Thứ Tư, 11 tháng 12, 2024
Thứ Năm, 21 tháng 12, 2023
Hai chứng nhân lịch sử của Báo CAND
Kỷ niệm 77 năm Báo CAND phát hành số đầu tiên (1/11/1946 - 1/11/2023)
Hai chứng nhân lịch sử của Báo CAND
Đại gia đình nhà văn Nguyễn Công Hoan trong bức ảnh chụp Tết Giáp Thìn 1964, trước khi đồng chí Nguyễn Tài (bìa phải) bí mật lên đường vào chiến trường miền Nam.Những vị tiên chỉ của báo chí CAND
Khoảng giữa năm 1946, Việt Nam Công an vụ (tổ chức tiền thân của Bộ Công an, khi đó thuộc Bộ Nội vụ) chủ trương ra một tờ báo, lấy tên là Báo Công an mới nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục, nâng cao trình độ cho anh em công an; giác ngộ cách mạng cho nhân dân. Chỉ sau 3 tháng chuẩn bị, ngày 1/11/1946, tờ Công an mới chính thức ra mắt bạn đọc, bán rộng rãi trên toàn quốc. Báo Công an mới ra mỗi tháng 2 số, vào ngày 1 và 15. Số 1 dày 16 trang, từ số 2 tăng lên 20 trang; lượng phát hành trong 3 số đầu là 3.000 bản/kỳ. Số 4 in 5.000 bản nhưng chưa kịp phát hành thì Toàn quốc kháng chiến bùng nổ vào đêm 19/12/1946.
Tòa soạn Báo Công an mới đặt tại số 11 phố Trần Bình Trọng, Hà Nội. Ngay số 1, ở phần Lời nói đầu, tờ báo đã nêu rõ tôn chỉ, mục đích và nhiệm vụ:
"Để phổ cập trong quần chúng tinh thần mới của Công an, để thắt chặt tình liên lạc giữa anh em cùng một ngành hoạt động trong toàn quốc, Việt Nam Công an vụ cho xuất bản tờ Công an mới.
Đứng về phương diện Báo, Công an mới sẽ có những mục điều tra, phóng sự, tường thuật viết theo tài liệu xác thực và đầy đủ, những sản phẩm đặc biệt của Công an mà chỉ Công an mới có. Gây một tinh thần vui vẻ, gợi khiếu tò mò, nhận xét của độc giả, phổ cập những thường thức về những vấn đề xã hội, luật pháp, chuyên nghiệp của Công an... Đó cũng là một phần chính của tờ Công an mới”.Việc chỉ đạo ra báo và tổ chức bộ máy của tờ Công an mới lúc này rất gọn nhẹ, gồm: Chỉ đạo xuất bản báo là đồng chí Lê Giản, Giám đốc Việt Nam Công an vụ; xin giấy phép xuất bản: Nguyễn Tài, Bí thư Đoàn Công an cứu quốc; Chủ nhiệm báo: Nguyễn Tuấn Thức; Chủ bút: Phan Mạnh Hân (tức Đào Văn Bảo); ủy viên Trị sự: Phùng Duy Tiếu… Theo sự phân công, với danh nghĩa là Bí thư tổ chức Đoàn Công an cứu quốc, đồng chí Nguyễn Tài đứng ra xin giấy phép hoạt động cho tờ báo có tên là Công an mới. Người cấp giấy phép chính là thân phụ của ông, nhà văn nổi tiếng Nguyễn Công Hoan, khi đó giữ cương vị Giám đốc Kiểm duyệt Bắc Bộ. Do vậy sau này, các tư liệu, tài liệu lịch sử báo chí CAND đều trân trọng ghi nhận hai ông là những “Chứng nhân lịch sử” đã giữ vai trò chủ chốt khai sinh Báo CAND. Trụ sở Báo CAND tại 66 Thợ Nhuộm trước đây và phòng truyền thống Báo CAND hiện nay tại số 2A Đinh Lễ (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) đều đặt trang trọng bức tượng nhà văn Nguyễn Công Hoan, cùng một số tư liệu về Anh hùng LLVTND Nguyễn Tài.
Tượng bán thân nhà văn Nguyễn Công Hoan tại Phòng truyền thống Báo CAND (số 2A Đinh Lễ, phường Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội).Dấu ấn của hai cha con nhà văn nổi tiếng
Tại phòng lưu niệm nhà văn Nguyễn Công Hoan, chúng tôi bồi hồi ngắm bức tượng đồng bán thân của ông, y chang bức tượng hiện đang trưng bày ở phòng truyền thống Báo CAND. Trong phòng, có nhiều hiện vật mà lúc sinh thời, nhà văn lớn thường sử dụng, như bút viết, máy ghi âm, chiếc áo rét đã sờn cổ… Chỉ vào chiếc bàn gỗ, chị Đoan kể: “Chiếc bàn gỗ lim này được ông nội tôi sử dụng từ những năm 1930, khi cụ dạy học Nam Định, Thái Bình. Chiếc bàn hình chữ nhật, mặt có kích thước 140cm x 75cm; hộc bàn có 5 ngăn kéo để đựng tài liệu, sách vở. Ban đầu, chân bàn khá cao, nhưng sau phải cưa bớt để phù hợp với chiều cao của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Chiếc bàn rất gắn bó với nhà văn, mỗi khi gia đình di chuyển, nó đều được mang theo. Trên chiếc bàn đó, ông nội tôi đã viết các tác phẩm nổi tiếng như “Bước đường cùng”, “Đống rác cũ”,… Sau khi ông mất, bố tôi lại dùng chiếc bàn này để làm việc ở nhà” …
Số phận chiếc bàn cũng rất gắn bó với Báo CAND, bởi theo lời chị Đoan, sau khi gia đình chị chuyển khỏi địa chỉ 66 Thợ Nhuộm, Tòa soạn Báo CAND về đóng tại đây. Một thời gian sau, lãnh đạo Báo CAND xin cái bàn đó, đặt tại Tòa soạn để làm kỷ niệm. Sau này khi đại tá Đặng Đình Thành, Phó Tổng Biên tập (là người cùng quê làng Xuân Cầu với nhà văn Nguyễn Công Hoan) nghỉ hưu, đã xin cái bàn đó mang về quê… Chị Đoan xúc động kể tiếp về hành trình của chiếc bàn: “Cuối 2019, anh Đặng Đình Thành gọi điện, nói là muốn giao lại cái bàn cho gia đình cụ Hoan. Mừng quá, tôi và em Đại về quê anh để nhận lại ngay. Vậy là sau bao nhiêu năm lưu lạc, chiếc bàn kỷ vật của gia đình đã được trở về đúng nơi nó cần hiện diện”.
Tại phòng lưu niệm Anh hùng LLVTND Nguyễn Tài, chị Ngọc Đoan kể:
“Bố tôi có tên khai sinh là Nguyễn Tài Đông. Lúc sinh thời, bố tôi lý giải:
Nguyễn là họ; Tài là tên đệm được đặt theo quy ước của dòng họ để phân biệt thế hệ; Đông là lấy theo nơi sinh, vì ông được sinh ra ở thị xã Hải Dương, khi đó gọi là phố Đông. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông lấy bí danh là Nguyễn Tài. Về sau ông dùng luôn tên này trong công tác, và dần dần hầu như mọi người quên mất tên thật của ông” …
Tháng 3 năm 1964, khi đang là Cục trưởng một đơn vị nghiệp vụ của Bộ Công an, đồng chí Nguyễn Tài xung phong đi B chi viện An ninh miền Nam và giữ cương vị Thường vụ Thành ủy Sài Gòn, Trưởng Ban an ninh T4. Trong một chuyến công tác cuối tháng 12/1970, ông bị địch bắt và giam cầm cho đến ngày 30/4/1975.
Trong phòng lưu niệm Anh hùng LLVTND Nguyễn Tài, có nhiều đồ dùng cá nhân, vật dụng kỉ niệm được gia đình giữ gìn như bộ quần áo kiểu ký giả ông thường mặc trong những dịp lễ trọng; tài liệu, radio, máy cassete hay chiếc máy ảnh từ những năm trước khi đi B. Trong một tủ kính, trên nền cờ đỏ sao vàng, có hình nhân một người tù và con chó được ông bện từ vải, giấy và vỏ khoai lang trong thời gian bị địch bắt, giam tại số 3 Bạch Đằng (Sài Gòn) từ năm 1971… Ngoài ra, có tấm bản đồ Việt Nam được xếp từ bộ quân cờ tướng do ông tự mày mò chế ra, cũng là hình tượng bài thơ “Ngọn lửa” ông sáng tác trong tù. Trên chiếc bàn gỗ lim mà nhà văn Nguyễn Công Hoan đã dùng từ những năm 1930, có một chiếc máy chữ đồng chí Nguyễn Tài sử dụng lúc sinh thời; một bộ computer có cả máy in… Chị Đoan cho biết:
“Sau này, bố tôi học và sử dụng thành thạo máy tính để cập nhật thông tin và soạn thảo văn bản, tài liệu”.
