Ads 468x60px

.

Thứ Năm, 7 tháng 12, 2017

Bãi cứt trâu





Minh họa: Kho tàng truyện hay


Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Cô Vân | 2. Phú Thăng

Mời nghe đọc tại YouTube - #nguyenconghoan
2 Kênh 3 Video
1. Kho tàng truyện hay, VTC Sách hay - Diễn đọc: NSUT Phú Thăng


Mời đọc Bản đánh máy

Trong Tập truyện ngắn "Nông dân với địa chủ"

Bãi cứt trâu

Nguyễn Công Hoan


Thằng địa chủ Ích, đi tỉnh về, mới nhặt được một em bé ở ngoài đường, đem về nuôi. Em lên sáu tuổi. Nó lại đặt tên em là thằng Cu. Ta dùng tiếng lại, là vì từ ngày nạn đói, chớm nở, em này là em thứ ba ở nhà nó, và nó cũng gọi tên là thằng Cu như hai em trước. Nhưng cả hai em Cu trước, mỗi em đều chỉ ở được có trong ít lâu. Em Cu thứ nhất, vì nó cho ăn đói quá, em trót vào bếp vét vụng của nó một sét cơm nguội, bị nó dơ thẳng cánh cho một cái tát vào mang tai, ngã rập đầu xuống gạch. Em run lẩy bẩy một lúc, rồi chết. Em Cu thứ hai, không chịu nổi mấy đứa con nó bắt nạt, đánh đập cả ngày, nên bỏ trốn đi.

Hai em trước đến ở với nó, là vì bố mẹ các em đói quá, không thể nuôi được, phải đem cho nó, để đi, không biết đi đâu. Cho nên, sau khi nó đánh chết em thứ nhất, nó nói:

- Số nó chết, không tránh được. Ở với bố mẹ nó, nó cũng đến chết vì đói.

Và sau khi em thứ hai bỏ đi, nó nói:

- Không biết hưởng sung sướng thì chỉ có là chết!

Em Cu thứ ba này, nó bắt được trong trường hợp như sau:

Ở tỉnh về, nó ngồi trên xe nhà, đường ngẩng thuỗn mặt lên trời để nghĩ một việc gì. Bỗng nó nghe thấy tiếng khóc và tiếng gọi ở bên đường:

- Thầy ơi! U ơi!

Nó nhìn, thấy một em bé trần truồng, đen đủi, chân tay như bốn ống sậy, tóc lơ thơ màu hung hung dí bết xuống đầu, hàm răng dưới nhô ra, da nhăn nheo. Em ngồi ôm mặt, gò lưng xuống để kêu. Cạnh em, có một cái xác của đứa bé không rõ là mấy tháng, vì nó chỉ là bộ xương.

Thằng Ích bảo anh xe đỗ lại. Nó xuống đất, cúi hỏi:

- Thầy u mày đâu?

Mãi em bé mới lấy cánh tay quệt ngang mắt và đáp:

- Cháu biết đâu. Bỏ đi từ sáng. Giờ chưa thấy về. Em cháu chết rồi.

Nó ngắm em, rồi bảo:

- Thầy u mày bỏ mày, thì mày về với tao. Tao nuôi. Tao cho ăn.

Sở dĩ nó biết như vậy, vì ít lâu nay, nhiều nhà bị đói quá, cha mẹ không nỡ trông thấy con gầy lả dần rồi chết, nên cắn răng mà bỏ con mà đi.

Em bé thấy nó nói cho ăn, thì nín ngay. Em quên cả việc nhìn lại đứa em chết đói nằm bên cạnh. Em đi theo nó liền.

Thằng Ích, ít lâu nay nuôi những em bé bằng ấy tuổi, không phải vì nó phúc đức, thương các em đói khát, bơ vơ. Nhưng vì nó nghĩ: Mỗi con trâu, khi giắt ra khỏi chuồng, bao giờ cũng ỉa, mà ỉa một bãi to. Nhà nó có nhiều trâu, đánh đi làm ngay từ lúc tờ mờ, thì ỉa rơi ỉa vãi cả ra đường. Bỏ cứt đi thì phí. Cho nên phải hốt về. Việc này nhẹ nhàng, trẻ con cũng làm nổi.

 Vì vậy, nó nẩy ra ý kiến là nuôi trẻ để hốt cứt trâu. Nó nuôi em Cu thứ nhất. Nó nuôi em Cu thứ hai. Và đến bây giờ em Cu thứ ba này.

Em Cu ở nhà nó, được ăn không một ngày đầu. Rồi nó mới giao việc.

- Mày chịu khó làm, thì không những việc ăn no, còn được tiền thêm nữa. Cứ mười ngày, tao trả một hào. Không muốn lấy tiền công, thì hễ ngoan ngoãn, tao nhận cho làm con nuôi, sau này tao gây dựng cho, cho nhà cửa, ruộng nương mà ở, mà cày cấy.

Em chưa đủ trí khôn để nghĩ đến tương lai, chỉ biết hiện giờ như thế là đỡ chết đói. Công việc hàng ngày chỉ là có hai buổi, đi nhặt hai sọt cứt trâu, với đun vài ấm nước, quét nhà, và hầu những việc lặt vặt. Có thế thôi.

Hôm đầu, buổi sáng lúc các anh người làm đánh trâu ra đồng, và buổi trưa, lúc các anh đi chăn, em đi theo, nhưng tìm mãi, không thấy bãi cứt nào. Em xách sọt về không. Nó giảng:

- Cứt trâu ở ngoài đường khối ra. Nhưng chậm thì có đứa nó hốt mất. Mày phải đi sát theo trâu mới khỏi mất cứt.

Học được kinh nghiệm ấy, em dặn các anh lớn, khi đi làm, thì gọi em.

Sáng hôm sau, người ta đánh thức em. Mới có ba giờ sáng. Em ngái ngủ, không dậy vội. Khi tìm được cặp và sọt, thì trâu cũng đã đánh ra đồng từ lúc nào rồi. May có ánh trăng, em cố tìm, chỉ thấy còn sót có một bãi.

Thằng Ích lại giảng:

- Phải theo trâu ngay từ khi ra khỏi chuồng, nếu không, có đứa hốt tranh mất cứt.

Em lo làm tròn nhiệm vụ thì mới được ăn no và trả tiền công. Vì từ hôm đến, mỗi bữa em chỉ được có ba khúc sắn nhỏ. Có được việc mới được ăn cơm. Hôm sau, được đánh thức, em nhổm ngay dậy. Em đi theo đàn trâu liền. Hễ con nào đương đi mà dừng lại, rạng hai chân sau ra, uốn cong đuôi lên, là em đứng chờ. Khi nó ỉa xong thì em gắp. Đủ mỗi con một bãi.

Em vui sướng, quên cả rét, dù em vẫn trần truồng như trước.

Khi đem cứt trâu về, em đổ vào chuồng phân. Thằng Ích ra nhìn, chê:

- Vẫn hót chưa hết. Còn dính ở đường nhiều.

Bữa cơm ấy, em được bớt một khúc sắn, thay bằng một bát cơm con.

Hôm sau, em hốt cẩn thận hơn, nên được nhiều cứt hơn. Nó khen:

- Được, cứ thế. Nhưng từ nay, mỗi buổi đi hốt về hãy trình tao. Tao khám xong mới được đổ vào chuồng. Hễ sọt đầy như thế này, thì tao kể cho một công.

Cả sáng và chiều, em được ăn mỗi bữa một bát cơm thay một khúc sắn.

Nhưng không phải trời đêm nào cũng có trăng vào lúc gần sáng như độ này. Dậy từ ba giờ sáng, em quen mắt rồi. Nhưng đêm hôm trước, mãi đến khuya chưa hết việc lặt vặt để được đi ngủ, thì tuy em không đói ăn, nhưng lại đói ngủ. Nhiều tối, phải thức chia bài, em gật lia lịa, lầm be bét, phải đếm đi đếm lại mãi mới đúng. Lắm lúc chờ việc, em ngồi gục ở xó tường, ngáy khò khò. Có bận đun nước, em chống cái que đời ở đằng trước, để tì cằm vào, thế mà em gật một cái, ngã giúi cả vào bếp lửa.

Em đã bắt đầu phải đánh, phải chửi là lười.

Nhưng được cái em không có quần áo, nên rét quá không ngủ được, ai gọi là thưa ngay được, nên cũng ít phải đánh phải chửi.

Công việc hốt cứt vào buổi tối trời, trở nên chí vất vả.

Em đi theo trâu, đường tối đen như mực, mắt không trông thấy gì. Nhưng em dùng tai để lắng nghe. Khi thấy tiếng bẹt bẹt, thì em đến, lấy chân sờ ở đường xem cứt chỗ nào. Gắp xong, em lại sờ bằng chân xem đã sạch hết chưa. Thế mà nhiều lần hốt cũng sót. Nhất là đến những khúc đường hẹp, có cây um tùm. Có bận mấy con cùng ỉa một lúc, thì em làm việc cuống cuồng. Hôm nào thằng Ích khám thấy ít cứt, thì nó phạt, không tính là một công. Ít khi nó khen là nhiều.

