời thị-phi. Đời gái góa là một đời không vững chãi, vì không có cái nương tựa về cả vật-chất lẫn tinh-thần, nếu không cứng cỏi thì dễ bị lung-lay, dễ bị sụp đổ. Mà đời nàng mới còn dài làm sao. Người đàn bà, từ năm mươi tuổi trở đi mới gọi là già. Vậy thì nàng còn phải giữ gìn ba mươi năm nữa. Vả lúc ấy, con nàng đã trưởng-thành, sự ngờ vực buông tha, không theo dõi nàng nữa. Nhưng nàng còn sống, sống hai ba mươi năm nữa. Nàng nghĩ đến đoạn đời ăn ở với chồng. Nó chỉ ngắn-ngủi có hơn một năm, song được gần chồng, tính ra độ bốn tháng. Một người bạn có bốn tháng mà để khổ-não cho nàng năm, sáu mươi năm. Nếu sự đau thương cứ như từ hôm Thanh mất đến hôm nay, thì lúc nào nàng cũng nghĩ đến chàng mà không còn ý-tưởng khác chen nổi vào óc nữa. Nhưng khốn nỗi, ông trời độc-địa bắt sự đau thương theo thời-gian mà phai lạt dần đi, và một ngày kia, vết thương hàn gắn, nàng sẽ lại như người thường. Nhưng là một người thường sống lẻ-loi, một người đã có chồng, một người góa chồng, một người chỉ gần chồng có bốn tháng trong sáu mươi năm còn lại.
Nàng thở dài, vùng ngồi dậy. Nàng không muốn nghĩ ngợi những điều như thế nữa. Nàng chỉ muốn luôn luôn nhớ chồng đã khuất. Nàng tưởng-tượng đến tiếng nói, tiếng cười của chồng, đến bóng dáng của chồng. Nàng ôn lại những lời âu-yếm xưa. Nàng nghĩ đến tính nết chồng. Chợt Thúy vào, nói :
- Chị lên đẻ gọi.
Phương sửng-sốt, hỏi :
- Có việc gì thế ?
- Em không biết.
Phương cùng Thúy lên nhà trên. Bà Nghè bảo :
- Lên trên này cho vui, lại cứ ở dưới buồng một mình.
Phương biết mẹ thương mình, bèn nói dối :
- Bẩm, con đương vá cho cháu Cu cái áo.
Bà Nghè gật đầu :
- Đẻ cứ tưởng chị nằm ở dưới ấy. Bây giờ bà dễ đến làng Xích-long rồi đấy nhỉ ?
Thúy nói:
- Vâng. Được thằng xe trông cũng khỏe mạnh.
- Đẻ quên ngay đi mất, giá sai vú nó đi tiễn ra đến Hà-nội thi phải.
Phương đáp :
- Bẩm, me con thường đi đâu cũng chỉ một mình, ít khi cần người nhà theo hầu, trừ phi mang nhiều đồ-đạc lắm.
Thúy tiếp :
- Bà mang có cái va-li.
Bà Nghè thở dài :
- Bà cụ về, đẻ nhớ quá. Mọi ngày, lúc này đã đương đánh tô-tôm. Hôm nay không nắng, đi đường đỡ vất-vả.
Thúy đáp :
- Vả có gió mát.
Phương nói :
- Me con chiều ý thầy đẻ mới tổ-tôm, chứ có hay đánh đâu, nhất là trong bụng buồn, me con không thiết làm gì cả.
Bà Nghè cười :
- Thế mà thầy đẻ cứ muốn vẽ ra quân bài lá bạc để bà khuây.
Thúy cười :
- Thật là các cụ miễn-cưỡng chiều ý nhau.
Bà Nghè đáp :
- Thôi, nhưng có thế mới lưu bà được đến hôm nay. Nếu bà về ngay hôm nọ thì me buồn mà chị Cả cũng nhớ.
Rồi bà chép miệng :
- Người ở hay nghĩ đến người đi. Ở nhà, mẹ con chuyện trò với nhau, chắc bây già bà ngồi xe một mình buồn lắm.
Thúy nói :
- Biết đâu người đi lại không nghĩ đến người ở. Có lẽ bà Phủ đang nhìn phong-cảnh mà nghĩ đến nhà ta. Bà tưởng-tượng mấy đẻ con hiện giờ này mỗi người nằm một xó để…
Nhưng bà Nghè lườm Thúy, sợ cô nói là « để khóc ». Song, Thúy nhanh trí khôn, nhìn trộm Phương, thấy nét mặt chị rầu rầu, nên tiếp :
- … để ngủ khì.
Bà Nghè ra ý bằng lòng con gái lắm, vui-vẻ nói :
- Bà về, chắc bà nhớ nhất thằng chó con.
Rồi sực nghĩ ra, bà hỏi Phương :
- À, bà có dặn con là đến Hà-nội bà bảo mợ Cả Vĩnh về chơi không nhỉ ?
Phương đáp :
- Bẩm có. Nhưng con không muốn ai mất công mất việc vì con..
- Công việc thì làm quái gì ! Chị em với nhau, chỉ lúc này mới tỏ được lòng thương yêu nhau. Cậu mợ ấy tử-tế quá. Không có cậu ấy, chắc hôm nọ mấy cậu bạn cuống queo, không biết xử-trí thế nào.
Thúy gật đầu :
- Thật đấy, không khéo người ta biết, lại tống vào nhà thương thì khổ. Anh con thế mà còn tốt số đấy.
- Đẻ không ngờ cậu ấy ít tuổi mà thạo đáo để. Công việc về khâm-liệm, chôn cất, chả thiếu thứ gì. Thầy có hỏi thì thấy cái gì cũng có cả. Mà thành ra cậu ấy tốn kém, chẳng lẽ để cậu ấy thiệt, bất-tiện.
Phương bần thần, nói :
- Để rồi con hỏi chị con.
- Nhưng chị nên hỏi khéo. Mà không biết nên đưa lại bằng tiền hay bằng gì nhỉ? Thầy cứ bảo để nhân dịp cậu ấy đỗ thì mua cái gì mừng một thể.
- Vâng. Như vậy thì nhã nhặn, kín đáo hơn. Chứ đưa tiền, chắc anh chị không khi nào nhận.
Thúy đồng-ý :
- Phải.
- Nhiều lần chị con mua hộ con, những thứ nhỏ nhặt không nói làm gì, lắm bận ứng cho con đến hơn chục bạc, mà khi con tính tiền, chị con cứ không lấy. Chị con nói là tiền ấy chả phải của chị con, cũng là tiền của thầy me con cho, thì chị tiêu hay em tiêu cũng thế.
Bà Nghè nói :
- Nhưng mợ Cả với mợ khác. Đằng này là cậu Cả với anh Cả nhà.
Thúy đáp:
- Rồi mợ ấy bảo tiền của cậu cũng là tiền của mợ, mà anh Cả cũng là chị Cả.
Phương gật đầu :
- Thật đấy, rồi chị con lại bảo tiền của anh con cũng là của thầy con cho. Thầy con hay cho thế thật.
Bà Nghè nói:
- Đành vậy, nhưng muốn khỏi mất lòng nhau, nên dứt khoát về tiền nong. Cậu mợ Cả đại-lượng đã đành, nhưng ta cũng cứ nên nói lại.
Thúy khen :
- Đẻ bảo cậu mợ đại-lượng, thực là đúng. Chỉ xem cách đối với tiền-tài mới hiểu một người có lượng hay không.
Bà Nghè hỏi :
- Chẳng biết mợ ấy về chơi có ở được lâu không nhỉ ?
- Con không rõ.
Bà bảo Thúy:
- Chắc mai mợ Cả về, vậy con liệu mua đồ ăn và làm cơm sáng để phần nhé.
Thúy nghĩ một lát, đáp :
- Mai mười hai, không có phiên chợ, chỉ sợ không có thịt.
- Thì mổ gà trước đi vậy.
- Nhưng con định để con gà ấy đến rằm, cúng tuần anh con.
- Đến ngày tuần lại mua con khác.
Thằng Cu cựa dậy và khóc, làm tan câu chuyện đương nồng nàn.
♣
Chiều mười bốn, Chân đến Nguyệt-Áng. Thấy chị, Phương mừng rỡ, chảy nước mắt.
Bà Nghè nói:
- Tôi tưởng mợ bận việc, không về được.
Chân đáp :
- Không, con định hôm nay về, vì mai là ngày tuần.
Vừa nói, nàng vừa mở gói, lấy ra bao nhiêu thứ quà quý. Phương cảm-động :
- Mấy hôm nọ, ngày nào em cũng mong chị. Đến hôm nay thất-vọng, không mong nữa thì chị về.
- Phải, me giục chị về ngay, nhưng chị còn thu xếp một vài công việc để ở chơi với cô được lâu.
Phương mừng quá, vội vàng hỏi :
- Chị ở được lâu ?
- Độ mươi hôm, nửa tháng
- Thế thì vui nhỉ !
Bà Nghè cười :
- Phải, không mấy khi mợ về với em, nên ở lâu kẻo mất công đi.
Chân rửa mặt mũi, chân tay xong thì Thúy pha nước chè tầu bưng lên. Bà Nghè mời Chân uống. Trong khi ấy, Phương lấy nước sạch để rửa các quả. Khi rửa xong, nàng bày cả vào cái khay, nhưng Chân đứng dậy, nói :
- Cô để chị.
Rồi nàng nhìn bà Nghè, cười :
- Con bảo các cháu gọi cô ấy bằng cô, thành cũng quen miệng đi, chứ đáng lẽ phải gọi là dì.
Bà Nghè đáp:
- Gọi thế cho gần.
Chân ngồi trước thau, bảo Phương lấy chiếc khay nữa, rồi chọn từng quả một, bầy ra hai khay, và dặn Phương:
- Chỗ này biếu ông bà, chỗ này đặt lên bàn thờ, mai cúng chú ấy, còn mấy quả xấu-xí này, chia cho các chú bé. Chị biết tính chú Cả lúc sinh-thời thích ăn gì, nên cố mua cho kỳ được.
Chân ngồi hầu chuyện ông bà Nghè một lát, bèn xin phép xuống buồng Phương để nằm nghỉ, vì đi đường mệt.
Nhưng Chân có nằm đâu. Hai chị em ngồi chuyện trò với nhau được tự-do hơn. Chân vừa móc túi, vừa nói :
- Đến Hà-nội, me gửi chị về cho cô năm mươi đồng để uống thuốc bổ.
Phương thở dài, cầm lấy tiền :
- Em chả cần uống thuốc.
- Không, cô gầy lắm, chính me cũng ngại, cô không uống thuốc thì thầy me buồn.
Phương dơm dớm nước mắt :
- Em thì chẳng thuốc nào lại được. Rồi ngày một ngày hai, nó khuây đi, tự khắc lại như cũ.
- Đành vậy, nhưng có thuốc có hơn. Vì chị nghĩ thế nên có nói chuyện với anh, thì anh lên hiệu Tây, mua được mấy lọ thuốc tốt lắm, đem về làm quà cô.
Nói xong, Chân mở va-li, lấy ra ba hộp thuốc :
- Cách uống, người ta có dặn cả ở trong đơn. Cô nên theo đúng. Cô không có bệnh tật gì, thuốc này chỉ làm cho cô ăn được, ngủ được. Nếu cô thấy hay thì mua nữa.
Phương thở dài :
- Em làm phiền anh chị. Anh chị cũng túng.
- Cô đừng nghĩ ngợi. Cô khỏe mạnh, anh chị mừng, tự khắc làm ăn vui vẻ, đỡ túng ngay.
- Vâng, anh chị cho em, em xin lĩnh, và xin theo đúng đơn thuốc. Nhà em mất đi, anh chị đã hết lòng trông nom, thầy đẻ em lấy làm khó nghĩ lắm.
- Có việc gì mà khó nghĩ. Nếu không phải là anh em, thì ai lại hết lòng thế. Ông bà có nói chuyện, chị cũng gạt đi. Vì nếu ông bà xử lại thế nào, anh chị sẽ tủi thân, vì hình như ông bà không coi anh chị là thân nữa.
- Em là em ruột chị đã đành, nhà em với anh Cả chỉ là hai anh rể.
- Hai anh em rể, nhưng thân như hai anh em.
- Đành vậy, nhưng còn đối với ông bà nhà.
- Thế ông bà nhà chả thân với thầy me là gì.
Phương thở dài. Chân cười, tiếp:
- Chị về lần này sẽ ở lâu với cô, và muốn xin phép ông bà cho cô về phủ và về quê chơi cho khuây-khoa đi.
Phương lắc đầu :
- Em không muốn đi đâu cả. Đi đâu cũng chẳng quên được buồn.
- Chả hơn ở nhà, ngày nào cũng khóc à !
- Cảnh em bây giờ chỉ còn lấy khóc làm vui.
Nói đoạn, Phương cầm vạt áo chùi nước mắt.
Chân thở dài:
- Cô phải nghĩ đến trên còn ông bà, dưới còn cháu bé. Nếu cô không gượng vui, có phải ông bà buồn mãi, mà cháu bé còm cõi đi không ? Chị thấy me nói chuyện cô, chị phiền quá!
Phương thở dài :
- Người ta có qua cầu nào mới biết cầu ấy. Em tưởng người ngoài khuyên can vô ích.
- Sao lại vô ích ?
- Cậu cháu mất đi, em thương nhớ.
- Ai không thương nhớ.
- Em thương nhớ, em như chết một nửa người. Em muốn không chết hẳn để người sống phải thương nhớ em. Nhưng em muốn chết một nửa người mãi mãi, vì em muốn thương nhớ nhà em mãi.
- Sao lại không thương nhớ mãi?
- Không! Chị lầm. Không có cái gì có thể lâu bền được. Em muốn thương nhớ nồng nàn mãi mãi như bây giờ, nhưng ông giời có cho đâu. Rồi dần dần, sang năm, sang năm nữa, em sẽ không buồn phiền nhiều như bây giờ nữa. Vì tạo-hóa bắt người ta quên đi. Hiện nay, ngày nào em cũng cúng cơm nhà em, em tưởng-tượng như nhà em còn sống. Nhưng ngoài trăm ngày, thì chỉ ngày tuần em mới khấn nhà em về. Rồi ngoài ba năm vua việc, nhà em chỉ mỗi năm về một lần. Mà em thì đổi khăn sô ra khăn vải, đổi khăn vải sang khăn thâm Lúc ấy thì trông bề ngoài, không ai biết em là gái góa. Mà có khi em cũng quên cả mình.
Chân thở dài :
- Nhưng cốt ở trong lòng.
- Rồi lòng cũng thay đổi, nghĩa là rồi dăm ba hôm, rồi một tuần-lễ, rồi một tháng, rồi dăm bẩy tháng, em mới nghĩ đến nhà em một lần. Chị thử tưởng-tượng mà xem, rồi đến khi cháu lớn, em nghĩ lại nhà em, chắc em chỉ thấy lờ-mờ hình người, chứ không rõ-rệt như hiện giờ.
Chân cười :
- Khốn như nếu giời không cho người ta quên sự phiền-não, thì cô xem, ở đời này có buồn-bã không. Ai chẳng có sự phiền-não. Ở đời này, ai không có một người thân-thích bị xấu số.
Phương không đáp. Nàng tì cằm vào đầu gối, vân vê cái gấu áo sô. Chân hỏi .
- Ông bà từ hôm nọ có được như thường, không ?
Phương thở dài:
- Chị tính như thường sao được. Nhưng thầy đẻ em hết sức cố khuây-khoa, nhiều lúc em chỉ muốn ở dưới buồng nằm tĩnh một mình, nhưng thầy đẻ em cứ bắt lên nhà nghe chuyện, em phải ép mình theo.
- Ông bà thế là thương yêu cô lắm. Được bố mẹ chồng phúc-hậu, cô thật sung-sướng.
- Về chỗ ấy, em không có điều gì phải phàn-nàn.
- Vậy chắc cô xin phép đi dăm bữa nửa tháng, ông bà cho ngay….
- Cái đó đã đành, nhưng không đi là tự ý em không muốn. Vả trong nhà chỉ có mấy mẹ con, em lại đi vắng, thì ra ích-kỷ quá, mình chỉ biết vui một mình.
- Cô nói có lý lắm.
- Vả cháu bé lở ghẻ và gầy còm, cho cháu đi đây đi đó, sợ cháu mệt sinh yếu.
- Thế thì đợi khi cháu ngoan, chị viết giấy bẩm thầy me mời ông bà về phủ chơi.
- Chưa chắc thầy đẻ em đã đi, vì giao nhà cho ai coi được. Cô Thúy tiếng vậy, nhưng còn ít tuổi. Đi chơi mà phải nóng ruột ở nhà, thì thà đừng đi.
Chân thở dài. Phương tiếp :
- Từ hôm nhà em mấy người làng và họ-hàng xa gần, ai nghe tiếng cũng lại hỏi thăm hỏi nom, và phàn-nàn nhớ thương. Nhiều người thấy thầy đẻ em và em rầu-rĩ đều tìm cách làm vui. Rồi mai ngày tuần, vô số người đem thứ nọ thứ kia đến cho mà xem. Là nguyên thầy đẻ em được dân làng kính-phục. Giả thử thầy đẻ em có đi vắng nhà ít lâu thì cũng có người đến ngủ đêm. Nhưng dù thế nào, thầy đẻ em yên tâm sao được. Ngay như em, giá bây giờ phải đi vắng một đêm, em cũng áy-náy, chỉ sợ lỡ xảy ra sự gì không may mà không có em, thì hối-hận vô-ngần.
Chân cười :
- Nếu xảy ra sự gì mà có cô thì cô làm trò gì?
- Thật vậy, em không làm được trò gì, nhưng em nay như gà phải cáo. Nhà em mất đi, em không được trông nom săn-sóc khi bệnh-hoạn, lúc ra đến Hà-nội, chỉ còn được trông thấy có nấm đất khô. Em đau-xót ngần nào, thì em càng không muốn xa nhà này ngần ấy. Vả lại, giá nhà em còn, thì đi vắng hàng mấy tháng, em không nghĩ-ngợi gì. Nhưng nay nhà em chết, nhà này còn có em thay nhà em, thì em không muốn thiếu mặt khi trong gia-đình xảy ra hoạn-nạn.
- Cô chỉ nói dại.