Một kỷ niệm sâu sắc về ông nội Nguyễn Công Hoan khiến chị Đoan bồi hồi mỗi khi nhắc lại:
“Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn được giải phóng. Lúc 9 giờ tối ngày 4/5/1975, ở nhà nhận được tin bố còn sống, ông đi bộ ngay trong buổi tối ấy sang nhà cô Minh, là em ruột bố tôi, nhà ở số 72 Lý thường Kiệt. Đến nơi, ông không vào nhà, chỉ đứng ở cửa nói với cô Minh: “Anh Tài còn sống!”. Rồi ông tôi quay gót, xuống cầu thang đi về luôn. Bao nhiêu buồn lo được trút bỏ; ông bà tôi mong ngày được gặp mặt con trai để thỏa lòng thương nhớ xen lẫn cảm xúc tự hào”.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan (bìa phải) và 4 cháu nội(từ phải qua là các anh chị: Nguyễn Thị Hòa Bình, Nguyễn Trường Đại, Nguyễn Trường Thống Nhất, Nguyễn Ngọc Đoan).
Ảnh chụp phía trước căn phòng của gia đình (ở từ 1964 đến đầu 1976) tại số 66 Thợ Nhuộm.
Bàn làm việc cùng những vật dụng của nhà văn Nguyễn Công Hoan và con trai, Anh hùng LLVTND Nguyễn Tài. Nội dung Chế phong vua Bảo Đại ban cho giáo học Nguyễn Công Hoan
Đáng chú ý, trong số các kỷ vật của nhà văn Nguyễn Công Hoan, có bản chế phong của vua Bảo Đại ban khen giáo học Nguyễn Công Hoan ngày 2/5/1944 (năm Bảo Đại thứ 19). Theo chị Ngọc Đoan cho biết, ngày 5/3/2023 gia đình tổ chức lễ kỷ niệm 120 năm ngày sinh của nhà văn Nguyễn Công Hoan (6/3/1903 - 6/3/2023). Trước đó 3 ngày, người em họ là Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học xã hội, PGS.TS Vũ Hùng Cường, tìm thấy trong kho tư liệu của Viện bản sắc phong vua Bảo Đại ban cho giáo học Nguyễn Công Hoan. PGS.TS Vũ Hùng Cường đã scan và in ra theo kích thước thật (140 x 70) và mang tặng gia đình đúng ngày tổ chức lễ kỷ niệm.
Nội dung chế viết:
“Nhận mệnh trời, vận số hưng thịnh Chế của Hoàng đế, rằng: Trẫm lập nền chính trị, dùng người theo chế độ luận công, xét tài mà đặt chức vị khiến công việc phù hợp với năng lực.
Nghĩ khanh, giáo học Nguyễn Công Hoan, có tài năng văn học, tài khí đáng trọng, có tác dụng bồi dưỡng danh giá, tiếp tục tiến lên, làm quan thận trọng, trong sạch chuyên cần, không lúc nào quên. Thật đáng khen khanh ở triều đình.
Nay thăng (cho khanh làm) chức Phụng nghị Đại phu, Hàn lâm viện thị độc, ban cho chế này. Mong khanh xứng đáng là bậc mô phạm, giáo dục người, làm nòng cốt cho đất nước để xứng đáng với sự trọng văn (của trẫm).
Kính thay!”
Cuối chế có đóng dấu “Sắc mệnh chi bảo”, tức dấu báu ban sắc của mệnh vua.
Gia đình nhà văn trân trọng đón nhận phiên bản chế phong của vua Bảo Đại ban khen giáo học Nguyễn Công Hoan.
Chị Nguyễn Ngọc Đoan, cháu nội nhà văn Nguyễn Công Hoan, giới thiệu về bức Chế phong của vua Bảo Đại ban khen giáo học Nguyễn Công Hoan.
Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2023
Ngôi nhà 66 Thợ Nhuộm và kỷ niệm về một thời đạn bom
Ngôi nhà 66 Thợ Nhuộm
và kỷ niệm về một thời đạn bom
LTS: Con trai nhà văn Nguyễn Công Hoan, đồng chí Nguyễn Tài, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, là một trong những người sáng lập tờ báo Công an mới - tiền thân của Báo CAND ngày nay, xuất bản số đầu vào ngày 1/11/1946... Nhân kỷ niệm 77 năm Ngày Truyền thống Báo CAND, tòa soạn trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết của tác giả Nguyễn Ngọc Đoan, con gái đồng chí Nguyễn Tài, ghi lại những hồi ức về căn nhà lịch sử 66 Thợ Nhuộm...
Nhà văn Nguyễn Công Hoan (bìa phải) và 4 cháu nội(từ phải qua là các anh chị: Nguyễn Thị Hòa Bình, Nguyễn Trường Đại, Nguyễn Trường Thống Nhất, Nguyễn Ngọc Đoan).
Ảnh chụp phía trước căn phòng của gia đình (ở từ 1964 đến đầu 1976) tại số 66 Thợ Nhuộm.
Nhà 66 có hai cái cổng. Cổng to thường được mở làm lối đi chung cho các gia đình. Ngay trước cổng có cây hoa sữa. Mùa hè ve ở cây kêu vang khắp phố, bọn trẻ con trong khu phố thường đến lấy nhựa ở cây để dính bắt ve. Còn cái cổng bé thì thường đóng, có cây hoa đại khá to. Trên tường rào giữa hai cái cổng có giàn hoa ti-gôn phủ kín; vào mùa hoa rộ thì từng chùm hoa màu hồng làm cho ngôi nhà thêm sắc màu nhẹ nhàng mà rất sang trọng. Trước nhà có khoảnh sân rộng nên thường được khu phố mượn làm chỗ đổi bánh mì hằng ngày. Thẳng cổng lớn vào là cái gara ô tô, kế tiếp là dãy nhà ngang, chia làm 4 gian nhỏ, được dùng làm bếp cho 4 gia đình. Giữa hai khối nhà là cái sân.
Gia đình chúng tôi ở một phòng ở tầng 1, phía tay phải, giáp nhà số 64. Cửa ra sân có bậc thềm và bệ ở hai bên mà chúng tôi thường ngồi chơi, sau này là chỗ ông nội tôi để chậu cây cảnh. Ông nội có cái giường con và bàn làm việc kê ở phía ngoài phòng chính (nhà Pháp thời xưa thì đó là chỗ để cái móc treo áo, mũ khi mới vào nhà), hai bên cửa ra vào có hai cửa sổ. Trong buồng chính kê tủ áo của ông bà, cái giường đôi, bộ phản bằng gỗ lim, bàn ăn và tủ gương được kê làm bàn thờ ở phía trên; phía sau cánh cửa thì để cái giá sách. Một buồng nhỏ ở phía trong (trước kia chắc là phòng tắm) kê tủ áo và giường đơn, có cửa đi ra phía sau. Những năm Mỹ ném bom, các cửa kính trong nhà đều được dán thêm băng giấy hình chữ X ở ô kính để tránh bị nứt vỡ.
Về ở Thợ Nhuộm, ông nội tôi đã nghỉ hưu. Ông thường hay viết bài cho Báo Văn nghệ, mục “Chữ và nghĩa”, hay “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”; viết về những kỷ niệm, những điều ông quan sát được xung quanh mình qua nhiều năm tháng. Ông bảo là ghi lại để cho thế hệ sau biết được. Ban đêm, có khi thấy ông đang nằm thì ngồi bật dậy, ra bàn bật đèn ngồi viết, một lúc rồi lại tắt đèn, đi nằm. Đấy là lúc ông chợt nghĩ ra ý gì, câu gì hay nên phải ngồi dậy ghi ngay kẻo sáng mai quên. Hồi ấy giấy bút còn thiếu thốn nên ông dùng bút mực chấm (chứ không dùng bút máy) và các tờ giấy một mặt trơn, một mặt nhám, hoặc giấy đã dùng một mặt. Ông đặt tên cuốn sách là “Nhớ gì ghi nấy”. Thời gian này, ông cũng hoàn thành và cho xuất bản cuốn “Đời viết văn của tôi”. Hồi đó, có mấy cô nhà văn, nhà nghiên cứu văn học như Lê Thị Đức Hạnh, Nguyễn Thị Ngọc Tú,... thường hay đến hỏi chuyện ông, nhờ ông dạy cách viết truyện.
Ông còn có một cái máy ghi âm, do nữ nhà văn Ba Lan tên là Monica tặng ông. Ông mừng lắm, vì có cái để ông thực hiện dự án “Hỏi chuyện các nhà văn”. Bây giờ cái máy ghi âm ấy vẫn được gia đình tôi lưu giữ cẩn thận.
