Ads 468x60px

.

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2024

GIỚI THIỆU SÁCH - “Nhớ gì ghi nấy” của Nhà văn Nguyễn Công Hoan - Ký ức về Hà Nội đầu thế kỷ XX


GIỚI THIỆU SÁCH
“Nhớ gì ghi nấy” của Nhà văn Nguyễn Công Hoan
- Ký ức về Hà Nội đầu thế kỷ XX

Phòng Địa chí


Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977), quê ở làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Ông là người đặt viên gạch đầu tiên xây nền móng cho dòng văn xuôi hiện thực phê phán Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ cầm bút ông đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam hơn 300 truyện ngắn, hơn 20 tiểu thuyết và nhiều ông trình nghiên cứu văn học có giá trị. Nhiều tác phẩm và truyện ngắn của ông đã được chuyển thể sang sân khấu và điện ảnh. Ông là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đầu tiên. Năm 1996 ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học.

Trong những bản thảo của nhà văn để lại, có một tập 7 quyển vở nhỏ ghi chép từ năm 1970 cho tới trước ghi mất về những điều trải qua, tai nghe mắt thấy trong đời lên tới 600 đoạn ghi chép. Lần in năm 1978, nhà xuất bản Tác phẩm mới chỉ chọn in một số đoạn trong tập bản thảo của nhà văn lấy tên “Nhớ và ghi” gồm 132 trang. Theo Nhà xuất bản, những điều ghi chép của ông chia làm 3 loại:
1. Những việc xảy ra trong đại gia đình mà nhà văn có lẽ muốn cho con cháu biết.
2. Một số nhân vật (những tên Tây thực dân, quan lại, địa chủ, tư sản mại
bản) mà tác giả nghe biết và ghi lại.
3. Những điều tai nghe mắt thấy phần nhiều vào đầu thế kỷ này khi nhà văn đương tuổi thanh niên. Đó là những ghi chép về Hà Nội, những nơi nhà văn đã ở, làm việc và đi qua.

​Năm 1993, nhà xuất bản Hà Nội chọn tiếp những đoạn chưa công bố và xếp những sự việc theo một mạch trong những tiêu đề mà nhà xuất bản đặt tên, để giúp bạn đọc dễ theo dõi như: Vua quan ta Toàn quyền tây; Những chí sĩ yêu nước; Nghề làm sách báo; Buôn bán kinh doanh; Phố phường kẻ chợ. Lần in này gồm 173 trang mang tên “Nhớ về một thưở (Nhớ gì ghi nấy)”.

​Năm 1998, Nhà xuất bản Hội Nhà văn in bản đầy đủ tập bản thảo với độ dày 770 trang và mang tên “Nhớ gì ghi nấy”.

​Ngoài ra, Nhà xuất bản Trẻ - Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 chọn những trang viết ông dành riêng để nhớ về Hà Nội xưa cũ vào những thập niên đầu của thế kỷ XX với tên sách “Nhớ và ghi về Hà Nội” gồm 263 trang.

Qua những trang sách, có thể nhận thấy sự hồn nhiên, tinh nghịch, phá vỡ quy tắc của cậu học sinh trường Bưởi Hà Nội khi chưa đầy mười tuổi.

Mặt khác, từ nhỏ, Nguyễn Công Hoan đã quen với nhân tình thế thái người phường phố, thành thạo sự đời, và chả coi cái gì làm quan trọng. Thành thử, tuy không bao giờ phải trực tiếp đả động tới chuyện Hà Nội, nhưng trong cái nhìn của ông, chất Hà Nội rất rõ. Toàn bộ đời sống của Hà Nội thời nửa thuộc địa nửa phong kiến đã hiện lên rõ nét: các phương tiện giao thông đương thời; các trường học; nghề in, các nhà in và tình hình xuất bản; nghề ảnh; các rạp hát và chiếu phim; các hội; chuyện buôn bán; chuyện cô đầu…

Số lượng các nhân vật được đề cập đến trong tác phẩm là khá lớn từ Toàn quyền Pháp đến vua quan ta, những tay tư sản Pháp hay tư sản người Việt, các chủ nhà in, các nhà văn, nhà thơ đương thời, các nghệ sĩ… cho đến thằng ăn cắp, người đi đòi nợ thuê.

Nhà văn dành một số trang để nói về doanh nhân Bạch Thái Bưởi, luật sư Phan Văn Trường, dịch tả ở Hà Nội hè năm 1914, chuyện năm 1918 đường Cổ Ngư (Thanh niên) vẫn thắp đèn dầu hỏa, nạn vỡ đê Gia Lâm các năm từ 1924 đến 1926, tên một số đường phố thời người Pháp cai trị, hội Khai Trí Tiến Đức, hiệu mũ Hai Chinh, trang phục thời kỳ này… Qua tác phẩm, bạn đọc biết rạp chiếu bóng đầu tiên của Hà Nội là rạp ở phố Hàng Quạt. Rồi đến rạp Pathé Frères ở miếng đất sát đền Bà Kiệu, sau đó là rạp Palace ở Tràng Tiền giá vé đắt hơn vì sang hơn. Vở kịch nói đầu tiên của Việt Nam "Chén thuốc độc" do Vũ Đình Long, chủ nhà in, nhà xuất bản Tân Dân và nhiều tờ báo có tiếng ở Hà Nội lúc bấy giờ viết và đăng trên tạp chí "Hữu thanh" năm 1921. Hồi Nguyễn Công Hoan còn đi học, phố Hàng Giấy còn là phố cô đầu, các cô đầu sau mới chuyển xuống phố Khâm Thiên. Phố Phùng Hưng, nhà số 25 chuyên cho thuê nhà làm đám cưới những đôi vợ chồng mà chồng người quê vợ người Hà Nội, chuyện nghĩa trang Hợp Thiện… Chuyện về Hà Nội của tác giả trong tác phẩm còn rất nhiều và không thể kể hết trong khuôn khổ một bài giới thiệu.

Những bản in mà chúng tôi giới thiệu ở trên hiện đang có tại:
Thư viện Hà Nội
- 47 Bà Triệu, Hoàn Kiếm
- 2B Quang Trung, Hà Đông

Xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc.

Tài liệu tham khảo:
1. Nhà văn Việt Nam hôm nay với Hà Nội: Kể chuyện đời sống văn học / Vương Trí Nhàn. - H.: Nxb. Hà Nội, 1986. -177tr.; 19cm
2. Nhà văn Việt Nam hiện đại. - H.: Hội nhà văn, 1997. - 809tr ; 25cm



Không gian đô thị và cảm quan hiện thực trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan


Không gian đô thị và cảm quan hiện thực trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan

Nguyễn Thị Thanh Tâm
Trường Cao đẳng Hải Dương



Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2024

Không chỉ là “cái lò gạch cũ”!


Không chỉ là “cái lò gạch cũ”!

Nguyễn Thanh Tú


Nam Cao đưa đến bản thảo “Cái lò gạch cũ”, nhà xuất bản bèn đổi tên, có thể còn có một lý do sau: nhà văn Nguyễn Công Hoan trước đó vừa cho in một truyện “đình đám” có tên “Cái lò gạch bí mật”. Hẳn nhiên có lý vì dù thế nào cái tiêu đề tác phẩm na ná nhau, nhất là lúc bấy giờ Nam Cao chưa có tên tuổi gì, trong khi đó tác giả Nguyễn Công Hoan đã rất ấn tượng với độc giả!

Với phong cách trào phúng đặc sắc, nhất là một cách kể rất “hóm”, truyện “Cái lò gạch bí mật” ra đời là một cách nhại truyện trinh thám đang được ưa chuộng như một “mốt” thời thượng lúc bấy giờ. Nhân vật chính tên Trinh (cũng là lối nhại “trinh thám”) vì đọc quá nhiều truyện điều tra mà mắc bệnh hoang tưởng, nhìn cái gì cũng ra “hình sự” cả.

Hôm ấy “điều tra” một vụ “giết người” Trinh yêu cầu ba người bạn nữa, trong đó có “tôi” – người kể chuyện, đi “thi hành công vụ”. Theo hiệu lệnh của Trinh, đang đêm họ bí mật đi ra cánh đồng rồi cả bốn trèo lên bốn góc cái lò gạch cũ. Đây là cái nhìn và suy nghĩ của “tôi” trước khi “bắt quả tang”, một vụ án, theo Trinh là vụ “giết người ghê gớm”, có thể nổi tiếng nhất nhì xứ Bắc Kỳ về độ nguy hiểm:
“Trông bốn thằng chồm chỗm, đen ngòm, ngồi trên bốn góc thành tường cũng đen ngòm, tôi nghĩ ngay đến cái xe đám ma. Mà cũng may, nghĩ vậy, tôi tự nhiên thấy phấn chấn trong lòng. Vì nếu cảnh này giống cái xe đám ma thì sao chả có một cái xác chết. Cái xác chết ấy bao giờ cũng ở giữa xe. Thế vị chi là thằng giết người chốc nữa nó chui vào giữa lò. Thế thì nó chết. Chúng tôi sống!”…
“Nó” chui vào thật! “Nó” loay hoay. “Nó” ngồi xuống. Chưa thấy hiệu lệnh… Chắc là Trinh, “trưởng toán điều tra” muốn “cất mẻ vó” to hơn! Nhưng rồi “nó” đứng dậy. “Nó” ra cửa lò. Một hiệu lệnh vang lên… Hẳn nhiên là tên “giết người” đã chạy mất vì các “điều tra viên” không “chuyên nghiệp” lại không “ăn khớp” với nhau. Cả bốn chỉ còn “nước” tìm “tang vật”. Rồi cũng tìm thấy:
“Theo ngón tay trỏ, ngọn đèn bấm của Trinh to ra một tia lửa sáng như ban ngày. Tang vật đó to bằng vành khăn đàn bà, cuộn khoanh lù lù trên mặt đất thành một bãi, đầu hình búp măng, màu vàng, mà đích là có hơi ngạt…!!!”…
Vì là truyện “nhại” nên nó phải tìm đến phương tiện cái tục để gây cười, để châm biếm, mỉa mai. Ai cũng hiểu cái “tang vật” kia là gì… Bạn đọc được mẻ cười. Còn các nhà văn “trinh thám” thì được bữa… tím mặt…

Cái lò gạch ấy nay đi vào dĩ vãng rồi. Nhưng chỉ chừng hai ba chục năm trở về trước thì vẫn thấy hiện hữu ở nhiều nơi, thường là vùng đồng bằng, giữa cánh đồng lúa. Vì nơi đó mới có đất sét để làm gạch, phơi gạch, khi đốt không ảnh hưởng đến dân cư…

Đó là những lò gạch thủ công được xây kín, thường có một cửa ra vào để đưa gạch, bên trên có mái che. Thế là những lò gạch cũ thành địa điểm “lý tưởng” để người ta cần làm những việc “kín đáo”. Kết truyện “Chí Phèo” là chi tiết Thị Nở “thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người lại qua…” để dành cho bạn đọc “liên tưởng”: Thị lại sẽ ra nơi ấy rồi đẻ một “Chí Phèo con”… Cái vòng luẩn quẩn lại tiếp diễn nếu người ta không thay đổi được hoàn toàn cái môi trường tha hóa phi nhân tính của chủ nghĩa thực dân nửa phong kiến kia!

Cái lò gạch tất nhiên để sản xuất gạch, ở đây là loại gạch đỏ xây dựng, quen thuộc với bất cứ người dân nào trong thời buổi đô thị hóa đang diễn ra chóng mặt. Loại gạch này được làm từ đất sét nung. Theo lịch sử ngành xây dựng thì gạch đã được loài người sử dụng khoảng 7.500 năm trước Công nguyên, dành cho các công trình xây dựng có tuổi thọ hàng ngàn năm. Đất sét được đào lên, tưới nước, nhồi (giáo) nhuyễn rồi đưa vào khuôn thành viên (gạch mộc) phơi thật khô rồi xếp vào lò. Ngày trước nhiên liệu để đốt là củi, rơm rạ, sau là than đá trộn với bùn. Lò được đốt liên tục hàng tuần liền cho đến khi gạch “chín”, chuyển sang màu đỏ hoặc nâu sẫm. Lò được tắt đến khi nguội thì dỡ gạch, dỡ sớm gạch dễ vỡ vì giòn. Là nguyên liệu chính để xây nhà nên thời hiện đại viên gạch được chuyển nghĩa sang tu từ ẩn dụ ví người nào đó có công lao hoặc công việc gì đó quan trọng mang tính tiền đề, tiên phong thì được gọi là “một viên gạch đặt nền móng”…
Một cái lò gạch cũ!


Là một chứng nhân văn hóa “biết nói” bền bỉ với thời gian, xem viên gạch nhà khoa học khảo cổ sẽ hình dung ra được phần nào “bộ mặt” của thời đó!

Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội (tập 32, số 1S, 2016) có đăng bài báo “Về vấn đề tồn tại của quốc gia Đại Cồ Việt thế kỷ X-XI” của nhà nghiên cứu Nga Polyakov Alexey Borisovich (Đại học Tổng hợp quốc gia Matxcova). Căn cứ vào chứng cứ khảo cổ học tại Hoa Lư, thủ đô của các triều Đinh, Tiền Lê, Hậu Lý là các viên gạch “có màu đỏ, độ nung cao, nhiều viên có chữ “Đại Việt quốc quân thành chuyên” (gạch xây thành quân đội nước Đại Việt – NTT) được in nổi vào gạch ướt sau khi đóng khuôn… Kích thước 30cm X 16cm X 4cm… được xác định là gạch của thời Đinh”. Dựa trên căn cứ này bài báo rút ra kết luận quan trọng: quốc hiệu Đại Việt đã có từ thế kỷ X. Vấn đề còn đợi sự thẩm định của giới sử học, từ góc nhìn văn hóa, bài viết chỉ xin khẳng định mỗi viên gạch càng xa trong quá khứ càng là những mã văn hóa rất quý giá.