- Không phải dại. Những hoạn-nạn nó đến, có hẹn trước ai bao giờ. Có ai ngờ nhà em chết trẻ. Thế mà nhà em mất, mất bởi một bệnh ghê gớm nó giết người rất chóng. Ít lâu nay, em mới sinh ra chứng giật mình. Có khi nằm chưa ngủ, đương lan man nghĩ cũng giật mình đánh thót. Nhiều lúc em nghe thấy tiếng động mạnh cũng sợ xám mặt lại. Cho nên em bảo em như gà phải cáo.
Chân lắc đầu, nhìn Phương. Nàng không ngờ Phương bây giờ đổi khác cả tính nết. Sự đau khổ làm cho Phương già, già cả thể xác lẫn tinh-thần. Từ một người con gái đến một bà cụ, Phương chỉ đi có trong vài ngày.!
Bỗng Thúy bế thằng Cu vào, hỏi Phương:
- Đẻ bảo hỏi chị xem mai cúng những gì, chị cho sửa soạn.
Phương đứng dậy, đáp :
- Để chị lên bẩm đẻ.
Chân đỡ lấy cháu, nói với Thúy :
- Cô ngồi đây với chị. Liệu xong cơm chưa, chị đói rồi.
Thúy cười :
- Xong rồi, nhưng đẻ em cử bảo đừng dọn vội, vì chị ở Hà-nội, hay xơi cơm muộn.
Chân cười:
- Không, chị ở Hà-nội thật, nhưng vẫn là người nhà quê, cơm sáng cơm chiều, chị ăn lúc nào cũng được.
- Chị về chơi thế này, các cháu ai trông nom ?
- Đã có bà nội cháu.
- Em xuống bếp bảo bưng mâm chị xơi cơn nhé. Mời chị lên nhà.
- Vâng.
Nói đoạn, Chân bế thằng Cu, vừa đi vừa nựng một cách rất âu yếm.
♣
Qua tuần tứ cửu và tuần bách nhật, ông bà Nghè thấy Phương mỗi ngày một rạc, và nếu cứ thế mãi, sẽ bị ốm to, ông bèn gọi nàng, bảo :
- Từ hôm nay trở đi được thong thả, thầy đẻ muốn cho mợ và cháu Cu ra Hà-nội, rồi xuống phủ chơi ít lâu.
Thấy Phương tỏ ý ngần ngại, bà Nghè tiếp :
- Một là để khuây khỏa, hai là để có việc. Cậu cháu mất, được cậu mợ Cả Vĩnh trông nom hết lòng, Mợ nên ra ngoài ấy, gọi là có lời cảm ơn, nhân tiện tỏ ý đi lại thân thiết sầm uất, vả nhân dịp mợ ra thăm mộ.
Phương ngần ngừ :
- Con bây giờ đi đâu cũng ngại. Con chỉ muốn ở nhà để có người nọ người kia, gia-đình được đông vui. Mộ cậu cháu, anh chị con đã hứa trông nom, tất là không quên. Vả ra Hà-nội để cảm ơn, con tính không cần, vì chị con là chị ruột, chứ có phải họ hàng xa xôi đâu mà phải giữ ý tứ. Còn như đi chơi cho khuây khỏa, thì con tưởng không ở đạu được khuây khỏa bằng ở nhà, vì thấy cả nhà bình yên, thầy đẻ mạnh khỏe.
Ông Nghè gật đầu :
- Mợ nghĩ rất phải, nhưng thầy đẻ thấy mợ kém ăn kém ngủ, mỗi ngày gầy yếu, nên rất lo ngại, muốn mợ đi chơi một dạo.
- Nhưng con đi vắng, lại lo ngại ở nhà.
Ông Nghè cười :
- Ở nhà có việc gì mà phải lo ngại.
- Thôi, xin thầy đẻ cho phép con ở nhà, con định sau trăm ngày nhà con, thì nghĩ kế sinh- nhai. Nhà con đến tuổi trưởng-thành rồi, tuổi phải kiếm ăn lấy, một là thầy đẻ khỏi tốn kém, hai là để báo hiếu. Nhưng nhà con bạc bẽo, bất hiếu, đã cướp công thầy đẻ, thì con phải thay nhà con.
Ông bà Nghè cảm-động, không nói gì. Phương tiếp :
- Con định xin phép thầy đẻ, rồi nay mai đi các chợ, xem cái gì có lãi thì buôn.
Bà Nghè đáp :
- Làm như thế vất vả lắm. Mợ không quen. Vả thầy đẻ không để mợ làm thế, sợ người ta cười.
Ông Nghè nói :
- Đi buôn chứ có làm điều gì xấu mà sợ người ta cười. Mợ muốn tìm cách sinh-nhai, thầy đẻ không ngăn, còn khen là biết nghĩ. Song đi chợ thì vất vả, thầy đẻ không muốn mợ vất vả.
Bà Nghè tiếp :
- Thật đấy, thiếu gì cách làm ra tiền. Mợ từ tấm bé, quen có kẻ có kẻ hầu người hạ, quen lên xe xuống ngựa, chân dép chân giầy, thì buôn thế sao quen. Buôn đã không quen thì không có lãi. Mà cứ bắt buộc làm nghề không hợp với mình, tất bị lỗ vốn.
- Đẻ dạy thật đúng, nhưng cứ để con làm thử, nếu vất vả, nếu lỗ vốn, con xin thôi ngay.
Ông Nghè cười :
- Thầy nói cho mợ nghe : mợ làm nghề gì thầy đẻ cũng vui lòng. Mợ đi các chợ cũng được. Nhưng thầy tưởng đi các chợ, cần phải khỏe mạnh, vì phải thức khuya dậy sớm, xốc vác, nhanh nhẹn. Vậy mà mấy độ nay, mợ gầy yếu. Cho nên thầy đẻ khuyên mợ hãy đi đó đây để lấy lại sức, rồi muốn làm gì hãy làm.
Bà Nghè cho là ý hay, tiếp :
- Vả khi đã dúng tay vào việc buôn bán, thì như người bận con mọn. Nghĩa là mợ sẽ bận hai con mọn, khi ấy giá có việc phải đi, cũng không thể dứt ra đi được. Cho nên hãy đi đó đây cho thỏa thích trước, kẻo rồi lại tiếc.
Phương nghĩ ngợi một lát, rồi đáp :
- Vâng, thầy đẻ cho phép, con xin tuân theo. Nhưng con chỉ nghĩ một điều, là ở nhà vắng cháu Cu, tức là vắng vẻ hẳn, thầy đẻ buồn.
Ông Nghè gật đầu :
- Buồn thì buồn thật đấy. Nhưng hiện nay nó đã nhẵn-nhụi, nhưng vẫn còn còm. Mợ thì xanh, gầy. Nếu mợ cứ ở nhà, thì mợ xanh, gầy, và cháu còm mãi. Thầy đẻ bao giờ vui được. Thà thầy đẻ chịu buồn ít lâu, để được trông thấy con cháu khi trở về, được đẫy-đà, khỏe-mạnh.
Bà Nghè tiếp :
- Mà nghề thế, khi trong người khỏe-mạnh thì làm ăn gì cũng phát tài.
Phương cười.
♣
Ông bà Nghè chọn ngày tốt mới cho Phương đi. Có vú già theo hầu.
Ra đến Hà-nội, việc đầu tiên của nàng là nhờ Chân đưa xuống chùa Thái-Bình thăm mả chồng. Mùa này là mùa hoa, nàng định rồi lên chợ Đồng-Xuân mua một vài thứ cây để trang-điểm trên mộ.
Nhưng khi tới chùa, nàng vừa ngạc-nhiên, vừa cảm-động. Là nàng đã thấy cây trồng từ bao giờ, cây nào cũng nhu nhú có nụ. Chân nói :
- Chủ-nhật nào anh chị cũng xuống đây.
Phương ngồi xổm cạnh nấm đất ôm mặt nức lên khóc. Tiếng khóc thảm-thiết, làm cho Chân cũng không cầm được nước mắt.
Nhưng mỗi nước mắt một ý nghĩa. Phương thương chồng chết trẻ, thương con bồ-côi. Khi chàng bệnh-hoạn, nàng không được ở cạnh, chàng chết không được một lời giối-giăng, đến nỗi khi nghe tin dữ, nàng lật-đật ra Hà-nội, nàng không kịp nhìn mặt chàng lần cuối cùng, phải ngồi ôm nấm đất mới đắp. Đến nay, trong khi nàng vẫn tưởng như chàng mới chết đâu hôm qua hôm kia, thì mả đã xanh những cỏ, mà xung quanh cây cối mọc khác cả đi. Nàng tưởng-tượng đến người nằm dưới mả làm mồi cho sâu bọ.
Chân thì thương em, Nàng nghĩ đến thân gái như hạt mưa sa. Hồi tưởng ngày còn tấm bé cùng Phương, có ai dám nói là một người thì đề-huề con cái, nay mai một bước lên bà lớn, còn một người thì vừa lấy chồng hơn một năm đã ra người sương-phụ. Thật vậy, rồi đời Phương không nương tựa, sẽ bị khổ-sở, và chỉ vài năm nữa, em nàng sẽ gầy yếu, già hơn nàng. Nàng chắc nhiều phen Phương so sánh hai số-phận của hai chị em, và đã tủi thân thương mình, khóc hết xiết bao nước mắt. Nhưng làm sao được. Người ta thế nào, trời đã định trước cả.
Hai chị em khóc một lát, đến chiều cả mới rủ nhau về.
Trong mấy ngày ở Hà-nội, Chân đưa Phương đi xem các phố. Thuở bé, Phương ít được ở Hà-nội, nên không thuộc phố. Nàng muốn tìm nhà trọ cũ của Thanh để vào chơi, nhưng không nhớ ở chỗ nào. Nàng không muốn hỏi chị, vì nàng nhận thấy Chân không muốn gợi buồn cho nàng.
Phương thuộc được vài phố, từ hàng Gai đến chợ Đồng-Xuân, theo đường xe điện đã đành, nàng nhớ thêm phố hàng Bạc, hàng Bồ, hàng Bông, chợ Cửa Nam, chợ hàng Da. Có bận nàng đi một mình đến các phố ấy.
Ở chơi năm hôm với chị, Phương tỏ ý muốn xuống Kiến-xương. Nhưng Chân bàn :
- Đã lâu cô không về quê nhà, nhân dịp này được phép đi lâu, tưởng cô nên thăm qua quê.
- Về quê chả có ai, buồn chết!
- Buồn hay vui, cũng cố ở một hôm.
Phương đồng ý. Vĩnh bảo riêng Chân :
- Mợ cùng đi với cô Cả. Mình đi đâu, có vợ có chồng, mà cô Cả thì thui-thủi một mình. Mợ nên làm cho cô ấy đỡ thấy cảnh quạnh-hiu của người gái góa.
Chân nghe ngay lời nói phải, và thấy chồng chu-đáo, đầy-đặn với Phương, nàng rất phục.
Chân và Phương về nhà quê, rồi xuống Kiến- xương.
Ông bà Phủ thấy con cháu xuống chơi bất ngờ, thì hết sức mừng rỡ. Những người quen Chân đều đến chơi hỏi thăm. Phương bị gợi mối buồn, nói chuyện với ai cũng khóc lóc. Nhất là nàng nhớ đến mấy tháng hè năm ngoái, vợ chồng cùng xuống ở đây lâu, vui vẻ ngần nào, thì bây giờ nàng đau khổ ngần ấy. Nhưng bà Phủ không để nàng buồn lâu bao giờ, bà nói chuyện nọ chuyện kia cho nàng khuây đi. Bà thấy nàng gầy và hay nghĩ, tính nết đổi nhiều, thì rất thương hại.
Một hôm, Phương nói với bà Phủ về việc định đi các chợ để buôn bán. Bà gạt đi :
- Con không quen. Đừng làm.
Chân thở dài :
- Con cái nhà quan thật hết sức đoảng, chỉ quen ăn sung mặc sướng, không ai nghĩ đến học nghề nghiệp, chỉ mong sau này ăn bám vào chồng con.
Phương đáp:
- Thật thế, bây giờ em mới thấy sự tai hại ấy. Em định buôn mà thầy đẻ em bên nhà cũng gàn, me bên này cũng can. Thì dễ em đến chết đói.
Bà Phủ và Chân cùng cười :
- Chết đói sao được. Dù thế nào, đã có thầy me. Vì công việc con không quen, vả không có sức làm được
- Thế thì me bảo con làm cái gì để sinh-nhai? Chẳng lẽ ngần này tuổi đầu, cứ song sóng ra mà ăn.
Bà Phủ đáp :
- Ồ, can gì, chị Cả Vĩnh hơn tuổi con, đã bao giờ nghĩ đến sinh-nhai đâu.
Phương ngậm ngùi :
- Chị con còn có anh con,chứ con thì nhờ ai ?
- Nhờ ông bà bên ấy, nhờ thầy me. Ông bà có ruộng đủ ăn, chứ có bắt con làm gì đâu.
- Không ai bắt con, nhưng con bắt con. Nếu con không kiếm cách sinh-nhai thay nhà con thì con xấu-hổ lắm.
Bà Phủ chợt nghĩ ra :
- À, có một cách buôn này có lãi mà rất nhẹ nhàng, là con nên cầm cái họ.
- Con đã nghĩ đến việc ấy, nhưng con không quen ai.
- Được, me mời hộ cho. Họ của con thì thầy đóng một suất, me đóng một suất
- Thế mới là hai.
- Chị cả Vĩnh một suất. ‘
Chân cười :
- Con cũng muốn đóng, nhưng chỉ vì không có tiền.
- Tháng nào không có thì me cho. Rồi anh ấy bổ ra, lại không đóng vài suất cũng được ấy à !
Chân vui vẻ :
- Thế mới là ba.
- Nhà cái đóng một suất là bốn.
Phương đáp :
- Đến chị con còn chả có tiền nữa là con.
- Suất của con thì tháng tháng thầy me cho, để dành mà làm vốn. Liệu con gọi được mấy suất ?
Phương lầm rầm tính một lát rồi đáp :
- Nhiều lắm là sáu suất.
- Thế thì thừa rồi. Còn bao nhiêu, me mời cho. Loanh quanh đây cũng tạm đủ.
- Nhưng nhà cái ở một nơi, nhà con ở một nơi, mua bán không tiện.
- Mua bán bằng thư từ, hoặc me ở dưới này mua bán bộ cũng được.
Phương cười :
- Thế là me cầm cái họ chứ không phải con. Nhưng me để con tự đi mời, thiếu bao nhiêu con hãy nhờ me rủ thêm. Con muốn làm việc cho vui, được lãi là điều phụ.
♣
Vì có ý định buôn bán, nên ở Kiến-xương về Hà-nội, Phương đến phố hàng Bạc, vào một hiệu kim-hoàn bán tất cả đồ tư-trang để lấy tiền làm vốn.
Nàng không cần phải làm thế mới có vốn đâu. Nàng xin ông bà Phủ, hoặc nhờ ông bà vay, cũng có thể có ngay một món tiền hơn thế. Song nàng nghĩ làm thân con gái, đã đi lấy chồng, không lẽ mỗi lúc lại phiền cha mẹ. Nàng góa chồng, cha mẹ đã thương nàng lắm lắm rồi. Vậy mà nếu còn cứ để mối lo âu cho cha mẹ mãi, thật không trọn đạo. Đồ tư-trang của nàng hiện vô dụng, vì nàng có tang. Mà nó còn vô dụng mãi mãi, vì chồng chết, nàng còn đàng điếm để khoe đẹp khoe mẽ cho ai nhìn. Thì nàng đem bán, lấy vốn để sinh lợi, thật là phải.
Có ngót nghìn bạc trong tay, nàng về nhà quê xin phép ông bà Nghè cho nàng buôn vải.
Bà Nghè vẫn không đổi ý-kiến, nhất định gạt đi, lấy cớ là nàng yếu đuối. Nàng đáp :
- Con bây giờ trong mình không bệnh tật gì, vả đi chơi một dạo, con khỏe khoắn hơn trước. Vậy xin thầy đẻ cứ cho con thử buôn một chuyến xem sao.
Ông Nghè chiều con và đại-lượng hơn, nói :
- Được, bây giờ thì công việc gì ở nhà này, thầy đẻ cũng cho con được tùy tiện. Vả lại, con nói là buôn thử thì thầy tưởng không có hại gì. Vì chắc đã buôn, không thể lỗ vốn. Nếu được lãi, và xét trong mình thấy còn có thể làm được, thì con cứ làm, miễn là đừng gượng, và đừng giấu thầy đẻ.
Bà Nghè phàn nàn :
- Thà ngồi cái họ, nó đỡ vất vả.
Phương đáp:
- Con đương trù-tính mời người chơi họ, còn thiếu độ vài suất. Con định tháng sau thì bắt đầu mua bán.
- Thiếu độ mấy suất ?
- Việc này con đã bẩm me con ở dưới phủ, me con giúp vào, hiện còn thiếu có ba suất.
- Thế thì đẻ nhận một suất, đóng để dành cho thằng Cu.
Phương nghĩ-ngợi một lát, đáp :
- Thôi, cũng đủ rồi ạ.
Là vì nàng không muốn mẹ chồng phải bận về nàng. Nàng biết cảnh gia-đình chỉ đủ ăn mà thôi. Nay nếu bà vì thương nàng, muốn nàng được dễ-dãi trong sự làm ăn, thì rồi đâm túng-quẫn. Mà bà túng-quẫn để làm gì? Để rồi cho con nàng, tức là cho nàng. Nàng lấy thế, sao cam tâm . Thà bà cho Thúy làm vốn buôn chung, nàng rất vui lòng. Bởi vậy, nàng phải nói dối là đủ rồi, để tránh cho mẹ chồng một mối lo nghĩ.
Nhưng Phương phải lo nghĩ. Ba suất họ cuối cùng là ba suất khó mời, nhất là nàng ở nhà quê, xung quanh toàn những người không giầu có.
Song không lẽ vì chỉ thiếu có ba suất mà nàng bỏ cái ý định cầm cái họ, một việc nhẹ-nhàng và có lợi.
Nàng bèn đến chơi những nhà họ-hàng và quen biết, những người làm ăn khấm-khá mà thật-thà.
Bà trưởng Nga đáp :
- Ý tôi muốn giúp mợ đã lâu lắm, nhưng thật tình chỉ giàu bụng chứ không giàu tiền, thôi thì tôi nhận với mợ nửa suất.
Bác Hai Hinh nói :
- Dâu họ nhà, hiện giờ thì nhất thím, tôi không dám nịnh, nhưng cả làng đều khen thế. Tôi thì từ đầu năm buôn bán chật-vật, chứ giá như năm ngoái, tôi có thể nhận với thím hẳn hai suất.