Sự cần thiết có mỗi ngày một xu, nẩy ra cho em một sáng kiến. Em không để cho trâu ỉa xong mới hốt. Em lắng tai, không phải để nghe tiếng bẹt bẹt, mà là để nghe tiếng chân trâu. Những con đương đi đều bước, mà đứng dừng lại, là em biết nó sắp ỉa, thế là bưng cái sọt, kề vào đít nó. Vừa không mất thì giờ hốt, vừa không lọt ra ngoài một tí nào.

 Từ hôm đó, thằng Ích không chê em được điều gì.

Tính từ ngày vào ở nhà địa chủ, đến nay, vừa chẵn ba mươi hôm. Không kể những ngày mới nhận việc còn bỡ ngỡ, và những ngày còn vụng về, không được nó kể cho là một công, chỉ tính từ ngày biết hứng sọt vào đít trâu đến nay, cũng là ba mươi hôm rồi.

 Tức là mười ba xu công. Trừ một lần đun nước chưa sôi, một lần nó gọi mà lên chậm, và một lần không hiểu vì lý do gì, nó gắt và bảo trừ công, thì cũng còn được mười ngày hoàn toàn.

Được lĩnh một hào công, em sẽ mua lại của một anh tấm thắt lưng cũ, để dùng mà đóng khố. Lắm lúc nhà nó có khách, em mang siêu nước sôi lên, thấy em trần truồng con vợ nó ngượng với khách, cứ mắng em là vô ý vô tứ. Vì nó đã giao hẹn trước là phát công hàng tháng, nên các anh lớn nhắc em đến xin nó tiền.

Em nói với nó. Nó vờ ngạc nhiên:

- Mày lại đến đòi tao một hào công à? Thế mày thử nghĩ xem, ai nuôi cho mày sống một tháng nay?

Rồi nó cau mặt:

- Được, mày muốn đòi thì chiều, đến đây tao trả.

Đến chiều, em Cu lên buồng nó.

Ở ngoài hè, em đã thấy một em bé, trạc tuổi em, gầy gò dăn dúm, chẳng khác gì em, một tháng trước. Em bé ấy ngờ ngệch như em. Hai em nhìn nhau, và nói chuyện với nhau, bằng những câu rất ngây thơ, nhưng rất dễ hiểu:

Em cu hỏi:

- Mày tên là gì?

Em bé mới đáp:

- Thế mày tên là gì?

- Tao tên là Cu.

- Thế ông ấy cũng đặt tên tao là Cu.

- Mày đến đây làm gì?

- Thế mày ở đây làm gì?

- Tao hốt cứt trâu.

- Thế ông ấy cũng bảo tao đến ở hốt cứt trâu.

Em Cu mới vui vẻ, nói:

- Hai đứa cùng hốt, tha hồ vui.

- Ừ, vui, nhưng mà buồn ngủ lắm.

Vừa lúc ấy thì thằng Ích ra. Nó quắc mắt nhìn em Cu:

- Ừ ừ cái gì? Mày xui gì nó?

Em nhìn nó bằng đôi mắt thật thà:

- Không ạ.

- Mày ranh quái vừa vừa chứ. Tao trả tiền công mày, nhưng rồi có đường có nẻo thì xéo. Tao không mượn nữa.

Em dương đôi mắt to để nhìn nó, muốn tìm hiểu lý do. Nó giảng:

- Là tại chưa chi mày đã đòi công tao. Mày chỉ nghĩ đến tiền, chứ không còn biết tình nghĩa là gì cả.

Em nghĩ được nhiều, nhưng biết nói ít, nên nét mặt buồn buồn. Nó hỏi:

- Bao nhiêu công?

- Thưa ông một hào.

Nó móc túi tìm. Không có hào lẻ. Nó càu nhàu:

- Mất cả thì giờ. Thôi biết vậy, lúc khác vào đây, tao trả.

Em thui thủi bước chân ra khỏi nhà nó. Cánh cổng đóng ập lại.

Suốt năm hôm sau, ngày nào người ta cũng thấy em đứng chờ ở cổng nhà nó. Nhưng không được vào.

Em vẫn trần truồng, đen đủi như trước. Nhưng bốn chân lại khẳng khiu như bốn ống sậy. Tóc lại hung hung, dí bết xuống đầu. Hàm răng dưới lại nhô ra. Da mặt lại nhăn nheo, toàn thân người em xám như đồng đen.

Đến sáng hôm thứ sáu, sau một đêm mưa, người ta thấy em và mười ba em bé nữa cùng tuổi, ôm nhau chết cứng trên cái bãi cỏ cạnh đường cái đá.


Mời đọc Bản chụp dạng ảnh

Trong Tập truyện ngắn "Nông dân với địa chủ"


Mời Đọc/Lấy về Bản chụp dạng PDF
PDF



Mời đọc tại ISSUU



Tham khảo: Các bài viết liên quan


Chị vú em



Minh họa: TRẠM TRUYỆN 24H
Minh họa: Kênh Cô Vân

Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Cô Vân | 2. Phú Thăng | 3. Quỳnh Hoa | 4. Kính Hồng


Mời đọc Bản đánh máy

Trong Tập truyện ngắn "Nông dân với địa chủ"

Chị vú em

Nguyễn Công Hoan


Vợ thằng Tần, là con dâu cả của con mẹ địa chủ Hương, mới đẻ con trai. Cả nhà quý như vàng. Nhưng thằng bé gầy nhom, vì sữa mẹ nó đã ít lại chua. Nó ăn sữa bò không chịu. Mấy hôm nay, nó khóc sa sả cả đêm, vì đói.

Về việc nuôi trẻ, thằng Tần đồng ý là sữa người tốt nhất. Nhưng nó không tán thành việc bắt vợ nó cho con bú. Nó cho rằng người đàn bà phải là cái hoa, cần giữ sao cho hương sắc lâu tàn. Nghĩa là người đàn bà phải trẻ lâu, đẹp lâu. Người đàn bà nuôi con thì chóng già, chóng xấu. Vì đôi vú sẽ tét đi, bộ ngực dẹp lại. Dùng sữa nuôi con, thì mẹ phải gầy. Đêm hôm thức giấc, thì mẹ phải yếu. Con chơi đã vậy, con hay quấy, thì mẹ sinh ra cáu kỉnh, gắt gỏng. Thiệt hơn nữa, là người chồng phải kiêng nằm chung. Vì lỡ ra, mẹ có mang cho con bú sữa trong thì con yếu.

Vì nghĩ như vậy, nó đòi mẹ nó nuôi cho vợ nó một người vú em. Nhà có của, hà tiện làm gì mà không trút cái vất vả cho người khác.

*
*      *

Ở trong đồn điền, có vợ anh Bao cũng mới ở cữ trước vợ thằng Tần nửa tháng. Chị Bao khỏe mạnh, nên sữa tốt, nuôi thằng bé con, cứ lớn phổng như thổi.

Tin ấy đến tai con mẹ Hương. Con mẹ đến tận nhà anh Bao để xem. Nó thấy thằng bé bụ quá, ngoan quá, bú no là thức chơi, cứ toét mồm ra cười như con chó. Chơi chán thì ngủ im thin thít. Mới hơn hai tháng đã biết hóng chuyện, và tập lẫy.

Anh chị Bao thấy tự nhiên con mẹ Hương đến nhà, biết là sẽ có chuyện. Vì nhà có nợ nó bốn thùng thóc.

Quả nhiên, sau khi con mẹ ngắm nghía thằng bé, thì nó bảo chị vắt sữa vào gan bàn tay nó, cho nó xem. Nó đưa ra sáng, nhìn kỹ. Bỗng nó đả động đến món thóc nợ. Nó dỗ chị ở vú cho con nó, thì nó trừ cho. Nhưng chị nói:

- Nợ thì bà rộng cho đến tết, chả còn mấy ngày nữa. Chứ cháu đi thì không ai nuôi con cho cháu.

Nó bảo:

- Bố nó trông cũng được chứ sao? Thằng bé ngoan, dễ nuôi, cho ăn cơm, càng chóng cứng cát.

- Bố cháu vụng lắm, bà ạ. Bế con thì cứ như bưng, mấy lần suýt đánh ngã.

- Đàn ông gì mà đoảng thế. Để vợ đi làm thì được ăn no, mặc lành, được đỡ một miệng ăn, lại được công để trừ nợ. Thế không hơn à.

Anh bao suy tính hơn thiệt, nói:

- Nhưng nhà con đi vắng, con phải bận về cháu, thì mất hết việc. Mà lúa xấu, thì phải nộp cho bà thóc xấu.

- Tao không cần xấu tốt, tao chỉ cần vợ chồng mày nghe tao.

Anh lắc đầu:

- Vợ chồng con sợ ông bà thật, ơn ông bà thật, nhưng đi thì nhà neo người.