Không chỉ là hòn đất nung mà mỗi viên gạch có khi giá trị tương đương với vàng (tính theo trọng lượng). Đấy là trường hợp “gạch vàng” để lát nền ở Tử Cấm Thành. Thậm chí giới nghiên cứu khoa học xây dựng còn cho rằng gạch lát sàn trong Tử Cấm Thành có giá trị hơn vàng bởi để có loại gạch này cần đến 720 ngày, qua nhiều công đoạn cực kỳ phức tạp, tinh vi. Được làm từ lò gạch ở làng Lục Mộ (Tô Châu) vì đất ở đây chất lượng đặc biệt tốt, có điểm kỳ lạ đặc trưng là âm thanh phát ra khi gõ vào gạch giống như âm thanh phát ra khi gõ vào vàng hay đá quý. Thế nên gọi là “kim chuyên” (gạch vàng).
Tử Cấm Thành - cung điện xa hoa xây bằng "gạch vàng"!


Riêng công đoạn xử lý đất phải đủ 7 quy trình: đào, vận chuyển, phơi khô, đập đất, nhào trộn, mài và sàng. Đất được loại bỏ “tạp chất”, loại bỏ hết bọt khí, cho vào khuôn đã tạo sẵn, phơi khô trong 7 tháng liên tiếp rồi mới nung. Dùng rơm rạ và trấu để loại bỏ hết hơi ẩm trong đất rồi dùng củi đốt tiếp một tháng, sau cùng, dùng cành thông đốt tiếp 40 ngày. Gạch ra lò có bề mặt sáng bóng, trơn nhẵn, có khả năng thấm nước cao nên mùa hè rất mát, tạo cảm giác dễ chịu, thoải mái. Nếu đặt hoa quả trên nền gạch này sẽ tươi rất lâu, ăn sẽ ngon và mát hơn…

Trên bề mặt những viên gạch ấy luôn được khắc dấu của phủ Tô Châu và ghi rõ niên hiệu của từng thời kỳ như Vĩnh Lạc, Chính Đức, Càn Long!

Văn hóa kiến trúc đền đài Việt Nam góp với thế giới kỳ quan Tháp Chăm có từ thế kỷ XI – XII. Ngoài độ điêu luyện về nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc, sự hài hoà trong tiếp biến phong cách nghệ thuật Chămpa và Khmer, sự độc đáo của chất liệu xây dựng là những viên gạch Chăm kỳ lạ. Cũng làm từ đất sét nhưng bí ẩn đến mức ngày nay vẫn chưa rõ đó gạch mộc hay gạch nung. Chỉ biết ngoài đất sét còn biểu hiện của sự gia thêm vỏ trấu, vỏ sò, vỏ ốc…

Tại sao có vỏ trấu? Vì khi nung (nếu có) thì vỏ trấu cháy đi để lại những lỗ rỗng, dễ thoát nước nhưng vẫn đủ độ chắc. Nếu là gạch nung thì các công đoạn như thế nào để có những viên gạch thật sự quý hơn vàng này vẫn còn là những câu hỏi. Tìm ra dấu vết của những “lò gạch cũ” là việc rất cần thiết. Nhưng người ta đã khảo sát, khảo cổ dưới mặt đất, trong văn bản cổ xưa, trong truyền thuyết dân gian… vẫn chưa tìm ra manh mối. Cũng chỉ biết trong những viên gạch Chăm có nhiều bã thực vật và thành phần silic cao hơn gạch thông thường ngày nay. Rất đặc biệt là những viên gạch bị rơi ngoài cấu trúc của tháp, dù không còn nằm trong cơ chế rút nước tổng thể nhưng do cấu tạo đặc biệt nên không bị mục.

Đã rất nhiều nhà nghiên cứu đầu ngành trên thế giới ở các chuyên ngành xây dựng, kiến trúc, vật liệu… từ cổ điển đến hiện đại cũng chưa trả lời được những viên gạch tháp Chăm dán chặt vào nhau theo cơ chế gì vì giữa chúng không có mạch vôi vữa. Thậm chí có một phỏng đoán người xưa xếp gạch mộc thành hình như tháp hiện nay, xây một cái lò gạch khổng lồ bao quanh rồi… đốt theo quy trình đặc biệt. Sau đó phá bỏ cái vỏ lò để giữ lại cái lõi!!!

Còn biết bao những giả thuyết khác. Còn bạn, xin mời có ý kiến!?

Nguyễn Thanh Tú





Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2024

80 năm truyện ngắn 'Thịt người chết'!


80 năm truyện ngắn 'Thịt người chết'!

Bùi Hoàng Tám


Hiện trường vụ tai nạn khiến em Y. tử vong
(Ảnh: Phạm Diện/Báo Thanh niên)


Dư luận tuần qua dậy sóng xung quanh câu chuyện một cháu bé 12 tuổi đi xe máy cán qua dây cáp quang bị trượt té, đúng lúc bị một xe tải chạy cùng chiều va chạm dẫn đến tử vong.
Sau đó, người thân của em đã liên tục xin đi xin lại các loại giấy tờ xác nhận của cơ quan công an, bệnh viện… nhằm làm thủ tục chứng tử cho nạn nhân. Thế nhưng 11 ngày sau (7/12 - 18/12), gia đình vẫn bị cán bộ phường Tân Phước Khánh (TX Tân Uyên, Bình Dương) từ chối. Lý do, "giấy tờ làm tầm bậy, tầm bạ", "công an xác nhận nội dung không đúng".

Cứ tưởng “quá tam ba bận”, nhưng ở đây thì đến lần thứ tư, sau khi lo đầy đủ giấy tờ theo yêu cầu đến cho cán bộ phụ trách, người thân của nạn nhân xấu số vẫn tay trắng đi về.

Thậm chí đến sáng 19/12, khi phóng viên tìm đến để tìm hiểu vụ việc thì ông Chủ tịch UBND phường này vẫn khẳng định cán bộ của phường làm đúng theo quy định. Phóng viên phải dẫn quy định pháp luật ra thì lãnh đạo phường mới thừa nhận cấp dưới của mình "thiếu sót" và mong được "thông cảm".

Khi thông tin được đăng tải, nhiều ý kiến cho rằng nguyên do gia đình em bị gây khó khăn, người chết 12 ngày không xin được giấy chứng tử để đem đi chôn là bởi thiếu cái thủ tục… “đầu tiên”.

Những ý kiến này, làm nhớ lại một truyện ngắn của nhà văn trào phúng xuất sắc Nguyễn Công Hoan cách đây hơn 80 năm (1938) có tên “Thịt người chết”.

Truyện kể về anh nông dân có tên là Xích vì “vô học, ngu dốt” nên đã không biết chọn cho mình cách chết và giờ chết.

Xích chết một cách đầy “bí ẩn” ở chính cái ao sen nhà mình mùa hoa nở sau một bữa nhậu say lúy túy ở sân đình và vào ngày thứ 7.

Thế là cả một đám quan lại từ hương lý, chánh tổng đến quan phụ mẫu trên phủ huyện bu quanh cái xác ấy như một lũ kền kền.

Đau đớn thay, cái xác chết ấy cứ ngày một trương phềnh lên, tỏa mùi nồng nặc trong sự lăn lộn, van xin của gia đình tang quyến.

Câu chuyện vừa bi hài, vừa cay đắng qua ngòi bút thiên tài của nhà văn Nguyễn Công Hoan đã có đoạn kết, ông Cửu (bố Xích) bằng lòng khấn quan bảy mươi đồng mới được đem xác con đi chôn:
“Và một giờ sau, lũ ruồi, lũ nhặng, lũ cá, lũ quạ, tiếc ngẩn ngơ. Chúng nó biết đâu rằng quan huyện tư pháp đã tranh mất món mồi ngon của chúng”.
Hi vọng rằng câu chuyện của 80 năm trước không tái hiện ở Tân Phước Khánh.

Bùi Hoàng Tám



Thứ Ba, 18 tháng 6, 2024

Nghề làm báo - thủa ban đầu


Nghề làm báo - thủa ban đầu

Vương Trí Nhàn blog


Về mặt số lượng mà xét, giờ đây không mấy ai còn phải tỏ ý phàn nàn: Báo ở ta đang ra nhiều đến mức cả những bạn đọc có nhiều thời giờ cũng than phiền là không sức đâu đọc hết. Thế nhưng cái sự đã như là thừa ấy một phần cũng lại là do chất lượng. Giả sử thế giới có một bảng xếp hạng, hẳn có thể đoán là tay nghề của các nhà báo ở ta, cũng như bóng đá mà hàng ngày chúng ta vẫn xem, chỉ chiếm một vị trí khiêm tốn.

Điều này hoàn toàn là có thể hiểu được nếu biết rằng nghề báo mới chỉ du nhập vào xã hội VN từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XIX sau đó trở thành một hoạt động bình thường trong xã hội từ nửa đầu thế kỷ XX, và ngay từ thời ấy nhiều người làm nghề đã tỏ ý chưa thoả mãn với trình độ của các đồng nghiệp. Trở lại với nghề làm báo thời tiền chiến có lẽ cũng là một dịp tốt để chúng ta nhận chân trình độ báo chí hôm nay.

Dẫu rằng nghề làm báo vốn từ Tây phương truyền sang, song những người đứng ra viết báo đầu tiên lại ở xứ ta (rõ nhất là ở Hà Nội) lại là các cụ đồ nho biết chữ Tàu. Nói gì thì nói các cụ cũng có một căn bản văn hoá nào đó. Chữ quốc ngữ lại dễ học với mọi người. Các cụ tìm thấy trong việc làm báo một điều kiện tốt để thực hiện cái chí đã hấp thụ từ đạo thánh hiền “nhất ngôn khả dĩ hưng bang”, nói nôm na như con người ngày nay tức báo chí có thể là một công cụ tốt để đóng góp cho xã hội và trước tiên là giáo dục quần chúng.

Bên cạnh những tờ báo do chính quyền thuộc địa lập ra thì báo chí Việt Nam ban đầu chủ yếu đã là báo chí tư nhân hoặc mang danh những hội ái hữu nọ kia nhưng thực chất là do tư nhân thao túng. Người đứng ra xin phép mở toà báo không chỉ muốn làm một công vịệc có tính cách khai hoá (tên một tờ báo do Bạch Thái Bưởi chủ trương), mà còn muốn xem báo chí là một cơ quan kinh doanh có lãi. Trong hoàn cảnh ấy, họ giữ tư cách những ông chủ, còn ký giả thì là kẻ làm thuê. “Chủ báo quan niệm rằng ký giả là người làm công, ngày hai buổi đến toà soạn để viết xã luận đưa tin tức trám cho đầy các cột báo”. Đấy là ghi nhận của Hoàng Tích Chu, một người có công lớn trong việc hiện đại hoá báo chí. Nguyễn Công Hoan trong Đời viết văn của tôi kể lại một chuyện khá vui:

Những người thực thi việc làm báo cũng chẳng khá hơn bao nhiêu. Tiếp tục cái ý bảo họ là kẻ làm thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi, Hoàng Tích Chu nói thêm “Những người làm công nói trên tìm ở đâu ra? Đa số là những nho sĩ nghèo và dốt, những người kiến thức nông cạn nhưng muốn loè thiên hạ với những câu văn hoa bóng bảy”. Câu khái quát xanh rờn ấy, như chúng ta nói bây giờ, có cái cơ sở thực tế của nó. Bởi sự thực là người có gan sang tận Pháp để học nghề như ký giả họ Hoàng, số đó đếm chưa đầy năm đầu ngón tay. Còn lại toàn vừa làm vừa học, đại khái trông vào các tờ báo viết bằng tiếng Pháp mà học theo. Tin thế giới thì dịch theo bản tin yết ở nhà bưu điện. Tin trong nước toàn việc vặt nào là quan chức thuyên chuyển, vợ chồng đánh ghen, toà án xử rượu lậu... Bên cạnh những tin tức hổ lốn ấy là những bài thơ phú cuối mùa đặc giọng thù tạc hoặc những bài xã luận đại cà sa, không ai muốn đọc.

Để hình dung ra công việc hàng ngày của một người làm báo, không gì bằng đọc lại các hồi ký viết về Tản Đà lúc làm An nam tạp chí. Tạp chí lay lắt chết đi sống lại mấy lần. Mà ngay lúc đang sống nó cũng ốm rề ốm rệt. Toà soạn chỉ có một mình Tản Đà, ông vừa viết bài vừa đi nhà in vừa thu tiền bán báo. Mà lại rất thích tiếp khách. Gặp người tương đắc, ông có thể sai mấy cậu nhỏ đi mua đồ nhắm về khề khà chén rượu nói chuyện với khách hàng buổi. Cái cảm giác về thời gian đang trôi - điều cần nhất với nhà báo - thì Tản Đà chẳng coi ra gì. Chẳng bao lâu đã tới cái ngày Xuân Diệu về sau còn nhớ mãi: ở Quy Nhơn tác giả Thơ thơ mỏi mắt trông đợi mà mãi chẳng thấy báo ra và càng ngóng càng thấy vô vọng. An nam tạp chí cũng yểu mệnh như người chủ trì của nó vậy.
Hình ảnh nhà báo trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Trong khi hướng cặp mắt quan sát người đời tác giả Bước đường cùng không quên dừng lại ở giới báo chí. Ông có hai thiên truyện khá sắc sảo đó là Tôi chủ báo, anh chủ báo, nó chủ báoÔng chủ báo chẳng bằng lòng.

Truyện trên tố cáo cái lý do mỹ miều mà nhiều nhà giàu đương thời xông vào làm báo, đó là tính hiếu danh. Chẳng những không quan tâm tới sứ mệnh của ngòi bút mà cả đến cái thực chất của báo chí họ cũng không hiểu gì cả. Ngày họ đảm đương cái chức danh chủ báo là ngày họ nhận ra mình bị lừa: Bài vở kém cỏi, người viết xoàng xĩnh, báo ế. Cách duy nhất để họ thoát ra khỏi cảnh phá sản là đi lừa những anh háo danh và kém hiểu biết như mình hôm qua để thay mình chèo lái.

