Ads 468x60px

.

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

Nỗi lòng ai tỏ



Minh họa: Chiến Hữu Audio

Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Chiến Hữu

Mời nghe đọc tại YouTube - #nguyenconghoan
1 kênh 1 video


Mời đọc Bản đánh máy


Nỗi lòng ai tỏ

Nguyễn Công Hoan
(1903-1977)


Từ lúc ăn xong bữa cơm sáng đến bây giờ, chẳng ai hiểu vì lẽ gì, cô Tuyết cứ thở vắn thở dài. Rồi chờ cho mẹ đi chơi, cô lên giường đắp chăn, thút thít khóc mãi.

Thật trái hẳn với mọi khi. Xưa nay, cô vẫn là một người vui vẻ. Suốt ngày, không ai thấy cô buồn bã bao giờ. Ngay từ buổi sáng, vừa ở trên giường bước chân xuống đất, cô đã ngắm vuốt. Cô chải đầu, rẽ tóc. Cô đánh mặt, bôi môi. Rồi khi đọc chán chê các tiểu thuyết, cô lại ra cửa đứng, để ngắm từ đầu đến chân các cô khác tha thướt đi qua trước nhà.

Thế mà bỗng tự dưng hôm nay, cô cứ thở vắn thở dài. Rồi lên giường đắp chăn. Thút thít khóc! Thì ai không ngạc nhiên và không thương? Phải, còn gì làm cảm động hơn là giọt lệ long lanh trên đôi má hồng của một thiếu nữ đào tơ sen ngó?

Nhưng mà giọt lệ ấy vì đâu mà long lanh trên đôi má cô Tuyết?

Kiếp tài tình


Đời văn nghệ sĩ:
1. Kiếp tài tình - 1935
2. Cái tết của những nhà đại văn hào - 1940


Minh họa: Kênh Cô Vân


Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Cô Vân | 2. L&H | 3. Chiến Hữu

Mời nghe đọc tại YouTube - #nguyenconghoan
3 kênh 3 video



Mời đọc Bản đánh máy


Kiếp tài tình

Nguyễn Công Hoan
(1903-1977)


Nhà hát tây hôm ấy có vẻ tôn nghiêm của một vẻ tôn nghiêm của một vị thượng quan mặc lễ phục. Dưới ánh sáng đèn điện như hàng trăm con nhện lửa chăng tơ trên tường và ngoài vườn hoa, hiện ra quang cảnh một thế giới riêng của hạng người phú quý.

Tiết trời đông lạnh lẽo những đâu đâu, chứ ở trước nhà hát, vẻ tấp nập, hớn hở lộ trên nét mặt các nam thanh nữ tú, làm cho nhà soạn kịch Hồng Sơn tưởng tượng đến những bông hoa của mùa ấm áp.

Samandji 1


Mời đọc:
1. Samandji 1
2. Samandji 2



Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Chiến Hữu | 2. Nguyễn Thắng

Mời nghe đọc tại YouTube - #nguyenconghoan
2 kênh 2 video


Mời đọc Bản đánh máy

Samandji

Nguyễn Công Hoan


Đến hai tháng nay, tôi không gặp Samandji. Đó là một chú lính da đen ở đạo quân Thuộc địa thứ chín: một con bò mộng nuôi chờ ngày mổ thịt. Anh ta trông dữ tợn vì hai con mắt trắng dã trên màu da mun, song bản tính thực hiền lành, chất phác.

Sở dĩ tôi thích Samandji, vì hắn là người ngoại quốc, vả lại hắn phục tôi là giống văn minh hơn, cũng như tôi kính phục người Nhật Bản. Bởi thế, thỉnh thoảng tôi trịch thượng, lên mặt đàn anh, sai bảo anh ta chẳng khác một kẻ bộ hạ trung thành.

Đến hai tháng nay, tôi không thấy Chủ nhật anh ta đến chơi tôi nữa.

Rồi hôm qua, trong khi đi dán mũi vào ở cửa kính các hiệu, tôi thấy bị một bàn tay sắt vỗ sụn cả vai.

Tôi quay lại: rành rành Samandji bằng xương, bằng thịt hẳn hoi. Ngạc nhiên, tôi trố mắt nhìn anh ta mà hỏi:

- Anh ở lỗ nào chui ra đấy?

- Ở Thượng Hải về. Vất vả quá!

- Làm gì bên ấy?

Anh ta nghểnh cao người lên, vênh mặt mà trả lời:

- Dẹp giặc!

- Ấy chết! nguy hiểm thế à? May mà không bỏ mạng đấy.

Câu nói của tôi như có hiệu lực gì vào tâm hồn anh, mà anh ta tỏ ra vẻ ngạc nhiên trong cái lòng trắng mắt:

- Sao anh hèn thế? Chết về nước mà anh sợ à? Chả trách anh không dám đi lính.

Tôi cố làm ra cách thẹn vì câu nói ít can đảm của mình, không muốn làm nhầu mất tấm lòng ái quốc của anh ấy.

- Lại sắp đi tu rượu hẳn?

Tôi vội lảng sang chuyện khác như thế. Anh đáp:

- Không, về nhà tôi.

- Anh có nhà đấy à? Diện nhỉ!

- Tôi mới thuê một cái gác xinh lắm, ở gần đây.

- Một mình anh, làm gì hoang thế?

- Không...

Tôi hiểu ý, cười, anh ta cũng nhếch mép cười theo: một cái chớp loáng trong đêm hôm ba mươi!

Một chốc, tôi đã ngồi bên cái bàn ăn phủ khăn trắng.

Samandji đi rót rượu cho tôi uống.

- Đâu? Còn ai nữa đâu?

Tôi hỏi nửa đùa nửa thật, biết câu ấy đối với An Nam mình thì khiếm nhã, song đối với anh ta, chỉ là câu chuyện thường.

- Nó còn đương bảo đun nước trong bếp.

Ngay lúc đó, tôi thấy tiếng dép lẹp kẹp sau lưng tôi, rồi tiếng reo:

- Đã về đấy mình?

Theo sau một câu nhỏ hơn:

- Ai thế?

- Bạn thân tôi. Chào ông ấy đi.

Tôi vội ngoảnh lại: một người đàn bà rộng khổ, cũng mồm đỏ, cũng đít cong, cúi đầu chào tôi.

Tôi lúng túng không biết dùng tiếng gì trả lời, may thay hai vợ chòng anh ta bá cổ hôn nhau, làm lấp cả tiếng ầm ừ của tôi đáp lại.

Trông cảnh tưọng hai cây thịt ôm chặt lấy nhau mà bất giác tôi nghĩ tới cuộc thế giới hòa bình, cuộc tương thân, tương ái của các màu da.

Song tôi lại quên không hiểu cái nguyên nhân sự thương yêu đó ở đâu mà ra, mà nồng nàn đến thế.

Vợ Samandji trông có vẻ lắm. Chằng hiểu cạo lượt nước hàng ở mặt đi, thì còn trơ ra màu gì, chứ ngay lúc đó, đứng bên một cái cột nhà cháy, thì chị ta cũng còn được chút mỹ thuật.

Mỹ thuật nhất là cái ngực đầy như cái ví của nhà tư bản, như cái óc của ông Nghị trước ngày họp hội đồng.

Song đó chẳng phải là cái chỗ tôi kính phục chị.

Tôi không ngờ một người đàn bà ở cái sọt ấy, mà chiều chồng khéo đến thế.

Chị ta ngồi đối diện với Samandji, con mắt đưa tình, miệng cười chúm chím.

Tôi thì cứ trố mắt nhìn tấn hoạt tượng đó, trong lòng nôn nao; cũng một cảnh gia đình "sống để mà yêu" đó.

Bàn tay nhẫy những thịt, nhanh nhẹn rót rượu cho chồng, cho khách, cho mình.

Ông bạn đen của tôi chừng như khoái chí lắm, uống mãi, rồi kể chuyện, nào khi ra trận, nào lúc nằm hầm, nào tiến, nào lui, vào sinh ra tử. Giọng nói có vẻ tự nhiên, yên phận.

Còn cô vợ, lúc dún vai, khi rụt cổ, bĩu môi, dẩu mỏ, cũng có vẻ tự nhiên của một người thập thành.

Song, tôi lấy làm lạ một điều, là khóe thu ba không khi nào đánh ngang sang chỗ tôi, chỉ chăm chú vào cặp môi dầy diễu võ giương oai. Tôi đương cảm phục tấm ái tình chân thật của chị ta, thì bỗng nhiên tôi giật mình: trên bàn chân tôi có vật gì đè xuống. Tôi tưởng Samandji cao hứng, sắp đưa cả gót giầy vào ống cẳng tôi, tôi vội vàng rụt lại.