Thấy nói ngọt thế mà anh không nghe, thì nó bắt đầu sốt ruột. Vì xưa nay nó có phải nói với ai nhiều lời bao giờ. Nó xẵng:

- Tùy vợ chồng mày đấy, món nợ ấy đã lâu rồi. Tao không cho chịu nữa. Bàn kỹ với nhau đi, muốn hay được hay, muốn dở được dở.

*
*      *

Con vợ thằng Hương về. Chị Bao chỉ thở dài. Món nợ ấy không ngặt, nhưng vì ý nó muốn bắt chị ở vú em cho con nó, nên nó làm ra ngặt. Trái ý nó, thì nó làm đủ tình đủ tội.

Anh Bao vốn ít nói, nên chỉ lặp đi lặp lại có một câu:

- Không đi, không giả. Muốn làm gì thì làm.

Thì nó làm như thế này:

Nó cho vợ anh Hoành đến thúc nợ thay cho nó. Chị này có tiếng là nói dai, nói sỗ, và lắm mánh khóe. Chị Hoành đến, không nói gì với chị Bao. Nào chuyện bà chủ đã làm ơn mà cho vay, bà đã tử tế mà cho chịu, nào chuyện những ai không trả được nợ thì bị như thế nào, rồi chị bảo anh Bao nên cho vợ đi ở vú, thì vừa được êm thấm vừa được sung sướng.

Anh Bao phải ngồi mất thì giờ và mất công việc. Nhưng không có lẽ bỏ khách nợ để đứng dậy. Anh không đáp bằng những câu cộc lốc, nhưng vẫn có những ý nghĩ cộc lốc là: không đi, không giả, muốn làm gì thì làm.

Chửa đạt mục đích là bắt chị Bao đến ở vú, vợ anh Hoành rất kiên tâm. Lần nào chị ta cũng chỉ nói ngần ấy câu, nhưng chỉ cốt nói dài cho anh Bao mất việc. Nếu không muốn mất thì giờ, anh chỉ có việc ừ một tiếng là xong.

Nhưng anh không ừ. Và chị Hoành còn đến. Trước thì dăm hôm một lần, sau thì ba hôm. Từ hai mươi lăm tết trở đi, ngày nào chị cũng đến.

Anh Bao trước sau không thay đổi ý kiến. Cho nên chiều ba mươi tết, chính con mẹ Hương thân hành đến, nó tông tốc chửi từ ngoài cổng, chửi vào, rồi sồng sộc đến bàn thờ, lấy bát hương để xuống đất, vén váy đái vào tồ tồ.

- Mày mà để cháu bà đói, thì ra giêng, bà còn sai đào mả bố mày lên nữa kia, chứ đừng bướng.

 Nó làm như cháu nó đói là tội ở nhà chị Bao vậy.

*
*      *

Cực chẳng đã, hôm mùng bốn tết, chị Bao phải mếu máo, bỏ con ở nhà, xách cái bị quần áo, đến nuôi con cho vợ thằng Tần trẻ lâu và đẹp lâu.

Từ ngày chị ở cữ, lần này là lần đầu tiên, chị bế đứa con người khác. Chị thấy nó hờ hững thế nào ấy. Chợt chị nghĩ đến chị phải nuôi thằng bé như con, thì chị cố âu yếm nó bằng tâm tính của người mẹ. Nhưng sực nghĩ đến con chị ở nhà, không có sữa thì đói, mà chị thì phải lấy sữa mình để nuôi cháu cái con người gian ác đã đái vào bát hương thờ, để khỏi đào mả bố, thì chị không thể nào vui vẻ được. Khổ tâm nhất là mỗi khi sắp cho thằng bé bú, thấy hai đầu sữa căng ra, thì con mẹ Hương lại bắt chị bắt bớt đi "kẻo sữa xuống mạnh quá, thì anh sặc". Chị nghĩ đến đứa con chị ở nhà lúc này, trong khi chị phải vứt sữa đi, thì nó không có sữa mà bú, có lẽ đương khóc ngằn ngặt.

Ở đây khác hẳn ở nhà. Ăn thì bữa nào cũng cơm thật trắng, thỉnh thoảng được cả cái chân giò hầm với hoa chuối. Cả ngày, chả phải làm việc gì. Nằm thì có giường êm, chiếu sạch, màn rộng và cao. Nhưng chị vẫn nhớ. Nhớ con, nhớ chồng, nhớ nhà, nhớ ruộng, nhớ cảnh làm lụng một nắng hai sương, nhớ cái giường long, nhớ cả con muỗi nó vo ve cạnh tai, làm mất ngủ.

Chị tủi thân luôn. Nhưng không bao giờ dám khóc ban ngày, và khóc ra tiếng. Chị muốn thương yêu thằng bé như con, nhưng không thể. Con chị dắn dỏi kia, chứ không ươn hèn như nó. Có lẽ hôm nay đã lẫy mạng rồi.

*
*      *

Một hôm, anh Bao nhắn tin cho chị biết rằng con ốm nặng, chị phải về ngay.

Chị như bị sét đánh ngang tai. Chị điên cuồng, sồn sồn đi về.

Từ hôm con chị vắng mẹ, thì nó đâm ra hư. Nó không chịu ăn cơm, không chịu bú chực và hay quấy. Nó còm dần, xanh đi. Đặt đâu là nằm đấy, không nghịch như trước, không cố nghiêng mình để tập lẫy như trước. Được độ một tháng, nó sút hẳn đi, chỉ bằng nửa trước. Nó ốm từ lâu, nhưng anh dấu chị. Đến nay, nó quá lắm, có thể không sống được. Bất đắc dĩ, anh phải gọi chị về. Nhưng không biết gửi con ở nhà cho ai trông nom để đi xin phép cho chị, nên mãi đến phiên chợ này, anh mới nhắn được tin.

Chị đòi về, ruột nóng như lửa đốt.

 Nhưng vợ chồng thằng Hương và vợ chồng thằng Tần không cho về. Nó còn mắng là vẽ, trẻ con đầu giăng cuối giăng bị nóng là thường, việc gì phải nhắn với nhe.

Vợ chồng thằng Tần còn đoán già là vợ chồng nhớ nhau thì bịa ra như thế đấy thôi. Vú em mà về ở nhà cách đêm là một việc tối kỵ. Không phải nó sợ con nó đói, mà nó sợ rồi con nó bú phải sữa trong. Con mẹ Hương nhiều kinh nghiệm hơn, và tự phụ thông minh hơn, nói:

- Có phải bây giờ vú thấy anh hợp với vú thì định giở mặt để bắt bí chúng tao không? Cái thói chúng mày vẫn thế.

 Chị nói thế nào, chúng nó cũng cương quyết không cho chị về. Vả chị biết nói thế nào? Có thể là chúng nó nói đúng, là anh nhớ chị. Có thể là con chị chỉ nóng soàng. Lại cũng có thể là anh bịa ra tin con ốm để bắt bí, đòi chúng nó trả thêm công.

Mắt chị có trông thấy con chị, từ khi vắng chị, thì nó ra thế nào đâu. Chị chỉ biết là nó ngoan, hay ăn, chóng lớn.

Nhưng chị vẫn cứ sốt ruột, sốt ruột không thể nằm yên được.

Đến khuya, sau khi chị vắt bớt sữa thừa để cho thằng bé bú một bầu thật no, và lừa nó ngủ say, chị lảng vào buồng, bốc trộm một nắm gạo tám, rồi rón rén chui qua hàng rào, về thăm con.

*
*      *

Chị vừa đi vừa lo. Về thăm con, là chị làm một việc tối mạo hiểm, phi pháp. Nó bắt được thì chết. Con ốm thực thì còn có lý mà nói. Chứ mà con không ốm, thì thế nào chị cũng phải đánh, và phải chửi hàng mấy ngày. Nhưng dù có phải đánh phải chửi mấy đi nữa, thì chị rất cam lòng chịu đựng, chứ không thể nào chị dám mong con ốm để lấy lý thực mà đỡ đòn.

Đến sân nhà, chị lắng tai nghe. Không thấy, một tiếng động.

Nhưng thoạt bước vào cửa, chị đã thấy tiếng anh:

- U nó đấy à? Tao mong mãi.

Thì ra anh vẫn còn thức. Và vẫn mở mắt. Vì mong chị hàng phút hàng giây. Chị ứa nước mắt:

- Bố nó chưa ngủ à? Thằng cu thế nào?

- Phải, tao chờ u nó. Thằng cu... không khéo thì hỏng.

Chị rụng rời chân tay, nức lên khóc. Chị chạy đến sờ chỗ con nằm. Chị ôm lấy nó, bế vào lòng. Nó nhẹ tọp. Anh nói:

- Từ chập tối, đâm ra sài uốn ván.

Chị chu lên. Thằng bé giật mình. Chị rung rung, vạch vú kề vào mồm nó. Mấy tháng nay nó thiếu sữa mẹ, nhưng lúc này, nó không bú. Chị lắc cái đầu vú, nhét vào miệng nó. Nó không mút. Chị vắt sữa vào. Nhưng sữa chảy ra ngoài, làm ướt tay áo chị. Nó không nuốt. Và cũng không khóc.