- Thì bác giúp em một suất vậy.
- Tôi có dám nói dối thím đâu. Tôi muốn giúp thím nhiều, nhưng thể không được, không lẽ tôi nhận nhiều rồi để lụy cho thím.
- Em muốn còn học bác buôn bán nữa, em định theo bác đi các chợ.
- Buôn hàng tấm như tôi, giá có nhiều vốn thì khá. Nhưng thím tính đầu năm nay đấy, nhà tôi cai đám, phải ăn tiêu tốn kém, rồi bị mẻ trộm, thì buôn bán gì cho lại.
- Thế bác không giúp em được gì à ?
Bác Hai nghĩ ngợi một lát, bỗng vui vẻ đáp :
- Thím để đến chiều mai, tôi lên chơi hãy hay.
- Hôm nay bác chả nói, lại để đến mai.
- Thế này, tôi có mấy người bạn thân, vốn cũng biết tiếng thím xưa nay. Để mai đi chợ, tôi mời hộ, may được vài suất.
- Vậy bác đưa em đến chơi, kẻo các bà ấy trách là kiêu kỳ.
- Thím kiêu kỳ hay không, ai chả biết. Người ta quý thím là quý lòng ăn ở với họ hàng làng nước từ trước đến nay, chứ ai để ý đến những điều nhỏ nhặt.
- Được, bác cứ ướm trước đi, rồi em đến chơi sau. À, bác định mời ai thế ?
- Mợ Tư Sĩ với bà Cả Thu.
- Mợ Tư Sĩ là con dâu cụ Tú ấy à ?
- Phải.
- Em không thân, nhưng vẫn nghe tiếng mợ ta tử tế lắm. Bà Cả Thu ở dưới cuối tổng đấy nhỉ?
- Phải. Cùng buôn vải với tôi cả.
- Vậy rồi cũng là bạn với em.
Bác Hai cười:
- Thím nói đùa, chứ cần gì phải buôn bán như chúng tôi.
Phương nghiêm mặt:
- Em nói thực.
- Ông bà có ruộng, quanh năm đủ ăn, thím buôn làm gì cho mệt.
- Em buôn để đỡ thầy đẻ em.
- Vả nếu túng, thím xin quan lớn bà lớn bên nhà, thiếu gì.
- Đã đành cha mẹ, lúc nào mình chả phải nhờ, mà cha mẹ thương con, biết thế nào là ngần, nhưng làm cho cha mẹ đỡ thương mình, ấy là mình đã được một ít bổn phận làm con đó. Cho nên em nói đi buôn là nói thực.
- Thế thím định buôn hàng tấm à ?
- Vâng.
- Nhưng thím thuê cái cửa hiệu mà bán hàng chứ ?
- Không, chợ xa nhà, chả nhẽ thuê ở chợ để rồi đêm không có ai coi, trộm nó lấy hết hàng à ? Vả lại thuê nhà, thì lãi lời còn gì. Em định đi các chợ như bác.
- Thím gánh sao được hàng ?
- Gánh được ngần nào thì gánh, còn người nhà gánh hộ.
- Làm nghề này, nếu có vốn lại có sức đi các chợ xa như chợ Sật, chợ Sóc, chợ Cuối, thì chẳng mấy chốc mà bốc.
- Sức thì em thiếu, chứ vốn, em không ngại.
- Hay thím có tin tôi thì buôn chung với tôi.
Phương yên lặng một lát, rồi đáp :
- Bác cho em nghĩ ít lâu. Buôn chung với bác, em chẳng ngại tí gì, nhưng muốn hãy học bác buôn gần quanh đây, rồi có thế nào sang năm hãy hay.
- Có thì làm ngay từ giờ, buôn hàng tấm ăn thua về dịp Tết. Nếu bây giờ có vốn mua hàng về, đến một chạp bán đi, lãi một gấp đôi.
- Nhưng nếu vậy, em không học ai được nghề buôn.
Bác Hai ngẫm nghĩ, rồi nói :
- Thế này, thím chung với tôi, nhưng cứ đi chợ với cháu Lý.
- Cháu Lý đã thạo chưa ?
- Cháu theo tôi đã hai năm nay, mười bẩy tuổi rồi, chứ bé bỏng gì. Cháu có phần nhanh nhẹn hơn tôi. Vậy thím đi với cháu, tôi có nhiều khách hàng, họ không mua của cháu thì mua của thím, đỡ ra đến người ngoài.
- Vâng, hôm nay đến chơi bác thật là có ích. Vậy bác cứ mời họ cho em, còn về việc buôn, thế nào em cũng làm vừa lòng bác, nhưng cần bẩm chuyện với thầy đẻ em đã.
- Chắc ông bà không ngăn thím đâu.
- Em chung với ai, thầy đẻ em cũng chẳng ngăn, nữa là với bác, chị em trong nhà.
IV
Buôn với bác Hai Hinh qua vụ Tết năm ấy, Phương tính toán, mỗi người được lãi ngót hai trăm.
Bởi vậy, nàng định ra giêng nghỉ chợ, vì thấy đi các chợ không có lợi mấy, lại thiệt nhiều. Vì nàng không có sức dầm mưa dãi nắng như người khác, vả phải bỏ hẳn việc gia-đình, không trông nom được. Nàng thiếu bổn-phận làm dâu, lại thiếu bổn-phận làm mẹ. Nhiều lần nàng ân-hận về chỗ ấy.
Một hôm, Phương sắp sửa đi chợ, thì bà Nghè kêu nhức đầu, phải đi nằm. Giá lúc không bận rộn về buôn bán, nàng rất băn khoăn. Nhưng hôm ấy, nàng chỉ băn khoăn gọi là, mà không phải băn khoăn về mẹ, lại băn khoăn về không biết mình có phải nghỉ buổi chợ hay không. Sau bà giục nàng cứ đi, thì nàng lấy làm vui vẻ lắm. Rồi ở chợ, nàng quên phứt mẹ chồng giở trời, đến tận lúc gần về tới nhà, nàng mới sực nhớ ra.
Một lần khác, là ngày cúng tuần chồng, đáng lẽ mọi bận tự tay nàng vo gạo, đồ xôi, nấu chè, thì lần ấy nàng giao cả cho Thúy, và dặn chờ nàng về chợ hãy cúng. Nàng thấy như thế, không thành tâm với người đã khuất, mà sự cúng cấp ấy chỉ có mục-đích để nàng được về lễ mà thôi. Nàng rất buồn rầu, định từ kỳ tuần sau thì ở nhà, nhưng lòng tham lợi làm nàng quên sự ân-hận trước.
Lại một lần nữa, trước khi đi chợ, nàng sửa soạn gồng gánh, thì thằng Cu đương đùa nghịch trên tay bà Nghè. Nó lả ra theo nàng. Nàng âu yếm bế con, và nựng nịu nó. Nhưng vì sợ đến chợ trưa, nàng trao nó trả bà. Thằng bé đương muốn theo mẹ, nó xoài ra, rồi vì không được như ý, nó khóc ngặt nghẹo. Bà Nghè mắng nó, giơ bàn tay ra đe :
- Để mợ mày đi, không bà đánh bây giờ, hư!
Như vậy, nó nín. Song, nàng nghĩ rằng theo mẹ, thằng bé có hư đâu, mà suýt nữa bị cái phát. Nếu nó có tội, thì tội đó là tội ngăn trở mẹ nó để phải đi chợ muộn. Vậy vì nàng quá ham buôn bán, mà người lớn coi tính tốt của con trẻ như cái lỗi, chứ không cho lỗi ấy là ở mẹ nó quá tham lợi. Nếu rồi sự giáo-dục cứ trái ngược như thế, con nàng ắt thành hỏng.
Cho nên nàng nhất định nghỉ chợ. Nàng chỉ cầm cái họ, và buôn chung với bác Hai, công việc nhẹ nhàng và được cả hai lợi, lợi về tiền bạc, lợi về bổn-phận.
Thật là may, và có lẽ sự thu xếp ấy là do tâm linh, tháng ba năm ấy, ông Nghè mệt nặng.
Cứ về buổi chiều, ông sốt. Các ông lang quanh vùng chữa thế nào cũng vô hiệu. Phương lo ngại, bèn viết giấy lên Phúc-yên mời cha mẹ đẻ về thăm — cha nàng mới được thăng Án-sát Phúc-yên.
Ông Án đem theo một ông lang vào bậc danh-sư và rất nhiều sâm, quế, thục, đề phòng ở nhà quê thiếu vị thuốc tốt. Ông ở lại nghe bệnh ba hôm, nhưng không có chút hy-vọng gì.
Bà Nghè chán nản quá. Bà biết bệnh ông khó lòng khỏi. Bà lại rất thương Phương, vì từ ngày ông bắt đầu mệt, thì chính nàng giữ việc chi tiêu trong nhà. Chẳng phải tính lâu, bà cũng đoán rằng nàng tiêu vào tiền riêng của nàng đến trăm bạc.
Bà không muốn thế. Bà có tiền cho nàng chả vẻ thay, bà nỡ lòng nào để con dâu góa bụa phải thiệt thòi. Bà bèn bàn riêng với Thúy, gọi người đến bán rẻ ba mẫu ruộng. Bà bảo Thúy giấu Phương, vì sợ nàng kêu và tủi thân. Sở dĩ bà định thế, vì đã nghĩ đến công việc tốn kém sau này, sau khi ông nằm xuống.
Về phần Phương, không phải nàng không biết lo đến điều đó. Nhưng nàng chỉ suy tính một mình, chứ không bàn bạc với ai được. Vì sự lo liệu không phải dễ dàng gì, nếu hở cho mẹ chồng hoặc em chồng biết, tất nhiên không ai nỡ để nàng lúng túng một mình.
Nàng bèn đến bác Hai Hinh, rút bớt một phần vốn ra, nói dối là cho Chân vay sắm sửa, vì Vĩnh sắp đỗ tri-huyện.
Nàng hầu-hạ bố chồng rất cẩn-thận. Đến nỗi một hôm, đông đủ cả nhà, ông Nghè nói :
- Thầy mất đi, không ân-hận gì, chỉ có một điều thầy vẫn để bụng, là thầy thương mợ Cả quá, mà không biết làm thế nào được.
Phương chắp tay, dơm-dớm nước mắt. Ông Nghè tiếp :
- Nhà ta có phúc, được mợ làm dâu. Ấy thế mà…
Phương nức lên, khiến ông Nghè im, không nói được thêm nữa. Bà Nghè nắm tay nàng :
- Thầy đẻ thương con quá, không biết tại sao con ăn ở như thế mà số lại vất-vả được .
Phương nhịn khóc, đáp :
- Con vất-vả, nhưng được thầy me thương, con sung-sướng lắm rồi.
Ông Nghè nhìn Phương, như còn định nói nhiều. Phương hiểu ý, nàng không muốn nghe, nên lảng ra.
Bởi vì nàng biết ông đã nghĩ đến đời nàng. Có lẽ ông khuyên nàng sau ngày đoạn tang, thì có thể đi tái giá. Nàng không muốn câu ấy tự miệng ông nói ra. Vì ông sẽ phải đau-đớn ngần nào.
Một lát, bà Nghè xuống nhà dưới, nói chuyện với nàng :
- Thầy lẩn-thẩn quá. Thầy hỏi đẻ liệu thầy yếu lâu, có thể lo được thuốc thang hay không. Đẻ nói miễn là thầy khỏi, chứ tốn kém trăm nghìn, đẻ cũng không quản.
Phương nói :
- Đó là thầy hỏi ý đấy. Con chắc thầy biết mình chẳng được bao lâu, nên muốn biết đẻ có thể lo việc thầy được bao nhiêu.
Bà Nghè sực nghĩ ra :
- Hèn nào thầy cười, bảo có tốn kém cũng không đến nghìn, nhưng trên năm trăm. Nghĩa là thầy muốn việc thầy vào khoảng ấy.
- Đẻ bẩm thầy thế nào ?
- Đẻ nói tốn kém hơn nữa, đẻ không ngại.
Phương đắn-đo một lát, rồi thưa :
- Con xin đẻ đừng lo nghĩ đến tiền nong, con đã có sẵn cả rồi.
- Không, tiền của mợ để làm vốn buôn, đẻ đã trù liệu cả rồi.
Phương im lặng. Nàng nghĩ ngợi, rồi nói ;
- Đẻ không cho con được lo lắng việc nhà hay sao ?
Bà Nghè lắc đầu :
- Không phải thế. Con lo lắng những việc nhỏ, còn việc to nên để phần đẻ.
- Nhưng con có sẵn.
- Đẻ cũng có sẵn.
Bà liền gọi Thúy :
- Con lấy tiền ra cho chị xem, kẻo chị không tin.
Thúy lên nhà, mở tủ lấy mấy cuộn giấy bạc. Phương không đếm, ước chỗ ấy có đến bốn năm trăm. Bà Nghè nhìn nàng, nhếch mép, nở một nụ cười âu-yếm. Nhưng Phương nhìn tập bạc bằng đôi mắt nghi ngờ. Nàng ngờ một là bà đã vay đâu, hai là bà đã bán ruộng. Nàng phải điều-tra cho ra. Sự điều-tra không khó-khăn gì. Ở nhà quê, không ai giấu nổi ai, nhất là những việc không cần giấu.
Nàng nhờ bác Hai Hinh dò hộ, quả nhiên nàng biết, bà mới bán ba mẫu cho ông đám Pha.
Không nghĩ-ngợi lâu-la, và cũng không nói gì với bà, Phương đến nhà ông Pha, xin chuộc lại ruộng. Nàng nói là bà Nghè sai làm việc ấy. Ông đám vốn biết điều, vả xưa nay vẫn kính-trọng bà Nghè nên bằng lòng ngay. Phương trả lãi, ông nhất định không nhận, lấy cớ là nàng đã phải tốn kém chút ít cho lý-trưởng áp triện vào văn-tự.
Phương vui-vẻ đem giấy má về, dặn ông Pha chớ nói với ai. Nàng bảo ở trong làng, người ta thường hay đồn đại và xuyên tạc câu chuyện.
♣
Ông Nghè mất, để lại trong gia-đình một sự trống trải lớn. Kể tuổi, ông như vậy là trung thọ. Nhưng một nhà, trong vòng ngót năm trời, mất đi hai người, hai người quan-trọng, thì ai nghe tin không thấy buồn thảm. Mẹ góa, con góa, lũ trẻ bồ-côi, nhìn chỗ nào cũng thấy khăn ngang, nghe lúc nào cũng thấy tiếng thở dài hoặc tiếng khóc ti tỉ.
Lại nghề ở chốn thôn quê, giậu đổ thì bìm leo. Thấy trong nhà rặt đàn bà, con trẻ yếu đuối, dân làng tự nhiên kém phần nể sợ, và một vài lần, kẻ gian đã xé rào toan giở thủ đoạn. Lại một buổi sáng, Phương dậy sớm đi mua thức ăn, chính chân nàng đã giẫm phải chông nứa nhọn hoắt, bị chảy máu ra. Nàng cho gọi khán-thủ đến để bà Nghè hỏi, thì hắn nói cũng có nghe người ta mách có bọn cướp định vào làng, nhưng vì mấy đêm nay tuần phòng ráo riết, nên không xảy ra sự đáng tiếc.
Tuy khản-thủ không biết quân gian định vào nhà ai, nhưng Phương đoán chừng dòm dỏ nhà mình. Bởi vì làng nước vẫn bầu cho nàng là giầu, vụ Tết vừa rồi buôn vải lãi to.
Vận áo xám là vận đen, nên trăm ngày ông Nghè xong, Phương bàn với bà Nghè :
- Bẩm đẻ, từ ngày thầy mất, nhà ta bị hăm dọa bao nhiêu lần, tất có ngày xảy ra sự thực. Cho nên con tính bẩm với đẻ là nhà ta nên dọn ra Hà-nội mà ở.
Bà Nghè cau mặt:
- Ở Hà-nội ấy à ? Ở thế nào được ! Người ta sẽ đồn rằng thầy mất, có thế nào mẹ con mới không ở được làng, phải kéo nhau đi.
- Con thấy ở Hà-nội hơn ở nhà. Một là để con tiện buôn bán, hai là để gia-đình được yên ổn, đỡ lo ngại lúc đêm hôm.
- Ở Hà-nội thì buôn bán gì cho lại.
- Bẩm ở tỉnh mới có lợi. Bác Hai Hinh thường nói với con rằng tiếc vì không có thể ra Hà-nội buôn. Con định thuê cái nhà ở phố hàng Vải Thâm, độ hai chục thì đủ ở. Có Thúy và con chuyên nhau đi các nơi cất hàng về. Khách mua đã có người vùng ta.
Bà Nghè cười :
- Mợ nói dễ quá, y như xúc ngay được của thiên-hạ vậy.
- Bẩm thật. Việc này con đã bàn kỹ với bác Hai. Buổi đầu, bác ấy giúp con. Vả người vùng ta, ai cũng sẵn lòng với con, vì mua ở hiệu khác cũng thế.
Bà Nghè nghĩ ngợi, rồi đáp :
- Thế thì mợ hãy ra ở Hà-nội một mình, lúc mới là buôn thử, nếu có lợi, đẻ cho các em ra sau.
- Để con xin bẩm đẻ nghe. Con muốn cả nhà ra, trước hết là tránh sự bất trắc ở nhà quê, sau nữa nếu cô Thúy không giúp con, thì một mình con trông nom thế nào xuể được. Vả lại, các em Liêm, em Khiết đến tuổi học rồi. Trước kia còn thầy, thầy dạy chữ nho, nhưng nay thầy mất đi, con tưởng để các em thất học thì phí một đời. Vậy phải cho các em đi học chữ Tây ngay. Mà học chữ Tây, tất Hà-nội mới có trường.
Bà Nghè thở dài :
- Được, tùy chị định liệu cho các em. Nhưng đẻ phải ở nhà.
- Cốt đẻ ra chứ, đẻ như cái trụ trong nhà. Nếu không có đẻ thì một lũ trẻ con, sống sao được ở chỗ xa lạ.
- Nhưng đẻ không quen ở Hà-nội. Ở nhà, còn họ-hàng làng nước, chạy đi chạy lại vui-vẻ.
- Nhưng cứ những đêm nghe tiếng chó cắn quanh hàng rào, con tưởng hết cả vui.
- Nhà ta thanh bạch, nó có vào chỉ phí công.