Chẳng bao lâu, tôi lại thấy cái cảm giác ấy nữa. Lần này tôi không tưởng nữa, vì chính là bàn chân nóng hôi hổi đụng vào chân tôi. Tôi co cẳng lại. Cái bàn chân đuổi theo tôi, tôi lại chạy. Trong gầm bàn, nấp dưới chiếc khăn trắng bỏ xõa, thực là một cuộc bắt cóc của hai bàn chân.

Một lúc, bí thế, tôi đành để yên.

Samandji vẫn chuyện, tôi vẫn nghe, cái mồm đỏ vẫn cử động, mà bàn chân tôi đành chịu ngồi tù.

Thỉnh thoảng vợ Samandji lại ru ngủ chồng bằng những cái vỗ vai, những cái phủi bụi áo: âu yếm nhau ghê!

Một phút. Hai phút...

Lần này thực là nguy. Hai cái ống cẳng đầy những thịt, nóng hôi hổi gác lên đầu gối tôi, rồi tôi thấy mấy đầu ngón chân nghi ngoáy trên đùi tôi.

- Trận đánh này kịch liệt hơn trận trước. Hôm ấy trời mưa tuyết...

Samandji vẫn mê lên về kể chuyện, vì anh vẫn tưởng vợ anh và tôi mê lên về nghe chuyện.

Quả tim tôi đập đến vỡ ra mất, mà thần trí tôi thì rối loạn.

Đã vậy, tôi vẫn phải cười gượng với bạn, nhưng cái cười vàng như miếng nghệ, tay thì nhấc lên, bỏ xuống cái cốc hãy còn đầy những rượu men nồng.

Samandji càng uống lại càng nói, càng nói, tôi lại càng thấy đầu gối bị đè chặt, tê cả bắp đùi.

Bỗng anh ta ngắt câu chuyện, lườm tôi mà bảo rằng:

- Anh không tốt.

Ấy chết! Nguy to rồi. Cái này có lẽ hắn biết mà hắn cho một quả tống thì còn gì là mũi! Hàng tóc gáy của tôi rợn lên cả một lượt.

Tôi ứ cổ mà hỏi:

- Tôi không tốt? Anh say à?

- Không! Tôi không say. Cả vợ tôi cũng không tốt.

Nhanh như điện, hai ống cẳng đầy thịt biến mất: đầu gối tôi được tự do.

- Thế nào không tốt, mình?

Mặt chị vợ cơ chừng cũng tái mét trong lần phấn, vì tôi nghe thấy giọng nói hơi run.

Tôi tưởng tượng như bị nhốt trong một cái chuồng hổ, hay nguy hiểm hơn, bị nhét vào một hội quán nào để bắt nghe diễn thuyết.

Hai chúng tôi như hai tên tội phạm sắp đến lúc tuyên án tử hình.

Mặt tôi cố tỏ ra vẻ ngạc nhiên, cái mồm đỏ cũng cố đẻ ra một nụ cười héo hắt.

Một chốc, Samandji lè nhè lên giọng:

- Anh đừng có giấu tôi nữa, tôi hiểu cả rồi...

- Anh hiểu cả cái gì? Tôi làm gì anh?

- Anh đừng có giấu tôi nữa, cũng như tôi không giấu vợ tôi, tôi thường bảo nó rằng: "Khi tao về thì mày hôn tao, mà khi tao vào trại, thì ban ngày, mày đi đánh chắn, ban đêm mày ngủ với người khác, mày không tốt". Có thế mà nó không chừa. Tôi cũng chán, không muốn bảo nó nữa. Thôi mặc nó. Tôi nghe nói anh sắp lấy vợ, mà anh không cho tôi biết, không hỏi tôi. Đừng lấy nữa. Mình chẳng thể tin được nó. Nếu anh có vợ, anh không tốt.

Tôi nhảy một bước dài từ cái ngạc nhiên nọ sang cái ngạc nhiên kia. Nào ngờ đâu tôi chỉ phải nghe cái bản án gọn lỏn mà bình thường có như thế.

- Anh Samandji, tôi khen anh đấy, ở với vợ trung thành và có độ lượng.

- Anh tính tôi làm thế nào? Đứa nào cũng vậy, thì thà im đi còn hơn, bảo nó, nó chẳng nghe thì thôi.

Nói xong, Samandji cười. Tôi cũng cười. Đến chị vợ cũng cười. Ba cái cười tự nhiên không có vẻ ngượng nghịu.




Đăng trong Tiểu thuyết Thứ Bảy số 76 (9 tháng 11 1935)


Mời đọc Bản chụp dạng Ảnh
Trong Nguyễn Công Hoan - Truyện Ngắn Chọn Lọc - Tập 1 - NXB Hội Nhà Văn 2005

Samandji 2


Mời đọc:
1. Samandji 1
2. Samandji 2



Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Chiến Hữu

Mời nghe đọc tại YouTube - #nguyenconghoan
1 kênh 1 video


Mời đọc Bản đánh máy


Samandji 2 [*]

Nguyễn Công Hoan
(1903-1977)


Vì một chuyện cỏn con, tôi với Samandji giận nhau.

Về sự giận nhau, tôi cho là có hai thứ: thứ vợ chồng giận nhau, và thứ bạn bè giận nhau.

Thứ trên không nguy hiểm, và thường không lâu hơn một đêm, nếu người chồng không nhức đầu, đau bng quá nặng, đến nỗi chịu nằm bẹp gí một chỗ.

Thứ dưới, trái lại bao giờ cũng lâu hơn. Vì khó lòng có dịp để cho hai người làm lành với nhau, trừ phi khi nào người nọ lại là nhân tình của vợ người kia, hoặc khác hơn, người kia lại là nhân tình của vợ người nọ.

Bất tất tôi phải nói lại cái cơ giận nhau của chúng tôi. Cớ đó nó trẻ con lắm, tuy trên đầu chúng tôi cộng cả thẩy tóc bạc, cũng đã được một món khả kính.

Vậy tôi tóm tắt ngay cho khỏi dài dòng: anh oẳn với tôi giận nhau, và không thèm trông thấy mặt nhau nữa.

Không biết trong lòng anh ta có bứt rứt gì về tình bạn bè đoạn tuyệt hay không. Riêng tôi, từ hôm xẩy ra câu chuyện bất bình, tôi cứ ngồi lỳ ở nhà, để ôn lại tấn kịch đáng phàn nàn ấy.

Càng nghĩ bao nhiêu, tôi càng căm ghét cái giống da đen. Thực là hạng người đáng khinh bỉ. Nghĩa lý gì cái mặt đen bóng như sơn, bộ tóc cứng như dây đồng,  và cặp môi dầy chẩu ra, cao bằng hai mũi? Còn tính nế? Họa có ông Trời và con Quỷ chịu nổi. Tôi tưởng có một con Cừu và một con Sư tử cùng ở trong óc họ. Có lúc họ hiền lành, phúc hậu, thực đáng thương. Có khi thì đùng đùng thịnh nộ,  tưởng chừng như có thể ghé răng cắn vỡ đôi quả đất. 

Samandji không chơi với tôi nữa, lắm lúc tôi cho là một điều hạnh phúc. Xa anh, tôi lại được xa vợ anh, một con ma dâm dục, đã nhiều phen suýt làm liên lụy đến tôi.

Thế mà một hôm, khi tôi đang nằm ềnh trên giường để ngẫm nghĩ đến mặt mỹ thuật của sự lười, thì con ma đó hiện bên tôi lúc nào không biết. Hắn phát thực mạnh vào đùi tôi, làm tôi giật bắn người lên. Khi quay ra, mắt tôi gặp ngay bộ răng nham nhở hắn vừa đánh trắng. hắn toét mồm cười như thế, chẳng nói thêm câu gì. Đôi mắt tít lên, chỉ còn hai cái kẽ đen, trong đó chưa chất biết bao nhiêu tinh thần lẳng lơ, đĩ thõa.

Tôi ngồi lên, nghiêm trang nói:

- Mời chị ngồi ghế đằng kia.

- Được, ông cứ cho em đứng đây để được hầu khăn áo.

- Chết nỗi, ở đây có kẻ nọ người kia, sao chị nói những câu lạ lùng thế! Chị muốn điều gì?

- Thằng đen bảo em mời ông lại chơi. Nó ngượng không dám đến.

- Anh Samandji ấy à? Anh ấy định xin lỗi tôi sao?

- Có lẽ thế đấy. Ông đến ngay đấy nhé. Nó chỉ cho em đi có hai mươi phút thôi. 

- Vâng. Chị cứ về, tôi mặc quần áo rồi lại ngay.

Vợ Samandji nghe nói, nét mặt lộ vẻ vui mừng, đắc ý. Tôi không sao hiểu nguyên nhân cái tâm lý hắn lúc bấy giờ, trong lòng ngờ vực. 

Hắn chào tôi bằng một cái mỉm cười, rồi đi ra. 

Đến bàn giấy tôi, hắn đứng dừng lại. Hắn ngắm nghía chiếc ảnh nửa người của tôi mới chụp bầy trên bàn. Rồi hắn thò tay cầm lấy, rồi... đưa lên miệng, hôn một chiếc thực kêu.