Còn truyện dưới thì tố cáo cái mánh khoé xoay tiền của giới làm báo. Họ sẵn sảng đánh quả tù mù đưa tin theo lối nhỏ giọt bôi ra trong nhiều số, cốt để câu khách. Ai không làm thế bị coi như tay nghề kém cỏi.

Trong khi công kích bọn người lừa đảo mọi kẻ giàu sang phú quý đang phất lên, một số ký giả lại biến thành một kẻ làm tiền, lo bán được báo với bất cứ giá nào, chứ chẳng có gì gọi là tâm huyết với trách nhiệm cả.


Và trong một mẩu chuyện vui của Vũ Trọng Phụng

Trong các tiểu thuyết của nhà văn này như Giông tố, Vỡ đê... người ta đã loáng thoáng nhận ra hình ảnh của kẻ làm báo với sứ mệnh điều tra sự thật từ đó đóng góp vào việc làm sáng rõ hình ảnh một xã hội vốn nhiều bóng tối. Song là một ngòi bút hoài nghi, Vũ Trọng Phụng không quên đặt một dấu hỏi khá to trước tư cách người làm nghề viết báo đương thời. Sao mày không vỡ nắp ơi là tên một bài viết trên báo Loa 1934 (mới được sưu tầm và in lại trong tập Vẽ nhọ bôi hề in ra năm 2000). Để nói về tài đổi trắng thay đen của người cầm bút, họ Vũ dùng bút pháp thậm xưng kể chuyện một nhà báo kiếm ăn quanh một người chết. Ban đầu anh ta dựng chuyện người kia bị bức tử để tống tiền. Không được anh ta đánh bài chuồn bằng cách kể rằng hồn người chết vừa báo mộng cho biết người ấy tự tử vì một cớ vớ vẩn khác. Mọi chuyện được giải quyết gọn ghẽ tới mức viên tri huyện có liên quan xem xong phải thì thào “Này, sang năm về hưu tôi cũng muốn mở báo. Vậy thế nào ngài cũng về giúp việc cho tôi nhé !”.


Trên cái nền chung của một nghề nghiệp

Trước 1945, trong hoàn cảnh một nước thuộc địa, ở VN đã có đại học, song các trí thức trẻ sau khi học xong mấy trường như trường luật trường thuốc phần nhiều gia nhập vào đội ngũ quan lại hoặc công chức cao cấp lương cao bổng hậu, nhường việc làm văn làm báo cho các loại trí thức lơp dưới. Nhà văn đồng thời là nhà báo Vũ Bằng có lần nhận xét báo chí thời ông là một thứ nghề không thày không trường, cốt biết học lỏm bắt chước là được. Thành thử, nếu như số phận của những người làm nghề ở đây có phần giống với số phận những người làm ở các ngành nghề thủ công như làm tranh dân gian, thêu ren, in ấn, làm đồ gốm, hoặc các đèo kép trong mấy gánh hát rong... thì cũng là chuyện tự nhiên. Còn cần cho mọi người thì còn tồn tại. Rât nhiều người có tài có năng khiếu. Song nhìn chung thì vẫn là cách làm cách nghĩ manh mún luộm thuộm và không ai đủ khả năng đưa nghề nghiệp lên mức hoàn thiện của một ngành công nghiệp hiện đại như người ta vẫn thấy ở các nước phát triển.


Vương Trí Nhàn blog





Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2024

Nghĩ về những người giầu ở Việt Nam hôm nay


Nghĩ về những đại gia hôm nay

Vương Trí Nhàn
Nhân bài viết Cọp, gấu và đại gia

TT - Một người ăn mày trong cơn đói phải tranh ăn với con chó của một gã nhà giàu, lỡ tay đánh gãy hai chiếc răng của con chó. Gã nhà giàu nọ lên ôtô phóng đuổi theo người ăn mày với ý nghĩ:
- À, mày đánh gãy răng chó ông, ông chỉ kẹp cho mày chết tươi rồi ông đền mạng. Bất quá ba chục bạc là cùng!


Thiên truyện mang tên Răng con chó của nhà tư sản mà tôi vừa tóm tắt được Nguyễn Công Hoan viết đúng 80 năm trước (1929). Thú thật lần đầu đọc lên tôi hơi ngờ ngợ, liệu có người ác, vô lương tâm, coi con chó hơn cả sinh mệnh của đồng loại? Nhưng rồi thực tế cho tôi biết là có một hạng người như thế với cách cư xử như thế. Dân ta gọi họ là trọc phú. Sau khi giàu lên họ coi cuộc đời chỉ còn ý nghĩa ở sự hưởng thụ và càng ngông nghênh thách thức với đời càng thích. Hơn thế nữa - như Nguyễn Công Hoan đã nói trong truyện ngắn trên - đó là những con người càn rỡ, những nhân cách kỳ dị, bề ngoài lên mặt với đời nhưng cuộc sống nội tâm lại cực kỳ nghèo nàn, nhạt nhẽo.

Trên báo chí ta gần đây, hình ảnh những đại gia cũng bắt đầu xuất hiện. Và ta lại thấy ở không ít đại gia hôm nay những nét của đám trọc phú xưa. Đúng là trong các đại gia gần đây không ít người có chất hãnh tiến, khinh thế ngạo vật, trơ tráo tàn nhẫn. Họ gợi lại hình ảnh đám giàu xổi đã thành một bộ phận đáng ghét hằn lên trong tâm lý cộng đồng Việt bao đời nay mà văn học đã ghi nhận.

Song tôi không nghĩ rằng tất cả họ đều là trọc phú.

Thông minh sáng láng, khao khát tự khẳng định, quyết đoán dám làm cả những việc động trời, họ nhiều phen gợi cho tôi niềm kính phục.

Nhiều khi cách sống, cách nghĩ, tư thế khai phá sáng tạo của họ đã đánh thức tinh thần năng động của xã hội và mở ra lối thoát cho những tình thế bế tắc.


Nhiều phen họ đã phải lấy cái xấu để vượt lên sự trì trệ. Cuộc vật lộn hằng ngày quá quyết liệt tước đi gần hết của họ cả những niềm vui hồn nhiên lẫn những giây phút hướng thượng cao đẹp.

Nhìn một cách bao quát, tôi chỉ thấy tiếc. Nếu được sự dắt dẫn của trí tuệ, lẽ ra họ có thể tìm được những định hướng khác. Tài năng và sức lực của họ sẽ được huy động để trở nên có ích hơn cho cộng đồng, và như vậy tên tuổi họ còn có khả năng ở lại với tương lai, với lịch sử, chứ không phải chỉ được truyền tụng kèm theo bao lời chê trách như hiện nay.

Huy Thọ có nhắc tới cách sống và tồn tại của nhiều đại gia nước ngoài Warren Buffett, Bill Gates, Morita Akio (cha đẻ Sony). Tôi đọc trong đây một sự gợi ý để suy nghĩ về lý do đang có quá nhiều mặt hư hỏng ở các đại gia VN hôm nay. Một thời gian dài, đất nước trong thế cô lập, và giá trị duy nhât được đề cao là những gì có ích cho chinh chiến. Luẩn quẩn trong cuộc sống tù đọng, doanh nhân VN, cũng như anh như tôi lúc ấy, tìm cách đánh bóng tên tuổi qua cách chơi trội so với chung quanh, và lấy việc học đòi bắt chước được sự phá phách cuồng loạn của thiên hạ làm niềm tự hào. Hoàn cảnh hôm qua đã quy định cho con người như thế, ta nên hiểu cho nhau. Nhưng trong hoàn cảnh hội nhập , nếu cứ diễn mãi nếp sống của đám chúa đất, và do đó nêu tấm gương xấu cho lớp trẻ, thì đó lại là điều đáng trách, đúng hơn là có tội.

Vương Trí Nhàn


Đã in ở Tuổi Trẻ - 14/09/2009
(có bổ sung thêm đoạn cuối)






Thứ Hai, 3 tháng 6, 2024

Thử bàn về hát bội


Thử bàn về hát bội

Lê Minh Quốc


Tự dưng chiều nay lại nhớ đến ông bạn già - nhà thơ Phạm Thiên Thư. Đã lâu, chừng hơn mươi năm trước đang thất tình thất điên bát đảo, lên bờ xuống ruộng, trần ai khoai củ, tóm lại là đang buồn nên lúc ấy thường vác xác lên nhà ông tìm nơi tâm tình.

Có những lúc ông an ủi bằng cách đưa ra chừng dăm quyển vở học trò chép đầy thơ. “Q đọc đi”. Bèn đọc. Những bài thơ này, ông chép tay như nét chữ học trò. Rõ ràng. Dễ đọc. Gió chiều lồng lộng. Đường vắng. Quán cà phê Hoa Vàng.
“Rằng, xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau”.
Tên quán là lấy theo câu thơ của chính ông.


Nhớ Phạm Thiên Thư

Thời điểm này, Phạm Thiên Thư đã “lậm” sâu vào phương pháp dưỡng sinh với tên gọi “phathata” do ông sáng lập. Đại khái, ông chủ trương:
“Luôn biết mình dốt
Để gọt tính kiêu
Để yêu như mới
Để cởi mối hiềm
Để thêm tinh tiến”.
Và cũng vì say mê cuồng nhiệt, trung thành với phương châm này, ông đã viết nhiều bài thơ tứ tuyệt. Mỗi lần ghé chơi, ông thường đưa ra cho đọc. Sau đó, dần dà y ít lui tới. Tại sao thế? Đơn giản chỉ vì vết thương lòng đã lành, đã có thể vi vu trăng hoa tình ái với cảm hứng yêu đời dào dạt, yêu người da diết nên y đã… quên béng ông bạn già.

Thế đấy. Có những nơi khi rầu rầu tâm sự, buồn buồn sương khói ta thường tìm đến; ngoặt một cái, lúc giông gió đã qua, biển đã yên, sóng đã lặng, ô hô, ta lại chẳng thèm nhớ đến nữa. Tệ đến thế là cùng.

Chẳng sao. Vẫn còn có cách “sửa sai”, ấy là bằng mọi cách lục lọi lại tập sách Từ điển cười Tiếu liệu pháp của Phạm Thiên Thư - bao gồm những bài thơ mà ngày ấy, y đã từng đọc. Nay, đọc một lèo và cảm thấy khoái! Trên cõi đời, nếu được cười một cách sảng khoái, còn gì thú bằng? Ngược lại, đã cười mà cười gượng gạo đành lòng, cam chịu nhưng tỏ ra vui vẻ thì còn gì là cười?

Sực nhớ, trong một truyện ngắn nọ, nhà văn Nguyễn Công Hoan kể lại có anh chàng dân đen được quan trên cử đi trừ bọn cướp. Với lòng quả cảm, nghĩa hiệp anh ta đã khám phá ra ổ trộm, nhờ đó, làng xóm bình yên. Sự thành công này rực rỡ đến độ cô vợ anh… phải góa chồng. Tất nhiên, quan lớn hứa thưởng công, đền bù công lao xứng đáng cho một người bỏ mạng vì việc làng, việc nước.

Cũng an ủi phần nào, vì sau khi chồng chết gia đình ngày càng túng quẫn, kiệt quệ. Chờ đợi mãi, dăm ba tháng sau, mừng quá chị nhận tờ sức của ông lý trưởng. Mời đi nhận tiền thưởng? Không, mời nhận cái bằng… truy tặng cửu phẩm bá hộ! Ấy là ngậm cười chăng?

Nếu người khác chỉ viết làm dăm ba bài thơ trào phúng để cười cho đỡ buồn, ông Phạm Thiên Thư đã làm hẳn một cuốn sách dày trên 1.000 trang. Nội lực sáng tạo và lao động bền bỉ về cái cười cỡ này, thiệt đáng nể. Thế thì cười là gì?

Để trả lời, chỉ có thể viết luôn một quyển sách, chẳng hạn trước kia, bác sĩ Dương Tấn Tươi có viết quyển Cười (nguyên nhân và thực chất) in năm 1968, dày 370 trang, nay cũng thuộc loại quý hiếm mà chơi sách cũ săn lùng dữ lắm.

Thế nào là cười? Trước mắt, ta hãy lấy định nghĩa ngắn gọn của Việt Nam tự điển do Hội Khai trí tiến đức khởi thảo năm 1931: “Nhách môi, há miệng lộ sự vui vẻ hay ý tứ gì ra”.

Trước đó nữa, Đại Nam quấc âm tự vị (1895) giải thích: “Ấy là cách hả miệng, nhích mép, hoặc có tiếng hoặc không có tiếng, tỏ ra mình vui vẻ hay có ý gì. Cũng có nghĩa là chê bai: Nó cười tôi”.

Có lẽ, “định nghĩa” chuẩn nhất về cười, theo y, thuộc về ông Rabelais - một nhân vật đồ sộ của thời Phục hưng: “Thay vì bàn đến khóc, tốt hơn là viết về cười, vì cười là đặc tính của con người”. Đúng thế, không con vật biết nào biết cười, chỉ có con người.

Tuy nhiên, y biết có một con bò cũng biết cười là khi nó được… xuất hiện trên bao mỳ pho mát Pháp. Hình ảnh ngộ nghĩnh, vui tươi, dễ gây thiện cảm. Con bò đó cười thế nào?

Chắc chắn không phải là kiểu cười mà ông Phạm Thiên Thư đã miêu tả:
“Tức quá gằn lên một tiếng cười
Cười như ngầm dọa: “Biết tay” thôi
Cười ông - có lúc ông cười lại
Cười lại là bay chết bỏ đời!”.
Cười này là cười gằn.