Một câu chuyện cũng không thể không kể, đấy là chuyện về cái bàn làm việc của ông nội tôi. Cái bàn làm bằng gỗ lim, đã theo ông từ những năm 30 thế kỷ XX, từ Nam Định đi các nơi và đã chứng kiến sự ra đời rất nhiều tác phẩm của ông. Khi chúng tôi bắt đầu hiểu chuyện thì đã thấy cái bàn đó ở Bưởi, rồi về 66 Thợ Nhuộm, khu tập thể Trung Tự. Ông dùng cho tới khi mất thì bố tôi dùng tiếp. Khi tòa soạn Báo CAND về đóng tại 66 Thợ Nhuộm một thời gian, Tổng Biên tập là anh Hữu Ước xin cái bàn đó, đặt tại tòa soạn để làm kỷ niệm. Tới khi tòa soạn chuyển đi, anh Đặng Đình Thành, Phó Tổng Biên tập, là người làng Xuân Cầu (cùng quê với ông nội tôi) xin mang cái bàn đó về nhà ở quê. Cuối 2019, anh Thành gọi điện cho gia đình tôi, bảo là muốn giao lại cái bàn cho gia đình cụ Hoan. Mừng quá, tôi và em Đại về quê anh nhận lại ngay. Sau bao nhiêu năm “lưu lạc”, cái bàn đã được quay về đúng nơi nó cần hiện diện.
Ông thích trồng cây, hoa cảnh. Trước nhà có cái bồn, ông trồng hoa hồng, xung quanh là dãy lan báo hỷ. Sát tường rào có một rẻo đất, có xây bờ be lên. Khi cây hoa sữa bị chặt đi, ông xin về mấy cây tre đằng ngà trồng vào đấy, sau lớn thành một bụi tre có bóng mát, thành ra là giữa phố Tây mà lại có cái nhà có bụi tre rất đẹp. Năm 1975, sau khi giải phóng miền Nam, ông vào Sài Gòn để viết bài. Ông xin được mấy cây hoa như: Cây sứ Thái Lan, thu hải đường, sen cạn. Ông thích lắm. Những lúc rỗi rãi, ông hay tưới, chăm sóc cây rất kỹ. Cây sứ Thái Lan bây giờ vẫn còn, chúng tôi cắt cành mang về trồng ở mộ của ông bà.
Có lần trời mưa bão, nước ngập cao trong sân, cánh cổng nhà bị hỏng nên buổi tối không khóa lại được. Đến đêm, trộm vào, bê đi mất một ít bát đĩa, cặp lồng để ở sân và một chậu hoa của ông. Sáng ra, ông tiếc lắm nhưng tự an ủi là: “Thôi, ít ra thằng trộm nó cũng là người thích chơi hoa”.
Hồi tôi học lớp 6, lớp 7, thỉnh thoảng ông lại bảo hai chị em gái giúp ông chép mấy truyện ngắn để đưa nhà xuất bản in. Mỗi lần có tiền nhuận bút, ông lại đưa cả nhà đi ăn phở ở Lê Văn Hưu. Hồi đó, hàng ăn ít, cả Hà Nội chỉ có mấy quán phở ngon, có tiếng.
Thời bao cấp, mua cái gì cũng phải tem phiếu, xếp hàng. Ông thường nhận việc đi mua gạo, phải đi bằng xe đạp vì cửa hàng gạo ở xa và phải chở gạo về nữa. Mà mỗi lần chỉ được mua ít thôi chứ không được mua hết tiêu chuẩn trong sổ. Có lần đi mua gạo về, ông kể: Hôm nay xếp hàng dài quá, có người nhận ra ông, thế là nhường chỗ cho ông mua trước. Rồi còn việc đi mua củi, mùn cưa; sau này còn đun nấu bằng trấu, có cái lò nấu trấu (trông giống như cái bếp nấu lẩu), mỗi khi nấu cứ phải ngồi gõ cạch cạch để trấu rơi xuống.
Bà nấu nướng rất giỏi. Bà dạy cho chúng tôi cách làm bếp thế nào cho gọn gàng, nấu các món ăn đơn giản mà ngon miệng. Một bữa ăn hằng ngày không nhiều món nhưng rất hài hòa, khoa học. Còn khi nào nấu cỗ thì khỏi nói, món nào cũng chuẩn. Bà có nhiều món ăn ngon lắm, thí dụ như các món ăn với rươi: Mắm, chả, nấu canh, xào với củ niễng; rồi món cuốn tôm rang thịt luộc kèm với bỗng rượu xào chua ngọt,...
Ông bảo là ăn các món mắm thì phải đủ các vị chua, cay, mặn, chát. Không chỉ là các vị, mà còn là sự “chế” nhau của các thứ đó, sao cho ăn ngon miệng và dễ tiêu hóa. Đấy là nghệ thuật ăn uống.
Tết đến bao giờ nhà cũng gói bánh chưng. Bà gói bánh với mong mỏi biết đâu bố Tài được về ăn Tết. Thương lắm nỗi khắc khoải chờ con. Bà gói bánh đẹp lắm, ngày xưa chỉ gói bằng tay chứ không có khuôn như bây giờ. Bà dạy cách rửa lá, rọc cuống lá, đãi đậu, nấu đậu, làm nhân thịt... Ông thì nhận phần luộc bánh. Thức đêm mà luộc bánh với ông thì thích lắm, ông hay lùi vào tro mấy củ khoai lang và kể chuyện cho nghe. Rồi năm nào cũng có một vại dưa hành muối với 10 kg dưa cải Lạng Sơn nén cả cây, 10 kg hành củ. Bà bảo ra Giêng là giáp hạt rau, có vại dưa, nấu canh dưa với lạc ăn với rau diếp là ngon lắm rồi. Mà quả thật, món đó bây giờ cả nhà tôi vẫn thích. Để có vại dưa hành vàng ươm, thơm ngon, bà dùng cây mía chẻ ra, xếp thành nan, rồi chặn hòn đá lên trên. Sợ nhất là trời rét mà phải ngồi rửa dưa, rửa lá gói bánh, đãi đậu, nhưng bù lại là học được ở bà những điều mà nó theo tôi suốt cuộc đời.
Thấy mấy mẹ con làm mứt tết, ông hỏi đùa: “Cứ trộn các thứ với đường thì làm thành mứt chứ gì? Vậy, bây giờ tôi làm “mứt rơm” có được không?”.
Cũng với tính dí dỏm ấy mà ông đã từng làm cho “nhà chức trách” phải “khó nghĩ”. Chả là, có một lần cảnh sát khu vực đến nhà gặp ông để làm kê khai về hộ khẩu. Đến mục “Trình độ văn hóa”, ông khai là “đọc thông viết thạo”. Anh cảnh sát khu vực tần ngần: “Bác có nói nhầm không ạ? Bác là nhà văn lớn mà sao lại chỉ có đọc thông viết thạo?”. Ông cười: "Tôi nói đúng đấy. Hồi trước tôi học theo văn bằng của Pháp thì chỉ tương đương hết phổ thông bây giờ. Tôi chỉ là thầy giáo tiểu học. Theo anh, tôi nên khai như thế nào?". Anh cảnh sát khu vực vẫn băn khoăn: “Cháu mà ghi như thế thì lãnh đạo của cháu không nghe đâu”, nhưng biết làm thế nào được.
Thỉnh thoảng bà cũng đi xem hát ở rạp và cho mấy chị em đi xem, khi thì vở cải lương “Nhị Độ Mai”, khi thì vở chèo “Quan Âm Thị Kính”, “Thị Màu lên chùa”... Còn bé nên chúng tôi không hiểu mấy, thế là bà lại giảng giải cho nghe.
Ở phía tường rào, ông làm cho chúng tôi cái giàn để trồng mướp. Những năm Mỹ đánh phá miền Bắc, cơ quan Bộ làm cho các gia đình cái hầm trú ẩn kiểu cuốn tò vò ở cái ngách giữa tường nhà 64 và nhà tôi, trên đổ đầy đất. Đấy cũng là một chỗ để lũ trẻ con chơi trốn tìm. Trẻ con trong khu nhà ấy có 8 đứa, thường hay theo chị Thành (con ông bà Minh già) để nghe chị kể chuyện ma. Cả lũ phải chui vào chỗ chân cầu thang lên gác 2, tắt hết đèn đi thì chị ấy mới kể. Rồi còn nhiều trò nghịch ngợm tinh quái khác. Cả khu nhà có một cái bể to để chứa nước, đậy ở trên là tấm tôn rất to. Mùa hè, bọn con trai rủ nhau buổi tối nhảy vào bể nước để bơi, nghịch; hôm sau các nhà lại dùng nước ấy để giặt giũ, rửa rau vo gạo. Nhà số 64 có cây sấu rất to, chĩa cành sang bên này, chúng tôi thường lên nhà bác Hoàng Mai ở tầng trên, hái lá sấu non, quấn vào mấy hạt muối giả làm trầu không rồi nhai bỏm bẻm. Còn nhà số 68 thì có giàn nhót rất sai quả, chìa sang sân nhà; cái sân to phía trước nhà thường là chỗ cho các bạn của chúng tôi đến tập văn nghệ, tập tành thì ít mà công kênh nhau lên hái nhót thì nhiều.
Năm 1968, khi Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, các trường bắt đầu về lại Hà Nội, mấy chị em tôi đều đi học ở các trường gần nhà như cấp 2 Trưng Vương, cấp 3 Lý Thường Kiệt. Vì thế, chúng tôi đi bộ đến trường.