Tôi trợn mắt, toan chạy lại giật lấy ảnh, thì nhanh như cắt, hắn đã cầm cả chiếc ảnh, vùn vụt vừa chạy vừa quay lại nói:

- Mình sú-vơ-nia cho em nhé.

Hắn ngổ thế này, thì hắn coi trời bằng vung thực. Lỡ ra mà chồng hắn bắt được ảnh tôi ở túi hắn, hoặc cứ quanh nhà hắn, là tôi cũng đủ bị què cẳng rồi. À, giây với tụi này nguy hiểm quá.

Trước tôi còn đắn đo không muốn đến nhà Samandji. Bây giờ thì tôi quyết thể nào cũng phải đi, đi để tỏ bầy cho bạn cái tính nết khốn nạn của vợ anh, và để bộc bạch cho bạn biết vì sao cái ảnh của tôi lại bay đến nhà anh được.

Mặc quần áo qua loa xong, tôi hầm hầm lên xe, lại nhà Samandji.

Tới nơi, tôi vẫn hầm hầm, cứ việc tiến vào chỗ mọi khi anh vẫn tiếp khách.

Nhưng lạ quá! Tôi chẳng thấy bóng Samandji đâu.

Tôi liền chạy vào nhà trong là chỗ anh ta hay ngồi khi một mình buồn. Thì tôi giật mình. Tôi thấy vợ anh đương ngồi duỗi thoi trên chiếc chõng tre, ung dung cầm chiếc ảnh tôi ngắm nghía.

Tôi lên tiếng:

- Này chị! Anh ấy đâu? 

Vợ Samandji không trông lên, cũng không trả lời. Hắn nâng lên chiếc ảnh bằng hai tay, và nựng:

- Âu! Ngoan nhé! Rồi tôi ru cho mà ngủ nhé!

Tôi sửng sốt cả người, tức đầy lên cổ. Tôi hỏi dồn:

- Anh ấy đâu? Chị ăn nói nhảm nhí thế à? Liệu không có tôi mách anh ấy cho mà xem!

- Gớm! Chỉ được cái thế thôi.

Rồi hắn lườm tôi một cái mà tôi chắc là lườm yêu. Vì đồng thời với cái lườm thiếu mỹ thuật của bộ mặt nhợt nhạt ấy, tôi trông thấy một nụ cười tươi như mếu.

Đưa tình xong, hắn nói:

- Samandji của ông làm gì có nhà! Tôi nói dối để ông lại chơi đấy chứ.

Rồi hắn nghẹo cổ, nhăn mặt, âu yếm nói tiếp:

- Gớm, lâu nay không gặp mặt, làm người ta nhớ nhớ là!

Tôi biết sắp có chuyện lôi thôi to, bèn quay phát ra, không đáp.

 Nhưng tôi chưa đi được vài bước, thình lình có hai cánh tay ôm choàng lấy ngang lưng tôi.

- Mình ơi! Mình ở lại kẻo phụ lòng em quá!

Hắn ôm chặt quá. Tôi hết sức gỡ không ra.

Chẳng lẽ tôi đâm lối hèn mạt mà kêu rầm lên. Mà một người đàn ông như tôi, một

mình ở trong nhà một người đàn bà chồng đi vắng, thì thật khó xử.

Hắn dường như hiểu vậy, càng làm già:

- Thôi đi mình! Bớt giận làm lành. Sở dĩ em đánh lừa mình, một là em nhớ mình quá, hai là em mới may xong bộ khăn trải giường...

- Chị bỏ tôi ra, nếu không, chị chẳng ra gì với tôi bây giờ!...

- Em mời mình khánh thành mà. Có quý nhau mới thế chứ!

Rồi hắn tóe ra một nhịp cười ghê thịt. Tôi vùng vằng, nghiêm nghị:

- Chị buông ngay tôi ra.

- Úi chà! Khi nào! Mèo cắp được mỡ, mấy khi lại nhả.

Nói đoạn, hắn xô tôi lại gần chiếc giường Hồng Công cạnh cửa sổ, rồi đẩy tôi ngã vào đó, mặt thì đỏ bừng bừng.

Thấy thế nguy, tôi hết sức giẫy giụa, và gạt mạnh hắn đi. Hắn văng sang một bên, tóc xổ rũ rượi.

Vừa lúc đó, có tiếng đấm cửa, kế đến Samandji gọi. Tôi hết hồn! Con mụ khốn nạn cũng run lên bần bật, hỏi khẽ tôi:

- Chết! Nó về. Làm thế nào?

Cố lấy can đảm, tôi vờ cứng cỏi đáp:

- Mở cho anh ấy, chứ sao?

- Mở mà tù cả à?

- Rồi hắn trỏ vào tóc, vào quần áo, vào giường.

Tôi giật mình. Tóc hắn thì rối bù, quần áo thì xộc xệch, dăn dúm. Cái khăn trải giường cũng xô lệch, lại có in vết người nằm. Hắn lại ghé tai tôi:

- Vả mình giận nhau với nó, thì lẽ gì lại nhà nó trong khi nó đi vắng?

- Ngoài kia tiếng gõ cửa mạnh bao nhiêu, trong này trống ngực tôi mạnh bấy

nhiêu. Tôi chỉ muốn bay lên trời. Tôi chỉ muốn thụt xuống đất. Chỉ một phút nữa, tôi sẽ biết đời tôi ngắn hay dài!... Trời đất ơi!

Nhưng bỗng tôi không nghe thấy tiếng thình thình ở cửa nữa. Thì vừa chưa hoàn hồn, tôi đã thấy vợ Samandji ôm lấy tôi, vuốt ngực tôi, và cười như nắc nẻ:

- Thôi, hết sợ rồi. Nó lại đi rồi!

Tôi đứng ra xa để thở cho được tự do, và mắng:

- Chị tệ lắm! Mấy lần làm tôi hết hồn rồi!

Hắn cười hoài:

- Đàn ông mà nhát như thế thì đừng sống nữa. Mới có vậy mà mặt đã tái mét!

- Thế chị không sợ à?

Hắn lắc đầu, thản nhiên đáp:

- Tôi chỉ giật mình xoàng mà thôi, vì tôi trải quen rồi. Và dù có gì đi nữa, nó cũng không tài nào vào được.

Tôi nhìn hắn bằng con mắt muốn hỏi. Hắn tiếp:

- Bao giờ bên ngoài cũng có thằng bồi nó khoáng cửa, rồi nó lẩn vẩn ở đấy, hễ thằng trời đánh bất thình lình có về, thì nó chống chế hộ.

- Chống chế thế nào?

- Nó bảo rằng tôi vừa đi chơi về mạn Bờ Hồ với một người đàn ông. Ý tất thằng cha ghen, phải đuổi theo, rồi chúng ta cứ việc an tâm và vui thú!

Nói đoạn, hắn lại tự phê bình vào câu nói của hắn:

- Khôn không!

Tôi bật buồn cười. Hắn đắc chí, nhảy chồm vào tôi, hôn vào giữa trán tôi.

Sự sỗ sàng lại làm tôi bất lực. Song tôi phải dịu dàng để dùng kế thoát thân. Tôi vờ tươi cười, nói:

- Chị giỏi nhỉ?

- Thế mình có thương em không?

- Có chứ! Chiều hôm nay nó có phiên gác không?

- Ờ nhỉ, xem nào. Thứ ba, thứ năm, thứ bẩy... hôm nay thứ mấy?

- Thứ bẩy?

- Ồ! Thế thì hả lắm rồi! Đến tối mình lại đây nhé.

Tôi mỉm cười, gật đầu.

Hắn sung sướng, tát khẽ tôi một cái:

- Mình ơi! Mình sờ ngực tôi mà xem. Tôi hồi hộp vì câu nói của mình.

Rồi hắn nằn nì:

- Thế nào cũng đến nhé. Tôi chờ. Bẩy giờ nhé!

Tôi lại gật đầu.

- Thế nhé. Thề đi nào.

Muốn cho hắn chắc chắn sự hứa của tôi hơn lời thề, tôi bèn nhắm mắt nhắm mũi,

nhịn thở để "đóng đanh" hai cái môi tôi vào má hắn, mỗi bên ngót nửa phút.

 Thế là hắn thả tôi ra, chứa chan hy vọng.

Đi đường, tôi thấy khoan khoái vô cùng, tưởng chừng như mới trốn được thoát khỏi cửa ngục thất.

Cố nhiên là đến tối, tôi chịu cho vợ Samandji chửi thầm cho đứa sai hẹn. Tôi không động tâm, vì tôi chỉ là bắt buộc gật cho thoát nạn. Mà dù nó có chửi đúng thằng hay gật, thì đã có vô số ông nghị chịu thay tôi!