Nhớ qua hát bội

Đã lâu, lâu lắm rồi, có đọc bài thơ tứ tuyệt xưa lắc xưa lơ, xét ra là một lối cười xỏ xiên thâm trầm, ý vị, nay chép lại cho vui. Vui là tốt rồi, được thế đã là may, còn hơn phải chìm đắm trong lo âu sầu não. Bài thơ này của ông thi sĩ Lãng Ba.

Thơ rằng:
“Sân khấu hẹp hòi múa hát vang
Ăn lương bầu gánh sợ ông làng
Làm vua làm tướng chi chi đó
Thì cũng do “nhưng” núp dựa màn”.
Xét về câu chữ, rõ ràng tác giả là người miền Nam. Thử hỏi, câu cuối có từ “nhưng”, vậy nghĩa là gì? Ta bàn sau. Dám nói rằng, ông làng là cách gọi chung về ông tổ hát bội. Nhiều từ điển và sách vở xưa nay đã giải thích rành rành. Liệu chừng có đúng? Không hẳn đâu.

Một khi nói chắc nịch như thế ắt có người cãi. Dứt khoát sẽ cãi lại cho bằng được. Tránh cãi cọ lôi thôi, chi bằng hãy nghe chuyên gia hàng đầu nghiên cứu nghệ thuật hát bội là GS Hoàng Châu Ký giải thích:
“Ông làng là những tượng nhỏ được thờ với các vị tổ trong những gánh hát bội ngày xưa. Trên bàn thờ tổ có một cái tráp gỗ sơn đỏ, có cửa mở đóng, bên trong có mười tượng gỗ nhỏ, đầu bịt khăn đỏ, mình mặc áo lục, là tượng các vị tổ của nghề hát bội. Trước mười tượng này lại có hai tượng khác cũng khăn áo như vậy nhưng đứng hai bên chiếc ngai, đó là hai ông làng hát bội”
(Tự điển nghệ thuật hát bộ Việt Nam, Nguyễn Lộc chủ biên - Nxb KHXH Hà Nội - 1998, tr.448).
Rõ ràng ông làng chỉ được thờ chung chứ không phải ông tổ hát bội. Thế nhưng xưa nay người ta vẫn gọi và xếp chung vào hàng ông tổ, xét ra thiệt… éo le! Mà cũng phải thôi, theo truyền thuyết ông làng vốn là hai hoàng tử trẻ con, hỉ mũi chưa sạch, mặt búng ra sữa, còn ham chơi và cực kỳ mê hát bội.

Một hôm dù đang ốm nhưng cả hai vẫn trốn đi xem hát, núp một chỗ không ai nhìn thấy, bị cảm lạnh rồi chết. Đáng khen là sau đó, hai ông hoàng này luôn phù hộ cho các gánh hát bội nói chung nên từ đó về sau, đào kép đã thờ họ cùng với ông tổ. Từ “ông hoàng”, trải qua năm tháng đã dần dần nói trại thành “ông làng”.

Do còn trẻ con nên hai ông hoàng này… khoái mùi thơm của trái thị, vì lẽ đó, ngày xưa người ta kiêng kỵ đem trái thị vào giàn hát/ rạp hát là vậy, vì rằng, mùi thơm của trái thị khiến hai ông hoàng xao nhãng mà quên giúp đỡ cho đào kép.

Nhân đây xin nói luôn, theo ghi chép của nhà nghiên cứu Thy Hảo Trương Duy Huy về tượng ông làng:
“Thường được đẽo bằng gỗ vông, lớn bằng bắp tay, gặp những tích tuồng có vai người mẹ sinh con, người ta đưa ông làng ra đóng bé sơ sinh, chứ không mượn trẻ con thật đóng tuồng”.
Khi bàn về ông làng, y nhớ đến bài Vịnh hát bội Quảng Nam, nhà thơ Tú Quỳ viết:
“Nhỏ mà không học lớn làm ngang
Trống đánh ba hồi đã thấy quan
Ra rạp ngồi trên ba đứa hiệu
Vào buồng đứng dưới cặp ông làng”.
Về ông làng, ta đã biết, còn “ba đứa hiệu” là quân chạy hiệu, tức lính cầm cờ, sai đâu chạy đó, thuộc hạng lóc cóc leng keng. Sự đời cũng oái oăm thiệt, cũng vì câu thơ “Ra rạp ngồi trên ba đứa hiệu” mà ông Tú Quỳ mang họa vào thân.

Hiệu là tên của anh hùng Nguyễn Duy Hiệu (1847-1887) - lãnh tụ xuất sắc của phong trào Nghĩa Hội chống Pháp ở Quảng Nam. Có giai thoại, ông Hiệu đã sai lính về làng bắt Tú Quỳ lên hỏi tội vì câu thơ xách mé đó, nhưng rồi vì tiếc tài của một người giỏi chữ nên ông tha cho. Về sau, Tú Quỳ còn có dăm ba bài vè, văn tế chế giễu cuộc kháng chiến của nghĩa quân Cần vương.

Nhà “Quảng Nam học” Nguyễn Văn Xuân bình luận:
“Ở thời điểm này, ta chỉ có thể khép Tú Quỳ vào hạng người lạc hậu, bảo thủ và ông đã bị các nhà trí thức tiến bộ thời ấy khinh thường”
(Thơ văn Tú Quỳ - Nxb Văn hóa thông tin - 208, tr.256).
Đây chính là lý do khiến người đương thời không muốn nhắc đến Tú Quỳ nữa, về sau thơ văn của ông mai một dần, nay ít ai biết đến.

Thế thì, vấn đề đặt ra ở đây là gì?

Với người cầm bút, ngoài cái tài/ tài năng còn là quan điểm, thế đứng, cách nhìn, sự lựa chọn, thái độ của họ về thời cuộc, về thời đại họ đang sống. Bằng không, văn chương chữ nghĩa dù tài hoa, dù hay bằng trời đi nữa, có là gì chăng?

Thì đấy, chỉ đơn cử một hai thí dụ, ai dám bảo thơ văn của Tôn Thọ Tường không gấm thêu? Ai dám bảo kiến văn của Lê Tắc không giỏi? Thế nhưng đương thời, thời sau thiên hạ đã nhìn nhận họ bằng cái nhìn thế nào? “Rằng hay thì thật là hay”.

Hóa ra, bản lĩnh sống, tư cách sống, thái độ sống của người cầm bút cũng quan trọng không kém gì tài năng trời cho, đúng không nào? Xét ra, cái nghề sống bằng chữ nghĩa nhọc nhằn và nặng nề lắm.

Một người thợ làm xong cái bàn, cái ghế, cái tủ… sau khi bàn giao hoặc bán đi là xong. Nhẹ nhàng phủi tay. Không phải bận tâm gì nữa. Nhưng người cầm bút lại khác, rất khác. Với những gì đã viết, đã công bố dù một dòng, một chữ dẫu sau này đã chìm sâu dưới ba tấc đất, họ vẫn còn phải chịu trách nhiệm lấy nó.

Hãy quay trở lại với câu thơ của Lãng Ba vừa nêu trên: “Thì cũng do “nhưng” núp dựa màn”. Dám chắc rằng, chẳng mấy ai có thể giải thích được từ “nhưng”. Nó vô nghĩa? Nó sai moras. Nghĩ thế, bèn lật từ điển tra cứu xem sao.

May quá, Đại Nam quấc âm tự vị (1895) giải thích: “Nhưng hát bội: Người thuộc tuồng làm thầy hát bội, thầy tuồng”. Vậy suy ra, “nhưng” cũng là “thầy tuồng”? Liệu chừng có đúng? Không hẳn đâu.

Một khi nói chắc nịch như thế ắt có người cãi. Dứt khoát sẽ cãi lại cho bằng được. Tránh cãi cọ lôi thôi, chi bằng hãy nghe chuyên gia hàng đầu nghiên cứu nghệ thuật hát bội là Tuần Lý Nguyễn Khắc Dụng giải thích:
“Trong gánh hát bội, thầy tuồng là nhân vật quan trọng, cai quản nội bộ. Thầy tuồng là người thông chữ nho, biết đặt tuồng mới, soạn tuồng xưa, tập tuồng, sắp xếp cho có đầu đuôi, thứ lớp. Trong ban hát, ai cũng kính nể ông thầy tuồng”.
Nói nôm na, thầy tuồng chính là soạn giả và kiêm luôn cả đạo diễn.
“Nhân vật thứ hai, kế tiếp thầy tuồng là chú nhưng, chuyên việc nhắc tuồng cho diễn viên còn non nớt. Chú nhưng là một kép già lão luyện, thuộc hầu hết các tuồng thầy”
(Hát bội - Nam Chi tùng thư XB năm 1970 - tr.326).
Rõ ràng, “nhưng” chỉ là người nhắc tuồng.
“Làm vua làm tướng chi chi đó
Thì cũng do “nhưng” núp dựa màn”
. Câu thơ vọng lên tiếng cười xỏ xiên, châm biếm. Đọc xong, khiến ta lại nhớ đến… nghệ thuật chơi múa rối nước. Với con rối, mọi cử động của nó là do người chơi, núp phía sau điều khiển.

Thật ra, thời buổi nào cũng có hạng người cầm bút chẳng khác gì con rối. Chữ nghĩa múa may quay cuồng những tưởng tâm huyết lắm, những tưởng đau đời lắm nhưng chỉ là cái loa phát thanh cho “nhưng” núp dựa màn, giấu mặt ở phía sau. Hạng cầm bút này, gọi là gì?

Y không biết, chỉ biết văn hào Lỗ Tấn gọi loại người thuộc “nhị hoa diện”, nói nôm na là “anh hề nhì”.

Khác với hề kiểu cũ ở chỗ:
“Anh ta là trí thức. Anh ta biết chỗ dựa của mình là núi băng, nhất định không bền lâu, tương lai mình còn phải xu phụ người khác, cho nên được nuôi nấng, chia sẻ oai thừa, anh ta cũng phải giả vờ làm như mình không phải cùng một phường với tên công tử đó”
(Lỗ Tấn tạp văn, bản dịch của Trương Chính - Nxb VHTT - 2003, tr.511-512).
Có bàn luận gì thêm không?

Dạ, đã đủ rồi ạ.

Lê Minh Quốc



Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2024

Thói hư tật xấu người Việt: Khôn lỏi - Ranh vặt - Tinh tướng


Thói hư tật xấu người Việt:
Khôn lỏi - Ranh vặt - Tinh tướng

Vương Trí Nhàn

(Thethaovanhoa.vn) - Một người đã sống qua ở Nhật cho biết người Nhật trong khi giao thiệp, nhất là trong khi làm kinh tế cũng có nhiều quái chiêu không thể thương được. Đầu cơ, móc ngoặc, hối lộ, nói chung là đi đường tắt... trò gì cũng có cả.

Nhiều người trong đám dân đi chào mời tiếp thị (gọi là “mizu shobai”), như có bùa mê thuốc lú, làm cho người ta phải xiêu lòng, rồi sau mới biết mình bị lừa.

Bài viết so sánh: “Cái tinh ma thâm độc của họ khác với cách xảo trá ngô nghê hay dối quanh của người Việt, nên lúc đầu rất khó nhận ra”.

Có chút gì đó vừa “vui” vừa buồn khi nghe nhận xét trên đây. “Vui” vì không phải chỉ người Việt thích lừa lọc nhau, thiên hạ cũng xấu chẳng kém gì ta. Mà buồn vì hóa ra người Việt mình rút cục chỉ biết mẹo vặt, chứ không có cái mưu đồ sâu xa, cái thâm trầm như thiên hạ.

Hơn bù kém, thấy đáng buồn hơn vui. Người bị lừa vừa bật cười vừa bực mình – đến lừa mà cũng vụng dại hớ hênh, thì còn làm được cái gì nên hồn (!).

Người nước ngoài thường nhận xét nói chung người Việt mình thông minh lanh lợi. Nhưng họ cũng thấy ngay sự nhạy cảm nhanh nhẹn trong phản ứng này không dựa trên một sự suy nghĩ chắc chắn mà có gì đó nông nổi vội vã. Trong sự chủ động lại như mang sẵn yếu tố thị động.

Bản thân chúng ta không phải không biết điều đó.

Trong tiếng Việt từ “khôn” không hàm ý sâu sắc trong tư duy và uyên bác trong kiến thức, mà ngã sang một sự tính toán lặt vặt dễ gây phản cảm.

Đó là nghĩa của “khôn” trong những câu tục ngữ “khôn ăn người, dại người ăn”, “khôn văn tế, dại văn bia”, “khôn chẳng qua lẽ, khỏe chẳng qua lời”, “khôn sống, mống chết”, “khôn nên quan, gan nên giàu”, “khôn ngoan chẳng lọ thật thà – lường thưng tráo đấu chẳng qua đong đầy”…

Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “khôn” là khả năng suy xét để một người tìm ra một cách xử sự có lợi nhất, tránh được những gì có hại đến quyền lợi các mặt của anh ta. Khôn lỏi – ranh ma – láu cá… đều là thực dụng và vụ lợi.

Tuy không dùng đến từ khôn, nhưng câu “Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau” thật đã thâu tóm đủ cái tài tính toán của người mình và minh họa cho định nghĩa nói trên.

Tồn tại trong suốt lịch sử, công thức này đã thành một thứ “chân lý mặc định”, người Việt dùng nó để “minh triết bảo thân” và việc truyền dạy trong các gia đình được xem là hoàn toàn tự nhiên. Không ai mang nó ra phê phán bao giờ.
Gặp một người hành động theo nguyên tắc đó, chúng ta hoàn toàn thông cảm, trong bụng hiểu rằng ai cũng phải xử sự thế thôi, trông người khôn ta phải học theo để khi khác áp dụng.

Cả trong truyện kể dân gian lẫn trong chính sử, người xưa còn ghi lại nhiều mưu mẹo vặt của người mình trước sứ Tàu. Nguyễn Văn Tố trong Đại Nam dật sử (1944) kể khi tiếp Tống Cảo, Lê Hoàn cho xua trâu bò của dân ra để dọa, gọi là quan ngưu, không đầy một nghìn nói khoe là mười vạn. Đấy là khi cần khoa trương thế lực. Còn nói tới việc khoe trí khôn, hẳn ai cũng nhớ sự tích Trạng Quỳnh thi vẽ: Quỳnh chấm cả mười đầu ngón tay vào mực để vẽ giun.