Từ nơi sơ tán về, ông bà mang theo cái chõng tre. Chúng tôi cùng bạn bè thường ngồi chơi hoặc học bài trên cái chõng ấy. Ngồi ở sân nên nhiều khi cũng có những trò nghịch ngợm tinh quái, đấy là trêu người đi đường. Có lần thấy có một chị đi ngang qua, thế là một đứa nói to: “Chính “trị” này”, làm chị ấy giật mình nhìn vào, thế là lại đọc tiếp: “Toán này, sinh vật này...”, hóa ra là hắn đọc thời khóa biểu...
Những năm này, mẹ tôi phải đi công tác xa nhà. Khi thì phụ trách trại trẻ sơ tán gồm con các cán bộ của Bộ, khi thì đi học đại học, rồi lại về dạy ở trường C500. Đến tận cuối năm 1973, mẹ tôi mới được về cơ quan Bộ nhưng cũng hay phải đi công tác các tỉnh. Lúc này, chị em tôi đã lớn, cơ quan Bộ đã cho sửa chữa lại cái gara ô tô và phân thêm cho gia đình tôi làm chỗ ở. Sau khi bố tôi ở miền Nam về, bố mẹ ở tại đó cho đến khi gia đình tôi chuyển đi.
Ở nhà với ông bà, mấy chị em phân công nhau giúp bà lo đi chợ, cơm nước hằng ngày. Khi thì đi mua thực phẩm theo tiêu chuẩn tem phiếu ở cửa hàng phố Nhà Thờ, khi thì mua thức ăn ở “chợ cóc” ngay trước cửa nhà.
Từ cuối năm 1970, ở nhà không nhận được thư bố từ miền Nam nên rất lo lắng. Tháng 3/1973, bà vào gặp Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn để hỏi thì mới biết là bố bị địch bắt; ông bà và mẹ buồn lắm nhưng vẫn phải giữ kín. Bà theo đạo Phật. Những năm này, bà thường hay đi chùa, ăn chay vào những ngày mùng 1 và ngày rằm âm lịch. Ông cho là bà mê tín dị đoan nên bảo bà là không được đi chùa. Bà không cãi gì, chỉ nói một câu: “Khi nào Cụ Hồ bảo không được đi chùa thì tôi không đi nữa”. Thế là ông phải chịu. Có lẽ đi chùa đọc kinh, niệm Phật cũng là một cách làm cho bà thấy thư thái trong lòng, vơi bớt nỗi lo âu vì bặt tin bố.
Ông bà càng thương các cháu hơn. Hồi chị Hòa Bình hết cấp 3, được đi học nước ngoài, ông cũng lên Bộ Đại học xin cho chị đi học ở Liên Xô, vì thường hay có người quen đi về, có thể gửi thư, quà, thuốc men cho chị được. Anh Thống Nhất học hết cấp 3 thì đi nghĩa vụ quân sự, sau đó được quân đội chọn đi học ở Liên Xô, ông rất mừng.
Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn được giải phóng. 9 giờ tối ngày 4/5/1975, ở nhà nhận được tin bố còn sống, ông đi bộ ngay trong buổi tối ấy sang nhà cô Minh, là em ruột bố tôi, nhà ở số 72 Lý Thường Kiệt. Đến nơi, ông không vào nhà, chỉ đứng ở cửa nói với cô Minh: “Anh Tài sống rồi”. Rồi ông quay gót, xuống cầu thang đi về luôn. Bao nhiêu buồn lo được trút bỏ, ông bà mong ngày được gặp mặt con trai để thỏa lòng thương nhớ xen lẫn cảm xúc tự hào. Công việc của thành phố mới giải phóng vô cùng bộn bề, bố chưa về gặp gia đình ngay được. Một lần nữa, ông bà lại nén tình cảm riêng vì việc lớn của đất nước, nỗi lo vẫn còn đó.
Thư của bà ngày 8/5/1975:
“Con ơi, hơn mười một năm rồi bao nỗi lo sợ, nhớ mong, nay được tin con còn sống, mừng rỡ vô cùng,... Hôm giải phóng Sài Gòn càng mừng lại hồi hộp mong tin con,..., đến 12 giờ trưa hôm 5,... điện của ông bộ trưởng gửi về, nói là sức khỏe anh Tài tốt, hơi gầy, cần ở lại công tác, xin cho chị Bắc vào ngay gặp anh Tài. Tin ấy rõ quá, thấy con được tiếp tục công tác thì bố mẹ mừng lắm, nếu vì nhẽ gì mà con không tiếp tục được công tác thì cũng đáng tiếc. Mẹ cũng hiểu như thế, nhưng sao lòng nó vẫn bàng hoàng như chiêm bao vì vẫn chưa trông thấy con; giá được gặp con mà ôm con cho hả dạ....”.Ông thì viết:
“Điện của con, đến chiều ngày 9 mới tới... Thế là nhà biết đích xác con bị bắt ngày nào, được ra ngày nào và ở đâu. Lại cũng biết sơ sơ các ngày con ở trong tù,... và cũng có thể tưởng tượng được sức chịu đựng gian khổ và tinh thần bất khuất của con... Cậu cũng biết là Đảng hết sức cứu con và có theo dõi những chỗ ở... Nghe con nói nó bắt ngồi thức liền 14 đêm ngày thì thấy nó ghê thật, mà con đã thắng được nó, thì ai cũng phải khâm phục...”.Ngày 29/6/1975, tại nhà 66 Thợ Nhuộm, ông bà và chúng tôi vui mừng đón bố tôi trở về sau hơn 11 năm xa cách, nhớ mong. Chỉ khi ông bà được tận mắt nhìn thấy con, tận tay ôm con vào lòng, niềm vui mới được trọn vẹn.
Đến ngày 25/1/1976, tức là 25 tháng Chạp năm Ất Mão, sau hơn 11 năm sống tại nhà 66 Thợ Nhuộm, cả gia đình tôi chuyển xuống nhà B4 khu tập thể Trung Tự, đón Tết Bính Thìn ở nhà mới.
Thời thơ ấu của chúng tôi gắn liền với ngôi nhà 66 Thợ Nhuộm với biết bao kỷ niệm không thể kể hết. Đến nay, nhà 66 Thợ Nhuộm đã được sửa chữa lại nhiều và được dùng làm nơi làm việc của một đơn vị thuộc Bộ Công an.
Bàn làm việc cùng những vật dụng của nhà văn Nguyễn Công Hoan và con trai, Anh hùng LLVTND Nguyễn Tài.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan và cháu gái Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Ngọc Đoan (tháng 7/1971), sau lưng là bụi tre đằng ngà.
Vợ chồng Nhà văn Nguyễn Công Hoan và 2 cháu trai Nguyễn Trường Thống Nhất (bìa trái), Nguyễn Trường Đại, năm 1973.
Vợ chồng Nhà văn Nguyễn Công Hoan và con trai Nguyễn Tài mới ở miền Nam trở về sau hơn 11 năm xa cách (29/6/1975).Thứ Năm, 14 tháng 12, 2023
Phát hiện Chế phong của vua Bảo Đại ban khen nhà văn Nguyễn Công Hoan
Phát hiện Chế phong của vua Bảo Đại
ban khen nhà văn Nguyễn Công Hoan
Nghĩ khanh, giáo học Nguyễn Công Hoan, có tài năng văn học, tài khí đáng trọng, có tác dụng bồi dưỡng danh giá, tiếp tục tiến lên, làm quan thận trọng, trong sạch chuyên cần, không lúc nào quên. Thật đáng khen khanh ở triều đình...
Gia đình nhà văn trân trọng đón nhận phiên bản chế phong của vua Bảo Đại ban khen giáo học Nguyễn Công Hoan.Trước cách mạng Tháng Tám, nhà văn Nguyễn Công Hoan làm nghề dạy học ở một số tỉnh phía Bắc và viết văn. Ông sớm nổi tiếng trên văn đàn và để lại di sản hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài, nhiều tiểu luận văn học; trong đó có những tác phẩm tiêu biểu như “Bước đường cùng”, “Kép Tư Bền”, “Người ngựa, ngựa người”, “Lá ngọc cành vàng”, “Tắt lửa lòng”…
Theo chị Ngọc Đoan cho biết, vào dịp gia đình tổ chức kỷ niệm 120 năm ngày sinh của nhà văn Nguyễn Công Hoan (6/3/1903 - 6/3/2023), một người em họ là PGS.TS Vũ Hùng Cường, Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học xã hội, tìm thấy trong kho tư liệu của Viện bản sắc phong của vua Bảo Đại ban cho giáo học Nguyễn Công Hoan. PGS.TS Vũ Hùng Cường đã scan và in lại theo kích thước thật (140 x 70) và mang tặng gia đình.
“Nhận mệnh trời, vận số hưng thịnh Chế của Hoàng đế, rằng: Trẫm lập nền chính trị, dùng người theo chế độ luận công, xét tài mà đặt chức vị khiến công việc phù hợp với năng lực.