Tối hôm ấy, tôi đóng chặt cửa ngay từ chiều sẩm, và đánh một giấc ngủ ông hoàng.


*
*     *


Sáng chủ nhật, tinh thần khoan khoái, tôi bèn mặc quần áo đi chơi.

Vừa ra đến cửa, tôi đã gặp ngay Samandji rầm rộ đi đến.

Ngượng nghịu, tôi vờ không nhìn thấy, định lờ đi, xem anh ấy xử trí ra sao. Bỗng Samandji chạy lại ngay tôi, có vẻ cảm động. Anh giơ tay bắt tay tôi, và nói:

- Xuýt nữa tôi không gặp anh, tôi cần hỏi anh một chuyện. Anh lại chơi tôi thì tiện hơn. Sắp sẵn cả rồi.

Câu nói đường đột làm tôi hơi chột dạ, nhưng tôi phải cứng cỏi đáp:

- Vâng, tôi rất sẵn lòng.

Tôi theo Samandji, vẩn vơ nghĩ đến tấn kịch hôm trước. Hai chúng tôi chẳng ai nói với ai một lời nào. Vậy là có sự dở hay sự hay?

Đến nơi, anh lễ phép mời tôi ngồi, như tiếp một ông khách lạ.

Sự ngạc nhiên bắt đầu làm tôi e sợ.

Bỗng Samandji rút trong túi ra tấm ảnh của tôi.

Tôi tỉnh ngộ, rất kinh ngạc. Giá cái ghế không có lưng dựa, thì đành tôi ngã ngửa ra rồi.

Samandji đặt ảnh xuống bàn, vỗ mạnh một cái, rồi nhìn tôi, như để dò tâm trí tôi vậy. Cố nhiên trống ngực tôi nổi lên mỗi lúc một mạnh. Rồi đôi mắt trắng dã chòng chọc vào tôi, anh nghiêm dần sắc mặt lại.

Tôi cố thản nhiên, cũng nhìn anh, bằng đôi mắt thôi miên hạng bét, bởi vì có lẽ mất cả tinh thần rồi. Lúc ấy, tôi thấy vợ anh ở trong ngấp ngé ra, có ý ngạc nhiên lắm. Nhìn tôi chán chê, anh thở dài, nói:

- Anh không tốt!

Ái chà! Thế này thì đích là to sự chứ không vừa rồi! Tôi nhìn bàn tay khổng lồ của anh, ngón to bằng quả chuối mắn mà phát sốt!

Tôi toan đáp thì anh lại nói:

- Anh không tốt!

Câu ấy vang mãi trong óc tôi không thôi!

Dù sao tôi cũng phải chống chế đến cùng. Làm bộ sửng sốt, tôi hỏi:

- Tôi không tốt à?

- Phải, mà vợ tôi cũng không tốt!

Lúc ấy, con mụ vợ đứng trong, cũng trợn mắt, mặt mũi xám ngoẹt.

Hẳn là chẳng phải chuyện chết hụt mọi khi, tôi nhủn chân tay, cố vờ lắng tai, nén ngực, mà không sao cản được hơi thở. Samandji đay:

- À, bây giờ anh mới thở dài, hối hận. Chậm lắm rồi!

Rồi phát cáu, hắn liến thoáng:

- Anh không tốt! Vợ tôi không tốt! Cả hai người cùng không tốt! Nghe chưa?

Tôi gượng hỏi:

- Anh nói rõ. Tôi chưa hiểu.

- Lại còn nói rõ thế nào nữa. Việc mình làm còn không hiểu, thì ai hiểu cho.

Rồi anh trỏ cái ảnh, anh hỏi:

- Anh còn vờ phải không? Cái ảnh này là chứng cớ hiển nhiên nó mách tôi cả.

Theo câu nói, Samandji điểm một nụ cười lat. Tôi nom cái cười ấy nó mới chua chát làm sao!

Chỉ còn kế chạy trốn thoát thân, cho nên tôi liều mạng định vớ con cóc đồng va vào mũi anh một cái, rồi chạy. Tay tôi nắm được khí giới, mắt tôi đưa ra cửa để nhìn lối.

Này, muốn ra sao thì ra này, tôi đứng phắt dậy... Thì Samandji cũng đứng phắt dậy, hầm hầm chạy ra cửa, cầm chìa khóa, quay một vòng, rồi rút tọt ra bỏ vào túi. Đoạn, anh cười, vỗ vào vai tôi, nói:

- Anh chạy nữa đi!

Câu nói như nhát dao đâm vào tim tôi. Tôi không còn sức nữa, ngồi phịch xuống ghế, lặng ngắt.

Samandji lại ngồi đối diện tôi, trừng trừng nhìn tôi. Tôi toan quỳ xuống ôm lấy chân anh mà khóc lóc, mà lạy van, mà kể lể nỗi oan uổng, và xin anh tống cổ con vợ hại gia đạo của anh đi trước khi anh gây sự với tôi.

Thì chả làm thế thì làm thế nào? Đối với kẻ thù, theo cách anh hùng An Nam, khi mình đã không cắn trộm nổi, thì còn một cách nữa là mình giở lối đê tiện mà hàng người ta vậy. Như thế là khôn đó! Và ở đời, muốn được sung sướng vung vinh thì cái triết học màu nhiệm nhất, chả là nên uốn lưng cho dẻo là gì! Ai biết đó là đâu? Các ngài ít lịch duyệt, chớ vội chê tôi là khốn nạn nhé.

 Lúc ấy, Samandji vẫn trơ trơ, vững như đồng... đen.

Tôi toan thi hành thủ đoạn, thì Samandji làm lấp lời tôi:

- Tôi không ngờ. Hôm qua anh đến đây phải không?

 Tôi nhăn nhó, đáp:

- Phải, nhưng mà...

- Thôi, thôi, tôi biết cả. Ra tôi chơi với anh, mà đến bây giờ tôi mới hiểu bụng anh.

- Anh manh tâm làm điều gì?

- Thôi đi, anh bí mật lắm!

Tôi cãi:

- Không. Anh lầm! Anh tưởng...

- Tôi chẳng tưởng gì cả. Tôi biết đích thế. Vợ tôi nó nói thực cả rồi. Anh còn giấu tôi làm gì nữa. Tôi căm giận anh lắm. Mỗi lúc tôi thấy cái ảnh, tôi lại đầy cả ruột gan. Anh không tốt! Mà vợ tôi cũng không tốt!

 Tôi nghẹn ngào, càng ghê sợ mồm miệng, đặt điều của con quỷ cái. Chắc là bao nhiêu tội lỗi nó đổ cả cho tôi. Tôi đáp:

- Phải, tôi đã đến đây trong khi anh đi vắng. Còn như cái ảnh này.

- Khoan đã. Bồi! Mang cái ấy ra đây. Mau lên! Mình đâu, ra đây...

Quyết nhiên anh gọi chứng cớ để trừng trị tội tôi. Mà sự trừng phạt ấy tất là nó đáng với cái tội thông dâm với vợ anh. Cái mà anh giục bồi mang ra, hẳn để sửa tội tôi. Cái gì vậy? Súng lục chăng?

Ối ông bà, cha mẹ ôi! Ối trời đất ôi! Thế này thì ai còn muốn ở hiền làm gì nữa! Tôi nguyền rủa những ai cứ hay chắp nhặt thành những câu xử thế châm ngôn

đấy nhé! Nào ở hiền có gặp lành? Nào làm phúc có được phúc? Hỡi thần số mệnh, sao ông éo le khắt khe đến thế này?

- Này anh,- tiếng Samandji kéo tôi lại cõi thực - tôi hỏi thật anh nhé.

- Vâng.

- Cái ảnh này của anh?

- Vâng.

Samandji cười:

- Hai với hai còn là năm sao được. Tôi muốn chờ câu trả lời của anh, xem anh có đến nỗi ngốc mà không nhận đó thôi.

- Nào tôi có nói dối!

- Được rồi. Anh chụp ở hiệu nào?

- Ở một hiệu gần nhà tôi.

- Hiệu nào?

- Tôi quên tên rồi.

- Hừ! Biết ngay mà. Cái đó anh còn giấu nữa là. Nhưng không hề gì.

- Tôi giấu đâu. Tôi quên thật. Tôi chỉ nhớ nhà mà thôi.

- Được rồi! Sao anh chụp có một mình?

- Vì tôi chỉ có một mình chứ sao?

- Nếu vậy, thực anh không tốt!

- Tôi không tốt!

- Phải. Anh nghe đây. Anh với tôi bạn bè bao nhiêu rồi, khi vui có nhau, lúc buồn có nhau, thế mà anh nỡ lòng nào không cho tôi đứng cùng anh để chụp ảnh. Anh khinh tôi, anh không tốt!