Về khoản khôn ngoan ranh vặt thì Trạng Quỳnh là cả một tượng đài vĩnh viễn. Trong danh sách những điển hình của tính cách Việt, nhân vật này bao giờ cũng đứng đầu sổ.

Thời xã hội mới bước sang giai đoạn xã hội hóa, Nguyễn Công Hoan được biết tới như một ngòi bút giàu chất An Nam bậc nhất. Người Việt trong các tác phẩm của ông đôi khi cũng ngớ ngẩn, ngờ nghệch, nhưng phổ biến và được ông diễn tả hơn cả là loại láu cá và rất giỏi biến báo trong đối xử. Như viên tri châu nọ, trong truyện sáu mạng người, sau khi bắn nhầm mấy người dân đi hái thuốc, thì vu cho người ta là giặc khách để báo lên quan trên lấy thưởng. Như gã nhà giàu nọ, có ông chú từ quê lên chơi, muốn đuổi, liền kêu ầm lên mất ví để buộc ông ta phải bỏ về sớm. Và như trường hợp cụ Chánh Bá có đôi giày cũ, nhân đi ăn giỗ, bắt thằng nhỏ vứt béng ra sau vườn, để bắt vạ nhà chủ, buộc người ta mua đền đôi giày mới.

Các nhân vật nông dân của Nguyễn Khải loại như Tuy Kiền cũng nổi tiếng là ranh ma. Trong việc tính toán giành lấy một chút lợi riêng, họ ở vào thế yếu. Luôn luôn họ phải che giấu, lẩn tránh và tìm ra mưu mẹo để tự khẳng định. Họ thường hiện ra vừa đáng yêu, vừa đáng ghét.

So với “khôn lỏi, “ranh vặt”, thì “tinh tướng” có nghĩa hơi khác một chút, nó được dùng để chỉ những người không những đã khôn mà còn muốn phô ra để cho người khác biết. Đọc Ngô Tất Tố hẳn ai cũng nhớ mẩu chuyện Làm no hay là cái ăn trong những ngày nước ngập. Cái việc khoe rằng, mình có sáng kiến chế biến đất ra đủ các loại thức ăn chính là dấu hiệu của một lối xử thế tinh tướng, dù ở đây, người ta thấy ghét thì ít mà tội nghiệp nhiều hơn.


(còn tiếp)


Vương Trí Nhàn



Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2024

Không hiểu nổi


Không hiểu nổi

Việt Văn


Bạn vừa đi xa về than thở: đúng là tháng “cô hồn”. Mọi việc hỏng bét cả. Có thứ tưởng như có thể với tay lấy nó dễ dàng, rồi bỏ vào túi mà còn vuột đi trước mũi như trêu ngươi. Rồi bạn tự trách bản thân: xét cho cùng, cũng tại mình. Chả hiểu “ma đưa lối, quỷ dẫn đường” sao, mà lúc đó dốt như một con bò dốt!...

Nghe bạn kể lại ứng xử lúc đó, quả thật tôi cũng phải ngạc nhiên: xưa nay, đầu bạn “nảy số” nhanh mà sao có lúc ngây ngô con gà gô như thế! Chí ít cũng phải là con bò thông minh chứ!

Cũng như ông anh nhà bên, to như con gấu, vốn phong trần, tính khí ngang tàng như Từ Hải, thế mà có ngày tự nhiên như con cún, hạ mình một cách bạc nhược với một cô nàng bé như cái kẹo mút dở. Nó liên tưởng đến việc cả tuần nay chạy bộ ngoài công viên, tôi luôn bắt gặp một phụ nữ có dáng đi mạnh mẽ, uyển chuyển như một cơn bão, bên cạnh là một ông thấp bé nhẹ cân vừa đi vừa chạy để theo kịp. Nhưng người phụ nữ lại luôn mỉm cười thật dịu dàng như khích lệ người đàn ông cố gắng lên.

Ngẫm lại nhà văn hiện thực phê phán Nguyễn Công Hoan từng có hai truyện ngắn cùng tên “Tôi cũng không hiểu tại làm sao” là minh chứng sinh động về việc nhiều khi con người ta cũng chẳng hiểu nổi mình tại thời điểm đó lại có những thái độ, hành vi khác với bản tính thường ngày như thế. Khi cả hai anh chàng công chức mang tên Sinh và Nghĩa đều là người tự trọng, thẳng thắn mà có lúc phải nói dối hay hạ mình xin lỗi sếp một cách “đê tiện” như sau này họ tự nghĩ lại.

Ông hàng xóm là người trí thức, quen nói nhỏ nhẹ hay bị bà vợ to béo bán thịt lợn ngoài chợ, trấn áp vì bà là chủ gia đình xét về phương diện làm ra nhiều tiền. Nhiều khi, ông muốn “vùng lên” lại sợ tan cửa nát nhà, có lần ông thử nói to nhưng không ngờ, bà vợ gào hẳn lên như muốn xơi tái ông “Cái ngữ ông chỉ làm cách mạng trong gầm giường thôi”.

Sáng ra, ông ngồi cà phê mà buồn thỉu, buồn thiu, đành lôi hai câu thơ của nhà thơ dân gian Bảo Sinh ra an ủi ông: “Ước gì mình được là mình. Ước xong lại chẳng biết mình là ai”.


Việt Văn



Không hiểu nổi VIỆT VĂN -

Thứ Năm, 23 tháng 5, 2024

Thói hư tật xấu người Việt: Những cung bậc của cái hèn


Thói hư tật xấu người Việt:
Những cung bậc của cái hèn

Vương Trí Nhàn


(Thethaovanhoa.vn) - Không cần tìm đâu xa, trong các câu truyện cười dân gian, người ta đã bắt gặp vô số chân dung người Việt hèn.

Anh chàng sợ vợ định nói phét thì gặp vợ về. Thầy đồ ăn vụng, thầy đồ liếm mật. Sư mô cũng gian dâm ăn cắp.

Có đến mấy truyện cổ tích, trong đó có vài phú ông tham vàng bỏ ngãi, định gả con gái cho người này rồi thấy người khác giàu hơn lại hèn hạ bội ước. Cho đến cả chàng Thúc Sinh trong Truyện Kiều, trước cảnh Kiều bị vợ cả là Hoạn Thư hành hạ, cũng chỉ đành đóng vai giả câm giả điếc không dám đứng ra bênh vực con người mà từng thề non hẹn biển.

Dân nghèo nên hèn đâu cũng gặp, kẻ giàu hèn rất nhiều, cho đến cả mấy triều vua cũng tiếp nhau hèn một cách thê thảm.

Đó là vào giai đoạn từ đầu thế kỷ 17 trở đi khi Đàng ngoài rơi vào tình cảnh “vua Lê chúa Trịnh”. Vua bị tước quyền, chỉ ngồi làm bù nhìn, mọi công việc do phủ Chúa quyết định. Đến khi có người hỏi sao lại làm thế thì trả lời đại ý như vậy việc nặng nhọc dồn cả sang vai Chúa, mình được chân nhàn nhã, cũng chẳng là may hay sao(!).

Cũng là một thứ lý sự của kẻ hèn.

Ở phương Đông cũng như phương Tây, thật ra người xưa đã khôn ngoan bảo nhau “tránh voi chẳng xấu mặt nào”, biết sợ kẻ đáng sợ không phải là xấu.

Điều đáng nói ở đây là cái cách chịu thua và biết sợ của người xứ mình. Trong sự hèn ở đây, có thái quá biến thành khiếp nhược; lại có niềm tin rằng không bao giờ bằng người. Trước một việc lẽ ra phải lấy cái chết để tự khẳng định thì người ta vứt bỏ đạo nghĩa, hi sinh danh dự, miễn sao bảo toàn tính mệnh; từ đây sinh ra cả một cách sống lẩn khuất chui nhủi.

Theo Nguyễn Tất Thịnh (Bàn về văn hóa ứng xử của người Việt - 2006), và một số bạn khác, dân mình có một nhu cầu giấu giếm rất lạ. Đánh nhau kiểu hội đồng sau lưng mà không đối mặt đấu trường. Trên diễn đàn thì ngậm miệng, nhưng bàn nát chuyện ngoài quán. Bao nhiêu tinh lực dành cho sự lẩn lách để tồn tại, bởi vậy, ưa những hình thức phi chính thống. Nói năng cởi mở, nhưng phong cách khép kín. Khi nói chuyện không dám nhìn thẳng. Hay nói nước đôi lập lờ. Giữa đám đông hay thì thào liếc ngang, liếc dọc. Nói chung là tâm lý không ổn định, hay thay đổi thất thường.

Tất cả những thói quen tương tự không chỉ cho thấy nhiều người chúng ta là những kẻ yếu, mà lại tố cáo một điều quan trọng khác sự kèn yếu ở đây tước đi ở con người lòng tự trọng, ý chí ngoan cường vượt lên trên tình thế bi đát trước mắt.

Trong nhiều truyện ngắn Tô Hoài viết trước năm 1945, người ta bắt gặp những đôi trai gái yêu nhau, đã thề không lấy được nhau thì chỉ có chết. Kết cục vài tháng sau, trai đi lấy vợ, gái đi lấy chồng bình thản như không, chả ai chịu chết cho thiệt thân.

Nguyễn Công Hoan vốn nổi tiếng với những truyện ngắn gây cười. Song đến Tôi cũng không hiểu tại làm sao (I và II, 1937) giọng ông trầm tĩnh hẳn đi. Truyện thứ nhất kể về một công chức ăn sáng trong giờ làm việc, bị sếp người Pháp bắt quả tang. Anh này lúc đầu cãi cứng, đến khi bị sếp bảo há mồm ra cho xem thì cũng há, để phô ra cả cái vẻ lố bịch khá thương tâm.

Trong truyện thứ hai, một công chức khác (đồng sự của anh trên), đi làm muộn, đặt một con tính cũng sai, chữa mãi không được, xoay ra cáo ốm và xin nghỉ không lương. Chủ thấy thế dọa cho anh thôi việc luôn. Rốt cuộc cái anh công chức hay bướng đó đành xin lỗi chủ, để rồi ra ngoài tâm sự với bạn, không hiểu tại sao mình có những phút đê tiện như thế.

Các nhân vật trong truyện dân gian hèn một cách bẩm sinh. Đến các công chức ở đây, cái hèn của họ vẫn tự nhiên, song bước đầu con người đã nhận thức được tình thế, ít ra đã tự mình đặt câu hỏi tại sao mình lại hèn vậy. Đây là sự vận động trong tâm lý mà chỉ con người hiện đại mới có, nó là cơ sở để người ta trưởng thành dần dần.

Song, ở con người hiện đại, cái hèn còn có một hướng phát triển khác. Nên biết là trong các từ điển Tiếng Việt được soạn nghiêm túc, chẳng hạn từ điển Hoàng Phê, hèn không chỉ có nghĩa là sự nhát yếu, thấp kém, mà còn có nghĩa là cách làm kém bản lĩnh, đến mức đáng khinh, ví dụ cái hèn của một kẻ đánh trộm, cái hèn của một kẻ dùng những mưu kế ít người ngờ đến để đánh bại kẻ mạnh hơn mình. Hèn ở đây là từ phản nghĩa của dũng cảm, đàng hoàng khí phách. Trong tâm lý học, người ta còn nói đến những quá trình tâm lý kỳ lạ khi hai mặt đối lập của cùng một quá trình tâm lý tự nhiên hoán vị cho nhau, ví dụ kẻ tự ti nhút nhát bỗng có lúc tự tin quá đáng, kẻ hèn nhát đến bước đường cùng vụt trở nên liều lĩnh, làm được những việc mà bình thường chỉ người dũng cảm mới làm nổi. Đây là những khía cạnh tâm lý cũng đã thấy ở người Việt hiện đại, có điều còn ít được mưu tả và nghiên cứu.



Vương Trí Nhàn






Thứ Hai, 20 tháng 5, 2024

Giải mã một câu khẩu ngữ


Giải mã một câu khẩu ngữ

Nguyễn Ngọc Tiến


(HNM) - Khi bàn tán về tài nghệ của kẻ cắp, nhiều người hay so sánh
Truyện ngắn "Mất cái ví" của nhà văn Nguyễn Công Hoan đăng trên Báo Nhật Tân số 3 ra ngày 16-3-1933 kể về ông Tham kêu mất cái ví, trong đó có 40 đồng đúng vào hôm cậu ruột ông ở quê ra chơi. Sau khi mắng mỏ và dọa nạt con sen, thằng xe, ông Tham quay ra bảo cậu: "Hôm nay phiên chợ Đồng Xuân, mời cậu lên chơi cho biết chợ". Người cậu xâu chuỗi lời đứa cháu lại và nghĩ bụng: "Nó mời mình lên chợ Đồng Xuân, chắc là nó bảo mình ăn cắp cái ví của nó đây". Như vậy, câu "kẻ cắp chợ Đồng Xuân" có thể do Nguyễn Công Hoan hư cấu nhưng cũng có thể chợ Đồng Xuân có nhiều kẻ cắp thật và nhà văn đưa nó vào tác phẩm. Theo các nhà lý luận và phê bình văn học một thời thì Nguyễn Công Hoan là nhà văn theo chủ nghĩa hiện thực phê phán, nghĩa là chất liệu cho tác phẩm lấy từ hiện thực thời mà nhà văn đang sống. Như thế chuyện "kẻ cắp chợ Đồng Xuân" là chuyện có thật và họ ăn cắp gì?