Trong khi ấy, anh Bao thổi lửa ở bếp. Ánh sáng lập lòe chiếu vào mặt con. Chị không ngờ nó gầy thế. Hai hàng nước mắt chị dòng dòng. Chị hỏi:

- Có cho con thuốc thang gì không?

- Có khối người mách thuốc. Tôi cũng nhờ cả đi tạ mộ rồi.

Chợt chị Bao nghĩ đến cái bát hương chiều hôm ba mươi tết. Chị lại nghĩ đến thằng bé con con Tần. Thằng bé đẫy hơn con chị và từ ngày được bú sữa chị, thì chơi ngoan. Nhưng không biết giờ này nó ngủ yên, hay đương khóc. Tay bế con mình mà bụng lo cho con người, chị thấy tủi cực quá. Chỉ tại bốn thùng thóc nợ. Chị nghiến răng:

- Đời ơi là đời!

Thằng bé lên cơn sài. Nó cứ trợn mắt, rướn cong người lên. Chị nhìn con, mặt nhăn nhó. Nhưng chị không thể đau đớn thay nó. Một lát, chân tay nó giật. Anh khóc. Chị khóc. Thằng bé lịm đi. Chị lay nó. Anh lay nó. Hai vợ chồng rưng rưng nước mắt nhìn nhau. Thằng bé chết.

Không rõ lúc bấy giờ chị căm hờn địa chủ, hay oán giận cảnh nghèo, hay hối hận tội lỗi không nuôi con, hay thương thằng bé chết đói, chị nằm lăn ra đất, đập chân, đập tay và kêu trời. Nhưng anh ngăn:

- Đừng làm ầm lên, hàng xóm láng giềng sang, thấy u mày thì không tiện. Bây giờ u mày cứ lại về đằng ấy. Sáng mai tao đến báo tin, rồi hãy về ở lâu.

Chị cho là phải, lau nước mắt, ngồi dậy, và đứng lên. Chị nhìn con, nhìn chồng, nhìn nắm gạo tám. Gan ruột chị như bị đứt từng đoạn. Chị vừa thút thít vừa ra hè, xuống sân rồi ra cổng.

Chị về nuôi cháu con mẹ địa chủ, để trừ bốn thùng thóc nợ, để nó đỡ đái lần thứ hai vào bát hương và để nó khỏi đào mả bố.

Cho nên ra đến đường, chị rảo bước. Chị đi vội, vì lo thằng bé đói và khóc, sợ chúng nó biết rằng chị đã lẻn về nhà.




Mời đọc Bản chụp dạng ảnh
Trong Tập truyện ngắn "Nông dân với địa chủ"


Mời Đọc/Lấy về Bản chụp dạng PDF
PDF



Mời đọc tại ISSUU


Tham khảo: Các bài viết liên quan



Thằng Giảng với Đảng



Minh họa: Hoài Niệm – Kính Hồng
Minh họa: Kho tàng truyện hay

Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Cô Vân | 2. Phú Thăng | 3. Kính Hồng | 4. TRẠM TRUYỆN 24H


Mời đọc Bản đánh máy

Trong Tập truyện ngắn "Nông dân với địa chủ"

Thằng Giảng với Đảng

Nguyễn Công Hoan


Ngày Tổng khởi nghĩa năm 45, sau cái buổi sáng thằng Giảng xám như gà cắt tiết, run như cầy sấy, ra nhà Hội đồng cũ, để nộp trả triện cho dân, thì nó lo ngay ngáy. Trong thời gian liếm gót giày đế quốc, nó đã phạm rất nhiều tội lớn với Cách mạng, với nhân dân. Đáng lý nó phải trừng trị nghiêm khắc. Nhưng không rõ tại sao, nó chưa bị bắt bớ gì. Nó nằm im để chờ đợi và nghe ngóng. Một tháng, hai tháng, ba tháng, khi hỏi dò, biết đích là không việc gì, nó sung sướng, ca tụng mãi Chính phủ cụ Hồ khoan hồng.

Ngày trước, hồi Pháp thuộc, thẳng Giảng là đứa lùng bắt Cách mạng dữ dội nhất huyện. Nó đã đưa thằng tuần phủ chó săn, là Cung Đình Vận, đem lính khố xanh về Bờ mác, quây bắt thiếu tướng Chu Văn Tấn. Khi không bắt được, nó đốt cả xóm,  cháy ba mươi mốt nóc nhà. Chính tay nó dơ súng, bắn chết hai anh cán bộ, là Tâm và Tính, rồi bê đầu hai anh ra chợ. Mình hai anh thì nó bắt chôn riêng hai hố xa nhau. Nó bảo để xuống âm phủ, khỏi liên kết với nhau, làm giặc ở dưới ấy.

Nó chúa ghét cộng sản, vì nó thấy các quan trên nhà nó bảo cộng sản là cộng vợ, cộng chồng, cộng tiền, cộng ruộng, vô gia đình, vô Tổ quốc.

Nó bảo cộng sản lên thì nó hết cơ nghiệp. Nó cho cái cơ nghiệp hiện nay, là do nó làm thêm ra nhiều, chứ chả cứ gì do ông cha nó để lại. Nó làm thêm ra bằng cách hà hiếp cả làng để ăn tiền, chiếm ruộng, bóc lột sức lao động của nhân dân. Và, vì tranh nhau gia tài với các em, nó đã phải mấy năm trời, hao tài tốn của để theo kiện. Vì thế, nó nhận cái cơ nghiệp ấy là của nó.

 Cho nên, tuy nó ca tụng Chính phủ khoan hồng, mà nó vẫn sợ. Nó đã mất quyền rồi, nay mai nó mất nốt lợi nữa, thế là hết.

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, nó nghe người ta kể chuyện giặc Pháp đến đâu cũng giết người, cướp của, đốt làng và hiếp phụ nữ. Mới đầu nó không tin. Nhưng khi thấy nhiều người nói quá, nó chắc đúng sự thực, thì nó lại không muốn nghe nữa. Bởi vì nó thấy không khác gì ngày xưa, bọn công sứ công sành, tri phủ, tri huyện, và những thằng gọi là ông chủ, là kỳ hào, cũng tàn ác, ăn tiền, chiếm ruộng, không kém. Nhiều đứa còn đem vợ đem con hiến cho Tây để lo công danh.  Thằng nọ nằm với vợ thằng kia. Có đứa khốn nạn hơn, ngủ cả với con dâu, con gái.

Bây giờ giặc đến đâu lập tề, thì y như bọn nhà giàu và kỳ hào cũ ra hàng, và xin làm đầy tớ đắc lực. Những thằng Bảo Đại, Nguyễn Văn Tâm, Nguyễn Hữu Trí, và biết bao nhiêu quan lại cũ và địa chủ, đã theo Pháp làm bù nhìn bán nước.

Nó biết bọn ấy táng tận lương tâm, vô liêm sỉ nên nó ngượng. Vì nó cũng là kỳ hào cũ.

Nó ở vùng tự do, nên được nghe nói nhiều về Đảng. Đảng đã lãnh đạo cuộc Cách mạng đánh Pháp đuổi Nhật, giành độc lập cho Tổ quốc. Chưa bao giờ nó thấy một anh cán bộ nào bị đeo tiếng hối lộ và hủ hóa. Phần nhiều được dân yêu, dân tin, dân phục. Chính nó cũng không bới xấu các anh ấy vào đâu được. Bảo các anh ấy cộng vợ, cộng chồng, cộng tiền, cộng ruộng, vô gia đình, vô Tổ quốc, thì không đúng tí nào. Trái lại, chính những thằng đổ tội cho người ta như thế, lại là những thằng đại thủ phạm. Chỉ có mỗi điểm nó chê các anh ấy được, là anh nào cũng ăn và mặc khổ quá. Nó thường nghĩ:

 "Lãnh đạo mà chỉ đem quyền lợi cho người khác, thì đằng này chả dại".

Theo ý nó, lãnh đạo thì trước hết, phải đem quyền lợi cho bản thân. Có như thế, hãy nên vào Đảng. Dạo năm 47, nó vào hội Liên Việt. Nó nghĩ: "Vào thế cho Chính phủ khỏi nghi".

Một đôi khi, nó gặp anh cán bộ ở tỉnh về. Nó đoán chắc anh này phải là đảng viên, vì anh ấy bàn bạc công việc đâu ra đấy. Ở xã, thì những người trong các cơ quan, đoàn thể, toàn là mới học việc, không thông thạo như chúng nó ngày  trước. Hơn nữa, những người này, ngày trước nó vẫn gọi là thằng. Thế mà bây giờ nó phải nể họ. Nó nảy ra ý nghĩ: "Ông mà nắm quyền lãnh đạo ở xã, thì ông bỏ rọ tất cả chúng mày!"