Cái bản án giản dị ấy tuyên xong, bao nhiêu hồn, bao nhiêu vía của tôi kéo nhau về cả với tôi, mặt tôi đỏ hẳn lại. Ngực tôi nhẹ hẳn đi. Như người ốm khỏi, tôi thấy đời lại vui vẻ như cũ. Tôi muốn sống dai bằng ông Bành tổ để được hưởng những sự bật cười, để được cảm ơn thần Số mệnh và những tay danh nhân dạy đời bằng các câu xử thế châm ngôn.

Cười một tiếng thực to để hắt hết cái hơi sợ, tôi đáp:

- Tôi biết ngay từ ban nãy rằng anh trách móc, điều đó. Anh không bằng lòng là phải, nhưng anh hiểu cho vì tuần lễ trước chúng ta giận nhau, nên tôi buồn, tôi mới đi chụp ảnh cho khuây khỏa.

Samandji mặt vẫn rầu rầu, nói:

- Không phải thế. Ngay như vợ tôi, có chụp ảnh, nó có thích cho tôi đứng chung đâu. Tôi biết mình hình dạng tôi nó xấu xa, đen đủi, nên tôi bị bạn bè, vợ con hất hủi, khinh bỉ. Tôi tủi lắm.

Hai dòng nước mắt từ từ bò ra, đến chỗ xương gò má thì ngã lăn xuống đất!

Tôi thương hại cả giọt nước mắt lẫn Samandji, vội vàng rút mùi xoa ra lau cho anh như dỗ dành một nhân ngãi. Thấy cách cử chỉ thân mật, anh dường như cảm động, nắm chặt lấy tay tôi mà hôn:

- Thế mà chúng ta đã giận nhau. Thật là đáng hối hận. Cũng may anh là người tốt: vợ tôi nói hôm qua anh đến chơi tôi trước, nên tôi mới lấy cách lịch sự mà đến chơi anh ngày hôm nay. Nếu không thì chúng ta giận nhau mãi. Anh thấy tôi không có nhà, lại có nhã ý mà để ảnh lại làm tin. Thật anh là người rất đáng quý hóa. Đến bây giờ tôi mới hiểu bụng anh.

Tôi thì nghẹn lời, cứ chịu đau cho lông tay anh cọ xát vào tay tôi. Đoạn, Samandji quay về phía bếp, gọi:

- Bồi! Mang cái ấy ra đây! Lâu thế?

Tên bồi dạ vang. Một lúc hắn lễ mễ bưng ra một khay, bầy chả Saigon với rau đầy tú ụ.

- Ăn đi anh! Tôi thích món này lắm. Ở Châu Phi không có. Ăn đi, rồi ta lên hiệu này chụp với nhau bức ảnh kỷ niệm ngày tái hợp của chúng ta.

Rồi Samandji đứng dậy, khoa chân múa tay, lên giọng hát vang lừng, như điên như cuồng vậy.



2 Mai 1935



* Theo Vũ Ngọc Phan "Nguyễn Công Hoan viết tất cả ba truyện ngắn về tây đen của ông và đều lấy một nhan đề là Samandji". Truyện này theo thứ tự là thứ ba. Truyện thứ hai (còn thiếu, chưa tìm được):

Trong tập Hai thằng khốn nạn (P.T.B.N.S. Số 5, trang 9) Samandji lại làm cho bạn anh ta hoảng hồn lần nữa; lần này vợ chú tây đen chạy vào nhà bạn chồng và nhảy tọt vào màn để trốn chồng thì vừa ngay lúc ấy chồng chị ả đến với nét mặt hầm hầm, sừng sộ. Ông bạn hết vía, nhưng rút cục, Samandji nói cho biết là đi tìm con sen và vợ anh cũng đang... đi tìm!


Mời đọc Bản chụp dạng Ảnh
Trong Nguyễn Công Hoan - Truyện Ngắn Chọn Lọc - Tập 1 - NXB Hội Nhà Văn 2005

Godautre




Godautre

Nguyễn Công Hoan
(1903-1977)


Mời Đọc/Lấy về Bản chụp dạng PDF
Trong Nguyễn Công Hoan - Truyện Ngắn Chọn Lọc - (NXB Hội Nhà Văn 2005 - Trọn Bộ 2 Tập​)

Tôi chủ báo, anh chủ báo, nó chủ báo



Minh họa: Kho tàng truyện hay

Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Khởi Nguyên | 2. Dung | 3. Chiến Hữu | 4. Nguyễn Thắng


Mời đọc Bản đánh máy

Tôi chủ báo, anh chủ báo, nó chủ báo

Nguyễn Công Hoan


Thưa các ngài, tôi xin giới thiệu với các ngài là đã một phen tôi làm chủ báo! Cái vinh dự ấy, tôi không ngờ ngẫu nhiên lại có, bởi vì tôi tự biết sức học như tôi, còn xách dép cho những hạng viết báo mà các ngài cho là "tàng" bây giờ.

Nguyên khi tôi mới được hưởng cái gia tài năm ngàn đồng của cha tôi để lại, thì tôi ly dị ngay cái ghế lớp năm thứ nhất của một trường tư tại Hà thành.

Tôi về nhà quê ở, cũng rắp xếp bút nghiên theo thú điền viên, mơ mộng muốn được như các cụ ta ngày xưa, hưởng sự thanh nhàn mà ngâm hoa vịnh nguyệt. Song vì mình mới tuổi vào hạng cậu, nên những thơ văn tôi làm - nói vô phép các ngài - nó "khẳn" lắm! Nhưng khốn nỗi ở đời giá mình "khẳn" mà tự biết là "khẳn" thì còn làm gì có những hạng "bò sữa" như tôi! Ngày ấy, tôi tự đắc là thơ văn mới tập mà đã nảy tài, nên rất sính làm, mà động làm xong bài tuyệt tác nào - bởi vì bài nào tôi cũng cho là tuyệt tác - thì gởi ngay lên báo Đời Nay, là báo tôi mua năm, khẩn khoản nhờ ông chủ báo đăng cho. Được báo đăng, tôi càng tưởng tôi là thi sĩ đến nơi rồi, không ngày nào không đẻ ra được một bài tuyệt tác!

Tôi đang tưởng tượng tôi là một tay tai mắt trong làng thơ, mà cả nước không lạ gì tên và biệt hiệu, thì tình cờ một hôm tôi tiếp được một bức thư, mà vì bức thư ấy, tôi càng phóng đại cái giá trị của tôi già!

Cái phong bì đề tên tôi, trên có in hiệu tòa báo Đời Nay. Tôi tuy ngạc nhiên nhưng mừng quýnh, vội bóc ra coi.

Hà Nội, ngày 18 Avril 1928

Thưa tiên sinh,

Lâu nay, tiên sinh quá yêu bản báo mà thường có cho đăng những bài nhả ngọc phun châu, bản báo lấy làm thâm tạ cái thịnh tình ấy lắm.

Vậy muốn đáp lại tấm lòng quý hóa, bản báo chủ nhiệm định đến Chủ nhật này thì thân hành đến quý thự, để được hội kiến và hầu chuyện tiên sinh.

Nếu tiên sinh có bận gì, xin cho bản báo biết trước.

Kính chúc tiên sinh cùng quý quyển vạn an.

Ký tên.

Ồ! Ra tôi danh giá thế kia đấy! Thì ra ba chữ tên Lê Hùng Dũng của tôi cũng to lắm chứ nào có vừa đâu! Tiên sinh ư! Nhả ngọc phun châu ư! Thâm tạ ư! Thịnh tình ư! Tấm lòng quý hóa ư! Bản báo chủ nhiệm thân hành đến quý thự để hầu chuyện tiên sinh ư! Trời ơi! Tôi đến chết ngạt về sung sướng mất! Hãy hỏi ngay các ngài đây, các ngài thỉnh thoảng có đăng một vài bài lên báo, các ngài đã được cái hạnh phúc như tôi chưa? Tôi gọi hạnh phúc là đáng lắm, vì ngờ đâu một cậu học trò mới bỏ học, đã được một ông chủ nhiệm một tờ báo lớn quá yêu tìm đến tận nhà mà "hầu chuyện". Hẳn là chưa. Vậy tất tôi có cái gì đặc biệt hơn các ngài, các ngài phải chịu câu nói ấy trước đã mới được. Không chịu nhau, nghe sao được chuyện của nhau.

Cho nên tôi bắt dọn dẹp nhà cửa, đường đi và vườn ao thật sạch sẽ ngay từ mấy hôm trước, để khỏi phụ lòng hạ cố của vị quý nhân. Đến hôm Chủ nhật ấy, giá ai các ngay một cái gia tài năm ngàn nữa để nhờ tôi đi vắng, thì tôi cũng lắc đầu từ chối, bởi vì con người ta, chắc các ngài cũng hiểu thế, đủ lợi rồi thì phải thèm danh. Ấy, ông Hàn, ông Nghị cũng chui ở lỗ ấy mà ra cả.