Nghĩ khanh, giáo học Nguyễn Công Hoan, có tài năng văn học, tài khí đáng trọng, có tác dụng bồi dưỡng danh giá, tiếp tục tiến lên, làm quan thận trọng, trong sạch chuyên cần, không lúc nào quên. Thật đáng khen khanh ở triều đình.
Nay thăng (cho khanh làm) chức Phụng nghị Đại phu, Hàn lâm viện thị độc, ban cho chế này. Mong khanh xứng đáng là bậc mô phạm, giáo dục người, làm nòng cốt cho đất nước để xứng đáng với sự trọng văn (của trẫm).
Kính thay!”
Cuối chế có đóng dấu “Sắc mệnh chi bảo”, tức dấu báu ban sắc của mệnh vua.
Thứ Ba, 4 tháng 7, 2023
Nguyễn Công Hoan - một nhà văn lớn, một người bạn tốt
Nguyễn Công Hoan -
một nhà văn lớn, một người bạn tốt
Chủ Nhật, 30 tháng 4, 2023
Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903 – 1977)
Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903 – 1977)
Thứ Ba, 1 tháng 11, 2022
DANH MỤC TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN
NGUYỄN CÔNG HOAN CÂY BÚT HIỆN THỰC XUẤT SẮC
Phần II: Tác phẩm của Nguyễn Công Hoan - Những thành công và đóng góp.
DANH MỤC TRUYỆN NGẮN
CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN
-
1920.
- Quyết chí phiêu lưu,
- Kiếp hồng nhan,
- Sóng vũ môn (20-21-5-1920).
- Cụ đồ Ba,
- Cô hàng nước,
- Trần ai tri kỷ...
- Tôi nói dối bà thì tôi làm kiếp...
- Nhân tình tôi [1][1] Truyện này đăng ở An Nam Tạp Chí. Tản Đà đổi thành Hà thành nữ sĩ. Đổi như vậy chỉ có ý mỉa mai rằng văn thơ của nữ sĩ Hà thành chẳng qua chỉ là do đàn ông viết. (Theo Nguyễn Công Hoan - trong Đời viết văn của tôi trang 132).,
- Răng con chó của nhà tư sản (12-1929).
- Oẳn tà roằn (27-2),
- Hai thằng khốn nạn (7-6),
- Thật là phúc (9-10),
- Lập Giòong (11-12).
- Ngựa người và người ngựa (11-2),
- Nỗi vui sướng của thằng bé khốn nạn (25-3),
- Hà thành nữ sĩ [1][1] Truyện này đăng ở An Nam Tạp Chí. Tản Đà đổi thành Hà thành nữ sĩ. Đổi như vậy chỉ có ý mỉa mai rằng văn thơ của nữ sĩ Hà thành chẳng qua chỉ là do đàn ông viết. (Theo Nguyễn Công Hoan - trong Đời viết văn của tôi trang 132).,
- Một cái chương trình quyết thực hành,
- Sỹ diện,
- Chương trình năm năm.
1921.
1923.
1929.
1930.
1931.
Nguyễn Công Hoan Danh mục tác phẩm đã xuất bản
NGUYỄN CÔNG HOAN CÂY BÚT HIỆN THỰC XUẤT SẮC
Phần II: Tác phẩm của Nguyễn Công Hoan - Những thành công và đóng góp.
NGUYỄN CÔNG HOAN
DANH MỤC TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN
(Ghi theo năm xuất bản)*- 1923. Kiếp hồng nhan – Tập truyện ngắn Tản Đà thư cục
- 1929. Vần chữ Việt Nam (sách giáo dục) – Văn Hải thư điếm xb
- 1932. Những cảnh khốn nạn (còn có tên: Tay trắng, trắng tay). – Tiểu thuyết (tập I), Dương Xuân thư quán xb
- 1934. Chuyện chó chết - Xã hội ba đào ký, tập I Mai Lĩnh xb
- 1934. Người ngựa ngựa người - Xã hội ba đào ký, tập II Mai Lĩnh xb
- 1934. Hai thằng khốn nạn - Xã hội ba đào ký, tập III Mai Lĩnh xb
- 1935. Kép Tư Bền (1931) - Tập truyện ngắn, Nhà in Tân Dân
- 1935. Đảng Rổ Bẫy - Truyện dài cho thiếu nhi Tân Dân xb
- 1936. Tắt lửa lòng (1933) - Tiểu thuyết - In lần thứ nhất - Tân Dân xb, In lần thứ hai - Tân Dân xb, (Chuyển thể sang sân khấu cải lương).
- 1936. Cô giáo Minh (1935) - Tiểu thuyết, Tân Dân xb.
- 1937. Hai thằng khốn nạn - Tập truyện ngắn, Tân Dân xb.
- 1937. Tấm lòng vàng (1934) - Tiểu thuyết, Tân Dân xb
- 1937. Tình khuyển mã - Tiểu thuyết, Tân Dân xb
- 1937. Một công trình vĩ đại - Tiểu thuyết, Tân Dân xb
Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2022
Nguyên mẫu truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan ở Kinh Môn
Chuyện làng báo, làng văn
Nguyên mẫu truyện ngắn
của nhà văn Nguyễn Công Hoan ở Kinh Môn
Nhà văn Nguyễn Công Hoan đã từng dạy học tại một trường ở thị trấn Kinh Môn, khoảng những năm 30. Ngày nay, tra trên tiểu sử nhà văn, có thể xác định rõ khoảng thời gian này. Trường học ở khu vực sau này gọi là Đèo Ngựa, hoang vắng chỉ thả ngựa, hiện nay là một dãy phố đông đúc...
Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2022
Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022
Từ Điển Bách Khoa Việt Nam
Từ Điển Bách Khoa Việt Nam
Trung tâm Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam
Thứ Năm, 14 tháng 7, 2022
Nguyễn Công Hoan hồi còn nhỏ
Nguyễn Công Hoan hồi còn nhỏ
Văn Học số 240. Ngày 1-3-1963.
Trích trong “Đời viết văn của tôi”.
Thứ Hai, 11 tháng 7, 2022
Nguyễn Công Hoan và thơ
2. Về "thơ" - (Trong “Đời viết văn của tôi”)
Nguyễn Công Hoan và thơ
Xa nhau khá lâu, một hôm, vào năm 1925, tình cờ tôi gặp Hoan ở Bờ Hồ. Anh vẫn xúng xính trong cái áo the thâm và lê đôi giày Gia Định. Hoan hồng hào, rắn rỏi, những lông tơ xanh xanh ngày xưa trên mép anh bây giờ đã đen đen. Tôi khen Hoan chịu khó viết lách. Anh cười hê hê và vẫn cái lối hồi còn bé, anh rỉ vào tai tôi:
- Ấy mình viết là do một chuyện rất lạ.
- Không phải tiểu thuyết đấy chứ? - Tôi hỏi anh.
Hoan cười xoà, kể cho tôi nghe:
- Nguyên ở làng mình có một người con gái trạc tuổi mình, con nhà thi lễ. Năm mình và cô ta mới sáu bảy tuổi mà cả làng đã yên trí là lớn lên mình sẽ lấy cô ta làm vợ. Đến nỗi vài người trong gia đình cô ta cũng tin như thế. Nhưng sự thực thì thầy mẹ mình không có ý định ấy. Rồi lớn lên, cô ta đi làm dâu một ông quan to. Chồng cô ta cứ ít lâu lại tuồn ra một bài thơ. Hãnh diện về nhà chồng và về chồng, cô ta đem thơ của chồng về nhà cô ta và đọc cho mọi người nghe...
Kể đến đây, Hoan ngừng lại và cười ngất.
Tôi hỏi anh, thơ của chồng cô ta như thế nào, có hay không, thì Hoan giơ tay lên, giả vờ bịt mũi và đọc:
...Hoa có tàn hoa ủ mấy thu,
Thương ôi! Mây khói mịt mù...
Bừng con mắt, biết tiêu du cảnh nào!
Hoan lại nói cho tôi biết anh chàng "thi sĩ" này khi nói chuyện với Hoan, cứ tỏ ra "ưu thời mẫn thế" nên Hoan có làm một bài ca trù để chế giễu, và Hoan đọc cho tôi nghe. Bài khá ngộ nghĩnh, lúc ấy tôi có chép vào sổ tay.
Lo gì lo lắm,
Vắt tay nằm trên trán để mà lo.
Lo đủ điều lo nhỏ lại lo to,
Lo đến hết thở dài, rồi thở vắn,
Lo nước bể Đông ngày dãi nắng
Lo Vưòn Con Cóc khuyển làm thơ
Lo để mặt méo xệch, chân cẳng quắp co,
Lo đến cả con bò răng vẫn trắng.
Thế mới biết cái lo là lắng đắng,
Khách đa sầu gánh nặng những điều lo.
Ai ơi, lo lỏ lò lo...
Đọc xong bài ca trù, Hoan nói:
- Làm thơ kiểu thằng cha ấy thì mình có thể suy ra hàng tràng. Nhưng mình không thèm làm. Mình sẽ viết văn xuôi và nhất định phải hơn nó, cho vợ nó mất làm bộ.