Thế là nó làm thân với anh cán bộ. Nó mời anh ấy đến nhà. Nó khoe đã bỏ ra nhiều tiền để ủng hộ bộ đội, ủng hộ du kích, ủng hộ Bình dân học vụ, vân vân. Nhiều lần nó kể lể tâm sự và tỏ ý rất hối hận những tội lỗi cũ, và muốn làm việc nhiều để phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân.

Chẳng bao lâu, thằng Giảng được vào Đảng.

Vì nó là đảng viên duy nhất ở xã, nên nó họp ghép với chi bộ xã ở bên cạnh. Nó tuyên truyền Đảng, và kết nạp đồng chí.

Đến năm 48, xã nó được sáu người: Chánh hội Khoa, lý Kiện, phó tổng Thiều, phó lý Duy và Cả Tụng, là con hàn Bái.

Chi bộ xã nó được sinh hoạt riêng. Nó được làm bí thư Chi ủy.

Năm 49, Chi bộ thi đua phát triển đảng viên, đã có tới mười tám người, toàn là địa chủ, phú nông, cường hào cũ, những người vào cánh với nó, hoặc anh em, con cháu, dâu, rể bọn ấy.

Thế là vui vẻ.

Dần dần, thằng Giảng thay thế những người trong Ủy ban chính quyền và trong ban Chấp hành các đoàn thể bằng những đảng viên thân thiện với nó.

Nó chỉ giữ chức bí thư Chi bộ, nhưng có quyền làm mưa làm gió trong làng. Nhưng mỗi lần Chi bộ họp, thì thằng Giảng thấy có một sự phiền. Là không có người sửa soạn bàn ghế để ngồi, và khi các đồng chí khát, thì không có nước uống. Vả lại, những buổi họp kéo dài, giá được điểm tâm cái gì cho đỡ đói thì thú hơn.

Vì vậy, nó cần một người phục vụ. Nó nảy ra ý kiến là kết nạp anh Ngân, vì anh ấy là cố nông, cần cù, được nhiều người yêu mến.

*
*      *

Anh Ngân được kết nạp vào Đảng. Anh sung sướng quá.

Hôm làm lễ tổ chức, anh run run, phát biểu ý kiến:

- Tôi vẫn nghe nói Đảng mưu lợi ích cho dân nghèo chúng tôi. Tôi cố tìm đến Đảng. Nay tôi được vào Đảng để phục vụ cho giai cấp cần lao, đem hạnh phúc cho nhân dân, tôi thấy như từ nay trở đi mới được làm người.

Anh quên phứt rằng anh là người duy nhất của giai cấp bị bóc lột ở trong một đoàn thể mà toàn giai cấp bóc lột nó chui vào.

Hôm sau, thằng Giảng giao việc:

- Mày còn trong thời kỳ dự bị, mày phải hết lòng hết sức phục vụ Đảng. Đảng còn phải thử thách mày lâu lâu. Mày mới vào Đảng, công tác chưa biết gì, thì hãy làm việc nhẹ. Mày làm giao thông cho Chi bộ. Khi có họp hành, mày phải bày biện cho đủ chỗ ngồi, quét tước bàn ghế cho khỏi bụi bậm, kiếm cái điếu, cái đóm, mượn ấm chén, đun nước, và nếu cần ăn uống, thì phải mượn bát đĩa, mâm nồi, làm gà, làm chó, nấu nướng cho ngon lành, sạch sẽ, chứ không luộm thuộm được như ở nhà mày đâu. Bây giờ đảng viên rồi. Phải gương mẫu. Bên Nga, bên Tầu, đảng viên dự bị cũng phải thế.

Nghe nói ngần ấy câu, nhất là bị gọi bằng mày, anh Ngân bực mình. Anh đáp:

- Thưa đồng chí...

Không để anh nói nốt, nó dơ tay ngay:

- Trong đảng với nhau, thì gọi nhau là đồng chí. Nhưng đó là trong buổi họp kia. Ngoài ra, mày vẫn là mày, tao vẫn là tao, thế mới giữ được bí mật và kỷ luật của Đảng. Bình đẳng quá, lỡ người ta nghe tiếng, người ta cười cho.

Anh ngơ ngác, không hiểu. Nó tiếp:

- Vả lại mày còn dự bị, chưa được gọi cấp ủy bằng đồng chí.

Anh càng không hiểu.

*
*      *

Buổi họp đầu tiên mà anh được thằng Giảng triệu tập đến, mục đích để làm gì, anh không rõ. Anh chỉ được biết là nó lấy quỹ, đưa cho anh đi mua rượu, kẹo, bánh, thuốc lá, thuốc lào và đôi gà. Nó bảo muối và gạo thì đảng viên tự túc. Còn đồ gia vị như hành, ớt, vân vân, thì đảng viên tự giác tự nguyện xung phong ủng hộ. 

Cả buổi họp, anh ở dưới bếp.

Không rõ chúng nó bàn nhau những gì. Nhìn lên, anh thấy thằng thì ngồi, thẳng thì nằm. Cũng có thằng ngủ. Thỉnh thoảng nó gọi anh châm đóm. Và khuyên bận sau, nên kiếm cái đàn con, thì tư tưởng mới tập trung được vào trọng tâm công tác.

 Anh chẳng hiểu tràng chữ ấy nghĩa là thế nào, nhưng đoán là để thì giờ mà làm chén cho chúng nó.

Anh ức lắm. Vào Đảng thế này thì làm cái gì, phục vụ ai? Nhưng nghĩ đến mình là dự bị, nên anh không dám phản đối.

Khi mâm rượu dọn ra, anh để cả bát đũa phần anh vào. Nhưng cả ban Chi ủy không tán thành cho anh ăn chung, lấy lý do là anh góp ít, và còn phải hầu vặt.

Anh phải chịu.

Anh chú ý nghe câu chuyện chúng nó nói, biết là chúng nó thảo luận việc tạm cấp công điền công thổ. Chúng nó tranh nhau ruộng tốt, không hề đả động gì đến bần cố nông.

 Anh nghĩ:

"Họ thừa ruộng rồi mà còn cứ tranh nhau lấy thêm ruộng, là bất công, là làm mang tiếng Đảng".

Rồi nói:

- Theo ý kiến tôi, công điền công thổ phải cấp cho những người thiếu ruộng cày trước hết.

Thằng Giảng quắc mắt:

- Mày biết gì? Mày muốn chống cấp ủy phỏng?

Anh yên lặng, xuống bếp, vừa đi vừa dằn:

- Mày!

Tối hôm ấy, trước khi giải tán, hội nghị phê bình và tự phê bình để rút kinh nghiệm. Thằng Giảng, làm chủ tịch, phát biểu:

- Tất cả đều ưu điểm, duy có cơm là khuyết điểm. Thứ nhất là thiếu lá chanh. Thứ hai, là nước luộc gà mặn quá. Nguyên nhân là do đồng chí Ngân không chú trọng công tác. Công tác làm bếp cũng là để phục vụ Đảng, vì có thực mới vực được đạo. Như vậy là đồng chí thiếu tinh thần trách nhiệm. Lần đầu, hội nghị hãy tạm phê bình. Lần sau, nếu tái phạm, sẽ đưa đồng chí ra cảnh cáo và có thể khai trừ, vì đồng chí mới là đảng viên dự bị.

 Anh Ngân xin chịu lỗi, hứa sửa chữa, nhưng tức lắm.

Anh chán nản, muốn xin ra Đảng.

Nhưng anh nghĩ:

 "Đảng lãnh đạo kháng chiến cho nước hoàn toàn độc lập, cho dân được sung sướng, không có lẽ đảng viên nào cũng như bọn này, thì ai tin Đảng nữa? Chắc họ láo, dùng Đảng để lấy vây cánh cho dễ áp bức bóc lột nhân dân".

 Anh định hễ gặp anh cán bộ ở trên về thì hỏi.

Nhưng anh lại sợ uy thế chúng nó. Vì anh chưa được tuyên bố chính thức. Rồi anh đắn đo:

"Xin ra Đảng thì thỉnh thoảng không mất cả ngày cơm nhà, đến hầu hạ, đỡ bị họ bắt nạt, khỏi bực mình thêm. Hay là ta giới thiệu nhiều người như ta vào Đảng, để ngăn họ khỏi làm mang tiếng Đảng".

Anh tìm bẩn cố nông tốt, đề nghị với thằng Giảng kết nạp. Nhưng nó mắng:

- Là đảng viên mà không thuộc điều lệ! Dự bị có quyền giới thiệu à? Rồi hôm nào họp Chi bộ đem việc này ra mà kiểm thảo. Quân ngu, vô học có khác, cho vào Đảng chỉ nặng mình!

Anh càng chán nản, càng muốn xin ra Đảng để khỏi bị khai trừ, thì nhục.

Một lần, anh xin ra Đảng thật. Nhưng không được. Nó bảo:

- Ra để lộ bí mật, để phản Đảng à? 

Nhưng chủ ý nó muốn giữ anh là để hầu hạ chúng nó.