Ông chủ nhiệm tử tế lắm. Tuy tôi ít tuổi hơn ông, nhưng không câu nào ông không dùng chữ tiên sinh mà gọi tôi. Khoa ngôn ngữ của ông thực là giỏi, giỏi đến nỗi lúc ông về, tôi đâm mê ông và nhớ ông.

Ông khen tôi thơ văn được công chúng rất hoan nghênh, đến nỗi nhiều độc giả phải viết thư về tòa báo hết lời ca tụng. Ừ, mà ông ấy nói có lý lắm. Chính tôi cũng tự biết là thơ văn của tôi bài nào cũng tuyệt tác; một đôi khi, tôi thấy nhiều câu còn đặc sắc bằng mấy thơ các cụ Yên Đổ, Tú Xương.

- Tiên sinh phải ra làm báo mới được, ông chủ nhiệm nói thế, nếu cứ ở nhà quê mãi, thì cái đại tài đến mai một đi mất!

Tôi cảm động, thở dài, ông ta lại nói tiếp:

- Tiên sinh phải để cái sự nghiệp về sau! Ở đời không nên tự túc. Ngay như tôi, nếu tôi tự túc, thì cứ việc ăn no ngủ kỹ như tiên sinh, còn ra làm báo làm gì cho nhọc xác. Khốn nỗi quốc dân mình ngu lắm; nếu bọn mình là hạng thượng lưu trí thức, mà không xuất đầu lộ diện để đưa đường chỉ nẻo cho họ, thì không đành lòng. Tiên sinh nghĩ sao?

- Ngài nói chí phải!

- Tôi mà được tiên sinh cộng tác, thì tôi thật là toại nguyện!

Tôi sung sướng hỏi:

- Ngài muốn dùng tôi?

- Không, tiên sinh cộng tác cùng tôi; nghĩa là anh em ta cùng đem hết tài lực vào để khuếch trương tờ báo cho ngày được hoàn toàn. Tôi vẫn bàn với anh em trên Hà Nội, mà chính ra họ cũng đồng ý với tôi cả, là giá mời được tiên sinh ra chuyến này, thì chỉ trong nửa tháng, các báo khác đến đổ hết!

Ồ! Quái! Ra không những tôi giỏi văn, lại kiêm cả giỏi võ! Không trách họ bảo một bài thơ có thể hàng được quân giặc, thì hay đâu, thơ văn tôi cũng có sức khỏe lạ thường đến như thế?

- Một mình tôi chủ trương một tờ báo lớn mỗi ngày xuất bản ngót vạn số, tôi thấy bất lực, tiên sinh ạ. Cho nên mục đích tôi về đây hôm nay, là để mời tiên sinh ra làm báo với tôi. Tiên sinh nghĩ sao?

- Ngài nói vậy, chúng tôi cảm tạ; còn như có làm hay không, tôi không dám nói trước, bởi vì trên còn cụ tôi, tôi phải hỏi ý kiến.

Ông chủ nhiệm bĩu môi, cười, và vỗ vai tôi:

- Ồ! Tiên sinh cẩn thận quá! Tiên sinh đã có địa vị, thì công việc của tiên sinh các cụ làm gì mà can thiệp vào nữa. Nghĩa là tiên sinh chỉ cần nói cho các cụ biết rằng bây giờ tiên sinh định làm thế ấy, làm thế nọ, chứ các cụ có phép nào cấm! Tiên sinh nghĩ tôi nói có phải không?

- Vâng, ngài nói chí phải!

- Ở đời không nên để lỡ cơ hội. Mà tôi thấy nhiều tờ báo, họ viết không sao ngửi được, thế mà bán chạy, có tức không! Thực, họ làm học trò mình không đáng, thế mà thỉnh thoảng họ lại dám nói hỗn cả với mình. Rồi biết đâu, những bài thơ văn tuyệt tác của tiên sinh mà cả quốc dân hoan nghênh, họ không vì dốt hoặc vì không hiểu mà đem ra bẻ một cách vô lý.

Bẻ thơ tôi! À, liệu hồn tờ báo nào đấy nhé! Phen này mà tôi ra thật, thì lại không đóng cửa sớm à!

- Thế thì tức lắm nhỉ!

- Vâng, tiên sinh phải biết quốc dân ta không có định kiến, thật đúng như đàn cừu. Báo khen ai, là họ phục người ấy; báo nhè ai ra công kích, thì giá trị to đến đâu cũng phải tiêu!

Tôi lại hiểu thêm một tí về tâm lý quần chúng.

- Vâng, ngài nói chí phải!

- Cho nên tiên sinh không ra chuyến này không xong. Tiên sinh đừng để cho độc giả phải thất vọng. Làm báo bây giờ, những hạng có học, có tài, như tiên sinh thực là hiếm có lắm. Cho nên tôi dám đoan trước với tiên sinh rằng tiên sinh chỉ làm trong ít lâu, thì báo Đời Nay hẳn mỗi ngày phải in đến hai vạn số! Chúng tôi mong tiên sinh lắm.


° ° °

Muốn cho các ông ấy khỏi mong, và độc giả khỏi thất vọng, tôi bèn ton ton xách va-li lên ngay Hà Nội để làm báo Đời Nay. Ngay hôm tôi nhận việc, trên lá nhãn tờ báo ấy, đã thấy in ba chữ tên tôi, dưới cái chức "Phó chủ nhiệm", là cái chức giá trị thứ hai trong tòa báo, rất xứng với món tiền bốn ngàn tôi vừa bỏ vào két ông Chánh chủ nhiệm.

Làm phó chủ nhiệm, thực dễ như ăn gỏi. Ngày diện quần áo tây rõ ngất, đeo cặp kính trắng không cận thị mà cũng không viễn thị, hai buổi cắp cái cặp da, trong đựng ít giấy má từ đời nào, không can hệ lắm đến việc báo, mở cửa vào nhà, qua tòa soạn, bắt tay hết ông chủ bút đến các ông trợ bút, rồi sang buồng ông chủ nhiệm, hút thuốc lá, chán chê rồi mới về bàn giấy, mở cửa sổ toang ra, ngồi tễu huýt còi, nhìn phong cảnh, thì còn gì khoái bằng!

Mà nói chuyện với những tay làm báo, cũng sướng thật. Không bao giờ họ làm mình thất vọng về cái tài cái đức của mình, đến nỗi một suýt nữa, giá đủ tuổi rồi, thì tôi ra ứng cử cả nghị viên! Tôi thấy tôi lịch duyệt hơn trước nhiều lắm. Này nhé, buổi tối thì đi học khôn ở dưới xóm cô đầu, ban ngày thì được xem hết cả các nhật trình, mà tờ nào, cũng ít ra là có một cái tiểu thuyết, dăm ba cái vẽ buồn cười, hoặc bài hài đàm giải trí. Những bài khác, tôi không thích xem, vì nó lạt như nước ốc. Thỉnh thoảng ngồi rỗi, thì sang tòa soạn, được nghe chuyện Hitler, Mussolini, nghe chuyện Nhật-Nga sừng sộ, nghe chuyện cô đầu Huệ sắp bỏ nhân tình đi lấy chồng. Khi nào cao hứng, thì tôi mới phải xùy dăm ba bài thơ, nhưng những thơ ấy, tuy tòa soạn bắt buộc phải đăng, song chỉ để dành những lúc tờ báo bị trống chỗ.

Được ba tháng an nhàn như thế, một hôm, ông chánh chủ nhiệm, bạn thân tôi, đến bàn giấy, hỏi tôi rằng:

- Này bác, bác còn tiền không?

- Còn để làm gì?

Ông ta lắc đầu, buồn bã nói:

- Nguy lắm, tình hình báo nguy lắm, bác ạ!

- Thế là tại làm sao?

- Khỉ quá, mình viết văn hay, nhưng báo "đếch" chạy!

Tôi an ủi:

- Thôi, ngót vạn số, bác còn muốn gì hơn?

- Nhưng không đủ chi tiêu. Bây giờ tôi nói thực. Tôi hết tiền rồi, có lẽ đến hết tháng này, báo phải đình bản!

Tôi kinh hãi, hỏi:

- Sao đến nỗi thế?

- Độ này báo không bán được! Tôi định nhường hẳn tờ báo này cho bác, vì tôi có việc phải đi Nam Kỳ!

Tôi ngậm ngùi, vơ vẩn nghĩ. Bạn tôi nói:

- Bác cứ đứng chủ trương một mình xem sao. Báo Đời Nay vẫn có cơ tiến lắm, nhưng không rõ lâu nay vì cái gì, đương chạy ngót vạn số mà tự nhiên sụt hẳn đi mất bảy nghìn. Mới biết quốc dân mình là ngu!

- Bác đừng giấu tôi. Bây giờ báo mỗi ngày in ra bao nhiêu?

- Hai nghìn tờ, nhưng ế mất đến năm trăm!