Phương cười :
- Đành rằng phí công, nhưng nó biết đâu. Quân gian dại thì vào nhà ta, nhà ta chẳng thiệt mảy may gì. Nhưng mẹ con hãy bị một mẽ sợ, mà biết đâu lại không bị một trận đòn khảo của.
Bà Nghè yên lặng, rồi đáp :
- Mợ nói cũng có lý, nhưng đẻ chỉ ngại mỗi một điều, là mợ hiện mới học buôn, chưa biết có ăn thua gì không, bỗng dưng dọn cả nhà ra tận Hà-nội.
- Ăn thua hay không, con chưa tính làm gì, vì còn nhờ ở vận. Con hãy ví-dụ như không ăn thua, thì bất quá mỗi tháng tốn hai chục bạc nhà, chứ còn ăn thì ở đâu tránh được. Mất hai chục để mẹ con đêm đêm được ngủ yên, để các em có chỗ học. Đã đành đẻ có thể cho các em đi trọ nhà người ta, nhưng đâu cho bằng ở nhà, vừa có người trông nom, vừa khỏi tốn kém.
Bà Nghè hơi xiêu lòng. Phương nói tiếp :
- Vả lại, mấy tháng đầu dù có thiệt-thòi chút ít, cũng kể như sự phí tổn cho cô Thúy với con đi học nghề mà thôi. Làm việc gì lúc đầu mà không khó khăn. Nhưng con thấy rằng với con thì bước đầu tất dễ dàng, vì có rất nhiều người giúp.
Bà Nghè vớ cái tráp vào lòng, nhai trầu, không đáp. Phương để cho bà suy tính, rồi nói:
- Nhà cửa ở đây, rồi gọi người cho ở nhờ. Bao nhiêu đồ đạc đáng giá, ta đem gửi mỗi nơi một ít.
- Nhưng đẻ phải khi đi khi về,chứ ở lỳ ngoài ấy sao được.
Phương mừng rỡ, long lanh hai mắt, đáp :
- Vâng, miễn là đẻ cho chúng con ra Hà-nội buôn, và bằng lòng ở ngoài ấy với chúng con. Vả nói rằng dọn ra Hà-nội ở, chứ dăm bữa nửa tháng, thế nào chẳng có người về, vì còn cúng tuần rằm, mồng một.
Bà Nghè đã quyết-định, nói :
- Thế này, đẻ giao hẹn nhé. Đẻ sẽ ra ở Hà-nội với các con, nhưng không ở luôn đâu. Khi đã thành cơ sở rồi, đẻ về thăm nhà. Nếu ở nhà bình yên thì dăm bữa nửa tháng, đẻ lại ra, nếu không thì đẻ ra ngay.
- Vâng. Vả nói vậy, chứ đẻ ở nhà quê lâu sao được, con cháu ở cả Hà-nội, đẻ lại nóng ruột, ra ngay chứ gì,
Bà Nghè gật đầu, cười :
- Có lẽ, nhưng đi biền biệt không về, đẻ sợ người ta không hiểu sao, hoặc đồn đại thế nào rồi chê cười. Đẻ nhiều tuổi, làm việc gì cũng đắn đo suy nghĩ cẩn thận.
Được mẹ chồng bằng lòng, Phương vui vẻ quá. Đêm ngày, nàng bàn bạc với Thúy việc thu xếp cửa nhà. Nàng luôn luôn đến chơi bác Hai Hinh để tính toán việc buôn to. Bác Hai rất tán thành, quyết chung với Phương, và nhận việc đi các chợ để cất hàng.
Muốn trù vốn kha khá, nàng bèn viết giấy lên Phúc-yên. Bà Án hứa giúp nàng năm trăm. Thế là cửa hàng của nàng định mở có ba phần vốn, mỗi phần năm trăm. Món năm trăm của bà Án là nàng vay cho Thúy, vì nàng muốn Thúy được hưởng một phần lợi. Tiền của bà Án cho vay không phải lãi, bao giờ trả cũng được. Mà có lỗ hết bà cũng kể như là cho mà thôi.
Thúy thấy Phương chu-đáo với mình, rất lấy làm cảm-động. Mỗi ngày cô lại yêu, lại phục chị dâu hơn lên.
♣
Phương thuê được căn nhà ở phố hàng Vải Thâm, mỗi tháng mười tám đồng. Nhà ấy vừa vặn ở. Cửa hàng khá rộng.
Vì buôn chung với bác Hai Hinh, nên công việc của nàng và Thúy rất nhẹ. Hai chị em thay đổi nhau trông hàng và làm công việc bếp nước.
Những hôm đầu, bà Nghè buồn-bã quá. Vì bỗng dưng bà phải rời nơi thân mến hàng ba bốn mươi năm, để đến một nơi lạ-lùng, không quen thuộc ai cả. Nhưng rồi bà quen đi. Bà mua vui trong câu chuyện với bà cụ chủ nhà trên gác, và các bà hàng xóm. Ngày nào cũng đông khách vào mua hàng, thỉnh-thoảng bà tiếp hộ con. Được gặp người ở quê ra, bà mừng rỡ bội phần. Lắm người mọi ngày không thân, nhưng nay thấy người ta, bà vồn-vã giữ ngồi chơi lâu, hỏi thăm nom khắp cả trong họ ngoài làng. Bà chèo-kéo người ấy ăn cơm, hoặc nếu vào buổi chiều thì ngủ lại với bà. Bà to nhỏ hết chuyện xa đến chuyện gần. Khát-khao về làng, thì gặp người làng, bà sung-sướng quá. Bà nhắn người nọ ra chơi, người kia ra chơi.
Cũng vì thế, và do nhiều người mến Phương, nên ở Nguyệt-Áng ai ra Hà-nội cất hàng cũng đến nhà nàng. Họ thấy nàng bán bằng một giá ngang và có khi rẻ hơn các hiệu khác. Đến nhà Phương, người ta còn thấy được vồ-vập, được tự-do như ở nhà, và nhất là không sợ bị hớ, vì nàng rất thật thà. Nhiều người lại có thể mua chịu đến phiên sau mới trả vốn,
Bởi vậy, tháng đầu tính sổ, Phương mừng-rỡ, vì thấy có lãi ngay. Nàng nói với bà Nghè :
- Thế này là vững.. Giá được khá vốn thì còn lãi nữa, bởi vì buôn chưa đủ mặt, nên mất khách nhiều.
Bà Nghè cười :
- Thôi, giời cho ăn thế nào chỉ nên ăn thế, không nên xốc vác. Số con giầu thì tự nhiên giầu, mà số chả ra gì thì vất-vả đêm ngày cũng phí công.
Từ ngày Phương ở Hà-nội, Chân lại chơi luôn. Có khi ăn cơm ở đó. Bởi vì bà Nghè chỉ mong gặp người thân để chuyện trò đỡ buồn. Nhiều lúc Chân ra ngồi cửa hàng, nên thuộc giá cả, thỉnh-thoảng tạm thay Phương hoặc Thúy được. Chân thường nói :
- Giá cô Cả có sức mà cùng bà Hai, mỗi người đi một ngả cất hàng ở các chợ nhà quê, thì còn phát đạt nhiều.
Bà Nghè đáp :
- Chỉ hiềm vì ít vốn. Mợ cháu buôn bán tinh khôn, chứ không ngờ nghệch như con em Thúy. Trước kia, lúc mới, tôi cứ e ngại hai chị em bỡ-ngỡ, quần manh dẫn quần manh.
Chân cười :
- Kể ra cô ấy cũng khờ, chứ như con thì chả phải xoay đâu, con có khối vốn.
Bà Nghè hỏi:
- Mợ làm thế nào ?
- Hiện cô ấy đương có tang, đổ vàng đem mà cầm đi.
Nhưng Phương vội vàng đưa mắt cho chị đừng nói nữa. Chân hiểu ý. Thúy đã biết sự thực, nên mỉm cười :
- Em tưởng làm thế nào chứ như vậy chả tài.
Phương lảng ra chuyện khác :
- Bẩm đẻ, từ tháng sau, em Thúy với con phải theo bác Hai Hinh đi các chợ cho quen việc.
Bà Nghè vui-vẻ đáp :
- Tùy đấy. Các chị làm ăn khá, đẻ chỉ việc thảnh-thơi chơi với cháu.
Chân nói :
- Tuổi bà bây giờ là tuổi an nhàn. Bà cứ mặc các cô ấy là hơn.
Bà Nghè gật đầu :
- Mợ nói phải.
Rồi bà thấy Liêm và Khiết cắp sách đi học. Bà nhìn theo, nói với Chân:
- Mợ Cả nhà này tính toán giỏi hơn đàn ông. Nếu không ra ngoài này, mấy thằng bé không có chỗ học.
- Hai chú học khá lắm, con thấy nhà con nói thế.
Bà Nghè thở dài :
- Giá còn anh nó, anh nó kèm cho, chứ bây giờ có con chim đầu đàn lại lạc mất.
Nói đoạn bà thở dài. Phương cũng thở dài. Và cả nhà im lặng
♣
Phương làm giỗ đầu Thanh ở Hà-nội. Vừa để ngày hôm ấy tiện xuống chùa thăm mộ, vừa để mọi người trong gia-đình có đủ mặt. Làm ở nhà quê, tất cả nhà không về được, vì ít ra một hai người phải ở lại coi hàng.
Thằng Cu đã chập chững biết đi, và bập bẹ vài tiếng. Thấy mẹ với cô lúi húi dưới bếp từ sáng sớm, không chuyên nhau bế nó như mọi ngày, thì thơ thẩn chơi một mình. Nó không ra cửa hàng bao giờ, có ai hỏi tại sao, nó trợn mắt đáp :
- Mìn chầu !
Hiểu ngầm một câu dài là sợ mẹ mìn dỗ đi, đem sang Tầu mất.
Nó càng ngày càng giống Thanh. Bà Nghè dạy nó được một bộ điệu khiến người ngoài trông thấy mà não lòng. Động ai hỏi «Cậu đâu?» là mặt xịu lại, nó trỏ xuống đất, rồi chắp tay, cúi đầu, như để lạy.
Khi đến trước ảnh cậu nó, nó gọi :
- Chộ ! Chộ !
Và nhoài lại phía tường, bắt lấy áo, lấy mũ, lấy gậy treo ở đó. Được thắng những thức ấy vào, nó hớn hở, nhưng nếu người lớn không chiều, nó khóc, nó hờn đến hàng giờ.
Lọt lòng ra, nó đã thiếu tình cha, nên rất khao khát sự âu yếm của mẹ. Đi đâu về mà Phương chưa kịp hỏi đến nó, tức thì nó mếu và dỗ thế nào cũng không nín. Muốn làm nó thôi khóc, một lần Thúy nghĩ ra một kế là bế nó đến trước ảnh cậu nó, để nó gọi và lạy.
Cách ấy công hiệu, nhưng chỉ dùng một lần, vì bà Nghè sợ gợi mối buồn cho Phương và tỏ cảnh thảm của thằng cháu không bố.
Thật vậy, Phương thương nhớ chồng không lúc nào nguôi.
Đã một năm rồi, mà hễ có ai nhắc nhỏm đến Thanh là nàng cũng khóc. Ban ngày, bận hàng, nàng quên. Nhưng đến tối, trước khi đi ngủ, nàng cung kính thắp nén hương cắm vào cái bát bày trước ảnh chồng. Lúc đó, trông nàng lờ đờ như người mất hồn. Mặt nàng rầu rầu, có khi ở mắt long lanh hai giọt lệ. Nàng đứng yên lặng trước ảnh đến năm phút, rồi mới thở dài, lẳng lặng đi vào giường với con.
Trước khi ngủ, nàng không nói chuyện với ai. Nàng muốn yên lặng, để tâm trí được tưởng nhớ đến người thiên cổ. Nàng nằm im, ôm lấy con và thở dài không ngớt.
Nàng nuôi thằng Cu rất vất vả. Nó ốm yếu luôn. Và mỗi lẫn trong người nó hơi khác, nàng đã sợ hãi cuống quýt, và nước mắt đã chạy quanh. Song, bình nhật, nàng không nuông chiều nó. Nàng không thích người ta cho nó ăn nhảm, nhất là quà bánh bán rong. Ngày thuở bé, nàng cũng vậy, không bao giờ được ăn vặt. Cha nàng vẫn bảo: ai giữ nổi mồm miệng mới tránh được bệnh tật.
Thằng Cu trút cả tình yêu cha vào lòng yêu mẹ. Nó bé vậy, nhưng rất hóm. Nó thương mợ nó lắm. Hễ thấy mẹ buồn, nó cũng xịu mặt lại. Nhất là hôm nay, giỗ cậu nó. Nó thấy từ sáng, mợ nó rầu rầu, nên nó ít đùa nghịch.
Chú Liêm và chú Khiết vẽ ra những trò chơi rất vui, nhưng nó vẫn tiu nghỉu.
Nó lại không hay gọi mợ nó như mọi ngày. Mợ nó thì bận túi bụi ở dưới bếp. Nàng khổ tâm nhất chỗ đó. Giá giao phó được hẳn công việc cho Thúy, thì nàng tha hồ được đi nằm, đi nằm để ôn lại những kỷ-niệm cũ với Thanh để mà thở dài, để mà khóc. Nhưng bà Nghè cứ giục nàng xuống bếp, vì sợ cơm nước thết khách không được như ý. Mười một giờ, bà Án, vợ chồng Vĩnh, bác Lăng và cả gia-đình bà chủ nhà sẽ đến ăn giỗ.
Bà Nghè muốn hôm nay nàng bận việc suốt ngày, để không lúc nào rảnh mà chạnh đến nỗi niềm riêng.
Nhưng quên sao được, nhất là Phương, một người không ngày nào không thương nhớ chồng. Đối với linh-hồn chồng, nàng như một tín-đồ sùng đạo có sự tin-tưởng nó ăn sâu bám chắc vào trong óc vậy.
V
Thấm-thoắt đã sáu năm trời.
Thằng Cu, bây giờ lấy tên là Thắng, đã bắt đầu học lớp Đồng-ấu trường hàng Bún. Ngày nào cũng vậy, nó nằm ngửa trên đệm chiếc xe nhà cao-su sơn mầu cánh gián để đi nhà trường. Hai chú nó đã đỗ và được vào ban Cao-đẳng tiểu-học trên trường Bảo-hộ, hạng ăn lương.
Phương đã cất mộ ông Nghè và mộ chồng. Hai ngôi để gần nhau, trong thửa ruộng nhà, và đã xây gạch ngày đầu năm ngoái.
Hai năm nay, từ ngày bác Hinh mất đi, Phương và Thúy bận lắm. Thật là một cánh tay phải bị chặt đứt. Ngày ấy, chị em lo ngại, những tưởng cửa hàng đương phát-đạt đến phải tan vỡ. Nhưng may, đã một vài lần, Thúy theo đi các chợ miền quê cất hàng, đã thuộc lối và hơi quen việc.
Cho nên bây giờ Thúy phải liều. Từ thuở bé, cô có đi một mình đến những nơi xa lạ bao giờ đâu. Con gái vốn hay cả thẹn. Nhưng nếu cô không hứng lấy công việc nặng nhọc, thì đến chị dâu. Mà chị dâu lại góa, và cửa hàng một ngày vắng chị không xong.
Đến nay, trải mấy năm trời xông pha, Thúy thành ra rất tinh nhanh. Vả tình thế bắt buộc, dù nhút-nhát đến đâu, cô cũng thành bạo-dạn. Bác Hai được mười, cô được đến bẩy tám.
Một hôm, nhân Thúy đi Nam-định, Phương nói với bà Nghè :
- Bẩm đẻ, con có việc này định bẩm với đẻ từ đầu năm, nhưng cứ nấn-ná mãi.
Bà Nghè vuốt mái tóc hoa râm, đáp :
- Mợ cứ nói, có việc gì mà mợ đắn-đo lâu thế?
Phương mỉm cười :
- Việc là việc lành, nhưng vì không vội, nên con để lúc nào tiện thì bẩm đẻ cũng được.
- Vậy hôm nay hẳn tiện.
- Vâng, vì cô Thúy đi vắng.
Bà Nghè hiểu ý, nhếch mép :
- Hẳn là việc của em, chừng bà cụ Án Vũ nhờ mợ nói hộ cho cậu đốc Quang,
- Bẩm không phải. Việc ấy, con phản-đối từ đầu, vì cậu ta tiếng là cậu đốc, nhưng chơi bời và vô-hạnh.
Bà Nghè gật đầu:
- Trước kia, đẻ tin lời cụ Tú hàng Gai làm mối. Thấy em không bằng lòng, đẻ bực mình, mắng mãi. Rồi thấy mợ không mặn, đẻ thôi ngay, không ép em nữa.
- Vâng, việc ấy từ cuối năm ngoái, đến nay kể là lâu rồi. Người con gái đến tuổi, chỗ nọ dòm, chỗ kia đánh tiếng, đó là thường.
Bà Nghè gật đầu :
- Thế mợ định đánh tiếng cho ai, nên thì mợ cứ nói.
- Nếu không nên, con chả nói làm gì.
- Ai thế ?
- Bẩm, cậu tham Trí nó nhà con.
Bà Nghè ngờ ngợ :
- Cậu tham Trí, em mợ à ?
- Vâng.
- Con ai thế nhỉ ?
- Bẩm, con cậu Phủ con.
Bà Nghè cười :
- À, đẻ nhớ ra rồi, ra cậu Trí. Bây giờ đã là ông Tham rồi à ?
- Vâng, được bổ tham-tá ở Hải-dương từ tháng giêng năm nay.
- Thế à?
- Vâng.
- Cậu ta bao nhiêu tuổi ?
- Cậu cháu hơn cô Thúy nhà một tuổi.
- Gái hơn hai, giai hơn một. Mợ làm mối hay bên cụ Phủ nhờ mợ nói ?
- Bẩm, đấy là cậu Tham nó đã bẩm ông bà con, ông bà con nhờ con bẩm đẻ.
- Chỗ nào, chứ chỗ ấy thì đẻ ký cả hai tay, vì cũng loanh quanh họ hàng cả. Nhưng không biết em Thúy có bằng lòng không ?
- Em Thúy đã biết mặt cậu Tham nó rồi,
- Đành vậy, nhưng còn tính nết. Song, người mà mợ giới-thiệu tất phải là người ngoan.
- Vâng, bởi vì trách-nhiệm ở con cả.
- Cụ Phủ có đông con không ?
- Ông bà con được cậu nó là lớn, rồi hai em gái con với một em giai cũng học trên Bưởi, lớp chú Khiết nhà.
- Ồ, lại làm dâu trưởng nhỉ ?