Anh như bị mắc vào cạm. Quá thời hạn dự bị đã lâu, anh không dám nhắc nhỏm. Đến mãi hơn một năm, một hôm, nó gọi anh đến để trách:

- Tôi thì lắm công tác, cho nên những việc lặt vặt như việc tuyên bố chính thức cho đảng viên dự bị, tôi quên mất, thế mà đồng chí cứ yên. Như vậy là khuyết điểm, thiếu đảng tính. Tôi phê bình đồng chí điểm đó.

Lần này là lần thứ hai, nó bảo anh thiếu đảng tính. Anh chẳng hiểu đảng tính thế nào. Nó tiếp:

- Kể ra, đồng chí từ khi vào Đảng, cũng nỗ lực công tác. Để rồi hôm nào tôi triệu tập ban Chi ủy, tuyên bố chính thức cho.

*
*      *

Từ ngày cầm quyền lãnh đạo, thằng Giảng hoành hành không coi ai ra gì. Nó hách hơn trước. Nó bắt nạt cả làng. Ai cũng oán nó, nhưng ai cũng sợ nó.

Năm 49, Chính phủ mua thóc định giá. Đáng lẽ nó bán bốn tạ. Nhưng vì giá thóc ở thị trường cao hơn của Chính phủ định, nên nó chỉ bán một tạ. Còn ba tạ nó bắt nhân dân gánh thay.

Về việc mua thóc này, nó lòe dân, bắt bán rất nhiều. Nhưng ai hối lộ, thì nó mua ít. To nhất là món nó cùng thằng Khoa, chủ tịch xã, lấy một nghìn đồng của ông Hội, trung nông, và món hai nghìn đồng của ông Được, bần nông. Hai thằng chia nhau, mỗi đứa một nửa.

Thóc mua về thì tốt, nhưng nó đổi thứ xấu của nó, rồi giao cho dân xay để bộ đội ăn. Nó bắt dân nộp riêng cho nó mỗi tạ là hai cân, nói rằng trừ hao hụt. Trước khi nộp kho, nó trộn sỏi để ăn bớt một trăm bẩy mươi cân gạo. Nó lấy cái hòm gian ở ngoài đình về đựng gạo, rồi chiếm làm của riêng.

Khi Chính phủ trả tiền thóc, nó đổi lấy tất cả giấy trăm đỏ mới, đùn toàn bạc rách cho nhân dân. Nhân dân kêu. Nó bảo đó là lỗi của Chính phủ.

Năm 1951, nó gọi thuế nông nghiệp là thuế tuyệt nghiệp. Khi chỉnh lý, nó thiếu sáu tạ, nhưng nhất định dây dưa, mãi tháng ba năm sau, mới nộp hết. Nó biết nhân dân đem thóc đi nộp thuế bao giờ cũng gánh thừa, nên không lần nào nó đem đủ phần của nó. Thiếu bao nhiêu, nó vay chỗ thóc thừa của nhân dân. Như vậy nó đỡ công gánh. Và khi nhân dân đòi, thì phải đến nhà nó mà lấy. Nó gạt thóc xấu và cân gian để trả. Nhiều người khóc dở mếu dở. Năm 1952, nó kêu hết thóc nộp thuế, để gán cho Ủy ban xã một con trâu đực già và một con lợn nái, bằng giá rất đắt. Để nhẹ thuế, nó sang tên con trai nó hai mẫu năm sào mười hai thước, và cho em ruột nó mượn một mẫu hai sào. Nó lại khai man diện tích và sản lượng. Nó khai man cả nhân khẩu: Nghị định nói rằng ai chết từ ngày 1 tháng 7 trở về cuối năm, thì vẫn được tính nhân khẩu thuế nông nghiệp. Thằng con nó chết từ tháng 6, nhưng nó khai là tháng 7.

Nó không cho vợ nó đi dân công bao giờ. Nó sợ khó nhọc và nguy hiểm. Nó bảo vì Bí thư Chi bộ bận công tác Đảng, nên kể cũng như thoát ly. Thì vợ được kể như chủ gia đình, được miễn dân công. Con nuôi nó cũng được miễn, vì nó bảo là cần vụ và tự vệ cho Bí thư. Sự thực, nó sợ mất việc nhà của nó. Nó xui em ruột nó đi đến nửa đường thì nên cáo ốm mà đòi về. Nhưng anh Năng, cố nông, què chân, thì nó bắt đi. Anh xin ở lại thì nó đưa ra tòa án, xử ba tháng tù, về tội chống kháng chiến.

Ngoài anh Ngân ra, nó nhất định không kết nạp vào Đảng thêm bần cố nông nào, trừ họ hàng và tay sai của nó. Nó bảo Đảng không cần người không có văn hóa, không có gia sản. Cho những hạng khố rách áo ôm, i tờ không biết, vào Đảng, chỉ tổ làm xấu Đảng.

 Đó là những việc cả làng biết. Riêng anh Ngân còn biết nhiều hơn người làng. Anh biết cả hai tội lớn nữa, mà nó bắt anh phải theo kỷ luật Đảng mà giữ bí mật. Nó dọa hễ tiết lộ ra, thì nó khai trừ ngay.

Việc thứ nhất, là vào năm 1951, nó giết một anh bộ đội, để chiếm đoạt một triệu rưỡi bạc, và đốt kho, để vu oan cho anh ta, ăn cắp ba tấn gạo của Chính phủ.

Nguyên một buổi chiều, nó ra đường làng, ngồi chơi ở hàng nước. Một anh bộ đội đi công tác cũng vào nghỉ ở đấy. Anh kêu sốt. Khi anh mở ba lô ra để lấy thuốc, thì nó trông thấy một tập giấy bạc rất dầy. Nó lập tâm lấy. Nó mời anh về nhà. Anh tưởng đó là tình quân dân nhất trí, nên theo nó.

Đêm đến, anh lên cơn rét, đắp chăn, kêu rên, mê mẩn. Nó làm ra bộ săn sóc, trùm chăn kín đầu cho anh. Thế là nó cầm chiếc búa đanh, đánh vào gáy anh một cái thực mạnh.

Cho là anh chết. Nó thay cho anh bộ quần áo nâu, kéo anh ra đến nhà chứa thóc của Chính phủ, rồi gọi anh Ngân đến, làm ra vui vẻ, nói: 

- Đây là thằng ăn trộm thóc công, đã bị trừng phạt xứng đáng. Đồng chí là đảng viên, chắc cũng đồng tình với tôi, là ta phải thẳng tay trừ lưu manh. Tôi không muốn để người ngoài Đảng biết việc này, vì họ không thông chính sách như đồng chí. Vậy đồng chí đến chôn nó hộ tôi. Chôn ngay và chôn ở góc vườn. Mai tôi sẽ báo cáo thành tích của tôi với Huyện ủy.

 Anh Ngân nghi.

Khi ôm xác anh bộ đội, bỗng anh thấy anh này còn ù ớ nói.

Thằng Giảng sợ quá, vội vàng sai anh Ngân đi đào hố. Một mình ở lại, nó bồi thêm cho anh bộ đội một búa nữa, vỡ sọ, lòi óc ra.

Anh Ngân biết rõ mưu mô của nó, nhất định không chôn. Anh đòi báo cáo với Chi bộ. Nhưng nó nói cứng:

- Chi bộ cũng là tôi. Đồng chí muốn chống lại chính sách của Đảng thì đồng chí bảo.

Hơi một tí là nó giơ Đảng với chính sách ra lòe, nên anh Ngân không biết trả lời thế nào được. Anh đành khênh anh bộ đội đi chôn. Nhưng khi đương làm việc, anh lẳng lặng trở lại gần buồng nó, nhìn qua kẽ cửa, anh thấy nó đếm tiền, cạnh đó là chiếc ba lô. Không thể để yên cái thằng khốn nạn nó đang tâm giết một người cầm súng cứu nước, để ăn cắp tiền của Chính phủ. Anh đẩy mạnh cửa, sồng sộc vào, bắt quả tang. Thấy anh, nó giật mình, nhưng giữ ngay được bình tĩnh. Nó phân trần là thằng lưu manh ăn mặc giả bộ đội. Muốn mua chuộc anh, nó cho anh bộ quần áo ka ki. Nhưng anh nhất định không lấy và lập tâm điều tra xem thực hư thế nào, để rồi báo cáo cấp trên. Đến nửa đêm, nó đốt một cái nhà lá cũ của nó vẫn bỏ không. Rồi hôm sau, nó phao tin là cháy mất kho thóc chứa ba tấn gạo của Chính phủ gửi ở đấy. Nó trình Ủy ban chứng nhận.

Mấy hôm sau, thấy có người đi hỏi thăm để tìm tung tích một anh bộ đội mang theo một triệu rưỡi đi, rồi mất tích. Anh Ngân đem việc gian ác của thằng Giảng và tố cáo.