Tôi trợn mắt, nói:

- Nếu bác thôi, thì tôi làm một mình sao được, tôi chưa quen việc, vì từ ngày làm báo, tôi tin ở bác, tôi có biết tí nào đâu.

- Không, bác cứ làm, tự khắc quen; bác phải mạnh bạo hết sức đi, mới có thể lấy lại được món tiền bác bỏ vào cho tòa báo.

- Thế hiện trong "két" còn bao nhiêu?

- Tháng này còn nợ lại nhà in mất gần nghìn bạc.

- Vậy bốn nghìn của tôi hết cả?

- Phải, nguyên trước đã nợ về tiền in nhiều ít, nhưng bác đừng thất vọng vội. Ta phải làm, ta phải theo đuổi mục đích ta đến kỳ cùng.

Tôi thở dài, động lòng thương đến gia tài của cha...

- Bác không nên buồn. Chính tôi đã bỏ vào đây ngót một vạn, nhưng tôi cũng không tiếc, vì đã làm được việc công ích. Bác cứ thu xếp được độ hai ngàn nữa, thì công việc lại êm thấm như cũ ngay.

- Tôi không còn tiền nữa, bác ạ! Tôi chỉ có năm ngàn, bỏ vào tòa báo bốn ngàn, còn ngót ngàn ăn tiêu xa xỉ từ ngày lên Hà Nội tới nay, cũng chả còn mấy...

- Bác về xin bà cụ, thiếu gì!

- Cụ tôi không có đâu.

- Thế thì đi vay vậy, đã đâm lao thì phải theo lao, chứ chịu để dở chừng à! Bác thì hỏi đâu chả được dăm ngàn, chả có thì về mượn văn tự nhà, văn tự ruộng của ông Ấm cũng được.

Tôi ngẫm nghĩ; đêm hôm ấy về, rớt nước mắt.


° ° °

Từ đầu tháng sau, chức phó chủ nhiệm bãi đi, vì ông chánh chủ nhiệm cũ từ chức, mà tôi thì thăng lên làm chủ nhiệm. Tôi được thăng chức là tự tôi đảm nhận cáng đáng lấy tờ báo, tức là tôi đền công tôi vừa thò tay vào ký cái văn tự vay hai ngàn.

Bỏ tiền ra thì xót ruột, nhưng cái lá nhãn tờ báo ngày nào cũng an ủi tôi. Ngắm cái chỗ đề tên chủ nhiệm, nó hay hay, nó thinh thích. Thôi thì cũng hả lòng; mấy ai đã đủ tư cách đứng đầu một cơ quan ngôn luận!

Tôi xem xét sổ sách, và coi sóc các việc trong tờ báo. Nửa tháng đầu, tôi đã thấy thất vọng quá. Báo ế đã làm cho tôi nản lòng, mà bạn hữu ở ngoài họ càng kêu tệ. Các bố chủ bút và trợ bút thì cứ ngồi ăn hại để đánh cắp bài, hoặc phóng tin ở các báo khác; vậy mà các bố vẫn tự đắc, mà tán dương những tác phám "bã mía" ấy, hình như họ có ý bịp hết, cho tôi là ngu xuẩn dễ lừa, hoặc cho tôi là thằng ưa nịnh. Có một giọng nói mà cứ nói mãi, thì đến người ngốc còn hiểu tâm lý họ, huống là tôi; dù có dễ lừa, dù có ưa nịnh, thì trước kia, chứ nay đã gần gụi họ ngót nửa năm trời thì làm gì mà không "lật tẩy" được họ! Tôi chán quá!

Nhưng một hôm, tôi thấy tình thế báo nguy ngập quá, không thể đứng vững trong vòng nửa tháng nữa, tôi định cho tờ báo chết quách đi để đỡ bận thân. Tôi nghĩ lại cái thân thế chủ báo của tôi, tôi nhớ đến bạn cũ, là ông chủ nhiệm cũ tờ Đời Nay, tôi oán ông ta, tự nhiên làm tôi đeo công mắc nợ.

Nhưng mà lối xoay xu người trước đã vạch sẵn, tôi tội gì không theo? Nguyên ít lâu nay, báo Đời Nay mới có một ông bạn lai cảo, là chủ đồn điền trên Phú Thọ. Tôi nhớ lại những thư ông ta viết lên tòa báo khẩn khoản xin bài, tôi mừng thầm đã có một chàng Lê Hùng Dũng mới! Thì đây, tôi lại phải diễn lại tấn kịch trước, là viết một bức thư cảm tình với người bạn thân của tòa báo ấy, hẹn ngày tôi đến chơi.

Tôi đến chơi, hẳn ông ta cũng lấy làm hân hạnh như tôi, sáu tháng về trước; thấy cách tiếp đãi ân cần tử tế, mà tôi xấu hổ về cái ngốc trước của tôi, bởi vì trong khi chuyện trò tưng bốc ông ta, tôi thấy ông ta cũng thấy sung sướng, y như tôi ngày nọ.

Tôi cũng dùng những lời đường mật mà tán tỉnh, mà nói khích, thì ông ấy cũng hăm hở, hăng hái muốn bóp chết các báo khác.

Kết cục ông ta lại bằng lòng bỏ ra năm ngàn bạc để mua lấy chức phó chủ nhiệm hão huyền.

Cái hình ảnh ngu dại của tôi ngày trước, hôm nào tôi cũng được trông thấy ở trong tòa báo hai buổi. Ông phó chủ nhiệm chỉ ngồi làm cảnh, hút thuốc lá và nói nhảm, chứ công việc tôi không những không cho biết, còn nói khoác thêm như trời. Tôi cười thầm bao nhiêu, tôi lại thương ông ta bấy nhiêu; giá bây giờ ông chủ nhiệm cũ có cầm đến tờ báo Đời Nay mà trông thấy mới nảy ra chức phó chủ nhiệm mới, có lẽ cũng phải buồn cười mà nghĩ rằng:

"À, thằng này đã khôn rồi, đã 'chài' được một thằng cha khác vào cạm".

Năm ngàn bạc mới cũng chỉ có sự nghiệp như năm ngàn bạc cũ, là nuôi báo cô được các nhân mạng trong tòa báo một cách "đế vương" trong vài tháng. Rồi xét ra, không thể nào làm cho tờ Đời Nay tiến lên được một bước nào, tôi bèn đến bàn giấy ông phó chủ nhiệm, nói thực tình hình, và phủi tay, lộn túi, thoái vị, lìa báo giới về cái "nhà bò".

Tờ báo Đời Nay lại bãi chức phó chủ nhiệm, nhưng biết đâu, sáu tháng nữa, cái chức ấy lại không lòi ra, vì ở xã hội này, chém bảy ngày không chết hết những thằng có tiền mà ngốc.


16 Avril 1934



Mời đọc Bản chụp dạng ảnh
Trong Nguyễn Công Hoan Truyện Ngắn Chọn Lọc (NXB Hội Nhà Văn 2005 - Trọn Bộ 2 Tập​)

Gói đồ nữ trang (Suýt thành nhà đại phú)



Minh họa: Góc Truyện Xưa - Kính Hồng
Minh họa: Nghe kể truyện hay

Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Cô Vân | 2-3. Bích Thuận | 4. Hạ Radio | 5. Chiến Hữu | 6. Kính Hồng


Mời đọc Bản đánh máy

Gói đồ nữ trang
(Suýt thành nhà đại phú)

Nguyễn Công Hoan


Tưởng là việc cướp hay cháy ở đâu, chẳng hóa cô Hồi mất gói đồ nữ trang! Mới độ năm giờ sáng, mà cả nhà trong nhà ngoài mất ngủ!

– Rõ ràng con gói nó lại, con để nó ở đây này, bây giờ con sờ thì không thấy nữa, mà cả gầm giường con cũng soi rồi.

– Sao con không cất vào tủ hay đưa cho mẹ, lại để đây?

– Thế này nhé, lúc mẹ ngủ thì con cũng ngủ, nhưng cái vòng hột nặng trĩu nó cứ đè lên cổ con, cái hoa nó cứ xát vào mang tai con, cả mấy đôi vòng ở cổ tay, mấy đồng bạc ở trong túi, nó cứ kềnh kệnh, làm con khó ngủ quá. Con mới tháo tất cả ra, gói vào cái mùi soa, để ở đầu giường này cẩn thận, rồi con mới ngủ kia mà!

Ông chủ báo chẳng bằng lòng



Minh họa: KÊNH "NGHE KỂ CHUYỆN HAY"
Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Bích Thuận | 2. Chiến Hữu

Mời nghe đọc tại YouTube - #nguyenconghoan
2 kênh 2 video

Mời đọc Bản đánh máy

Xã-hội ba-đào ký

Ông chủ báo chẳng bằng lòng

Nguyễn Công Hoan
(1903-1977)


Hễ bao giờ ông chủ nhiệm tờ Đời Mới đến tòa báo mà ngậm cái tẩu thuốc lá chệch sang một bên hàm, và hay khịt mũi, thì y như hôm ấy, ông có việc gì chẳng bằng lòng.