- Vâng, nhưng bà con dễ tính lắm.
- Cái đó đẻ đã biết.
- Việc này miễn là đẻ bằng lòng, rồi hãy nói chuyện với cô Thúy.
- Em đã lớn, đẻ tùy ở em, có mạnh là chị em bảo nhau. Mợ muốn vun đắp cho em, thì mợ phải dỗ dành cho khéo.
Phương bật cười :
- Tại đẻ cứ sợ cô ấy chưa muốn lấy chồng.
Bà Nghè gật:
- Thật đấy, nó gàn lắm.
- Cô ấy không gàn đâu ạ. Mấy đám trước cô ấy không ưng nên nói thác thế,
- Không phải, nó bảo nó thương mợ, nếu nó ở riêng, thì một mình mợ, nào việc nhà, nào việc hàng, trông nom sao xuể.
- Cô ấy lấy chồng, tất nhiên con bận, nhưng việc bận của con còn mãi mãi, chẳng lẽ cô ấy suốt đời không lấy ai ?
- Ý em thì đến bao giờ em Liêm lấy vợ, nó mới tính đến chuyện đi ở riêng.
- Nhưng con đã nghĩ đến ngày cô Thúy về nhà người ta, con sẽ bảo con cháu Lý — con bác Hai Hinh — chung vốn và ra giúp việc. Nó thạo không kém gì cô Thúy. Chỉ có một điều là nó chưa ở Hà-nội bao giờ. Nhưng chắc ít lâu, nó thông thuộc phố xá ngay.
Bà Nghè gật đầu:
- Mợ nói có lẽ.
♣
Hôm cưới Thúy, ở gia-đình này là một ngày quá vui. Nhưng vì quá vui nên lại là ngày đầy nước mắt.
Bà Nghè thương con trai, nhớ con gái, cảm bụng con dâu, nên lúc Thúy sụt sịt lễ bàn thờ, bà cũng sướt-mướt khóc. Phương đã cố kiên gan, song không cầm được giọt lệ. Rồi lễ xong, Thúy nắm lấy tay chị :
- Ở những nhà khác, cha mất đi thì có anh thay. Nhà ta tốt phúc nên chị dâu là cha. Đáng lẽ em phải lạy tạ chị.
Phương bối rối :
- Nhà có phúc là nhờ cha anh phù hộ, nên mẹ con thương nhau, chị em yêu nhau.
Bà Nghè mỉm cười, lau nước mắt, nói với Thúy :
- Con nên lấy chị làm gương, làm dâu có được thế hãy nên đi.
Rồi bà nhìn Phương :
- Mợ biết lo xa nghĩ rộng, nên trong nhà mới được như thế này, chứ nếu không thì từ ngày thầy mất, tất còn xảy ra nhiều sự không may, và do đó, cửa nhà sa sút.
Phương đáp :
- Cũng là ở đẻ biết thương con thương cháu.
Chân — năm ấy đã là bà huyện— thấy bà Nghè khen em thì sung sướng bội phần, liền đáp :
- Có gặp cảnh biến mới thấy giá-trị con người. Bẩm cụ, cứ như con, bé nhờ cha mẹ, lớn nhờ chồng, về già lại nhờ con. Thật là một đời vô vị.
Phương thấy mọi người quá khen mình nên phát ngượng, nàng lảng xuống nhà dưới. Bà Nghè giục Thúy vào buồng sắm sửa, để bà đi tiếp khách.
Khách của bà hôm ấy toàn người làng, người họ. Ở xa đến chỉ có bà Án, mẹ Phương và Chân.
Chừng mười giờ, một tràng pháo dài đón họ nhà trai. Sáu chiếc xe ô-tô hòm đỗ hàng một ở ngoài đường cái.
Trí mặc áo gấm lam, trắng trẻo và phương-phi. Ai cũng khen là phúc hậu.
Chú rể lễ bàn thờ và mừng tuổi mẹ vợ xong, họ nhà trai ăn cỗ, rồi đón dâu ra xe.
Bà Nghè và Phương tiễn Thúy ra cổng. Sáu hàng nước mắt lã chã như mưa.
Còn ai có thể không cảm-động được.
♣
Cưới Thúy ba hôm, sau ngày nhị hỉ, và dọn dẹp xong, Phương ra Hà-nội với hai em trai. Nàng đã về nhà quê từ nửa tháng trước để sắm sửa. Song, đi vắng lâu, nàng không bị mất khách, bởi vì bà Nghè và Thúy ở lại coi nhà, đã thạo buôn bán chẳng kém gì nàng. Đến hôm gần cưới, bà Nghè về sau cùng, mới đóng cửa, vì không mượn được ai trông hàng cả.
Ở một mình với một cửa hàng mênh mông, Phương thấy thiếu Thúy là thiếu nhiều quá. Vả vắng thằng Thắng, nàng càng buồn.
Tối hôm ấy, nàng đến phố hàng Chiếu nhắn về quê mời bà Nghè ra ngay, và giục cho cả Lý đi một thể.
Nàng sai vú già về ấp Thái-Hà, vào huyện Hoàn-long mời Chân ra ngủ với mình, kẻo nhà vắng quá.
Chừng tám giờ tối, cả Vĩnh cùng Chân đi ô-tô đến. Vĩnh ở chơi một lát, chừng mười giờ thì về huyện.
Phương quạt màn mời chị đi nằm, nhưng rồi chị em trò chuyện đến tận khuya. Chân hỏi :
- Cô Thúy thế mà sướng, tự nhiên một bước lên bà.
Phương gật đầu :
- Cả cậu tham Trí cũng tốt số vì cô ấy ngoan lắm. Thế là giời đền cho cả hai người.
Nói đoạn, nàng thở dài. Chân yên lặng, nàng biết Phương tự nghĩ đến cảnh góa bụa, bèn an-ủi :
- Nhưng như cô, chẳng may chú ấy mất sớm, giời lại đền cho buôn bán phát tài, và cháu Thắng học-hành ngoan-ngoãn. Người ta, ai cũng có cảnh khổ cảnh sướng, chứ ai được hoàn toàn.
Phương thở dài :
- Cảnh sướng! Nhiều lúc em như người chán đời.
- Đi làm dâu như cô, tôi tính là nhất thiên-hạ. Tôi chưa thấy bà mẹ chồng nào đối với con dâu lại như cụ Nghè nhà đối với cô. Em gái, em giai chồng lại coi chị dâu hơn chị ruột.
- Tại cảnh em trái ngược, nên ai cũng sẵn lòng thương.
- Phải, một người góa trẻ, nếu bị đối đãi không ra gì, thì ai tội vạ lại ở vậy mà thờ chồng nuôi con.
Phương gạt đi :
- Chị nói làm gì những chuyện ấy, có bao giờ em nghĩ đến đâu.
Chân chép miệng :
- Cô không nghĩ đến là phải. Không biết đàn ông vướng víu vào vòng vợ con, họ thấy thế nào. Chứ như chị, chị chán ngán lạ. Chị biết thế là hèn nhát, là thiếu bổn-phận, chị không bao giờ có ý nghĩ dại dột là xa lánh chồng con, nhưng chị chỉ ước ao giá bây giờ được tạm lánh một mình trong vài năm đến một nơi xa nhà, có lẽ mình được thảnh thơi hơn.
- Thảnh thơi thì cố nhiên thảnh thơi. Nhưng nếu bắt chị phải lo làm lấy mà ăn, mà nuôi con như em, tất chị lại ước được như cảnh chị bây giờ.
Rồi nàng thở dài :
- Người ta ở đời chỉ khổ vì đứng núi này trông núi nọ, không biết tự an phận mình. Em tính như chị, còn làm gì có sự chán-ngán. Chồng thì làm quan, con thì ngoan-ngoãn, có chút gì đáng buồn đâu.
- Chà ! Ở cảnh nào biết cảnh ấy. Thỉnh-thoảng, tôi muốn về hẳn nhà quê trông nom ruộng nương, nhưng nghĩ đến nhà tôi với các cháu ở huyện, chắc không thể nào yên tâm mà ở lâu được.
- Thì chị lấy vợ lẽ cho anh ấy! tha hồ được rộng cẳng.
Chân nhăn mặt :
- Gớm, cô đừng nói đến chuyện ấy đi, ba tuổi ranh đã vợ lẽ với vợ cả. Tôi trông thấy thấy nhiều gia-đình, không vì lẽ gì cả mà người đàn ông có hai vợ, tôi kinh tởm quá.
Rồi yên lặng một lát, Chân hỏi :
- À, đến cuối tháng, cưới chị Cả Thịnh, cô có biết không?
- Không…Lấy ai ?
- Lấy một người buôn bán trên hàng Giấy.
- Thế còn hai đứa bé con, chúng nó ở với ai.
- Tôi không biết.
Phương thở dài :
- Chị ấy góa sau em ba năm, và có giai, có gái đủ cả,
- Phải, nhưng không nên trách chị ấy, tình thế bắt chị ấy phải lấy chồng.
- Nào em có trách đâu! Pháp-luật nào bắt buộc người ở góa đứng vậy. Đó là quyền người ta. Ngay như em bây giờ, giá em bước đi cầu nữa thì ai giữ nổi.
- Thật vậy, đàn ông chết vợ năm nay, năm sau lấy vợ khác là thường.
- Còn như em, hồi mới góa, em cứ tưởng thế nào cũng phải tìm một người để nương tựa, nhưng nay, em thấy vững-chãi rồi, cho nên giá bây giờ tự nhiên em lại lấy chồng, thì hẳn em phải tự hỏi rằng để làm gì.
Chân phì cười :
- Cô dở hơi quá. Lấy chồng để làm gì ? Một là để mình có chỗ nương tựa, hai là để người ta có người đỡ-đần trong gia-đình.
Phương đắc-chí:
- Phải rồi, cho nên em mới tự hỏi để làm gì. Người ta cần người đỡ-đần thì thiếu gì người , chẳng người này thì người khác, còn như em, em không phải nương tựa vào ai, nên em không nghĩ đến sự lấy chồng nữa.
Rồi nàng nói ra chuyện khác :
- Chị Cả Thịnh lấy người này, chắc cũng đã luống tuổi.
- Phải, vào lối ngoài bốn mươi, nhưng được cái chưa có con. Người vợ trước đẻ mấy lần đều không nuôi được.
- Ngoài bốn mươi mới lại lấy vợ.
- Người ấy góa độ bốn năm nay. Hắn hứa nuôi cả mấy đứa con riêng chị ấy.
Phương cau mặt :
- Ở thế sao tiện, còn họ hàng nhà chồng.
- Chị cũng nghĩ thế.
- Vả lại, nhà chồng cũ chả để cho cháu người ta ở như thế, ngộ gặp người không tử-tế thì khổ.
- Không. Đàn ông đại-lượng hơn đàn bà. Xưa nay chỉ thấy nói người mẹ ghẻ tai ác, chứ chưa từng thấy nói người bố dượng tàn-nhẫn bao giờ.
- Song, dù thế nào chứ nghĩ đến đứa bé, mình vẫn thương hại. Em tưởng-tượng giá bây giờ em đi lấy ai, thì thằng cháu Thắng khổ nhất.
- Khỉ ! Thôi ngủ đi, khuya rồi.
♣
Lý không thể thay Thúy được, vì nó quê kệch quá. Ở Nguyệt-Áng thì nó là người đảm-đang, nhưng ở đất Hà-nội, thực-thà quá không được.
Cho nên Phương chỉ dùng nó để trông hàng thôi. Vậy mà nó đã để cho một người nhận là khách quen, lừa mất một chuyến ngót trăm bạc nái.
Phương bây giờ bất-đắc-dĩ là chân chạy. Nàng phải giao-thiệp với ngoài, và đi các chợ xa để cất hàng.
Nàng đã nghĩ đến dư-luận sẽ xôn-xao thế nào.
Trước kia, công việc này bác Hai Hinh đảm nhận, người ta không dị-nghị gì, vì bác tuy góa nhưng đã đứng tuổi. Rồi bác mất, Thúy phải đi đây đi đó. Nhưng dư-luận vẫn rộng lượng. Đến nay, Phương thay Thúy, nàng chắc sẽ nhận được bao nhiêu lời ong tiếng ve. Người ta sẵn bụng ngờ một người góa trẻ, bởi vì người góa được toàn quyền làm chủ thân mình.
Nhưng nàng không cần. Nàng cốt không thẹn với lương-tâm là được. Ngoài ra, nàng chỉ sợ lời thị-phi đến tai bà Nghè mà thôi. Bà không nghi nàng dâu, bà hiểu và tin nàng. Nhưng nàng sợ bà đau đớn và buồn bã cho nàng mắc tiếng oan. Song, dù sao nàng cũng hết sức giữ-gìn để khỏi xảy ra tai tiếng.
Phương bận quá thực. Vì sự giao-thiệp, phần nhiều buổi sáng nàng phải đi vắng nhà, có hôm gần mười hai giờ mới về; cũng có hôm muộn hơn. Mới đầu, bà Nghè cùng cả nhà chờ cơm, nhưng Phương dặn cứ đến giờ Thắng ở trường về thì bà cho ăn ngay, để con nàng khỏi phải đói, vả như vậy nàng đi vắng đỡ áy-náy phải về cho kịp bữa, có khi lỡ công việc, thiệt một mối lợi cũng nên.
Một buổi chiều, Phương nói với bà Nghè:
- Mai con xin phép đẻ sang cất hàng bên chợ Bảng.
Bà kinh ngạc:
- Mai mới đi à? Đến chợ còn gì là hàng. Mọi bận, đẻ thấy chị Hai với em Tham đi từ chiều nay.
- Vâng, nhưng phải ngủ trọ. Con không quen ngủ chỗ lạ.
Nàng định như vậy, vì nàng phải giữ gìn hơn Thúy. Nhưng bà Nghè không hiểu, khuyên:
- Mợ phải tập cho quen, chứ bây giờ vắng em, mợ một mình một cửa hàng kia mà, con cháu Lý giúp được việc gì đâu.
Phương đáp cho xong câu chuyện:
- Vâng, nhưng lạ chỗ, con khó ngủ lắm
Bà Nghè gật đầu, bảo:
- Thế thì mang gối nhà đi, mợ ạ. Đẻ nghiệm ra mình nằm nhà lạ mà không ngủ được, cứ đổ tại lạ chỗ là rất vô lý. Nhưng sự thực, là mình gối cái gối khác, hoặc mềm quá, hoặc rắn quá, hoặc cao quá, hoặc thấp quá, cái đầu cái cổ mình không quen cho nên khó ngủ. Mang gối nhà đi thì mình nằm đâu cũng như nằm nhà.
- Nhưng ở nhà trọ, màn chiếu không được sạch-sẽ.
- Đã làm ăn, mợ nên phiên-phiến, chứ kỹ quá không được.
- Mai có hai bà cùng đi với con. Kể ra đợi tầu hỏa thì đến chợ chậm thật, nhưng chúng con sang bên Gia-Lâm, thuê xe tay đi.
Bà càng kinh-ngạc:
- Thế thì phải dậy từ bốn giờ sáng?
Phương mỉm cười:
- Bốn giờ sáng bắt đầu đi đấy ạ. Sang bên kia cầu, vào khoảng bốn rưởi, đã tờ mờ sáng, đường xá đông vui rồi.
- Nhưng vất vả lắm, chi bằng đi ngay từ chiều nay. Chẳng hay mợ đi với những bà nào thế?
- Bẩm, bà Thông Cần trên hàng Đào với bà Cả Chu ở Sinh-từ.
Bà Nghè cười, gật đầu:
- À, ba bà cùng một cảnh ! Nào ai biết được.
Nghĩa là Phương rủ hai người bạn cũng goá chồng như nàng.
Đến tối mịt hôm sau nàng về, lắc đầu nói với bà Nghè:
- Con không mua được mấy, người ta đi từ tối hôm qua, buôn trước mất tất cả. Đến chậm thành bị hàng xấu, giá đắt, lại không còn mấy nữa.
Bà ngậm ngùi thương con dâu. Bà thân xuống bếp cùng vú già hâm lại đồ ăn cho ngon lành để Phương ăn.
Phương nói với bà :
- Những lúc thấy nhà neo người, con nhớ cô Tham quá.
Bà Nghè thở dài :
- Chả nhẽ buôn bán mãi, không đi lấy chồng.
Rồi bà ngẩn-ngơ một lát, dơm-dớm nước mắt. Bà nhớ con gái, thương con dâu.
Tối hôm ấy, Phương đi ngủ muộn, nàng thức với Lý để tính tiền nong và hàng họ. Nàng bảo Lý:
- Bận sau, thím đi từ chiều hôm trước mới được.
♣
Mười hôm sau, một buổi sáng, Phương nói với bà Nghè :
- Sáng sớm mai, con xin phép me cho con đi chợ.
Bà Nghè gắt:
- Có đi thì đi từ tối nay, đừng như bận trước nữa, thua thiệt trông thấy đấy.
Phương mỉm cười:
- Con tưởng mai đi còn là sớm, vì đến ngày kia hoặc ngày kĩa, con mới về.
Bà Nghè ngớ mặt:
- Ô hay ! Đi chợ nào mà xa thế ?
- Bẩm, con đi chợ Cuối.
Bà Nghè bật cười :
- À ! Ừ thì mợ đi.
Rồi bà vui vẻ giảng cho Lý nghe :
- Chợ Cuối ở Gia-lộc, về Hải-dương, sáng mai thím đi, ở chơi với cô Tham, rồi ngày kia vào chợ. Sao cô Tham chả giữ thím ở lại ít ngày nữa.
Bốn hôm sau, cả Phương lẫn Thúy cùng về. Hai chị em mang bốn bọc hàng to lù lù.
Bà Nghè mừng rỡ, hỏi han cuống quýt. Bà quạt hết cho con dâu, lại đến cho con gái. Bà nói chuyện với Phương, nói chuyện với Thúy, rồi sau hết, bà lắc đầu :
- Từ hôm con về bên ấy đến nay, chị Cả vần-vật cả ngày…
Thúy gật đầu :
- Vâng, con đã đoán ra.
- Mà hàng họ không bằng trước.
- Chị con đã nói chuyện, vì cháu Lý không được nhanh nhẩu.
- Vả tại chị không đi xa cất hàng được.
Thúy cười, nói với Phương:
- Là vì chị giữ ý nhiều quá. Con có khuyên chị con, nếu định buôn bán thì đừng kể đến dư-luận. Công việc mình phải đi đây đó, phải xông pha, thì mình phải làm.