Khi cấp trên về điều tra, thằng Giảng vẫn bình tĩnh như thường, nói là người ta đổ oan cho nó giết bộ đội để chiếm của và chôn ở vườn. Khi người ta khám vườn, đào chỗ chôn anh bộ đội, thì không thấy xác đâu.

Về việc này, ngay hôm đầu, nó kể công là có tên phản động len vào kho gạo của Chính phủ để đốt, bị nó bắt được và đánh chết.

Nhưng sau, sợ anh Ngân tiết lộ bí mật, nên nó khôn ngoan, thủ tiêu xác anh bộ đội đi mất. Nó không dám nói là đánh chết nữa, mà là tên phản động chạy trốn được. Còn việc anh bộ đội mất tích, thì nó không đả động đến, nhưng mắt anh Ngân đã trông thấy sự thực, và nhận rõ trước sau nó nói hai phách khác nhau, vì thế nó sợ anh.

 Nó dọa:

- Tôi với anh cùng là đồng chí. Tôi lại là người giới thiệu anh vào Đảng, nên có trách nhiệm theo dõi, giáo dục anh. Việc tôi làm hôm nọ minh bạch như ban ngày. Pháp luật đã chứng thực rõ ràng. Anh chớ nên có tư tưởng sai lệch về tôi. Từ nay, ai còn xuyên tạc việc ấy ra thế khác, sẽ bị tòa án quân sự trừng trị nghiêm khắc về tội phản tuyên truyền.

 Anh Ngân cố tìm xác anh bộ đội để vạch tội của thằng Giảng, nhưng không sao thấy được. Thế là nó ăn ngon ba tấn gạo và một triệu rưỡi bạc của Chính phủ. 

Việc thứ hai của nó là năm 52, khi ta mở chiến dịch Tây Bắc, thẳng Giảng biết quy luật chiến tranh, đoán thế nào địch cũng nhảy dù một nơi nào đó, hòng phân tán lực lượng của ta, để đỡ đòn cho chiến trường chính. Chắc hẳn nó mong vùng nó được giặc đến, để nó được làm chó ngựa như bọn thằng Bảo Đại, để lấy lại quyền lợi xưa. Nên nó sửa soạn đón giặc. Nó lấy ở trên trần cái ảnh mặt phèn phẹt của thằng bù nhìn, lau chùi cho hết bụi, đóng vào khung kính cẩn thận, rồi cất đi. Nó lại may cờ trắng. Rồi nó họp Chi ủy, phần công nhau đi mua gạo và lợn, để tích trữ ở nhà nó. Anh Ngần hỏi thì nó nói:

- Đây là chiến thuật để cứu dân cứu làng.

Nghĩa là nó chuẩn bị bán nước. May mà thằng Pháp không lên, nên làng nó thoát khỏi tan tành vì bị đốt, cướp, giết, hiếp.

Chỗ gạo ế, bị mốc, nó đem cho dân vay.

Anh Ngân biết nó tấp tểnh làm Việt gian, nhưng sợ nó đổ tội là chống cấp ủy, chống chủ trương của Đảng, nên không dám báo cáo cấp trên. Anh chỉ nghĩ: "Không khi nào Đảng lại hàng giặc. Những thằng này chỉ là những đứa đội lốt đảng viên để làm hại thanh danh Đảng".

Anh thấy cần thiết ở lại Đảng, để cản tay chúng nó lại. Dù anh thân cô thế cô, nhưng nhất định anh phấn đấu.

Năm 53, có sắc lệnh triệt để giảm tô. Thằng Giảng xui bọn chúng dìm đi. Nhưng anh Ngân biết. Anh đi cổ động nông dân, rủ nhau thật đông đến nhà nó, đòi thi hành sắc lệnh.

Nó chịu nhượng bộ.

Từ đó, nó thấy rõ anh Ngân là người nguy hiểm cho nó, nhất là nay mai lại phát động quần chúng. Vì nó am hiểu chủ trương, nên nó bắt đầu ăn mặc rách rưới và kêu túng bấn. Nó cho vợ nó đi xin rau, xin tương, của nhà bần nông. Nó ngọt ngào với mọi người, để tuyên truyền:

- Làng nào chứ làng này thì làm gì có địa chủ mà phát động với phát địa. Đảng vừa quy định tôi là bần nông tích cực.

Đối với anh Ngân, nó dùng thủ đoạn thâm độc hơn. Nó khen anh là tiến bộ, là có triển vọng, phải nhận một công tác khác, hợp với khả năng hơn, cho khỏi phí người.

Thế là nó vận động để anh Ngân được điều đi một công trường tận Lạng Sơn.

Tống anh đi xa, thằng Giảng đỡ được mối lo, một kẻ thù. Nó tiếp tục mơn trớn nông dân. Nó đến từng nhà, nói chuyện:

- Chúng ta thân mật với nhau hàng mấy đời rồi. Có cái gì không nên không phải, thì ta đóng cửa bảo nhau. Chả nên tố cáo nhau ra làm gì. Ta nên giữ lấy đức về sau cho con cháu hưởng. Không nên gây oán gây thù nhau ra làm gì. Chúng ta ăn ở với nhau lâu dài. Cán bộ chỉ về một thời gian rồi lại đi. Vả lại, cán bộ cũng là đảng viên như tôi, chứ xa lạ gì. Tôi tự phê bình trước kia có ít nhiều khuyết điểm. Nhưng trước không phải thì nay phải. Bây giờ tôi là bần nông rồi. Nay mai phát động, chúng ta cùng đấu tranh cho giai cấp chúng ta được sung sướng. Đời tôi cũng đại lao đại khổ, bị áp bức bóc lột rất nhiều. Cho nên từ khi vào Đảng, tôi hết sức bênh vực quyền lợi cho nông dân. Tôi đã hy sinh nhiều quá, nên bây giờ hai bàn tay trắng, bữa nào cũng phải ăn độn, mùa rét không còn chăn mà đắp. Có ít ruộng, tôi bán và cho đi tiệt rồi. Bây giờ thật là vô sản. Nay mai, tôi đề nghị xin công tác thoát ly. Tôi còn mấy cái nhà gạch đó, anh em ai muốn đến ở thì ở. Đồ đạc tôi để lại tuốt, ai muốn dùng, cứ lấy về mà dùng.

*
*      *

Đội công tác phát động quần chúng giảm tô đợt I về xã, dựa vào ban chi ủy để nhờ giới thiệu bần cố nông tốt. Nhưng đội gặp toàn những người không trong sạch. Cho nên, ở nửa tháng rồi, mà không sao phát hiện được tội ác của thằng Giảng. Cũng không tìm ra được thằng địa chủ nào là đầu sỏ.

Là vì thằng Giảng đã khéo cài tay sai để bao vây Đội mắc vào tổ kén. Nhưng đồng chí đội trưởng sáng suốt, sau khi nghiên cứu lịch sử chi bộ xã, đề nghị toàn Đội nhất định chịu đi đường vòng, bỏ rễ cũ, tự lực bắt rễ mới, và đồng thời, gọi đồng chí Ngân về xã.

Đồng chí Ngân về, yêu cầu Đội trấn áp ngay thằng Giảng. Từ đó, nhân dân phấn khởi, tố cáo hết tội ác của nó.

Những thằng địa chủ cường hào, gian ác, phản động, đội lốt đảng viên, lợi dụng danh nghĩa Đảng để bôi nhọ Đảng, đều bị xử trí thích đáng.

Những bần cố nông lịch sử trong sạch, được nhân dân tin yêu, kiên quyết đấu tranh, được bồi dưỡng trong phong trào, thì được kết nạp vào Đảng.

Hôm nghe tòa án nhân dân đặc biệt tuyên bố án thằng Giảng, mấy nghìn người đồng thanh hoan hô và vỗ tay đến mười phút.

Rồi tất cả kêu không ngớt:

- Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

- Hồ Chủ tịch muôn năm!

- Đảng Lao động Việt Nam muôn năm!


Mời đọc Bản chụp dạng ảnh

Trong Tập truyện ngắn "Nông dân với địa chủ"


Mời Đọc/Lấy về Bản chụp dạng PDF
PDF


Mời đọc tại ISSUU





Tham khảo: Các bài viết liên quan

Xóm Bến Sim



Minh họa: Góc Truyện Xưa - Kính Hồng
Minh họa: Kho tàng truyện hay

Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Cô Vân | 2. Phú Thăng | 3. Kính Hồng


Mời đọc Bản đánh máy

Trong Tập truyện ngắn "Nông dân với địa chủ"

Xóm Bến Sim

Nguyễn Công Hoan


Xã Bình Dân có mười xóm. Xóm nào cũng trên dưới một trăm nông hộ. Duy có xóm Bến Sim là bé nhất, đất rộng người thưa, hai mươi ba gia đình ở lơ thơ, xa nhau, trên khoảng chừng bốn cây số vuông. Xóm ấy trước kia thuộc xóm An Ninh. Nhưng từ sau phát động giảm tô, hai mươi ba gia đình này mới rời khỏi An Ninh, để lập riêng một xóm, lấy tên là xóm Bến Sim.