Chợ Đồng Xuân ngày nay. Ảnh: Khánh Nguyên


Sau khi Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp, Ðốc lý Hà Nội là Tirant Gilberts (từ ngày 19-7-1888 đến 7-6-1889) đã ra quyết định mở rộng thành phố bằng việc lấp đoạn sông Tô Lịch từ cửa sông Nhị vào đến chân tường thành cũ. Thay thế chức Đốc lý của Tirant Gilbert là Landes Charles (từ ngày 8-6-1899 đến 15-1-1890), ông này xóa bỏ hai ngôi chợ cũ của Hà Nội vốn họp cạnh đền Bạch Mã và bên Cầu Đông, dồn tất cả về họp ở chợ nhỏ nằm trước cửa đền Huyền Thiên thuộc phường Đồng Xuân và chợ Đồng Xuân ra đời vào cuối năm 1889.

Ban đầu, chợ họp ngoài trời chỗ chợ nhỏ và lan ra cả phố Hàng Khoai, Hàng Gạo. Tuy là chợ hằng ngày nhưng mỗi tháng có một phiên họp vào ngày đầu tháng âm lịch. Chợ phiên đông đúc kẻ mua người bán hơn ngày thường do bà con các vùng ngoại thành mang bán các loại cây giống và súc vật giống như lợn, chó, mèo… Vì số người mua bán quá đông nên chính quyền thành phố cho phép tràn sang khu đất mới lấp. Để bắt tất cả kẻ mua, người bán phải vào chợ và không chiếm đường đi của các phố xung quanh, đồng thời không bỏ sót thuế, chính quyền cho quây xung quanh bằng rào tre với diện tích khoảng 10.000m2. Chợ Đồng Xuân ban đầu không có hàng lối và những người bán cùng một mặt hàng tự ngồi gần nhau để người này không phá giá của người kia. Những người bán hàng vải và tạp hóa sợ mưa chạy không kịp đã tự dựng túp lều bằng phên tre.

Thay thế Đốc lý Defrenel Paul chỉ nắm quyền trong 3 tháng lại là Landes Charles. Thấy thuế chợ Đồng Xuân là nguồn thu lớn nhất cho ngân sách thành phố nên Landes Charles quyết định nâng chợ phiên từ tháng họp 1 lần lên tháng họp 2 lần, đồng thời cho xây lại chợ có mái che. Khung chợ đúc bằng thép từ Pháp mang sang và có 5 bộ kèo, mỗi bộ dài 52m, chiều cao là 19m, mái lợp bằng tôn để che mưa che nắng. Năm 1892, trong kế hoạch xây dựng lại khu vực phố cổ để Hà Nội văn minh hơn, chính quyền thành phố đã cho xây tường mặt cổng ra vào chợ và đến năm 1893 thì xây tường bao xung quanh. Vào chợ có 3 lối, cổng chính là mặt phố Đồng Xuân hiện nay với 3 cửa, cổng bên phố Hàng Khoai và một cổng bên phố Hàng Chiếu. Từ Hàng Chiếu vào phải đi qua một ngõ rất dài mà hiện tại gọi là ngõ Đồng Xuân. Cổng chính của chợ có một phòng rộng cho ban quản lý và một viên cảnh sát gồm toàn người Pháp, hai bên có quầy đổi tiền lẻ cho khách (lúc này Hà Nội tiêu tiền France do Ngân hàng Pháp phát hành cho các nước Đông Dương sử dụng). Đồng Xuân trở thành chợ lớn nhất Bắc kỳ và không chỉ là chợ bán lẻ mà còn là chợ bán buôn cho người các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra về cất hàng. Từ khi có đường tàu điện chạy qua cửa chợ lên Bưởi thì chợ càng đông hơn vì lượng khách thăm thú cũng lắm.
Cuối thế kỷ XIX, hàng hóa ở chợ Đông Xuân không chỉ có các mặt hàng sản xuất trong nước mà còn bán rất nhiều sản phẩm tiêu dùng nhập từ nước ngoài vào, trong đó có táo, lê nhập từ San Fransico (Mỹ), vải từ Anh, hàng tiêu dùng từ Pháp, từ Hồng Công, Thượng Hải (Trung Quốc) nên người ta bắt đầu chia thành từng dãy và quy định cụ thể khu vực này bán hàng gì, khu vực kia bán hàng gì. Thẳng cổng chính vào là dãy bán vải, bên trái là bán hoa quả, kế đó là bán tạp hóa rồi đến các quầy bán thịt, rau, đồ sắt, ăn uống và có cả khu vực dành cho những người xem bói. Trong bài xẩm "Vui nhất là chợ Đồng Xuân", người ta liệt kê ra rất cụ thể chuyện này. Đầu thế kỷ XX, rau quả từ Đà Lạt chuyển ra theo tàu hỏa, su hào, bắp cải từ Sa Pa chuyển về bằng ô tô và nhiều mặt hàng sản xuất từ Sài Gòn chuyển ra như xà phòng Cô Ba, nước hoa, bàn chải, dầu nóng… Người buôn bán được trọng nhất là người bán hoa quả và bán vải. Người buôn trong chợ nể họ vì có nhiều vốn mới buôn được hàng này, không những thế, họ có người giúp việc và phụ bán hàng, chủ chỉ việc thu tiền, tiếp khách và ăn quà vặt. Quản lý chợ cũng tôn trọng vì họ nộp thuế cao nhất. Bán vải đa phần là dân xã Đông Ngạc, sáng ra các bà, các cô đi xe tay xuống chợ, chiều thì ngất ngưởng trên xe tay về làng.

Vì là chợ lớn, lại đầy đủ các mặt hàng nên sáng sáng, đàn bà con gái người Pháp, me Tây, Nhật kiều, Ấn kiều muốn mua sắm cái gì đều phải lên Đồng Xuân. Nhà sang có ô tô đưa đi, tầm khá giả thì đi xe tay và bình bình thì đi tàu điện. Những đối tượng trên khá giả nên kẻ cắp nhắm vào họ? Thực ra không thể lấy được của cánh đàn ông bởi ví của họ đút túi sau quần Âu có khuy cài, lại thêm sợi xích móc vào đỉa quần nên không dễ lấy. Còn các bà đầm cầm ví ở tay và nếu kẻ gian cướp của họ, chỉ cần một tiếng kêu lập tức ban quản lý cho đóng ba cửa chợ và sau đó không lâu thì cảnh sát bốt Hàng Đậu sẽ khám xét cả chợ. Từng có chuyện đó nên kẻ gian không dám liều. Hay kẻ gian ăn cắp của mấy bà bán hàng ở quê ra? Cũng không được, bán được cái gì các bà cho vào túi vải có dây thắt miệng rồi vận vào cạp quần. Vậy kẻ cắp chợ Đồng Xuân ăn cắp cái gì?

Phục vụ những người bán hàng và người mua hàng có hẳn một đội quân bâté (phu chuyên khiêng hàng thuê). Để bảo vệ nhau và giữ độc quyền, họ lập thành phường. Các phường bâté này có một đội trẻ em cả trai lẫn gái dưới 16 tuổi chuyên cắp rổ theo người đi chợ, họ mua cái gì thì bỏ vào rổ của chúng, sau khi mua đủ, chúng sẽ mang ra xe cho họ và nhận tiền boa. Phường bâté này phân biệt với phường bâté kia bằng màu sắc của rổ (sơn đen cả rổ hay nửa đen nửa màu ám khói). Để tranh giành khách, các phường hạ uy tín nhau bằng cách lợi dụng chợ đông, người của phường này thò tay vào rổ của người phường kia đang phục vụ khách lấy trộm và ngược lại. Dù nhiều người đi chợ yêu cầu trẻ cắp rổ theo mình cảnh giác nhưng hàng hóa vẫn bị mất, sự việc diễn ra quá nhiều lần và cảnh sát bốt Hàng Đậu dù bí mật theo dõi cũng không phát hiện được nên người đi chợ nói với nhau: Đúng là kẻ cắp chợ Đông Xuân. Câu nói đó loang ra khắp thành phố và "kẻ cắp chợ Đồng Xuân" như một tiêu chuẩn để chỉ tài nghệ và sự nhanh nhẹn của kẻ cắp.

Trước khi trở thành người giàu có thì Công Tu Nghiệp (người làng Phú Thượng, nay là phường Phú Thượng, quận Tây Hồ) từng là trẻ phụ bán hàng ở quầy vải chợ Đồng Xuân đầu thế kỷ XX. Vợ chồng một người Pháp thấy Nghiệp dễ thương, nhận làm con nuôi và dạy cho nghề nấu ăn rồi từ đó thành đạt và trở thành chủ khách sạn Phú Gia ở 36 phố Hàng Trống trước năm 1954. Lúc còn sống, có người đã hỏi ông về chuyện kẻ cắp chợ Đồng Xuân, ông bảo chỉ có các phường bâté lấy của nhau. Sau cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở Hà Nội vào tháng 7-1959, chợ Đồng Xuân không còn là cái "dạ dày" của Hà Nội, các phường bâté cũng bị giải tán, hàng hóa thì lèo tèo, vì thế chợ cũng vắng người...

Sự thể "kẻ cắp chợ Đồng Xuân" chỉ có thế, chẳng có tích nào về chuyện này.


Nguyễn Ngọc Tiến



Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2024

Ngày mỗi phụ thuộc?


Ngày mỗi phụ thuộc?

Vương Trí Nhàn


Không cần là một chuyên gia kinh tế, nhiều người chúng ta cũng biết rằng nền sản xuất và buôn bán của ta phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu hàng nước ngoài. Không chỉ dầu xăng, thép, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc chữa bệnh... mà cả nguyên liệu chế biến thức ăn cho gia súc ta cũng phải đi mua. Thời buổi thế giới biến động, nền kinh tế mình như cái phao, biển động nổi gió một tí là dập dềnh theo, thiên hạ vừa hắt hơi một cái là mình đã nước mắt nước mũi giàn dụa.
Nhưng hôm nay tôi muốn nói một khía cạnh khác, một sự phụ thuộc. Giống như một căn bệnh nhẹ, nó có vẻ không mấy đáng ghét, nhưng suy cho cùng vẫn bòn rút sức lực của ta mà ta không biết, lại còn đua nhau vươn cổ cho nó chém nữa. Đó là sự phụ thuộc trong sinh hoạt.

Từ lâu dân Hà Nội đã đồn nhau là mấy khách sạn lớn nhất ở đây thường dùng rau và thịt chuyển từ nước ngoài về, chứ không dùng đồ mua từ các chợ quanh phố như dân bản địa. Mươi năm trước, nghe những chuyện đó, lập tức thấy sao mà họ cầu kỳ và có phần rởm nữa. Sống ở đây mà tách ra như trên một hòn đảo, sao họ lạ vậy? Ai ngờ cái nếp sống đó giờ đây lan ra trong nhiều tầng lớp dân thường, nhất là sau các đợt phát hiện rau quả có phun hóa chất, còn các loại dịch bệnh trên gia súc gia cầm thì hoành hành, cứ chấm dứt được ít lâu lại bùng phát trở lại. Nếu tôi không nhầm thì trong những mặt hàng giảm thuế để tránh lạm phát mới ban hành gần đây, có cả thịt lợn.

Ở đây tôi không dừng lại ở khía cạnh đạo lý của vấn đề mà chỉ vấn vương ở chỗ là hình như chính chúng ta đang không nuôi chúng ta bằng các thứ thổ sản của ông cha; không xài thứ hàng mà chính đồng bào trong nước chúng ta làm ra, mà toàn dùng hàng ngoại. Tại sao tình trạng này ngày một phát triển? Nghĩ tận căn nguyên thấy có hai lý do. Một là hàng ngoại rẻ và tốt. Thứ hai là nhiều khi hàng ngoại đáp ứng được cái nhu cầu sát sườn của mình mà hàng nội không đáp ứng nổi.

Liên quan tới lý do thứ nhất, có một ví dụ tôi nghe từ mấy năm trước thấy rất có ý nghĩa. Là ngay ở các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh hay Cần Thơ, nhiều người dân đang thích dùng gạo chuyển từ Thái Lan sang. Trời! Giá vài chục năm trước, nghe ai nói thế chúng ta sẽ bảo là chuyện bịa. Làm gì lại ra nông nỗi như thế. Từ Thái sang quá diệu vợi, còn công tàu bè chuyên chở công bốc vác, sao mà rẻ được?! Mà làm gì có chuyện gạo họ ngon hơn, hợp với cái hương vị nồi cơm mà mỗi người chúng mình được thấm từ hồi còn bú mẹ! Hóa ra thời thế thay đổi, việc không ai tưởng là có, nay đều có cả.
Liên quan tới ưu thế của hàng ngoại trong việc đón đường và nắm bắt nhu cầu, sau đây là câu chuyện tôi nghe từ miệng mấy bà bán hàng lặt vặt ở phố chợ Hà Nội (tôi cố ý tránh chữ phố cổ mà thấy gọi là phố chợ có lẽ hợp hơn). Từ lâu người Hà Nội có thói quen là nếu chiến thắng trong các cuộc đua tranh trong thể thao là đổ ra đường ăn mừng. Lúc đó người ta thích mua cờ và các băng khẩu hiệu để trương lên, giá đắt cũng mua. Một số nhà sản xuất Việt Nam cũng biết điều đó, nhưng vốn mỏng không làm được bao nhiêu. Khôn ngoan và biết tổ chức công việc hơn là các nhà sản xuất từ bên kia biên giới. Họ nắm ngay lấy khoảng trống đó. Mỗi lần dân Thủ đô có nhu cầu là hàng từ biên giới phía Bắc tràn về. Rút cục dân buôn mình chỉ thành trung gian bán lẻ cho đồng bào mình thứ hàng mà họ sản xuất.

Không chỉ trong chuyện băng cờ khẩu hiệu mà nhiều mặt hàng khác cũng có tình trạng tương tự. Theo tôi hiểu, đây là cả một xu hướng mà mỗi ngày chúng ta cảm thấy rõ rệt hơn. Mọi dòng nước ngược phản công lại cũng có nhưng không thấm thía gì cả.