Bà Nghè cho là phải :
- Vả giữ gìn thế nào cho hết được.
Phương nói :
- Ngồi so sánh hàng họ trước kia với ngày nay, mà sốt cả ruột.
Thúy đáp:
- Ấy là tại chị.
Phương quả-quyết :
- Được, từ nay tôi bắt chước cô với bác Hai, không cần miệng tiếng thiên hạ. Ừ, mà nghĩ ra, tôi cũng gàn dở quả thật. Việc không có, họ bịa đặt là có, không được à ? Cốt mình với mình thôi chứ nhỉ.
♣
Một hôm, Phương nhận được bức thư của nhà Dây-thép đưa đến. Cũng như mọi lần, trước hết nàng ngắm xem chữ ai, hoặc ở đâu gởi lại. Rồi mới bóc ra. Nếu là thư chung cho cả nhà, thì hoặc nàng, hoặc nàng sai Thắng đọc để bà Nghè nghe. Nếu là thư riêng thì nàng đọc, rồi nói lại để bà biết ai gởi về việc gì. Rồi cất tờ giấy vào trong tráp trầu, cho cả nhà biết không có điều gì kín-đáo đáng giấu-giếm. Nhưng hôm nay, tiếp bức thư dầy dặn này, Phương hết sức ngạc nhiên và phân vân. Là vì nàng thấy nét chữ mới, và dấu nhà Dây-thép Hà-nội. Sự ngạc nhiên làm nàng hồi-hộp và động tâm.
Sự phân-vân làm nàng chưa biết nên đọc riêng mình, hay chung cho cả nhà, hay không nên đọc.
Nhưng nàng bóc phong bì, lấy thư lật đằng sau để xem chữ ký. Nàng thấy người gởi là Nguyễn-hữu-Xước, y-sĩ tại nhà thương Bảo-Hộ. Trong hai trang, chữ viết rất rõ ràng và cẩn thận:
Hà-nội, ngày 15 Avril 1922
Thưa bà,
Tôi là kẻ ba năm nay, vẫn hâm mộ tiếng bà là một quả-phụ hiền đức và đảm đang. Vậy dám mong bà tha thứ cho sự quá đột ngột này, bởi ham muốn hạnh-phúc gia-đình mà thành quá sỗ-sàng, ích-kỷ.
Tôi vốn là con nhà gia-thế. Cha tôi ngày xưa đã được hân hạnh là bạn đồng khoa với cụ lớn nhà. Vả chính tôi đây, lại là bạn đồng-song với ông Thanh. Tuy tôi với ông không thân thiết với nhau, nhưng vẫn thường lấy người bạn quá cố ấy để làm gương hiếu học. Tôi xin lỗi bà, vì đã gợi trong lòng bà một mối thương tâm.
Tôi lớn lên, kết hôn với con cụ Án Lạc-Thổ. Nhưng chẳng may được vài năm, vợ tôi mất đi, để lại cho tôi một đứa con gái. Từ ngày ở góa, tôi nguyện, không tục-huyền, vì tôi chắc không thể nào gặp được người vợ hiền đức như người bạn của tôi trước. Vả tôi nghĩ cái kỷ niệm của vợ tôi là đứa con tôi, tôi phải có bổn phận nưng niu nó. Nếu tôi lấy vợ khác, ắt rồi con tôi sẽ bị hất hủi, và rồi sau này, trong gia-đình xảy ra nhiều sự bất hòa, gây nên bởi lòng ghen ghét của dì ghẻ con chồng, hoặc anh em khác mẹ.
Nhưng đau đớn cho tôi là từ ngay đầu năm nay con tôi bị ốm yếu, mà không có người săn sóc. Nhiều đêm nó khóc sa sả, khiến tôi đã kiên gan, cũng không thể cầm được nước mắt. Nó khao-khát sự âu-yếm của người mẹ, nếu không, sự trông nom chu-đáo của một người thay mẹ nó.
Bởi vậy, tôi vì bổn-phận đối với con, mà có tư-tưởng tục-huyền. Và trong những người mà bà con mách mối, tôi lấy làm cảm phục bà nhất.
Thưa bà, xin bà vì nhân đạo mà tha thứ cho tôi lần nữa. Và cũng bởi không biết ít lâu nay bà nghĩ thế nào, nên tôi mới dám viết bức thư này.
Tôi suy xét về bà, kết hôn với ông Thanh được hơn một năm, tới bây giờ, bà ở góa ngót bẩy năm rồi. Bẩy năm qua, dù người nhớ dai đến đâu, cũng không thể giữ trong óc được cái hình ảnh rõ-rệt của người bạn cũ.
Bà đã làm tròn bổn-phận của người làm dâu và làm vợ.
Làm dâu, bà đã nâng đỡ một gia-đình suýt đổ và đến bây giờ, các em chồng bà đã đỗ đạt, có thể sinh nhai được rồi. Làm vợ, bà đã nuôi con cho chồng, và trong thời kỳ đứng góa, bà giữ được tuyết sạch giá trong, đối với mẹ chồng, các em trai, em gái chồng, bà một lòng hiếu-thảo, âu-yếm.
Giờ bà có đứng dậy, bước đi bước nữa, không ai dám chê trách bà về một nỗi gi. Người ta chỉ còn khen bà rất thành thực là hành động hợp lẽ phải.
Nghĩ vậy, tôi mới nhờ bà Cả Tài đánh tiếng hộ. Bà Cả chưa đến chơi, vì chờ dịp trong nhà chỉ có một mình bà, chứ không muốn để cụ nghe thấy, thêm bất tiện. Cho nên tôi viết thư này trước, vì tôi biết bà là chủ của thân bà, thì bà có quyền làm lại cuộc đời hay không.
Bà Cả Tài sẽ nói nhiều. Nhưng tôi chắc dù nhiều đến đâu, nó cũng không đủ nghĩa bằng tấm lòng tôi giải tỏ trong bức thư ngắn ngủi này.
Vậy dám mong bà soi xét, để tôi được bà gây hạnh-phúc cho gia-đình tôi.
Kính thư,
Đọc xong, Phương thở dài và dơm-dớm nước mắt.
Nàng thờ thẫn, tựa đầu vào tủ nghĩ ngợi. Nàng nhớ lại Thanh, và thương đến một người vu vơ.
Nàng chưa biết có nên tuyên-bố bức thư này cho mẹ chồng biết chăng, thì bà Nghè ở trong nhà bước ra.
Thấy con dâu buồn-bã, bà hỏi :
- Có việc gì thế, mợ ?
Tự nhiên bao nhiêu sự khó nghĩ bay đi hết. Nàng chỉ còn thấy thương mẹ và thương chồng. Nàng vội vàng vừa cười, vừa quệt nước mắt :
- Vô lý quá, bỗng dưng con nhận được bức thư, làm con bực cả mình.
- Thư gì ?
Nàng bèn đọc to lên.
Mới nghe được một nửa, không biết nghĩ thế nào, bà cũng sụt-sịt khóc. Phương nhăn nhó, cáu với người gởi thư. Nàng xé soạt tờ giấy ra làm đôi và vò nát. Bà Nghè vội vàng giằng lấy :
- Ấy, đọc nốt cho đẻ nghe.
- Đọc làm gì thêm tức.
- Việc quái gì mà tức. Lời lẽ người ta đứng-đắn, tình cảnh thật đáng thương.
Phương thở dài :
- Trong nhà đương vui, có những chuyện này, đâm ra ngang trái quá.
Nói đoạn, nàng bưng mặt thổn-thức. Bà Nghè cảm động, cũng khóc hu hu.
♣
Từ hôm ấy trở đi, Phương muốn lánh bà Cả Tài, và nhất là lánh Hà-nội. Lánh bà Cả Tài, nàng chỉ có việc không để bà Nghè rời nhà này một phút. Nhưng lánh Hà-nội thì phải làm thế nào ? Nàng không thể giao phó cửa hàng này cho mẹ chồng, cho Lý, hoặc cho một ai được. Vì muốn lánh, nàng phải đi xa và lâu mới trở lại.
Hà-nội, trước kia nàng nhờ nó để cầu một cuộc sống yên-ổn cho cả nhà, và chính nhờ nó, nàng đã buôn bán phát đạt. Nhưng Hà-nội đã bao phen toan quyến rũ nàng, toan xé tan của nàng tấm lòng kiên trinh. Hơn sáu năm nay, nào một ông chủ hiệu Khách muốn gây cảm-tình, bán rẻ hàng một cách vô lý, và đến khi hiểu ý, nàng phải tuyệt giao. Nào một ông Nghị góa vợ nhờ người quen đến tán tỉnh xin nàng lấy kế, hứa hẹn với nàng một tương-lai rực-rỡ. Nào một sinh viên trường Cao-đẳng, tưởng nàng còn son rỗi, mấy tháng trời lượn trước nhà, buông lời ong bướm, và sau bị nàng cho một bài học về liêm-sỉ. Nào những ngày thường, biết bao nhiêu cặp vợ chồng trẻ, đề-huề dắt nhau đi qua trước mắt nàng, diễn những cảnh êm-đềm gợi tình, khiến nhiều phen nàng đã phải thở dài ngầm cho cảnh góa bụa. Nhưng những tâm-sự thắc-mắc ấy, nàng chỉ biết với nàng, nàng chỉ khóc thầm với nàng mà thôi. Nay, một ông y-sĩ công-nhiên viết thư đến nàng, và mẹ chồng nàng cũng biết. Nàng đã trông thấy bà khóc. Nàng đã thấy đôi dòng lệ ứa trên nét má nhăn-nheo.. Nàng không đành tâm trông nỗi khổ tâm ấy một lần thứ hai nữa. Nhưng nếu nàng còn ở Hà-nội, ắt còn phải thấy bà khóc nữa, mỗi khi bà nghe tin một người đến manh mối hỏi nàng.
Nàng chán ghét Hà-nội.
Nàng có tư-tưởng xa lánh nó.
Và xa lánh nó, nàng chỉ còn cách thu cửa hàng, lại về nhà quê ở như xưa.
Ngót năm nay, từ ngày Thúy đi lấy chồng, nàng mất một người bạn và một người giúp việc quý. Nàng đã buồn, lai chán-nản về sự làm ăn. Cửa hàng này đã giúp ích cho nàng sắp đầy đủ rồi. Còn một tháng nữa, Liêm ở trường Bảo-hộ thi ra. Nếu đỗ — mà thế nào chẳng đỗ — thì xin đi làm thư ký Tòa Sứ. Vậy nàng sẽ mời bà Nghè cùng đi với Liêm, để nàng ở nhà quê, trông nom nhà cửa. Con nàng, nàng sẽ gởi ở với chú nó, hoặc ở với ông ngoại nó. Nàng được thảnh-thơi, nay ở với em chồng, mai ở với cha mẹ đẻ. Từ ngày bận việc buôn bán, nàng mất cả tự do. Lắm bận, nàng rất thèm cảnh an-nhàn.
Nàng nghĩ rất tiếc cho sự học của Liêm. Liêm có thể lên trường Cao-đẳng học thêm vài năm nữa, rồi ngày sau làm ông Tham, ông Đốc, được danh giá, phong lưu. Nhưng cảnh mỗi người một khác. Liêm đành phải hy-sinh một chút, để phần sự sung-sướng cho Khiết. Một gia-đình mà mỗi người hy-sinh một tí, thì hạnh-phúc dễ đến.
Cho nên sự quyết-định của Phương, là chờ kết quả kỳ thi trước nghỉ hè này. Nàng ngỏ ý với bà Nghè và Liêm cùng Khiết. Nàng viết cả cho Thúy. Bà Nghè vốn biết những lẽ mà nàng không muốn ở đất phồn hoa đô-hội này, bèn phải chiều ý con. Bà bảo :
- Phải, mấy năm giời để nhà cửa ở quê rêu mốc ra mà đến đây ở thuê, đẻ vẫn lấy làm một điều bất mãn.
♣
Liêm được bổ thư ký tòa Sứ Thái-Bình.
Phương nhận việc đi thuê nhà và xếp đặt chỗ ở, nên nàng xuống Thái trước với một người đầy tớ. Nàng tìm ngay được cái nhà thật xinh gần Tòa Sứ. Nàng đánh dây thép cho Liêm biết địa chỉ, rồi đi phố sắm sửa đồ đạc. Những nồi niêu bát đĩa, nghĩa là những thứ dùng về bếp nước, Phương mang cả ở nhà đi. Nàng chỉ còn cần đồ gỗ, như bàn ghế, giường tủ, v.v… Nàng đến các hiệu, so giá và mặc cả, thì đến chiều, trong nhà đã tạm đủ thứ dùng.
Trưa hôm sau, Liêm đến Thái- Bình, mang một hòm với một va-ly chăn màn quần áo.
Thấy cái nhà xinh xắn, và đồ đạc sẵn-sàng, Liêm mừng rỡ nhìn Phương ;
- Em may lại có chị, nếu không thì những hòm này lúng túng, không biết làm thế nào.
Phương cười:
- Làm thế nào rồi cũng xong. Mà nếu chả biết làm thế nào thì đi ở trọ vậy.
Phương ở với Liêm một tuần lễ, để đầy tớ quen việc và biết mực chi tiêu, rồi nàng về Kiến-xương thăm cảnh cũ và người cũ. Nhiều sự đổi thay. Nhà cửa, cây cối khác bẳn. Những người làm việc với cha nàng, bây giờ không còn ai..
Nàng ngậm ngùi và bâng-khuâng. Nàng vào chơi một vài nhà buôn mà nàng hãy còn nhớ. Nàng thấy trẻ con thì lớn lên, mà người lớn thì già đi. Nhưng trái lại, ai cũng bảo nàng trẻ như xưa và đẫy ra.
Người ta hỏi :
- Bà xuống đây chơi với ai ?
Thì nàng đáp:
- Tôi ở tỉnh nhân tạt về đây chơi. Chú nó là em nhà tôi, mới bổ về làm ở Toà Sứ.
Muốn chừng nghe tiếng «nhà tôi», nên họ không hiểu là Phương hiện nay lấy ai. Họ bèn dò:
- Thế bây giờ bà mấy cháu rồi ?
- Cám ơn bà, cháu Thắng đẻ từ ngày thầy tôi ở đây, mấy năm nay đã đi học.
- Ồ !
Tiếng «ồ» để tỏ sự ngạc nhiên và sự kính phục. Và mắt Phương đăm đăm nhìn ra xa. Tự nhiên nàng nhớ lại hồi còn nhỏ, và những năm Thanh còn sống. Chính vào tháng này, ngày mới cưới, Thành cùng nàng ở trong phủ Kiến-xương. Nay thấy cái nắng chói lọi, và làn gió hiu-hiu đưa mùi cỏ thơm thơm, nàng sực nhớ y như những ngày nàng được sống bên cạnh chồng.
Nàng tưởng-tượng đến Thanh. Bây giờ, nàng chỉ còn lờ mờ hình ảnh người yêu mà thôi. Nàng nhớ Thanh trong bức truyền thần thờ hơn là người thật. Nhưng bức ấy lại không giống. Tai hại quá.
Nàng thẫn-thờ vào hết nhà quen, rồi đi khắp phố. Ai mời ăn cơm nàng cũng từ chối.
Rồi chừng sáu giờ, gần hết nắng, nàng mới về tỉnh.
Vừa được hai cây số, nàng thấy Liêm đi xe đạp về phía mình. Gặp Phương, Liêm xuống xe, nói:
- Em thấy lâu chị chưa về, phải thuê xe đi đón.
Phương mỉm cười :
- Ở đấy với ai mà chả về.
- Em sợ chị đi tối.
- Tối cũng chẳng sợ, đường này người ta đi lại suốt đêm. Thành thử chú đi đón mất công, lại phải đạp mệt.
- Có gì là mệt à ? Từ tỉnh xuống phủ Kiến, có bẩy tám cây số.
Phương cười :
- Mà chú biết đường, cũng tài đấy nhỉ.
- Em hỏi thăm, người ta bảo cứ thẳng con đường này mà đi. A, thế nào, chị có gặp nhiều người cũ không ?
- Có, nhưng cảnh cũng như người, thay đổi nhiều.
- Vâng, đến ngay như em đây, cũng đã đỗ và đi làm.
Phương thấy em chồng săn-sóc đến mình, lấy làm hả-hê lắm.
VI
Từ ngày thu lại cửa hàng, Phương buồn-bã quá. Ít lâu nay, nàng ở nhà quê có một mình. Nàng gởi Thắng ở học trường Thái-Bình để Liêm trông nom cho. Bà Nghè cũng đi với con trai, dăm ba tháng, có kỵ lạp mới về vài hôm. Bà thấy cửa nhà sạch-sẽ và ngăn-nắp, bà rất bằng lòng. Bà vẫn bảo Phương nên đi chơi đó đây cho vui, để bù lại những năm buôn bán phải bó buộc.
Nhưng Phương chán-nản, nàng không thiết đi đâu cả. Chính ông bà Tuần— bây giờ cha nàng làm Tuần-phủ Ninh-bình — Chân, Thúy và Liêm thường viết giấy mời nàng, nhưng nàng đều từ chối. Nàng bảo với vú già hầu nàng :
- Đi lắm quen chân, ở nhà trông nom ruộng vườn quanh năm bồ nâu áo vải xuềnh-xoàng thế nào xong thôi, bây giờ đi ra ngoài, lại phải sắm đôi giầy, tấm áo, thêm tốn kém.
Nàng giải buồn bằng cách dệt cửi, nuôi con lợn, con gà. Nàng tậu thêm mười mẫu ruộng, và lại bắt đầu cầm cái họ.
Lắm lúc nhớ con, nàng thấy như nung nấu ruột gan. Thì nàng lại viết giấy xuống Thái-Bình, khuyên con nên ngoan-ngoãn và chăm-chỉ. Nàng biết rằng Thắng ở với bà Nghè và Liêm, thì thế nào cũng được bà và chú trông nom rất chu-đáo Nhưng tất nó dễ làm nũng, dễ hư, vì cả nhà, ai cũng thương và chiều nó. Chỉ nàng mới nghiêm khắc với con, thỉnh-thoảng còn mắng-mỏ, có khi quá giận thì đánh. Còn cả nhà, nhất là bà Nghè, thì nuông nó hết sức. Chỉ tại nó bồ-côi sớm. Nó phải đòn, chưa khóc, bà đã dơm-dớm nước mắt.