Người ta nói là cả cái khoảng rộng của Bến Sim bây giờ, gồm những thửa ruộng lúa nặng trĩu bông vàng, và những con đường màu gan gà lượng từ sườn đồi này sang sườn đồi khác, nối nhà nọ với nhà kia, cho đến tận huyện, tận thị xã, thì ngót ba mươi năm về trước, chỉ là rừng hoang, cây cối rậm rạp, rắn rết, cầy cáo rất nhiều. Lắm buổi sáng có cả vết chân cọp.

Người khai thác đầu tiên chỗ đất hoang này, hiện nay là một trung nông có bốn mẫu ruộng. Dân cả vùng vẫn gọi ông là ông Hai Mạ.

Lưu manh



Minh họa: Hoài Niệm – Kính Hồng
Minh họa: Hoài Niệm – Kính Hồng
Minh họa: Kênh Cô Vân

Minh họa: Kho tàng truyện hay


Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Phú Thăng | 2. Cô Vân | 3. Kính Hồng


Mời đọc Bản đánh máy

Lưu manh

Nguyễn Công Hoan


Anh Nong - không biết gọi đúng thì là Nong hay Long - ở hàng xóm nhà thằng địa chủ Lại. Anh nghèo quá, không hiểu nghèo từ bao nhiêu năm nay rồi. Chỉ biết rằng ngày còn ông nội anh, thì ông cụ bán cái nhà trên cho bố thằng Lại hiện nó ở bây giờ. Chỉ còn giữ lại cái bếp và một tí đất làm sân, tất cả chưa đầy mười thước.

Kể ở hàng xóm nhà địa chủ, thì có cái tiện, nhưng có nhiều cái bất tiện. Tiện, vì thỉnh thoảng nhà nó có việc, cần người làm giúp, thì nó gọi sang ngay, được làm và được ăn. Không tiện, vì nhà nó có nhiều việc lặt vặt quá, ngày nào cũng gọi, anh mất cả thì giờ làm cho người khác. Vì làm những việc linh tinh như thế, thì cứ nhập nhằng, nó không cho gì, bảo rồi để gộp thành một công cho dễ tính.

Bởi luôn luôn anh phải làm không cho thằng Lại, nên không có gì để ăn. Anh đói, không có một thước ruộng, không có một hạt thóc, nên lắm hôm, anh phải ăn cháo cám, cháo sắn, hoặc củ chuối để trừ bữa. Những lần không có cám, không có sắn, không có củ chuối, thì anh chịu nằm bệt ở nhà, chờ cho đến khi có việc làm.

Chị Trân học



Minh họa: Góc truyện xưa – Kính Hồng
Minh họa: Góc truyện xưa – Kính Hồng
Minh họa: Kho tàng truyện hay

Mời nghe đọc

Mời nghe đọc tại - Internet Archive


Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Cô Vân | 2. Phú Thăng | 3. Kính Hồng


Mời đọc Bản đánh máy

Trong Tập truyện ngắn "Nông dân với địa chủ"

Chị Trân học

Nguyễn Công Hoan


Vì phải đi ở ngay từ năm lên sáu, làm lụng vất vả quá sức, nên cha tôi đã xấu xí lại mắc thêm bệnh suyễn và bệnh tê thấp. Cho mãi đến năm bốn mươi nhăm tuổi, cha tôi mới lấy được vợ. Mẹ tôi lùn và nói ngọng, lại bị bệnh đau bụng kinh niên, nên cũng ế chồng. Sau, hai người cùng ở làm cho thằng địa chủ Ngữ, nên lấy được nhau. Những người ác mồm ác miệng cứ chế là đẹp đôi.

Khi có mang tôi, vì mẹ tôi quặt quẹo luôn, nên không đi ở nữa. Cha tôi lấy số tiền dành dụm được, dựng ngôi nhà nhỏ ở đất của trường làng. Có con xong hai người cùng đi làm thuê để kiếm ăn. Tôi ốm yếu. Lên bảy mà chỉ bằng đứa lên năm. Đáng lẽ vào tuổi tôi thì đã đi ở được, cha mẹ khỏi phải nuôi. Năm ấy, mẹ tôi lại có mang em tôi. Gần đến tháng đẻ, thì vào kỳ thuế. Vì không có tiền nộp, nên cha tôi bị bọn cường hào bắt, đánh đập, cùm kẹp rất đau đớn. Chúng bắt bán ruộng để nộp sưu, nhưng mẹ tôi không bán:

- Giữ được ruộng thì còn sống, bán hết ruộng thì chết đói cả nhà.

Vì vậy mẹ tôi dạm bán tôi cho thằng Đìn, lấy mười hai đồng. Nhưng tôi khóc, nhất định không đến nhà nó. Tôi cho bán tôi thì tôi mất cha mẹ, mà cha mẹ tôi cũng mất tôi. Tôi chỉ bằng lòng đi ở, bán sức trong ít lâu, thì còn có ngày được trở về nhà.

Phấn khởi



Minh họa: Góc truyện xưa – Kính Hồng
Minh họa: Kho tàng truyện hay

Mời nghe đọc

Mời nghe đọc tại - Internet Archive


Diễn đọc: 1. Cô Vân | 2. Phú Thăng | 3. Kính Hồng


Mời đọc Bản đánh máy

Phấn khởi

Nguyễn Công Hoan


Trên đường về Thủ đô, tôi tạt vào xã C. G. mà tôi vừa công tác phát động cải cách ruộng đất. Tôi hăm hở đến nhà rễ của tôi là chị Thêm. Lòng tôi hồi hộp. Hẳn chị Thêm cũng phải sửng sốt, khi gặp tôi.

Nhưng đến sân, tôi không thấy một tiếng động. Tôi gọi. Không ai trả lời. Con chó khoang nằm ngủ ở hè, hé mắt nhìn tôi, rồi vừa nhắm lại, vừa ngoe nguẩy đuôi.

Tôi vào trong nhà, đặt ba lô trên chõng. Không có gì khác lạ ở trong gian nhà ụp sụp này, trừ cái ảnh Hồ Chủ tịch mới nguyên, đóng bằng khung tre, ở giữa nhà. Ảnh treo thấp quá, và hơi lệch. Tôi chữa lại cho cao lên và ngay ngắn hơn.

Tôi ra giếng rửa chân tay, thì nghe thấy tiếng chị Vít, hàng xóm. Tôi hỏi thăm chị ấy. Anh ấy đi họp du kích. Chị ấy nói chuyện là chị Thêm đi dân công từ nửa tháng nay. Bà Thêm thì từ ngày Đội rút, không ngày nào là không chống gậy, mò mẫm đi chơi khắp nhà bà con trong làng. Có hôm đến sẩm tối mới về.

Lúc ấy có lẽ hơn năm giờ chiều rồi. Bụng tôi đã thấy đói. Tôi vào nhà lấy gạo, thổi sẵn cơm, để đợi bà Thêm. Ngót bốn tháng ba cùng với gia đình này, tôi không là khách lạ nữa.

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

TẠP VĂN


TÁC PHẨM VĂN HỌC ĐƯỢC GIẢI THƯỞNG

TẠP VĂN


Theo "Tuyển tập Nguyễn Công Hoan" (3 tập),
tập III, Nhà xuất bản Văn học - 1986



Nhan đề: Tạp Văn. Tập 3
Tác giả: Nguyễn, Công Hoan
Năm xuất bản: 2005

MỤC LỤC

  1. Điều làm tôi ngạc nhiên nhất là lần đầu tiên tôi được gặp Bác, Bác không làm tôi ngạc nhiên tý nào
  2. Lọc ý và chữ
  3. Chỉ văn học có ngôn ngữ nhuần tính dân tộc mới sống mãi với dân tộc
  4. Nói về truyện ngắn


Nói về truyện ngắn


TẠP VĂN

Nói về truyện ngắn


Theo "Tuyển tập Nguyễn Công Hoan" (3 tập),
tập III, Nhà xuất bản Văn học - 1986

Chỉ văn học có ngôn ngữ nhuần tính dân tộc mới sống mãi với dân tộc


TẠP VĂN

Chỉ văn học có ngôn ngữ nhuần tính dân tộc mới sống mãi với dân tộc


Theo "Tuyển tập Nguyễn Công Hoan" (3 tập),
tập III, Nhà xuất bản Văn học - 1986

PDF







Lọc ý và chữ

TẠP VĂN

Lọc ý và chữ


Theo "Tuyển tập Nguyễn Công Hoan" (3 tập),
tập III, Nhà xuất bản Văn học - 1986

PDF






Điều làm tôi ngạc nhiên nhất là lần đầu tiên tôi được gặp Bác, Bác không làm tôi ngạc nhiên tý nào


TẠP VĂN

Điều làm tôi ngạc nhiên nhất là lần đầu tiên tôi được gặp Bác, Bác không làm tôi ngạc nhiên tý nào


Theo "Tuyển tập Nguyễn Công Hoan" (3 tập),
tập III, Nhà xuất bản Văn học - 1986