Từ lần ấy, bẵng đi mười năm chúng tôi lại không gặp nhau.
[...] Nguyễn Công Hoan nói động cơ viết của anh lúc đầu là một chuyện tình duyên, nhưng theo tôi nghĩ thì anh viết được trước hết là do bản thân anh có khả năng, có tích luỹ về văn hóa, về cuộc sống. Tôi biết anh rất nhạy cảm, có cái nhìn sâu về cuộc đời, có trí nhớ dai, lại lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước. Dân tộc Việt Nam ta có nhiều gia đình nho sĩ bậc trung có lòng yêu Tổ quốc và ghét phi nghĩa. Khi có phong trào khởi nghĩa thì họ là người sẵn sàng hưởng ứng, sẵn sàng ủng hộ. Có nhiều gia đình nho sĩ ở nông thôn rắt gần với nông dân và đã có một số người trong các gia đình ấy là tác giả những văn thơ yêu nước, những bài ca, bài vè chống quan lại tham ô, chống thực dân Pháp. Cũng lại chính ở những gia đình ấy người ta đã nghe được một cách thầm kín những thơ văn khuyết danh chế giễu những "quan đại thần" ôm váy cho "đầm, xách giày cho Tây, những bài ca về phong trào Đông du và những bài vè đánh giặc Pháp xâm lược. Nhiều người trong đám nhà nho ấy cũng ra làm những chức quan nhỏ để sinh sống, nhưng trung thành với "nhà nước bảo hộ" thì không. Đó là một trong nhiều đặc điểm của dân tộc ta, nên ở nhiều thời kỳ lịch sử của dân tộc, cả nước đã đứng lên chống ngoại xâm, tầng lớp trí thức cũng như nhân dân lao động, đều một lòng đánh giặc cứu nước, chỉ một thiểu số theo giặc và cuối cùng bị tiêu diệt.
Chính ở trong gia đình mình, từ nhỏ Nguyễn Công Hoan đã được nghe những câu thơ, câu đối đả kích những kẻ quan thì to nhưng tài đức thì lại quá nhỏ. Thí dụ những loại câu như câu về một "quan đại thần" nọ đập đầu lạy vua để con được đỗ tiến sĩ và chị tên khoa bảng thì ra vào công sứ để em được bổ nhiệm:
Em nên khoa mục, cha mòn trán
Em được công danh, chị nát đồ
Và câu của Trần Tán Bình về mụ Tư Hồng vợ Tây và bố mụ được sắc phong:
Một đạo sắc phong hàm cụ lớn
Trăm năm danh giá của bà to
Nguyễn Công Hoan thuộc rất nhiều câu loại trên này, và cũng rất nhiều giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm. Những thơ ca và giai thoại này có ảnh hưởng sâu sắc đến lối viết của anh, một đặc điểm Việt Nam, tuy là văn xuôi mà rõ ràng kế tục dòng Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương về cách nhìn con người và cách đánh giá mọi việc trong xã hội.
Hồi mới bước vào nghề văn, Nguyễn Công Hoan đã tích lũy được nhiều vốn về xã hội đương thời, về văn hóa văn nghệ truyền thống, phần nhiều là truyền miệng; anh lại có một kỹ thuật khá độc đáo về miêu tả con người và sự việc, nhưng trong bước đầu anh cũng long đong như nhiều nhà văn khác.
Kiếp hồng nhan (viết năm 1921 và in thành sách năm 1923) quyển sách đầu tay của anh, ra đời vào buổi bình minh của văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ, nên anh đã cặp kè được với Nguyễn Khắc Hiếu. Những truyện ngắn của Phạm Duy Tốn như Sống chết mặc bay và Con người Sở Khanh cũng chỉ mới đăng trong một tạp chí, tạp chí Nam Phong, vào những năm 1918 và 1919, trước Nguyễn Công Hoan có vài năm. Nhưng vào thời ấy, những người chú ý đến truyện ngắn cũng không nhiều và họ cũng chưa đánh giá được đúng. Tôi đọc An Nam tạp chí để theo dõi công việc viết văn của Hoan, vì tôi nghe nói Hoan có viết cho tạp chí này, nhưng đọc Annam tạp chí, tôi thấy ngấy quá. Một hôm, tôi đọc một bài của Tản Đà và thấy ông khen Nguyễn Công Hoan làm thơ hay. Đó là câu vịnh Ông Táo của Hoan:
Thân tớ ví không lành tựa đất,
Cuộc đời hồ dễ đã ra tro.
Tôi tự nghĩ: "Quái cậu ta bảo mình là cậu ta sẽ viết văn xuôi, sao bây giờ lại đi làm thơ! Hay cậu ta viết văn xuôi bí rồi?".
Hoan đi với Tản Đà, nhưng chính Tản Đà cũng long đong.
[...]
Tình yêu văn chương ở một đứa trẻ không hình thành ngẫu nhiên mà từ nếp nhà. Với Nguyễn Công Hoan, do bố là huấn đạo (dạy học), bác đỗ đại khoa, vì thế trong nhà ông có rất nhiều sách. Bà nội thuộc dòng dõi nhà nho nên ngay từ bé, từ lời ru, lời ăn tiếng nói của bà, Nguyễn Công Hoan đã thuộc nhiều câu trong Truyện Kiều, Nhị độ mai… dù không hiểu nghĩa.
“Cố nhiên là tôi đọc lại như vẹt, ngâm ngọng. Song do đó, niêm luật của thơ ca, nhạc điệu của ngôn ngữ được luyện vào óc tôi, được nhuần vào óc tôi từ ngày ấy” - ông cho biết.Lúc ông học Trường Bưởi, Đông Dương tạp chí xuất bản thành khổ nhỏ, có phần văn chương, Trung Bắc tân văn có phần Từ phú thi ca và Đoản thiên tiểu thuyết thì trong thời gian nghỉ hè, không ngày nào ông không đọc những bài đã in trong báo đó.
Không riêng gì thơ ca, những đoạn văn có vần điệu du dương, nhịp nhàng, ông cũng đọc đến thuộc lòng. Khi Nam phong tạp chí ra đời, phần Văn uyển là chuyên mục ông thích nhất. Từ chỗ thích đọc, khiếu văn chương còn thúc giục Nguyễn Công Hoan phải viết. Tương tự Nam Cao, Tô Hoài… ban đầu, Nguyễn Công Hoan cũng làm thơ, tất nhiên chịu ảnh hưởng sâu đậm của lớp người đi trước đã thành danh.
Lúc được làm quen với thi sĩ Tản Đà, đọc
“Trời sinh ra bác Tản Đàcái mộng dan díu với “nàng thơ” ở ông tắt ngúm vì thừa biết mình không thể sánh được với bậc đàn anh.
Quê hương thời có, cửa nhà thời không”,
Nguyễn Công Hoan thường nói về thơ với một sự nghiêm chỉnh hiếm có. Trong hồi ký Đời viết văn của tôi, ông tự hào kể:
“Ngay từ những năm tôi còn nói ngọng, tôi đã thuộc một số thơ cổ của Trung quốc. Rồi tôi học phương ngôn, tục ngữ ca dao của dân tộc. Rồi tôi thích nghe những vần thơ chống Pháp của những tác giả ẩn danh do cha tôi dạy truyền khẩu…”.Vai trò của thơ được ông diễn tả bằng những lời lẽ cảm động:
“Lúc đầu tôi đọc thơ, nhưng chưa hiểu. Rồi sau, vì đọc đi đọc lại luôn, tôi hiểu dần, ý nghĩa của những bài ấy như thấm thía tí một vào trong người và rồi hình như những lời ấy là của chính tôi nói với người khác vậy”.Những khi có điều gì không được như ý, sau khi làm vài chén rượu, ông không chỉ đọc thơ mà còn làm thơ giải buồn. Trong hồi ký, ông từng chép ra nguyên văn mấy bài thơ ông đã làm.
Xem ra lời lẽ của một người suốt đời sống với thơ cũng chỉ chân thành đến vậy!
Lại nhớ, một số đoạn trong Đời viết văn của tôi được viết một cách chắt lọc nghiêm túc, ở đó tác giả thú nhận rằng từ nhỏ mê thơ thích làm thơ và chẳng qua vì ở gần Tản Đà hiểu thơ là khó nên mới nhất quyết không làm thơ mà chỉ lo viết văn xuôi. Có điều lạ là tuy sống với nghề văn một cách hết lòng — bao nhiêu vất vả đã từng trải qua, bao nhiêu vinh quang đã thụ hưởng một cách chính đáng (với những Kép Tư Bền, Bước đường cùng) – nhưng trong lòng nhà văn xuôi này tình yêu với thơ ca nẩy nở tự nhiên từ lúc thiếu thời vẫn chiếm một góc riêng. Thơ đến với ông những lúc ông thật là mình thật đơn độc, lại đến với ông những lúc ông buồn rầu, đau xót cảm thấy bất lực trong trường đời. Không cần biết của làm ra là hay hay dở và chúng có cần cho ai không, viết những câu thơ lúc ấy với ông là yêu cầu tự thân là một cách làm vợi bớt nỗi lòng. Hoá ra con người lý tưởng trong ông không bao giờ chết hẳn, ông chỉ tạm đặt nó sang một bên để làm công việc vẽ nhọ bôi hề kiếm sống hàng ngày.