Song, đọc những thư Thắng gởi về, nàng lấy làm mừng là nó biết thương mẹ, nó không vì được chiều chuộng mà sinh hư. Cứ nửa tháng, hoặc hai mươi hôm, nó lại viết về cho Phương, thỉnh thoảng có kèm ba bốn tấm ảnh nhỏ, vì Liêm đang học chụp ảnh, mới mua một chiếc máy.
♣
Giỗ Thanh năm ấy, bà Nghè không về được. Bà bị đau nhọt. Bà viết giấy cho Phương tùy tiện, và vì năm nay làm giỗ ở nhà quê, nên bà dặn mời họ và những người làng vẫn đi lại thân thiết. Bà bảo ở Thái, bà cũng làm mâm cơm cúng cho Thắng nó lễ vọng.
Nàng thở dài, nói với vú già :
- Cụ không về, bà Tham chắc cũng không về, vì tháng này bà ở cữ.
Quả nhiên, Phương nhận được thư Thúy lấy cớ là to bụng, sắp đến ngày sinh, nên không dám đi lại.
Tự nhiên, nàng thấy tủi thân.
Buổi tối, lễ tiên-thường bằng trầu nước xong, nàng đi nằm liền, mặc cho vú già ngâm đỗ, và sửa soạn các thứ. Vú hỏi gì, nàng đáp để vú theo, chứ không buồn dậy,
Rồi trằn-trọc mãi không ngủ, nàng ti-tỉ khóc một mình.
Tuy vậy, sáng hôm sau, nàng dậy sớm để ra chợ mua thịt. Nàng sai vú đi mời khách đến chơi vào khoảng ba giờ chiều.
Ở chợ về, ăn xong, một mình nàng ở dưới bếp, làm cỗ cúng và sửa soạn bốn mâm cơm khách.
Chừng hơn hai giờ, họ hàng lục-tục đến. Phương phải mặc áo lên tiếp. Ai nấy thấy bà Nghè không về, và nhà cửa vắng-vẻ, cũng phàn-nàn và trách nàng bày vẽ. Nàng pha nước, têm trầu, và tiếp khách rất chu-đáo.
Cũng hơn ba giờ, cơm cúng bưng lên. Phương thắp đèn hương, và ngồi xuống chiếu lễ khấn chồng. Mọi người đứng cả dậy, im phăng-phắc. Rồi họ hàng về vai dưới lần lượt vào lễ.
Không hiểu làm sao, lúc bấy giờ Phương không đứng cạnh bàn thờ. Nàng ra vườn hoa, thơ-thẩn đi. Mọi người nhìn theo, ai cũng thương hại người quả phụ hẳn bây giờ có một tâm sự thắc-mắc không thể thố-lộ với ai được. Bỗng ai nấy kêu thất thanh, chạy vội ra sân : Phương vừa ngã lăn ra đất. Nàng ngất đi. Da dẻ xám xanh lại.
Người ta khênh nàng vào trong nhà, lấy đầu xoa, và lay gọi. Chân tay nàng lạnh giá. Người ta đốt chổi, lá nón, và lá sơn. Một lát, Phương mở mắt ra. Ai nấy mới yên tâm. Phương cựa mình, nằm sấp, úp mặt vào gối. Người ta lại xoa dầu.
Một lúc lâu, Phương thở dài như rên, rồi ngồi dậy. Nàng vấn lại khăn, nói:
- Không biết cái gió gì mà độc thế !
Vì nàng giấu, không muốn để ai biết nàng đã cảm-xúc quá, vì nghĩ đến chồng.
Rồi nàng lao-đao đứng lên :
- Xin mời các ông các bà đi xơi rượu.
Nàng khẽ bảo vú già :
- Vú bưng mâm lên.
Bữa cỗ hôm ấy, không ai nói cười nhiều như mọi bận. Người ta đều nhìn theo Phương, xem nàng đi đâu và làm những việc gì. Hễ nàng đứng ra chỗ nắng hoặc gió, liền bị ngăn lại ngay.
Thấy họ hàng ai nấy săn sóc đến mình, Phương không dám liều lĩnh nữa.
Buổi tối, một bà thím họ đến ngủ với nàng cho vui. Bà khuyên nàng nên theo lời bà Nghè, đi chơi mọi nơi. Bà bảo :
- Dễ thường mợ ở nhà này không hợp.
♣
Một hôm, tự nhiên Phương thấy nóng ruột như cào. Nàng đứng đâu cũng không yên, ngồi đâu cũng không yên. Nàng không hiểu có ai nhắc nhỏm nàng, hoặc xảy ra việc gì ờ đâu đến nỗi nàng phải động tâm quá thế. Nàng nói với vú già :
- Cái năm cậu mất ở Hà-nội, tôi cùng nóng ruột như thế này.
Rồi nàng xếp quần áo vào va li, bảo vú :
- Sáng mai tôi xuống Thái.
Nàng giao gạo, và để tiền cho vú tiêu mười hôm. Vú hỏi :
- Hay có tin gì ở dưới ấy mà mợ giấu tôi ?
Nàng lắc đầu:
- Không, tôi thấy nóng ruột thì đi cho khuây-khỏa.
Hôm sau, Phương ra Hà-nội, rồi đáp xe lửa xuống Nam-định. Trong khi đi đường, nàng chỉ mong cho chóng tới nơi. Rồi nàng lẩm bẩm khấn ông Nghè nếu trong nhà có việc gì, xin ông phù hộ.
Quả nhiên, xe vừa đỗ trước cửa nhà Liêm, bà Nghè đã chạy ra thềm, hỏi :
- Mợ nhận được dây thép lúc nào mà đến nơi được ngay thế ?
Phương choáng cả người, vì nghe hai tiếng dây thép. Nàng vội hỏi :
- Bẩm đẻ có việc gì ?
- Thằng cháu sốt.
Bỗng nàng bật ngay ra tiếng khóc:
- Cháu nằm đâu ?
Rồi nàng nói với bà Nghè :
- Tự nhiên con thấy nóng ruột thì đi, chứ chưa nhận được giấy má gì.
Bà Nghè thở dài :
- Chú nó viết thư từ hôm kia, chiều hôm qua lại đánh luôn dây thép.
Phương đến giường con, mở màn ra, ôm lấy con. Thằng bé nóng như lò than.
- Con ơi, mợ đây !
Thắng giơ tay ra, ôm lấy mẹ :
- Mợ.
- Ừ, mợ đây, mợ xuống với con cho con chóng khỏi.
Bà Nghè kể chuyện:
- Cháu nóng từ hôm thử hai. Buổi sáng có đi học, nhưng buổi chiều nghỉ.
- Bẩm là mấy hôm nay rồi ạ ?
Bà Nghè bấm đốt tay, đáp :
- Là năm hôm. Chú nó mời ngay đốc-tờ, nhưng bệnh không giảm.
- Bẩm thế đốc-tờ bảo bệnh gì ?
- Ông ấy cho thuốc uống, thuốc tiêm và bảo khéo không đâm ra thương-hàn thì khó chữa.
Phương ngồi cạnh Thắng, sờ chân tay và trán con:
- Nóng quá. Bẩm đẻ, cháu vẫn tỉnh hay mê ?
- Thỉnh thoảng mê luôn.
Phương nhăn nhó :
- Con uống thuốc ngoan-ngoãn cho chóng khỏi để bà với mợ, với chú mừng nhé.
Thắng nhắm mắt, đáp khẽ :
-Vâng.
- Cháu mê thế nào à ?
- Tại chiều hôm qua, nó sốt li bì mà miệng cứ luôn-luôn gọi « cậu» cho nên chú nó sợ mới đánh dây thép cho mợ xuống.
Thắng nói khẽ:
- Con thấy có một người xưng là cậu, vẫy con đi theo. Vì con theo không kịp, nên phải gọi.
- Con chỉ mê sảng thôi! Ông với cậu phù hộ cho con khỏe mạnh và học nên người kia mà. .
- Vâng.
Chừng năm giờ chiều, Liêm ở Tòa Sứ về. Thấy Phương, Liêm mừng quá :
- Chị xuống, em yên tâm. Buổi nào em cũng phải lẻn về thăm cháu ba bốn lượt.
Rồi Liêm nói với bà Nghè :
- Đẻ nói chuyện với chị, con phải vào Tòa đây, bận việc quá.
Phương nhìn theo Liêm, thở dài. Liêm giống Thanh, nhất là dáng đi và tiếng nói. Năm Thanh lấy nàng, cũng trạc tuổi Liêm bây giờ. Vì vậy, càng nhìn Liêm, nàng càng nhớ đến người xưa.
Nàng cởi áo, nằm với con, và hỏi bà Nghè :
- Bẩm, ông đốc-tờ đến thăm cháu bao giờ ạ ?
- Ngày nào cũng đến vào buổi sáng.
- Con tưởng cứ mời cả ông lang ta thì hơn.
- Uống thế thì loạn thuốc.
- Không phải để uống thuốc, nhưng để xem ông lang ta bắt mạch nói là bệnh gì, có đúng với đốc-tờ không.
- Như vậy vô hại, nhưng ông đốc này có tiếng là giỏi. Đã mời người ta, nên theo đến kỳ cùng.
Thắng cựa và rên hừ-hừ, làm ngắt câu chuyện. Phương ngồi dậy, vỗ-về lưng con, hỏi :
- Gì thế con? Mợ đây, bà đây mà.
Rồi nàng sờ-soạng :
- Gớm, mồ hôi ra, ướt như tắm. Bẩm, cháu ăn gì chưa ạ ?
- Phải kiêng cơm, chỉ được ăn sữa. Mỗi ngày thay quần áo đến ba bốn lượt đấy.
- Thế thì nuôi cháu ốm, chú sạt mất cả tháng lương.
Bà Nghè không đáp, nhìn ra cửa. Liêm về, cởi quần áo, rồi vào buồng :
- Đêm qua, đẻ với em thay phiên nhau thức với cháu.
Phương cảm-động :
- Đêm nay đã có chị.
- Không, em lại thức cũng được. Em đã ngủ buổi trưa rồi. Em còn có thể thực đến hai, ba giờ đêm. Cả ngày hôm nay, đẻ thì không ngủ, chị thì đi đường mệt. Vậy em xin thức với cháu, bao giờ buồn ngủ, em mời chị dậy.
- Ổng đốc bảo bệnh cháu ra sao, chú ?
- Không ngại, chị ạ.
Nhưng Phương thấy ngay trong câu nói có sự gì gượng-gạo vì giả dối.
- Chị bồn-chồn trong bụng nên xuống, chứ chưa nhận được dây thép và thư.
Liêm sực nghĩ ra :
- A, vâng, em cứ nghĩ mãi, không hiểu chị làm cách gì mà tới đây ngày hôm nay. Em vẫn bẩm đẻ là nhanh lắm thì trưa mai chị đến.
Bà Nghè thở dài :
- Nhưng dây thép đánh lúc nào, là đẻ mong từ lúc ấy.
Đêm hôm ấy, Phương nằm cạnh con. Nàng lo lắng, không thể nào chợp mắt được. Vả lại, thỉnh thoảng Thắng lên cơn mê sảng, nói lảm nhảm. Nàng cố lắng tai nghe, nhưng không hiểu gì.
Liêm bắc ghế ngồi ở đầu giường xem sách đến tận mười hai giờ, nàng bèn giục đi ngủ : .
- Chú đi nghỉ, để chị nằm cạnh cháu cũng được. Chập tối, chị đã ngủ được một lát rồi.
Nàng nói dối vậy, vì nàng thấy Liêm có vẻ mệt nhọc lắm.
Liêm cố gượng thức một lát nữa, rồi muốn chừng không chống nổi cơn buồn ngủ, bèn đứng dậy :
- Em đi ngủ đây, hễ chị mệt, thì đánh thức đẻ dậy với cháu.
- Vâng.
Nhưng suốt đêm, Phương không ngủ, vì con nàng không lúc nào chợp mắt. Lúc nó rên, lúc nó nói mê, lúc nó cựa. Mỗi lúc nàng lại gọi nó, và chỉ khi tỉnh, nó mới trả lời.
Sáng hôm sau, bác-sĩ đến thăm bệnh và nói chuyện với Liêm bằng tiếng Tây. Phương không hiểu gì, nhưng nhìn nét mặt hai người, nàng biết rằng ai cũng thất vọng. Cho nên khi khách ra khỏi nhà, nàng vội vàng hỏi :
- Thế nào, ông đốc-tờ bảo làm sao, chú ?
Liêm lạnh lùng đáp :
- Chị cứ yên tâm, thế nào cháu cũng khỏi.
Bỗng nàng khóc rưng rức :
- Nhưng chị thấy chú nói chuyện với ông đốc như thế, thì chị yên tâm sao được.
Liêm không đáp, cầm mũ đi ra.
Bà Nghè cũng khóc. Phương nói :
- Chú ấy giấu con, con xem bệnh cháu, lấy làm lo lắm.
Bà an ủi :
- Thi hãy nghe đốc-tờ.
- Ông ấy nói thế cho mình đừng lo. Cậu Chính nó nhà con cũng làm thầy thuốc, con hiểu lối nói của các ông ấy lắm.
Phương nhìn theo Liêm, thấy em chồng đi đường khác, chứ không vào Tòa. Nàng ngạc nhiên và càng lo.
Chừng chín giờ, Liêm về nhà, chán nản, nói :
- Con xin phép nghỉ cả ngày hôm nay.
Bà Nghè cau mặt :
- Cậu dở hơi quá, hôm qua chị chưa xuống thì không xin nghỉ, lại nghỉ hôm nay.
Liêm thở đài không đáp, lừng lững vào buồng với cháu, vạch màn ra, ghé gần vào mặt Thắng, hôn nó một cái .
- Cháu muốn ăn gì, chú mua cho.
Nhưng Thắng không trả lời. Phương lo sợ, vì nàng hiểu ý, run run hỏi :
- Sao chú lại hỏi cháu thế ?
Liêm rưng rưng nước mắt, đáp :
- Bây giờ cháu ăn gì cũng không sợ.
- Chị biết rồi !
Thế là Phương oà lên khóc. Bà Nghè hớt hải chạy đến :
- Làm sao rồi ?
Liêm lắc đầu :
- Hỏng mất, tai hại quá. Anh Thanh ơi !
Cả mấy người cùng oà lên khóc. Và trong lúc những tiếng lanh lảnh gieo sự thảm sầu vào trong căn nhà lạnh lẽo ấy, thì thằng Thắng thở hơi cuối cùng.
VII
Từ ngày con chết, Phương đâm ra ngơ ngẩn. Ông Tuần lo ngại, bắt nàng về ở với mình để thuốc thang và trông nom cho cẩn-thận.
Nàng chỉ thích đứng thơ-thẩn một mình, và nói thơ-thẩn một mình.
Nàng đâm ra trái tính. Nàng cáu kỉnh, và muốn phản-đối hết cả mọi người. Ai cũng phải chiều ý nàng mà chịu, vì nếu không, nàng khóc bù lu bù loa, khóc chồng, khóc con, và dọa đi tự tử,
Ông Tuần rất buồn, thường nói với bà :
- Chị ấy là một người tuyệt vọng, sống ở đời không còn lấy gì làm vui nữa, ta không nên cho rằng chị ấy dọa tự tử, mà phải coi như một lời hứa thật. Vậy bắt người nhà theo chị ấy từng bước.
Lời ông Tuần nói quả không sai. Một hôm Phương định đi tắm. Song ở trong nhà tắm, chum hết nước. Nàng bực mình, lên nhà đóng chặt cửa buồng lại.
Đến khi bà Tuần không thấy nàng đâu, mới hỏi. Cả nhà đi tìm, và cạy cửa buồng, thì ra nàng đã treo cổ vào dây thừng buộc võng. May dây thấp, nên nàng không đến nỗi thiệt mạng.
Từ đó, sự đề phòng càng ráo riết.
Được độ năm tháng, tâm thần nàng an định dần dần. Nàng đỡ khó tính. Nàng ít nói những dở hơi. Những lúc không có ai chuyện trò, thì nàng đọc báo hoặc đọc sách
Đến ngày giỗ Thanh, nàng xin phép ông Tuần cho về Nguyệt-Áng. Ồng Tuần không nghe, nhưng thấy nàng khóc lóc, ông phải chiều.
Nhưng ông chỉ cho nàng ở xa ông mươi hôm mà thôi. Ồng phái người về xin phép bà Nghè cho Phương lại vào Ninh-Bình ngay. Bà Nghè cũng muốn để nàng xa quê nhà, tức là xa nơi nó nhắc nhỏm nàng nhớ lại biết bao việc đau đớn. Mà thấy nàng luôn luôn khóc mếu, bà cầm sao được nước mắt.
♣
Phương ở với ông Tuần, vẫn theo thuốc ông lang trước. Hai tháng sau. nàng lại khỏe mạnh và nhanh nhẹn như xưa. Nàng xin về ở với bà Nghè, nhưng ông Tuần không nghe.
Một buổi tối, lúc vào giường nằm ngủ, bà Tuần nói chuyện với Phương :
- Thật thế, không có gia-đình nào được toàn hạnh-phúc cả. Như nhà ta, thầy làm đến Tuần-phủ, còn các con, giai thì học hành đỗ-đạt, gái thì lấy chồng làm quan, chỉ duy có con là long- đong,
Rồi bà chép miệng :
- Lấy chồng hơn một năm thì góa, được một mụn con, công-phu nuôi ngần ấy năm, cũng lại bỏ nốt.
Phương tặc lưỡi, đáp :
- Người ngoài cho là long-đong, nhưng con lại cho là nhẹ mình. Người nào có ít sự vướng-víu ở đời, ấy là người được sung-sướng nhất. Có thoát tục mới là thần tiên.
- Cô nói thế không nghe được. Như thế là cô ích-kỷ. Bổn-phận của người đàn bà là làm vợ, làm mẹ.
- Con đã đầy-đủ bổn-phận, nhưng giời chả cho được giữ bổn-phận suốt đời, chứ có phải lỗi tại con đâu.
- Thế nhưng mà, cô ạ, người ta phải có chỗ nương tựa mới được. Lúc bé nương tựa cha mẹ, lúc lớn nương tựa chồng, lúc già nương tựa con.
- Nhưng như con, không có chỗ nương tựa mà con vẫn thấy chả làm sao cả.
- Là tại ở bên nàỵ, thầy me còn, ở bên nhà, cụ Nghè còn, vả các cậu ấy chưa có gia-đình riêng. Con thử tưởng-tượng đến ngày cụ Nghè trăm tuổi, các cậu ấy, ai cũng có vợ có con cả thì còn có ai săn-sóc thiết-tha đến con nữa hay không ?