Trong Nỗi lòng ai tỏ của Nguyễn Công Hoan, nhân vật chính là một cô gái tân thời. Đang tự nhiên cô suốt ngày thở ngắn than dài bỏ cơm, lên giường thút thít khóc, khiến cho cả nhà phải lo lắng. Cô bảo chỉ có một người bạn gái mới hiểu được cô và giải phiền cho cô. Đến khi người bạn kia tới thì cô nhỏm ngay dậy tâm sự. Sở dĩ cô buổn - buồn - buồn mất mấy ngày, ấy là vì một nhân vật tiểu thuyết cô đang đọc chết, thương quá !

Tôi nghĩ đến những con người thời nay. Chắc hẳn hàng ngày không thiếu cảnh cậu ấm cô chiêu ở các nhà giàu đập chân đập tay hành hạ bố mẹ vì không tìm ra mấy loại xe mới cho họ trưng diện. Nhưng đáng sợ hơn cả những cán bộ bình thường ngủ trưa trên bàn cơ quan và chia nhau suất cơm hộp chục ngàn cũng để hết tâm trí cả vào những Chelsea với lại Real Madrid ở các phương trời xa. Không đủ trình độ phán xét là hay hay dở, tôi chỉ biết cái sự đặt vui buồn trong tay kẻ khác như thế này đang trở thành cách sống thời đại, không ai cưỡng nổi.

Vương Trí Nhàn



Thứ Ba, 14 tháng 5, 2024

Sự "béo" của Quan dưới bút pháp Nguyễn Công Hoan


Sự "béo" của Quan
dưới bút pháp Nguyễn Công Hoan

Lại Trần Mai


Nguyễn Công Hoan là một trong số không nhiều nhà văn đã có thể in rõ dấu ấn bản sắc riêng của mình lên bối cảnh văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt văn học 1930 - 1945. Ông viết khá nhiều sáng tác văn xuôi thuộc mọi thể loại nhưng trong đó truyện ngắn là phần đặc sắc hơn cả.

Tuy nhiên, nếu chỉ xét riêng về truyện ngắn thì có thể sẽ không có được một cái nhìn toàn bộ về nhà văn - một cây bút hiện thực sắc sảo về nhiều mặt xấu xa của xã hội cũ... Ưu điểm này thể hiện rõ trong hệ thống truyện ngắn và một số tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan trước cách mạng. Sau cách mạng tháng Tám - 1945 Nguyễn Công Hoan vẫn tiếp tục sáng tác song vì nhiều lý do các tác phẩm của ông không được phát huy trong nền văn học mới.

Hầu hết truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan đều xoay quanh sự đối chọi giữa kẻ giàu và người nghèo, kẻ giàu là bọn có thế lực, địa vị, bọn thực dân, bọn quan lại, cả quan ông lẫn quan bà, bọn tư sản, địa chủ, cường hao, lính tráng.thủ phạm gây ra những chuyện xấu xa nhơ nhuốc trong xã hội. Người nghèo là lớp dân nghèo thành thị, phu xe, kép hát, người ở, ăn mày, gái điếm, lưu manh, mở rộng ra ông đi vào đời sống nông dân, công nhân.

Ta hãy xem một loạt bức chân dung nhân vật quan được Nguyễn Công Hoan vẽ theo nguyên tắc "vật hoá":
"Chà! Chà! Béo ơi là béo! Béo đến nỗi giá có thằng dân nào vô ý, buột mồm ra nói một câu sáo rằng: "Nhờ bóng quan lớn", là ông tưởng ngay nó nói xỏ ông. Tức thì, mặt bàn là một, mặt nó là hai, bị vả đôm đốp... Trên mép ông, ông đã bao công trình mới cấy được từng ấy râu. Ông để râu, cho khác hẳn với tụi huyện trẻ nhãi. Nguyên cái da mặt ông nhỏ, mà có lẽ vì ông béo quá, nên lỗ chân lông căng ra, căng thẳng quá, đến nỗi râu không có chỗ nào lách ra ngoài được. Đến nỗi năm bốn mươi tuổi, mà mặt ông nó cứ nhẵn thín như thường. Ông bực mình, bèn ra lệnh cấm thợ cạo lia lưỡi dao lên môi ông một dao, để ông nuôi râu. Thì sau hết, những lông tơ nó cũng dài ra, và trông rõ hơn. Và đến bây giờ, đứng ở hai bên miệng ông, nó thành hai cái dấu chua nghĩa (...).
(trích từ truyện ngắn: Đồng hào có ma)
Kết quả hình ảnh

Đây là hình ảnh quan Nghị Trinh qua ngòi bút của nhà văn:
"...một người mặt mũi phương phi, cổ rụt, bụng phệ môi trề mà không râu, mặc quần áo lụa, phe phấy cái quạt, ra vườn chơi. Bác đoán là ông Nghị, bèn đánh tiếng. Thì quả là ông Nghị thực. Vì nghe giọng nói hách dịch lắm...
(Hai thằng khốn nạn).
Và đây là chân dung quan phụ mẫu trong tiểu thuyết Bước đường cùng.
"Quan phụ mẫu là một người có nhiều cái đặc biệt. Đứng trước ngài, ta có cảm tưởng hỗn xược như ta lại phải ăn một mâm cỗ đầy ắp những thịt mỡ khi ta đã no nê. Nghĩa là ta phát ngấy về sự phì nộn của ngài. Ngài cúi mặt xuống, cả tấm thịt trên quai hàm bị cổ áo cứng nó đùn lên, nó vẽ nên một nét răn, chia má ra làm hai khu đều nhau, khu nào cũng phính và nung núc những thịt. Cái tấm má ấy đầy đặn đến nỗi giá chỉ một mũi ghim nhỏ lỡ đụng vào, là chỗ đó có thể chảy ra hàng lít nước nhờn nhờn mà ta quen gọi là mỡ. Lông mi ngài rậm mà vòng lên, đối với đôi mắt ngài hùm hụp cong xuống. Từ thái dương, đến má, đến xương quanh miệng ngài, người ta tưởng mặt ngài làm bằng sắt, vì nó đen đen. Nhưng không, màu ấy chỉ là di tích bộ râu quai nón mà sáng nay ngài quên chưa cạo".
Đúng là thuần tuý một khuôn mặt thịt, không tâm hồn, vô cảm. Không chỉ một loạt các quan ông được mô tả nhất loạt đều béo, mà quan bà cũng vậy.
"Vậy thì bà nằm đó. Nhưng thoạt trông đố ai dám bảo là một người. Nếu người ta chưa nom rõ cái mặt phị, cái cổ rụt, cái thân nung núc, và bốn chân tay ngắn chùn chùn, thì phải bảo là một đống hai ba cái chăn bông cuộn lại với nhau, sắp đem cất đi".
(Phành phạch)
Ta thấy Nguyễn Công Hoan tả người mà không còn ra người với cách sử dụng các chi tiết "mặt phệ", cổ rụt" “thân nung núc và bốn tay chân ngằn chùn chùn" như cái chăn bông cuộn lại. Hình ảnh bà chủ trên qua ngòi bút của Nguyễn Công Hoan đã biến thành hình ảnh một con vật.
"Anh xe nhấc càng lên, nặng nề rạp người xuống, bước vài bước thực dài để lấy đà, rồi mới đưa ngược khuỷu tay, cúi đầu mà chạy.
Trên nệm lò xo rung rinh, thấy đặt một thứ cây quý giá tuy hơi cổ thụ, nhưng chưa có vẻ gì cằn cỗi. Ngọn cây còn xanh tốt, lại có điểm một bông hoa đỏ thắm. Vỏ cây đã có chỗ nhăn nheo, song người ta khôn khéo, lấy một lần bột gạo thơm che lấp đi. Toàn thân phủ nhiễu trắng, thứ nhiễu tây mềm nhũn và má trợi.
Cây đó là một cây thịt.
Cây thịt đó là bà Phán Tuyên.
(Cho tròn bổn phận)...
Cách miêu tả người bị vật hoá của Nguyễn Công Hoan làm nổi bật sự kệch cỡm, lố bịch ở cái vẻ bề ngoài hào nhoáng nhưng thật thô thiển. Và một bức chân dung khác béo đến phát sợ:
"Nguyên là bà ấy béo quá - Gớm! Béo đâu có béo lạ béo lùng thế! - Béo đến nỗi hai má chảy ra, cổ rụt lại. Béo đến nỗi bụng sệ xuống. Béo đến nỗi trông phát ngấy lên!
(Hai cái bụng)
Tả người Nguyễn Công Hoan thường đặc biệt chú ý tới khuôn mặt mà theo Bônđơle "Bộ mặt xấu là bộ mặt thiếu sự hài hoà, bệnh hoạn, thiếu hưng phấn sáng sủa, thiếu sự phong phú nội tâm". Nhận xét trên rất đúng với nhân vật phản diện của Nguyễn Công Hoan. Hãy xem nhà văn tả cái mặt của bà lớn:
"Hình như trời đã đặt một cái khuôn riêng để đúc nặn các người làm bà lớn. Nên chăng mấy chốc, bà phủ đã được đúng kiểu mẫu, chỉ riêng bộ mặt cũng đã long trọng. Người ta tương chiếc bánh dầy đám cưới, ở giữa đặt một quả chuối ngự, và ngay đầu quả chuối, nằm dài hai múi cà chua"
(Đàn bà là giống yếu).
Có thể nói rằng trước Nguyễn Công Hoan chưa có nhà văn nào miêu tả bộ mặt con người thảm hại như ông, phải có lòng căm phẫn cao độ, trí tưởng tượng phong phú, khiếu hài hước, có biệt tài riêng thì mới có thể tạo nên những ẩn dụ đầy ngộ nghĩnh đến vậy.

Những hạng người giàu có, ta thấy Nguyễn Công Hoan không chỉ miêu tả ngoại hình xấu xí mà đều nhất loạt béo, cái béo của nhân vật làm cho người đọc có cảm giác như đang tả một đồ vật, con vật, được chăm bẵm quá mức. Nó đối lập hoàn toàn với những hình nhân nghèo khổ kia.

Xét về mặt ý nghĩa xã hội cách miêu tả ngoại hình chân dung nhân vật như vậy biểu hiện sự phân hoá giai cấp tầng lớp sâu sắc.

Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Công Hoan tả bọn quan lại, bọn tư sản, địa chủ, cường hào... đều nhất loạt to béo, béo đến chảy mỡ, đến phát phì ra như vậy. Đây là cách giải thích của Nguyễn Công Hoan về lý do béo của chúng:
“Tôi cực lực công kích sách vệ sinh đã dạy ta ăn uống phải sạch sẽ, nếu ta muốn được khoẻ mạnh, béo tốt. Thuyết ấy sai! Trăm lần sai! Nghìn lần sai! Vì tôi thấy sự thực ở đời này bao nhiêu những anh béo khoẻ đều là những anh thích ăn bẩn cả”
(Đồng hào có ma).
Theo Nguyễn Công Hoan “béo” là do “ăn bẩn” nghĩa là ăn cắp, ăn cướp, ăn hiếp, đục khoét của dân, hút máu, hút mủ của dân. Hàng loạt truyện ngắn và một số tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan đều xoay quanh các mánh khoé, thủ đoạn “ăn bẩn” của bọn quan lại, cường hào, địa chủ.

Có những cách ăn thật oái oăm, kỳ lạ và hết sức đê tiện.
“Tiếng khóc của người mẹ trước thi hài con chết đuối đã trương làm ai cũng phải cảm động. Nhưng trái lại, nó không làm chuyển nét mặt của quan tư pháp. Đến đây, ông là đại biểu cho pháp luật, ông đã từ người bằng xương, bằng thịt biến thành pho tượng bằng sắt đá lạnh lùng”.
Vậy đã là sắt đá không thể cảm nhận được những tiếng khóc ẻo lả của người mẹ mất con hoặc những tiếng kêu nài mềm yếu của người cha oan uổng. Cảm được sắt đá duy chỉ có một vật. Vật ấy cố nhiên phải rắn hơn đá. Mà vật rắn ấy nhà ông Cửu không thiếu. Nó làm bằng loại bạc.
Và lời kết chuyện:
“Và một giờ sau, lũ ruồi, lũ nhặng, lũ cá, lũ quạ, tiếc ngẩn ngơ.
Chúng có biết đâu rằng quan huyện tư pháp đã tranh mất món mồi ngon của chúng”
(Thịt người chết).
Bằng sự so sánh đồng nhất quan huyện tư pháp với lũ ruồi, lũ nhặng, lũ cá, lũ quạ cùng nhau tranh mồi là các thây ma cho ta thấy sự đê tiện đáng kinh tởm của một viên quan “ăn bẩn”.

Nghĩ lại, thấy người dân đen ngày trước thật cực khổ vô cùng, khổ vì nghèo đói đã đành, đến con chết cũng không được chôn, mẹ chết cũng không được ra đồng (Người thứ ba).