Không thể nói cái có vẻ gần với mơ ước cao đẹp ngày xưa chỉ là phần thỉnh thoảng thấp thoáng hiện về trong tâm trí NCH. Mà thật ra đấy mới cái phần ẩn giấu sâu xa nơi ông. Và từ quan niệm về thơ, có thể suy rộng ra cái cách ông hiểu về sự thiêng liêng của chữ nghĩa, về sứ mệnh phải có của một người có được tiếp xúc với sách vở của cổ nhân , những việc xem là đáng làm của người cầm bút. Có thể nói tương ứng với những Tấm lòng vàng, Danh tiết, Thanh đạm … hẳn là đã có một it tín điều về văn chương nó không gì xa lạ với quan niệm của các bậc tiền bối đã hình thành nơi NCH. Chăng qua thời thế thay đổi nên thói quen cũ bị kiềm chế, cái phần tin tưởng ấy ông phải đào sâu chôn chặt trong lòng, và trong con người ông lúc nào cũng còn một kẻ chung tình bất dắc dĩ.
Đọc tham khảo:
Ta say - Thơ Nguyễn Công Hoan
Về "thơ"
(1903-1977)
Trong “Đời viết văn của tôi”.
Thứ Tư, 25 tháng 5, 2022
Nguyễn Công Hoan vị Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam
Nguyễn Công Hoan vị Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam
Đã chẵn 100 năm, kể từ năm 1922 cho đến nay - năm 2022, Nguyễn Công Hoan vẫn cứ là một trong số không nhiều tên tuổi lớn được quen biết và được nhắc nhở trong dư luận của nhiều thế hệ bạn đọc. Bắt đầu từ những truyện trong tập Truyện thế gian của Tản Đà thư cục, năm 1922; rồi Kiếp hồng nhan, năm 1923; Nguyễn Công Hoan sớm trở nên nổi tiếng với những chuyện đời trong chuyên mục “Xã hội ba đào ký”, thời An Nam tạp chí cũng của Tản Đà đầu những năm 1930. Và đến hôm nay, sau bao nhiêu biến thiên xã hội, ông vẫn tiếp tục là nhà văn thân quen của nhiều thế hệ bạn đọc, trong số đó không ít người đã từng qua một tuổi trẻ hoặc tuổi học đường sớm biết đến Nguyễn Công Hoan, qua tiểu thuyết Bước đường cùng và các truyện ngắn được chọn lọc trong chương trình văn học ở nhà trường.
Cố nhiên ở mỗi thời kỳ, sự quan tâm của bạn đọc đối với Nguyễn Công Hoan là có khác nhau. Nguyễn Công Hoan xuất hiện với một bút pháp lạ, một cách nhìn lạ, một giọng điệu lạ, hài và bi, cười cợt và nghiêm trang, đùa mà tỉnh táo, đã được báo hiệu ngay từ tập truyện Kiếp hồng nhan (1923). Rồi Nguyễn Công Hoan với truyện ngắn và truyện dài, dồn dập và xen kẽ, chuyển dịch qua bao xu hướng nghệ thuật trong những năm 1930. Nhà văn muốn tỏ ra trung thành với chủ nghĩa hiện thực trào lộng trong truyện ngắn lại rất nghiêm trang, mực thước trong Tấm lòng vàng, Cô làm công... Chủ nghĩa lãng mạn tưởng như xa lạ với Nguyễn Công Hoan, khi nhà văn cố tình trở về với các khuôn mẫu cổ điển, để chống lại Đoạn tuyệt của Nhất Linh trong Cô giáo Minh, lại là người đẫm ướt trữ tình và nước mắt lãng mạn trong Tắt lửa lòng và Lá ngọc cành vàng. Thanh đạm u trầm trong một khí hậu hoài cổ nhằm dẫn dắt con người vào một thời xưa, trong lúc Bước đường cùng lại rất quyết liệt phanh phui, lật tẩy hiện tại - sách bị cấm mà thành danh to, năm ngàn bản bán hết veo và được in đi in lại nhiều lần... Nguyễn Công Hoan, tóm lại, đó là người viết dường như muốn có một mục tiêu để trung thành, để chung thủy, nhưng lại nhiều đổi thay, chuyển dịch và không ít giọng điệu. Có phải vậy chăng cùng lúc có ở trong ông vừa khách quan vừa chủ quan, vừa mới vừa cũ, vừa hoài cổ vừa cách tân, vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa cổ điển vừa tự nhiên và cả tự nhiên chủ nghĩa... Vậy là, phải chăng về cái gọi là “phức tạp”, qua con mắt người đương thời và hậu thế, thì xem ra Nguyễn Công Hoan cũng có mặt nổi danh không kém Nguyễn Tuân.
Nhưng rút lại thì cái lớn, cái duyên và có thể là cả cái may nữa, của Nguyễn Công Hoan là ở đâu và lúc nào ông cũng được quan tâm. Có thể nói ông là nhà văn chưa bao giờ bị quên. Ông là người thường xuyên được nhắc nhở. Quả là trong làng văn Việt Nam hiện đại, người có vị trí như Nguyễn Công Hoan không phải thật quá hiếm hoi. Nhưng có người danh đang như cồn, bỗng bị quên ngay. Có người rất thực tài nhưng chịu rất nhiều thăng trầm. Có người chịu một số phận âm thầm thật lâu rồi mới sáng sủa dần lên. Còn ông, nhà văn Nguyễn Công Hoan thì lúc nào cũng là người hiện diện cùng độc giả. Sau 1945, tham gia cách mạng, hoạt động ở nhiều cương vị, cho đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp, trở về hòa bình, ông là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đầu tiên từ khi có Hội, năm 1957, cương vị ấy ở ông gợi nhớ chức danh Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam của Nguyễn Tuân trước đó gần một thập niên vào năm 1949 trong Đại hội lần thứ nhất Hội Văn nghệ Việt Nam. Những chọn lựa của lịch sử và nghề nghiệp quả thật là tinh. Nghề và nghiệp, danh và thực, quả đã tìm được sự hội tụ ở những người viết có bản lĩnh, có chân tài. Qua hai hiện tượng trên, ở hai cương vị đại diện: một cho chủ nghĩa lãng mạn, một cho chủ nghĩa hiện thực, tôi thấy thật thú vị về sự gặp gỡ của hai phong cách lớn trong văn học Việt Nam hiện đại.
Sau ngót 40 năm trong nghề, nhà văn Chủ tịch Hội Nguyễn Công Hoan đã khẩn trương trở về với vốn sở trường của mình qua một loạt các tiểu thuyết dài dồn dập, hơn bất cứ ai, trong giao điểm những năm giữa 1950, đầu 1960: Tranh tối tranh sáng (1956), Hỗn canh hỗn cư (196l). Đống rác cũ, tập I (1963) như là một sự tổng hợp và nâng cao, trong quy mô sử thi, theo cách nói quen thuộc của chúng ta một thời, để có thể đồng thời diễn đạt cho được cả hai mặt: mặt tối tăm bi thảm và mặt cách mạng của cuộc đời cũ. Mặt tối tăm, dường như hầu hết những gì ông đã viết trước 1945 có thể xem là một tập đại thành; còn mặt sáng sủa, mặt cách mạng của xã hội cũ thì có dễ đến bây giờ ông mới có chủ trương và có quyết tâm trong một nỗ lực nhận thức rất cao. Còn nhớ có lần ông nói: “Tôi vẽ người xấu nhạy hơn người tốt. Bởi vì tôi vốn bi quan nên nhìn mọi vật bằng con mắt hoài nghi, chỉ thấy phía xấu. Phía xấu dễ nhập tâm hơn phía tốt”. Vậy là có phải bây giờ mới là lúc ông thấy cần và ông có điều kiện thể hiện mình trên cả hai thái độ: phê phán và khẳng định. Nhưng gắn cho được cả hai mặt đó vào một chỉnh thể, sao cho nó hữu cơ, cho nó nhuần nhị, có nhân và quả, hoặc vừa là nhân vừa là quả, có quan hệ và tác động theo cả hai chiều, thật là cả một sự nặng nhọc. Ấy là chưa nói những đòi hỏi theo “phép biện chứng” ở người đọc, theo lý luận về hiện thực xã hội chủ nghĩa một thời đòi hỏi nhìn cuộc sống trong “quá trình phát triển cách mạng” và “khẳng định mặt đang lên của hiện thực”, phải đâu dễ đáp ứng được, nếu nó không tìm được lối thuận trong tạng của nhà văn.