Phương thở dài. Bà Tuần tiếp :
- Cho nên ở trong cảnh ngộ con, mới ba mươi tuổi đầu, nếu không bước đi cầu nữa, thì là một sự nhầm lẫn, ngày sau rất hối tiếc.
Phương mỉm cười, cái cười chua chát. Bà Tuần nói luôn :
- Nói gần nói xa chả qua nói thật, ông phủ Nho-quan góa vợ đã lâu, nhờ người đến xin thầy me cho con về làm kế.
Phương nín lặng, định nghe xem cha mẹ quyết định thế nào. Nhưng bà Tuần cũng yên.. Phương hỏi :
- Thầy me trả lời người ta ra sao ?
- Người ta nói thế, thì thầy me biết thế. Chứ đối với con bây giờ, thầy me không có quyền. Thầy me chủ gả bán con một lần thôi. Nhưng thầy me thiết tưởng nếu được chỗ nào xứng đáng thì cũng nên…
Phương nói giỡn cợt :
- Thế thì chắc chỗ này xứng đáng.
- Không xứng đáng, sao me lại nói chuyện cho con biết. Con ở đây hơn nửa năm, có tất cả bốn nơi đến đánh tiếng. Nhưng ba đám trước; me từ chối, và không cho con biết.
Phương thở dài. Bà Tuần tiếp :
- Con nên nghĩ kỹ, rồi cho me biết ý kiến. Nhưng cứ như me, thì đám ông phủ Nho này là hơn cả. Ông ta là con nhà gia thế, làm quan cũng hiền-lành, tử-tế. Ông ta góa vợ đã ba năm nay, mới có hai đứa con gái nhỏ.
- Bẩm, tên ông ta là gì ạ ?
Bà Tuần nghĩ một lát, rồi nói:
- Để rồi me hỏi lại thầy sau. Ông ta là con thứ ba cụ Đốc ở Niêm đấy mà.
Phương gật đầu :
- À, thế thì năm nay độ ngót bốn mươi.
- Làm gì đến, độ ba nhăm giở lại thôi, trông còn trẻ lắm.
- Con biết rồi. Người cũng trung-hậu, tử-tế.
- Cho nên thầy me mới mong con bằng lòng đi.
- Me để cho con nghĩ kỹ, kẻo thằng cháu mất chưa được một năm, nói những chuyện ấy, người ta cười cho.
♣
Vài hôm sau, Phương xin phép ông bà Tuần, nói rằng để về Nguyệt-Áng, có kỵ. Nàng hứa :
- Con ở nhà nửa tháng, rồi lại xin vào hầu thầy me.
Sự thực, bên quê Thanh không có kỵ nào, và nửa tháng sau, Phương cũng không vào Ninh-Bình nữa.
Nàng muốn tránh xa những câu chuyện tái-giá.
Nàng sang Thái-Bình, ở với Liêm, định đến tận gần Tết mới về nhà quê. Nhưng không may cho nàng, là bà Nghè lại đi Hải-Dương hai hôm nay. Mà bà đã ở chơi, thì Thúy giữ hàng tháng.
Phương cho là ở Thái-Bình bất tiện. Đã đành ở trong gia-đình, Liêm quý-trọng mình, nhưng đối với người ngoài, mình là một người chị dâu góa chồng và còn trẻ, lại đến ở với em chồng chưa có vợ. Người ta có thể nghi ngờ, và đặt ra những câu chuyện xấu-xa. Nhất là ở các tỉnh nhỏ, ít có việc xẩy ra, nên người ta cần bịa đặt những chuyện lạ tai để làm quà cho nhau đỡ buồn.
Ở Thái ba hôm, Phương về Phúc-Yên, là nơi Chính, em ruột nàng, mới bổ đến làm giám-đốc bệnh viện.
Nhưng nàng có được yên đâu. Một ông giáo học ở Vĩnh-Yên lân-la sang chơi, rồi nhờ người hỏi nàng làm kế.
Thành thử Phương lại xếp quần áo vào va-li để đi.
- Chị không bằng lòng thì thôi, chứ đi đâu mới được chứ ? Chị ở đây với em chưa được mấy ngày.
Phương như người lúc nào cũng sợ-sệt, nói :
- Chị về nhà quê ít lâu, Tết ra, chị lên trông nom nhà cửa cho cậu hẳn nửa năm.
Nàng dỗ-dành như vậy để đi cho thoát, kỳ thực nàng lại phải tránh nơi có những người góa vợ muốn hỏi nàng.
Nàng nhớ Chân lắm, nhưng phải giữ ý. Một năm, nàng chỉ đến nơi Vĩnh làm quan một hai lần, mà ở một hai ngày thôi. Cho nên bận này, nàng viết cho Thúy, hẹn ngày về Hải-Dương chơi.
Ở đây ngót một tháng, nàng rất được yên thân. Nàng chỉ muốn ở mãi, nhưng một hôm, bà Nghè đòi về Thái-Bình.
Thúy giữ mãi, bà không ở. Phương theo bà về Thái, và đến Tết, ba mẹ con về nhà quê.
♣
Vì sự âu-yếm và quý hóa của nhà chồng đối với mình, nên Phương không thấy đời nàng buồn tẻ tí nào.
Trái lại, nàng có những hy-vọng mà nàng thường nói với họ hàng, là tìm cho Liêm một người vợ thật tốt để gây hạnh-phúc cho em chồng. Nàng lại thường viết giấy sang Pháp cho Khiết, hồi ấy được cấp học-bổng đi du học ở ban khoa-học tại Paris, để khuyên em nên nghĩ đến mẹ già mà cố công học thành tài. Dăm ba tháng, nàng lại gởi một ngân phiếu vài chục bạc cho Khiết.
Nàng là chị dâu góa chồng, nhưng cư-xử vào địa-vị một người anh Cả còn sống để thay quyền cha.
Và nàng sắp được thấy kết quả :
Liêm đính hôn với con gái cụ Tú, người làng. Khiết đã đỗ kỹ-sư, chờ chuyến tầu về nước.
Bà Nghè định ra giêng, khi Khiết tới nhà thì cưới Liên. Bà đã bàn tính những cuộc vui-vẻ ấy từ bây giờ.
Nhưng một việc xảy ra cho Phương, là một hôm, bà Tuần cho người nhà về đón Phương sang phủ Từ-sơn thăm Chân, yếu nặng. Nghe tin rụng rời, Phương vội-vàng đi ngay. Đến nơi, trông thấy Chân, nàng không cầm được nước mắt. Chân yếu quá, xanh quá, và gầy quá.
Bà Tuần lắc đầu, bảo với nàng:
- Chị Phủ không thể sống được, me lo-lắng lắm.
Phương nắm lấy tay chị, hỏi:
- Chị yếu từ bao giờ, mà không cho em biết.
Chân phều-phào nói :
- Đã hơn hai tháng nay.
Phương nhăn-nhó. Vĩnh nói:
- Chị thấy cô bận nhiều việc, vả cũng tưởng yếu xoàng, nên giấu cô.
- Bẩm anh, bệnh chị em thế nào ?
Vĩnh chán-nản:
- Đàn bà an-nam thì chỉ có bệnh hậu-sản!
Bà Tuần thở dài:
- Mất đã chán tiền thuốc ra rồi đấy.
- Bẩm, me về đây từ bao giờ ?
- Đã hơn nửa tháng nay.
Rồi bà ghé vào tai Phương :
- Me thấy bệnh chị quá lắm, mới giục anh Phủ viết giấy gọi con sang thăm.
Phương tủi thân :
- Thành thử chị yếu, cả nhà ai cũng được biết, duy chỉ con là có cũng như không.
Vĩnh đáp :
- Không phải thế, cô ạ. Cô đừng nghĩ ngợi.
Bà Tuần giảng:
- Là do bụng anh chị tốt, không muốn để cô phải buồn-bã, lo-lắng.
Đến tối, bà Tuần và Phương ngồi ở giường, cạnh Chân. Chân hỏi mẹ:
- Cả nhà đã ngủ rồi?
Bà Tuần gật:
- Me đã nói chuyện với cô Cả chưa?
- Chưa.
Phương ngơ ngác hỏi:
- Chuyện gì?
Nàng thấy Chân nhìn nàng và chắp hai bàn tay vào nhau, vái mấy cái.
Nàng chưa hiểu chuyện gì nhưng cảm động rớt nước mắt.
Bà Tuần thở dài, nói:
- Cứ bệnh tình chị Phủ, me xem ra không có phần nào là hy-vọng cả.
Rồi bà vừa khóc vừa tiếp:
- Mà chị có mệnh-hệ nào thì me đây, phần thương chị ít, nhưng phần thương các cháu bé thì nhiều.
Phương cũng thút-thít nhìn chị, thấy hai dòng nước mắt ứa ra, chảy xuống mang tai.
- Sở dĩ anh chị Phủ mời con về đày, cũng là định nhờ me bàn với con một việc.
Chân lại nhìn Phương, vái mấy cái. Phương hỏi:
- Việc gì, xin me cứ nói.
- Chị Phủ có tám cháu. Nếu chúng nó phải bồ-côi mẹ thì thật khổ, nhất là cháu Châu mới được năm tháng; cháu Ngọc được hơn một năm. Ai dạy dỗ, trông nom cho. Nếu chị Phủ mất đi, đối với lũ con thơ, anh Phủ ở vào địa vị rất khó xử. Cố nhiên anh bận, không thể gà sống nuôi con được. Mà anh có lấy ai sau này, dù được người tử tế đến đâu, người ta cũng không trông nom, dạy dỗ con mình như con người ta được. Ấy thế mà lỡ lại phải người không ra gì, thì thật con mình bị đầy đọa.
Bỗng Chân nức lên, nhăn mặt để khóc. Bà Tuần thở dài:
- Đấy con xem, một người mẹ sắp chết đáng thương biết ngần nào.
Rồi bà thở dài, và Phương lại ứa nước mắt :
- Me nghĩ quá, chứ chị con đã đến nỗi nào.
- Con mới đến nên còn nhiều hy-vọng, chứ chị Phủ chỉ còn chờ con nữa mới đi dứt mà thôi.
Phương thổn thức, nhìn chị. Bà Tuần tiếp:
- Thôi, chỗ mẹ con trong nhà, me không cần phải dài lời. Chị Phủ con có mất đi, chắc cũng được yên tâm, vì trông cậy vào con. Người ta bảo «sẩy mẹ bú dì»
Phương băn khoăn :
- Còn chị con thì thỉnh thoảng dăm ba tháng, con sang thăm các cháu, ở hai ba hôm, chứ nếu…
- Đó, chính là chị con muốn nhờ con chỗ ấy, con nên thương đàn cháu nhỏ bồ-côi bồ-cút, chúng nó là con chị ruột con, chúng có máu mủ với con. Con nhận lấy trách nhiệm nuôi và dạy chúng nó. Dì đối với cháu, bao giờ cũng có tình hơn người ngoài.
Đôi mắt lờ đờ của Chân lại nằn nì nhìn Phương, và hai tay lại chắp để vái. Phương vẫn chưa rõ hẳn ý của bà Tuần, nên nàng chưa ngỏ lời quyết định. Nàng hỏi :
- Kể ra bên nhà anh Phủ còn bao nhiêu người thân, như các cô, các chú ấy.
Bà Tuần nhăn mặt để gật đầu :
- Phải rồi, nhưng yêu nhau sao bằng chị em gái, mà sểnh mẹ thì bú dì. Ý anh chị Phủ là xin me để rồi ra con ở luôn bên này thay quyền chị, dạy dỗ các cháu. Nhưng đó là tùy con.
Một nụ cười cố gắng nở trên mặt Chân. Bỗng trong đầu óc Phương như có một cơn bão táp. Chân nói khẽ :
- Cô bằng lòng đi, cho chị được yên lòng mà chết.
Bỗng hai hàng nước mắt lại lã chã trên má Phương. Chân run rẩy, cầm cái quạt phẩy cho Phương, nhưng Phương đỡ lấy :
- Em không bức,
- Thế nào, cô cho chị biết ý.
Bà Tuần nói:
- Mà chị thì muốn định việc anh đón con về đây ngay, để chị còn được mắt trông thấy. Me nghĩ con rồi ra tứ cố vô thân, bây giờ còn trẻ trung chưa nghĩ tới, chứ đến tuổi về già thì buồn khổ lắm.
Phương nhịn nức nở để đáp:
- Cứ ý con, thì con định sau khi các chú nó cưới vợ cả rồi, hoặc lâu hơn nữa, là sau khi đẻ con trăm tuổi, thì con không còn công việc phải gánh vác bên nhà chồng nữa. Lúc ấy, con tìm một ngôi chùa nào thanh vắng và đẹp đẽ, con quy.
Bỗng Chân bỏ rơi tay xuống giường, phều phào:
- Đừng thế, đừng thế. Em còn có bổn-phận với chị, với các cháu.
Bà Tuần khéo léo hơn, dỗ dành :
- Con nghĩ thế thực là phải, me ở địa vị con, me cũng quyết định thế. Nhưng ông giời có cho ta được như ý bao giờ đâu. Con hãy nghĩ đến chị con, con hãy mở lòng từ bi mà nghĩ đến lời yêu cầu cuối cùng của người hấp hối.
Chân nói:
- Cô thương chị, thương các cháu.
Được bấy nhiêu tiếng, Chân nhăn mặt, cựa mình quay vào trong và thở dài như một kẻ thất vọng. Quả vậy, nàng khóc, nức nở khóc, rồi nắm lấy tay bà Tuần :
- Con chết mất. Lạy em, em chẳng nghe.
Phương nhăn nhó :
- Chị bắt em trong một phút phải quyết định một việc nó phản đối ý kiến em trong mười năm nay.
Châu uể oải:
- Chị gặp chú ấy, chị nói hộ cho.
Rồi nàng gọi bà Tuần :
- Me, me, con chết mất. Em con không thương con!
Phương vội vàng cúi vào gần mặt Chân, gọi :
- Chị ơi !.. ..
Hai người nhìn nhau, bốn khóe mắt cùng ướt. Im lặng. Tưởng như những lời Phương định nói ra nó còn nghẹn trong cổ họng. Chân âu yếm nắm tay em :
- Em gọi gì ?
Lại ngập ngừng một lát, Phương ấp úng:
- Vâng, em xin nghe lời chị.
Nói đoạn, nàng nằm vật bên cạnh Chân, khóc đến hàng giờ.
♣
Chiều hôm sau, ở Nguyệt-Áng, trong nhà bà Nghè, trên bàn thờ đèn nến sáng trưng, khói hương nghi ngút.
Vì có xe ô-tô Vĩnh cho đi đón, nên Liêm và bầu đoàn nhà Thúy về cả nhà quê.
Sau khi cùng Liêm ra đồng thăm mộ ông Nghè và mộ Thanh, Phương, đôi mắt sưng lên vì khóc nhiều, ngồi trước bàn thờ cha và chồng để lễ. Rồi yên lặng, nàng rón rén giải chiếu xuống đất, trước phản bà Nghè ngồi.
Thật là cái giờ phút nghiêm trọng. Trong óc những người có mặt tại đấy, có một cuộc đảo lộn ghê gớm. Rặt những vẻ mặt gượng gạo.
Phương xếp bằng tròn giữa chiếu, hai tay chắp :
- Bẩm đẻ…
Bỗng nàng nghẹn ngào, nhịn không nổi, phải tấm tức và không thể nói được. Ba Nghè không cầm được lòng, bèn òa lên khóc to. Thế là Liêm, Thúy và bà Tuần cùng bọn trẻ con cùng cất tiếng khóc. Họ khóc thảm thiết như trong nhà mới có tang.
Phương cố uốn lưng rạp xuống đất hai lần.
Bà Nghè ngồi không yên, bà bước chân xuống chiếu, lê đến cạnh Phương, ôm lấy nàng và kể lể. Thúy cũng làm thế. Liêm thì ngồi xổm ở rìa chiếu. Thành thử mọi người quây quanh Phương và ôm lẫn nhau để khóc tiễn nàng.
Nhưng thì giờ bắt buộc ai nấy phải rời nhau để bà Tuân và Phương ra xe ô-tô về bên nhà. Vì hôm sau, Vĩnh làm lễ cưới.
Bà Nghè đứng dậy, hỉ mũi, quệt nước mắt, vẫn mếu máo, nói :
- Mừng cho mợ thì mừng thật, nhưng đẻ nhớ quá, tiếc quá.
Rồi bà lại khóc. Bà Tuần quạt cho dâu-gia :
- Cũng là giời xui khiến như thế, cháu nó không được hầu hạ cụ nữa .
Bà Nghè ngồi nghỉ trên giường :
- Vâng, tôi thấy tình cảnh mợ ấy như thế mà cứ kiên gan, chả lẽ lôi là mẹ chồng lại khuyên mợ ấy tái giá.
Cơm cúng dọn xuống, cả gia-đình quây quanh mâm, ăn với Phương một bữa cuối cùng.
Ai cũng cố ghìm sự sum họp cho lâu hơn. Nhưng không ai có chuyện gì để nói. Mà có nói cũng dè dặt, vì không ai muốn gợi sự động tâm vào cuộc sắp ly biệt này.
Chiều sẩm. Bà Tuần xin ra xe. Thúy và Liêm đưa Phương về bên nhà.
Bà Nghè tiễn con dâu ra tận đường cái.
Lúc Phương vái bà để bước chân lên xe, bà bâng khuâng, nhìn về phía cánh đồng làng.
Bà cố nhịn khóc để lúc phân ly được êm đềm, vui vẻ.
Mọi người chào bà. Bà cúi đầu chào lại.
Xe mở máy, từ từ chuyển bánh.
Bà thở dài quay đi, không nhìn theo nữa. Bà che áo lên đầu, để giấu không cho ai trông thấy bà khóc một mình.
Rồi xe tung bụi chạy như bay.
Trong bầu trời xám như gio, còn rớt lại chút ánh tà-duơng đương hấp-hối. Một hồi chuông chùa ngân nga, thong-thả và não-nùng, rền rĩ như những tiếng kêu thương.
-HẾT-
Nguồn: VD QLVNCH và BVCV
Mời Đọc/Lấy về Bản chụp dạng PDF
PDF Truyện dài (NXB Đời Mới, 1943 - 188 Tr.)
Tham khảo: Các bài viết liên quan






0 comments:
Đăng nhận xét
[im]your image url..[/im]
[youtube]your video url..[/youtube]
[si="10"]your text[/si]
[co="red"]your text[/co]
〈div style=""〉 TEXT〈/div〉