“Cái miệng, trước khi để khóc mẹ, hãy phải dùng để trình nhà chức trách biên vào sổ tử cho, thì mới đúng là trong nhà có người chết. Nếu không, thành ra mình khóc lậu à? Mà trình nhà chức trách, đố ai làm nổi việc ấy bằng lời nói suông. Cho nên, vừa bị kéo tới thềm nhà, chị cu đã lạy van cụ thư ký bằng một món tiền (...).
Tiếng phèng rè nổi lên như run, như khóc. Chiếc nhà táng vừa nâng cao, chị cu thương tâm quá, đứng không vững, ngã khuỵu xuống đất.
Nhưng mà:
- Này! Hãy dậy đã.
Chị mở mắt ra, nhìn.
Ông quản cố cầm roi mây, phì hơi rượu vào mặt chị, nói:
- Mày dậy đã, không có phép thế.
Chị cu vừa khóc, vừa rên rỉ:
- Phép thế nào, ông ơi.
Ông quản lộ cau mặt, gõ đầu roi vào nhà táng:
- Nghĩa là nó là phép thế. Đường là đường làng. Làng cắt tôi ra trông nom. Chị có tư cách gì mà dám đưa ma bà cụ lại không nói với tôi một tiếng? Bốn người này khiêng áo quan vào trong nhà giả chị ấy!
(...) Chị không khóc nữa, lấy vạt áo chùi đôi mắt đỏ hoe, rồi từ từ cởi nút giải yếm.
Liếc mắt thấy phát tài đến nơi, ông quản dịu mặt:
- Tôi vẫn biết chỗ người làng người nước, làm ra sinh mất lòng mất bề nhau, nhưng nghĩa là việc quan anh cứ phép công anh làm, ai oán thì oán.
Nói đoạn, ông lại liếc mắt lượt nữa, thấy chị cu đã nắm cái gì ở trong tay. Ông biết rằng không phải nói thêm gì. Ông đứng yên, để nhường lời cho chị. Mặt ông, lúc đó, tuy trơ trẽn, nhưng tươi lắm.
Chị nhờ người vào nhà lấy cái đĩa, rồi để đánh cạch hai mươi trinh vào, dịu dàng thưa:
- Gọi là thế, có cơi giầu biếu ông, thôi thì ông cho các bác ấy khênh bà cháu ra đồng.
Ông quản để năm đầu ngón tay vào lòng đĩa, vét một cái rất anh hùng, rồi gật đầu, hất roi:
- Thôi được!
(Người thứ ba)
Ở tầng lớp quan lại, tư sản, địa chủ, cường hào mà Nguyễn Công Hoan gọi chung là bọn nhà giàu ấy không chỉ diễn trò “ăn bẩn” mà còn diễn trò “ăn cắp”, “ăn cướp”. Đó cũng là đề tài trở đi, trở lại trong những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan. Có lẽ xoay quanh những vụ trộm cắp, nhà văn dễ tìm ra những tình tiết ly kỳ và có dịp vạch trần bản chất đểu cáng, giả dối của chúng.

Song có cả những nhân vật vì nghèo khổ, gầy, đói quá do không có gì mà ăn nên cũng phải diễn trò ăn cắp, ăn xin.
Trong sự đối lập kẻ giàu, người nghèo ấy cùng diễn ra trò, dĩ nhiên nhà văn đứng về phía người nghèo, bênh vực họ.

Ví dụ: Ở những truyện ngắn: Thằng ăn cướp, Bữa no... đòn, Thế cho nó chừa...
Vì đói quá phải ăn quỵt hai xu bún riêu, bốc trộm củ khoai, một tấm bánh. Nguyên nhân thì nhỏ nhưng kết quả là những trận đòn bán sống, bán chết và rồi bị nhốt trong nhà lao. Đó là giá trị con người dưới thời thuộc Pháp. Nguyễn Công Hoan đã giáng một đòn chí mạng vào chế độ xã hội coi mạng người như cỏ rác.

Ngược lại với thủ phạm là bọn nhà giàu: với tài dựng truyện Nguyễn Công Hoan dẫn dắt độc giả bằng những tình tiết lôi cuốn để bắt quả tang những vụ trộm bất ngờ. Ví dụ: Cái ví ấy của ai là truyện mấy ông huyện, ông đốc, bà tham, bà cử nào đó rất chi là sang trọng, lịch sự, đang khiêu vũ với nhau, nói toàn tiếng Tây, tưởng đâu chỉ có say vì nhạc, mê vì tình. Ấy thế mà xoay ra lần ví của nhau. Để rồi thằng xe phải một trận đòn oan thừa sống, thiếu chết. Truyện Thằng Quýt tố cáo một ông Phán ăn cắp mười đồng tiền công của đầy tớ một cách đểu rả, độc ác.

Cụ Chánh Bá mất giầy cũng là một kiểu ăn cắp không hơn, không kém: cụ Chánh Bá dựng đứng lên chuyện mất cắp đôi giày của mình. Đôi giày của cụ:
“...chẳng biết cụ mua từ Khải Định mấy niên, đến bây giờ, đóng lại đế là lần thứ bốn, mà nó vẫn hoàn không đế. Mũi thì nứt rạn và vá nhiều nơi. Cái cá đã đóng thêm lượt nữa, nhưng nó vẫn thủng. Lượt da thì ải và bật dây gần hết. Bọn thợ khâu giày phải trốn như chạch, vì lỡ ra không nhẹ tay mà chọc mạnh cái dùi vào, là nó toạc ra - vì tất nó toạc ra - thì oan gia.
(...)
Lúc chập tối, trong khi có hai thầy trò cụ chánh Bá ở nhà trên, thì cụ khẽ gật tên đầy tớ, và liếc mắt một cái. Anh này hiểu ý, ra hiên đứng nhìn, rồi đến cạnh cụ, cúi xuống nhặt... Rồi thu thu vào trong bọc. Rồi len lén ra ngoài ao. Rồi giơ thẳng cánh tay, ném xuống nước. Tõm!...”
Cụ Chánh được không một đôi giày mới. Thật là đểu cáng, lừa lọc hết mức. Đê tiện và bất ngờ nhất có lẽ là vụ trong truyện Đồng hào có ma.

Bà Nuôi, một nông dân nghèo bị mất trộm sạch của cải tìm lên huyện để trình quan. Theo lệ quan bà phải khấu một đồng bạc, quan mới nhận đơn. Vậy là tính quan thích “ăn lễ, ăn tiền”. Nhưng ăn lễ, ăn tiền, ăn đút, là cách ăn bẩn hàng ngày của quan lại. Ở quan huyện Hinh oai vệ, béo tốt hơn người ấy có cách ăn bẩn thượng hạng hơn. Ông ăn cắp một đồng hào đánh rơi của con mẹ Nuôi mà mặt cứ tỉnh như không, đúng là ăn cắp chính tông.
“Ông huyện Hinh cứ ngồi yên sau bàn giấy để nhìn theo con mẹ khốn nạn. Rồi khi thấy nó đã đi khuất, ông mới đưa mắt xuống chân, dịch chiếc giầy ra một tý. Và vẫn tự nhiên như không, ông cúi xuống thò tay, nhặt đồng hào đôi sáng loáng, thổi những hạt cát nhỏ ở đế giầy bám vào, rồi bỏ tọt vào túi”.
Ông huyện Hinh đã ăn không, ăn cắp, ăn cướp đồng hào đôi của bà Nuôi nghèo khổ đang cơn hoạn nạn. Một cách “ăn bẩn” thượng hạng của thó vật, sự béo khoẻ đặc biệt của ông là điều dễ hiểu. Từ “ăn bẩn” dùng cho các ông huyện, lũ quan... ở đây không hiểu theo nghĩa đen chỉ áp dụng cho động vật, loài chó, lũ lợn thích ăn những cái dơ bẩn. Từ được dùng theo nghĩa ẩn dụ, so sánh với cách kiếm chác, ti tiện, đê tiện, bần tiện của bọn quan lại sâu mọt.

Thế là trong cái xã hội của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, bọn thống trị chỉ là một lũ ăn cắp, ăn cướp, luật pháp của chúng bày ra chỉ là để đè đầu người dân xuống mà ăn cắp, ăn cướp. Nguyễn Công Hoan đã phản ánh được chính xác một khía cạnh bản chất hiện thực bằng tài đả kích tuyệt vời, chứng cứ rõ ràng. Ông đã đưa bọn thống trị lên sân khấu, cho chúng tự lột mặt nạ trước người đọc. Đó cũng là sở trường của Nguyễn Công Hoan, sở trường tố cáo vạch mặt bọn thống trị .

Chúng ta thấy rõ Nguyễn Công Hoan là nhà văn có tài xây dựng nhân vật phản diện. Việc xây dựng nhân vật phản diện cho phép nhà văn được tô đậm, phóng đại những nét tiêu biểu của nhân vật.

Thế giới nhân vật của ông không chỉ quẩn quanh với những lớp dân nghèo thành thị (phu xe, kép hát, người ở, ăn mày...). Ông đã mở rộng thế giới nhân vật của mình đi vào đời sống công nhân, nông dân, không chỉ mô tả họ như những nạn nhân tiêu cực mà còn phát hiện ra bản chất ngoan cường, bất khuất. Đó là hình ảnh chị công nhân Sáng trong truyện Sáng... chị phu mỏ, hình ảnh anh Pha trong tiểu thuyết Bước đường cùng (nói sau).

Khi xây dựng nhân vật chính diện mặc dù chưa có gì sâu sắc lắm những biểu hiện một cái nhìn đúng đắn, một thái độ trung hậu, thông cảm của tác giả. Không phải không có lý do khi Nguyễn Công Hoan viết trong Đời viết văn của tôi.
“Nhân vật quen thuộc của tôi đều là những nhân vật xấu trong xã hội thuộc Pháp. Họ là bọn nhà giàu, cậy quyền thế mà áp bức bóc lột người nghèo. Họ là quan lại, địa chủ, là tư sản, tiểu tư sản líp trên. Vẽ họ tôi tìm đủ các nét nhơ bẩn về vật chất cũng như về tinh thần. Còn nhân vật chính diện thì tôi thường chỉ tả họ qua ngôn ngữ, cử chỉ để thấy được con người của họ”.
Thông qua thế giới nhân vật trong những sáng tác trước cách mạng của Nguyễn Công Hoan, ta thấy hầu hết các tầng lớp trong xã hội phong kiến đều có mặt, từ các giai cấp bị áp bức bóc lột, các giai cấp thống trị và các tầng lớp trung gian cho đến những người ở dưới đáy của một xã hội hết sức phức tạp. Tất cả đều có vai trong tấn bi hài kịch đồ sộ với bao nhiêu màn, lớp.

Trên sân khấu ấy đã diễn ra hầu như đủ mọi tấn trò đời, bao nhiêu tác phẩm là bấy nhiêu cảnh sống của các xã hội cũ thối nát.
Bằng một năng khiếu trào phúng dường như bẩm sinh, một vốn sống phong phú về trường đời và một trí tuệ sắc sảo, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã phơi bày “thế giới bị lộn trái” ấy đậm chất hài hước. Ông cười con người tha hoá chính là để cười sự tha hoá của cả xã hội. “Quan niệm con người này làm cho tác phẩm có được chiều sâu phổ quát hơn một chủ đề tố cáo bọn thống trị hoặc nói đúng hơn tố cáo trạng thái phi nhân tính của đời sống” (Trần Đình Sử: Một số vấn đề thi pháp học hiện đại - BGĐ và ĐT 1993 trang 39).

Tố cáo trạng thái phi nhân tính để đòi một trạng thái có nhân tính. Đó là giá trị nhân bản trong những sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan trước cách mạng.

Lại Trần Mai






Thứ Hai, 13 tháng 5, 2024

Xin chữ


Xin chữ

Vũ Duy Thông


(Dân trí) - Ngày trước, tục cho chữ, xin chữ khá phổ biến.

Người cho chữ là những bậc túc nho, khoa bảng danh giá hoặc được kính trọng, tôn vinh. Người xin chữ thường là người quí trọng văn hoá, đi xin chữ là để lưu giữ một kỷ niệm, lấy cái tài cái đức của người cho chữ để giáo dục người thân, con cháu mai hậu. Truyện ngắn Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân ai từng học hết bậc phổ thông trung học đều biết là một trường hợp cho chữ, xin chữ như thế.

Nhưng từ phong tục ấy, không ít người muốn làm ra vẻ cũng quen biết rộng, cũng hiểu chữ nghĩa, lấy tiền bạc hoặc cầu xin để được chữ của người tài cao học rộng mang về loè thiên hạ. Giai thoại về cô Tư Hồng, một "me Tây" nổi tiếng Hà Thành xin chữ cụ Tam Nguyên Yên Đổ cho bức hoành phi treo ở ngôi nhà mới xây, bị cụ cho ba chữ "Vọng Tây Lầu" thâm thuý, thuộc trường hợp này.

Lại có chuyện không ít ông nghè, ông cống mù dốt nhưng được mũ áo vua ban kiếm ăn quanh bằng cách cho chữ đám thọ, đám hiếu, nhà mới, chùa mới để kiếm ăn. Truyện ngắn Xin chữ cụ Nghè của Nguyễn Công Hoan kể về một ông có việc tang, muốn đổi mới các câu phúng đã quá nhàm chán như kiểu "Thiên thu vĩnh biệt", "Qui lai tiên cảnh" đầy rẫy ở các cửa hàng đồ tang của Hà Nội bấy giờ, ông biện lễ to, tới nằn nì xin cụ Nghè cho chữ.

Sau một hồi làm cao, vờ vắt óc suy nghĩ, cụ cho bốn chữ "Hạc giá tiêu du" (cưỡi hạc về cõi tiên) ai cũng biết, cũng thuộc. Người cho chữ cười ha hả mãn nguyện, người xin chữ méo mặt cười theo.

Chuyện xưa là thế, còn chuyện nay. Cứ đến dịp kỷ niệm năm tròn ngày truyền thống này nọ, từ cơ quan, xí nghiệp, tỉnh, huyện và cả những nơi vốn đã danh giá đều đổ xô đi xin chữ. Thường là thư khen. Nếu không thư khen thì vài dòng bút tích trong sổ vàng truyền thống. Quí nhất là ảnh, nếu có được tấm ảnh một đồng chí lãnh đạo đang thăm cơ sở, bắt tay thủ trưởng hoặc cầm trên tay một sản phẩm của đơn vị thì còn hơn cả cho chữ. Lại có đồng chí lãnh đạo thích cho chữ, thích có tên trên báo. Chỉ khổ các thư ký, các cán bộ văn phòng gò lưng ra sáng tác thư khen với những: "nhiệt liệt chào mừng", "nhiệt liệt biểu dương" "chúc các đồng chí phát huy thành tích" v. v... v.v...

Không rõ những chuyện xưa thời nay ấy được xếp vào loại nào trong số những chuyện xin chữ, cho chữ vừa kể.


Vũ Duy Thông