Thiên chức nhà văn: nói cho toàn diện về hiện thực, hướng con người về phía cái tốt cái thiện, là câu chuyện ta từng bàn đi bàn lại, nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Ai cũng mong đạt cái đích cao và xa ấy. Nhưng đòi hỏi của cả một nền, cả một thời có khác với đòi hỏi riêng cho từng người. Và ở mỗi người, chuyện lực và tâm, và cả tạng nữa, có gắn bó hô ứng được với nhau không cũng còn phải tính. Một đời dài theo nghiệp văn, Nguyễn Công Hoan đã để lại cho ta một di sản lớn về nhiều mặt. Nhưng tôi lại nghĩ nếu Nguyễn Công Hoan biết chiều cái tạng riêng của mình và xã hội một thời dài cũng sẵn sàng chấp nhận, hoặc biết bao dung cái tạng ấy thì hẳn chắc sự nghiệp của ông còn lớn hơn, thậm chí lớn hơn rất nhiều. Ông cứ viết, tiếp tục với giọng trào lộng của riêng ông về cái cũ, cái ác trong xã hội cũ và cả về cái cũ, cái xấu, cái ác trong xã hội mới nữa, cũng được chứ sao!
Chúng tôi là những người đọc hậu sinh trung thành và chuyên cần của nền văn chương Quốc ngữ, chúng tôi càng quý trọng một trong những người đặt nền móng đầu tiên là Nguyễn Công Hoan. Cũng chính ông là người tiếp tục cần mẫn lần lượt leo lên nhiều tầng giàn giáo của công trường văn xuôi Quốc ngữ Việt Nam. Một công trường thật sự là đông đúc, nhưng những bậc thợ cả trong số đó như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Khái Hưng, Tô Hoài, Nguyên Hồng... thì quả chưa phải là nhiều. Còn chưa nhiều nên mới quý. Và càng quý khi tất cả họ, khi trong con số ít ỏi ấy ở họ, lại là những chân dung rất khác nhau, những gương mặt hoàn toàn không lẫn vào nhau. Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn luôn nhớ đến một tiếng cười riêng, tiếng cười Nguyễn Công Hoan, tiếng cười gây cười, lập tức làm ta bật cười, cười không cản được, cười to lên hoặc tủm tỉm, nhưng rồi sau đó là một vị chát có lúc như nghẹn đắng, có lúc làm cay nơi mắt ta. Ngẫm ra thật là “sợ” cho ngữ ngôn, cho văn tự, cho chữ nghĩa Nguyễn Công Hoan: Oẳn tà roằn, Ngựa người và người ngựa, Báo hiếu - trả nghĩa cha, Cô Kếu - gái tân thời, Thế là mợ nó đi Tây... Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn thấy sống động cả một thế giới người thật đông đúc và cũng thật là lúc nhúc trong văn ông: những phu phen, thuyền thợ, dân quê; những địa chủ, lý dịch, cường hào; những nghị viên, dân biểu, quan lại (huyện, phủ, bố, án, tuần...); những ký, lục, phán, tham; những con buôn, tư sản, chủ thầu; những giáo chức, nghệ nhân, viết văn, làm báo; những me tây, cô đầu, kép hát; những gái điếm, con sen, thằng nhỏ; những “ván cách”, lính cơ, thày quyền; những bồi, bếp, tây trắng, tây đen... Nghĩ đến Nguyễn Công Hoan tôi nghĩ đến cả một gia tài truyện ngắn thật đồ sộ mà ông để lại; và truyện ngắn - đó mới chính là sở trường của ông, trào phúng mới là giọng điệu của riêng ông. Một thứ trào phúng rõ ràng là bắt nguồn từ gia tài dân gian và cổ điển, nhưng vẫn là rất riêng của ông, không lẫn với ai, và không ai bắt chước được. Hơn thế, đó lại là cái trào phúng xem ra không chỉ có một mà nhiều cung bậc; mọi cung bậc không phải tất cả đều thuận tai; nhưng khi một nhà văn được viết hồn nhiên theo thiên tính của mình, thì cái hồn nhiên ấy mới làm phát lộ ra biết bao tài hoa khiến cho ta kinh ngạc.
Thế kỷ XX đã ghi nhận Nguyễn Công Hoan như một tên tuổi lớn, tác giả của nhiều trăm truyện ngắn sáng giá - là người hiếm hoi, cùng với Nam Cao, Thạch Lam có công đưa thể loại dễ mà khó này lên một tầng cao thật siêu việt. Là người có một tiếng cười riêng thật đặc sắc trong một bối cảnh vốn lúc nào cũng rất cần có tiếng cười. Một cuộc sống tối tăm đau khổ, thật đáng khóc như cuộc sống trước 1945, vẫn cần có tiếng cười; đã có một chuỗi cười dài trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, lại có tiếng cười của Nguyễn Công Hoan, cùng tiếng cười trong thơ của Tú Mỡ, Đồ Phồn. Cuộc sống mới sau 1945, cho đến khi nhà văn qua đời dẫu có nhiều niềm vui lớn, đâu phải đã hết cần đến tiếng cười phê phán. Cái lý đó và sự thật đó, phải chăng ta nhận ra khá muộn, khiến cho một người biết cười, một người dám cười như Nguyễn Công Hoan thật đáng giá, thế nhưng lắm lúc ông đã phải nghiêm trang. Nguyễn Công Hoan, trong cả đời văn nói chung là một người may mắn, nhưng ông cũng có đôi lúc không may. Dẫu thế, trong di sản của ông, bên nhiều thứ đã bị quên, có một bộ phận lớn sẽ là bất tử.
Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022
Vinh dự được gặp Bác Hồ tại Mạc-Tư-Khoa
Vinh dự được gặp Bác Hồ tại Mạc-Tư-Khoa
(1903-1977)
Trích trong “Đời viết văn của tôi”.
Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2022
Kỷ niệm 60 năm sinh của nhà văn Nguyễn Công Hoan
Kỷ niệm 60 năm sinh của nhà văn Nguyễn Công Hoan
(1903-1977)
Trích trong “Đời viết văn của tôi”.
Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2022
Thầy Nguyễn Công Hoan - Trích "Hồi ký của một thằng hèn" (Tô Hải)
Trích "Hồi ký của một thằng hèn"
[...]
Một điều may mắn, hay vô phúc, cho tôi là vào năm học cuối, Cours Supérieur, trường tôi nhận được một ông thầy mới. Ông cũng mặc Tây nhưng là thứ đồ Tây hiếm thấy: Quanh năm một bộ kaki vàng nhạt, không bao giờ thắt càvạt. Chân thì không giống ai, đi dép xăng-đan với đôi quai hậu luôn bị dẫm lên, méo mó. Nghe nói ông có “phốt”[8] nên đang dạy một trường nào đó lớn lắm ở Hà Nội thì bị “đuổi” về Thái Bình! Theo lời đồn, ông mắc tội “têtu”[9], dám cãi lại quan Tây. Ông có bộ dạng ngang tàng, bộ tóc “bốc-xơ”[10], cái cười nửa mép, cằm nhô ra như thách thức, càng tăng vẻ bất cần đời, rất ăn khớp với bộ đồ Tây dã chiến quanh năm của ông.
Tuy nhiên, với tôi, ông có cái gì đó thật hấp dẫn, thật đáng chiêm ngưỡng và hơn thế, cần chú ý, theo sát mà học tập. Không chỉ vì ông đã nổi tiếng trên văn đàn, không phải ông là ông thầy giỏi mọi mặt (thời đó một thầy dạy tất cả các môn cho đến cuối lớp Supérieur), mà chính là sự ngang tàng, coi khinh dư luận của ông đã mê hoặc tôi.
Trở lại với cái Cours Superieur thời xa xưa ấy. Có thể nói nếu như tôi chú ý đến phong cách thầy Hoan bao nhiêu thì thầy cũng chú ý đến thằng “tướng cướp” là tôi không kém! Làm sao một ông thầy như thầy lại không để ý tới một học sinh “ngang tàng số một” và học giỏi cũng số một như tôi? Sau này, mỗi lần gặp thầy, thầy vẫn nhắc đến bài luận văn của tôi: “Tiền không làm nên hạnh phúc? – “Một sự lừa dối trắng trợn của những nhà triết học ăn tiền của bọn triệu phú”. Thầy Hoan cho tôi 10 điểm về cách bình luận độc đáo và cả hai thầy trò bị thầy hiệu trưởng gọi lên văn phòng cảnh báo về cách dạy và học. Sau này tôi còn bị hai lần “exclus provisoire par turbulence”[12] nữa.
[...]
-----
[8] Faute (tiếng Pháp = lỗi).
[9] Têtu (tiếng Pháp = bướng bỉnh, cứng đầu).
[10] Boxeur (tiếng Pháp = võ sĩ).
[11] Nguyễn Công Hoan (1903–1977), nhà văn nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam từ thập niên 30 thế kỷ 20.
[12] Đuổi học tạm thời vì tội phá quấy, tiếng Pháp.
Trích trong “Đời viết văn của tôi”.









Chị Nguyễn Ngọc Đoan, cháu nội nhà văn Nguyễn Công Hoan, giới thiệu về bức Chế phong của vua Bảo Đại ban khen giáo học Nguyễn Công Hoan.