Sáng hôm ấy cũng thế. Cho nên từ lúc bước chân đến cửa tòa báo, ông đã gắt như mắm! Thỉnh thoảng, ông đưa tay đập vào cái túi nó ngậm chặt mấy tờ báo khác mới xuất bản. Ông vào buồng giấy, mắng loong toong để giấy bừa bãi. Ông xuống nhà in, cự cai chẳng chịu trông nom. Ông qua buồng tòa soạn, nắm quả bàng cửa, toan vào, nhưng lại quay gót tạt ngang. Ông mở cửa buồng tòa trị sự, đẩy lại đánh thình, ngồi vào ghế, lôi tập báo ở túi ra, vừa khịt mũi, vừa đập mạnh xuống bàn. Rồi ông bấm chuông gọi. Anh loong toong, mặt tái xanh như thằng ốm, khẽ đi vào. Ông hất hàm hỏi:

– Ông Thanh Tử đến chưa?

– Bẩm ông chưa.

– Anh đạp ngay đến nhà ông ấy, nói rằng mời ông ấy đến tòa báo có việc cần. Trời ơi! Chủ bút gì chủ bút thế! Ra các ông ấy giết tôi thật! Các ông ấy làm ăn thế này, thì báo đóng cửa lúc nào, không biết chừng!

Tiếng ông chủ nhiệm nói toang toang như lệnh vỡ, ai cũng nghe thấy. Nhưng chẳng ai đoán vì việc gì. Mà mới hôm kia, ông còn chuyện trò vui vẻ. Hôm qua, ông đi vắng. Đến hôm nay ông về, thì khác hẳn như thế.

Họ đều sợ hãi, ngơ ngác nhìn nhau. Kẻ đoán thế nọ, người đoán thế kia. Nhưng đều hụt lý. Ừ, đáng lẽ ông về lần này thì vui vẻ bằng ba, bằng bốn mọi ngày mới phải. Vì hôm qua, khi ông không có nhà, thì tờ báo có một tin rất quan trọng để đăng. Ông chủ bút cho chạy một vạn rưởi số. Nghĩa là gấp bốn ngày thường. Mà in đến đâu, bán hết đến đấy. Kể từ ngày tờ Đời Mới ra đời đến nay, chưa từng lần nào in bạo tay như lần này. Mà cũng chưa số nào bán mạnh như số này. Cả tòa báo mừng rỡ. Vậy cớ sao ông chủ nhiệm lại cau có thế kia? Hay ông thấy ông chủ bút lấn quyền, chẳng hỏi han gì ông, cứ tự tiện cho in nhiều thế, mà ông tức? Nhưng báo bán chạy, ông còn nên nói chi nữa? Nếu chẳng phải vì cớ ấy mà từ nãy đến giờ ông phải phát cáu, thì họ cũng chịu, không đoán được ra hơn nữa.

*
*     *

Muốn các độc giả hiểu rõ câu chuyện này, tôi xin lấy một việc mới xẩy ra ở Hà thành trong ít lâu nay làm thí dụ. Sở dĩ tôi đem chuyện thực để thí dụ cho rõ câu chuyện bịa, là tôi cũng mắc phải cái bệnh dùng điển tích. Nhưng vì tôi tin là bụt chùa nhà cũng thiêng, nên tôi lấy ngay câu chuyện An nam, nhân vật An nam là đồ nội hóa, ai cũng biết.

Thí dụ sau đây, tình cờ tôi kiếm lấy, nói lạy trời, thực tôi chẳng thù hằn gì hai tay chủ động, định thổi đống tro tàn đã gần nguội, để đốt ai. Mà tôi cũng chẳng có hân hạnh quen biết họ mà mong làm quảng cáo không công cho họ. Vì cái thủ đoạn kỳ dị mà họ chủ trương đã tự thừa làm quảng cáo để khắp Trung Nam Bắc ba kỳ biết tên họ rồi vậy.

Các báo hàng ngày ít lâu nay đăng một việc, hẳn các độc giả còn nhớ:

Ông Th., bà Kh., hai người vốn là bạn học cũ. Nay tuy đã thành gia thất cả, nhưng gặp nhau, họ vẫn vồn vã bắt tay bắt chân, tự do trò chuyện. Một hôm, cách đây cũng không xa, hai người cùng biệt mặt ở đất Hà thành, làm cho dư luận xôn xao, inh ỏi. Họ cũng là hạng người có tai mắt…

(Trích An nam tạp chí số 35)

Như những việc này, thì có phải ai xem báo cũng đều chú ý, cố mong ngóng để muốn biết hai sự biến mặt ấy có liên quan với nhau không, mà ông Th. có đích là quyến rũ vợ bạn thực hay là bị ngờ oan không?

Ở xã hội mà thỉnh thoảng không xẩy ra những chuyện quái gở ấy, tờ báo hàng ngày thực là nhạt hoét, chẳng ai buồn mua để xem tin mất chó, mất ví da làm gì! Cho nên những khi các báo có những việc dễ gậm, như việc Trung – Nhật chiến tranh, việc Nhật – Nga sừng sộ, việc tranh cúp quần vợt, việc tiểu thư đi bộ, việc đánh nhau chết người, thì đều lấy làm mừng.

Nhưng đến khi những tin ngon ấy hết cả, thì thôi! Các ông trong tòa soạn chẳng được ngồi rồi, tán hão, cứ phải hết ngày ấy sang ngày khác, nặn óc để viết ra những bài luận thuyết đại cà sa, mà độc giả lỡ ra vô ý đọc phải, cũng lấy làm một sự khổ tâm lắm.

Cho nên ở vào cái xã hội ít chuyện như xã hội An nam mình, gặp phải lúc “thời sự khủng hoảng”, thì báo hàng ngày hay ế. Lúc ấy, các ông chủ báo ranh mãnh, mánh khóe, hay gây nên phong trào dư luận, để mong cho báo được sống còn. Nào là trưng cầu ý kiến, nào là mở cuộc đố thi, nào điều tra, nào phỏng vấn, các ông cố dùng những tiếng to tướng, để nặn ra chuyện! Một việc bằng con muỗi, các ông phóng đại cho nó phồng lên bằng cái đình!

Ngày năm ấy, cũng đã lâu, có một chuyện đại khái cũng đểu giả như việc ông Th. với bà Kh. bây giờ vậy. Hai người cũng tự nhiên biến mất, mà chưa ai rõ vì cớ gì trốn đi, và đi đâu. Hai tay chủ động ấy, địa vị cũng quan trọng không kém gì, mà có khi hơn ông Th. và bà Kh. nữa. Lâu ngày rồi, tôi chẳng muốn nhắc lại cái tên quý hóa ấy. Xin hãy tạm đặt tên cho hai vai chính trong tấn kịch bỏ nhà này, người đàn ông là Tê, người đàn bà là Ca cho dễ nhớ.

Độ ấy, dư luận cũng xôn xao chẳng khác gì bây giờ. Mà dư luận xôn xao đến mực ấy, là nhờ ông chủ nhiệm tờ báo Đời Mới. Ông khéo dặn tòa soạn nhân việc này mà kéo cho dài câu chuyện, nay phỏng vấn chồng bà Ca, mai nửa giờ nói chuyện cùng vợ ông Tê. Một việc khốn nạn, mà báo ấy nói hơn một tuần lễ mới dứt. Rồi lại khéo rắc mối ngờ vào óc độc giả. Nay báo ấy phỏng đoán là hai tay đó, quả là có tư tưởng, có học thức đã chán ghét cảnh ở trong nước, phải trốn sang Tầu, sang Nhật, làm cách mệnh; mai báo ấy lại nói hoặc là thời buổi văn minh, hai người đó đã lạm dụng chữ tự do, bị chìm đắm vào trong bể tình, nay tỉnh ngộ, dễ thường đã cùng nhau tự tử.

Thân nhân những người ấy đi trình báo. Sở Mật thám đã phái người đi dò la. Nhưng tuyệt vẫn chưa thấy tin tức. Các bài đăng báo, văn chương sáng quắc như ban ngày, mà chính hai tay nam nữ chủ động vẫn lẩn quất trong bóng tối mù của cuộc thám xét. Tóm lại, một cái dấu hỏi đỏ còn lửng lơ ở cổng tòa án dư luận, như ở bìa quyển truyện trinh thám vậy.

Rồi tờ Đời Mới sợ câu chuyện ấy chết trong trí nhớ mọi người, nên khi dư luận chỉ còn ngắc ngoải, bèn cố nuôi cho nó sống lại dai dẳng mãi. Ở mục Quanh vụ Tê Ca in ngay trang đầu, báo ấy nay hô hào nên chấn hưng phong hóa bằng cách nào; mai bàn nam nữ có nên giao thiệp tự do hay không; ngày kia lại bàn đến tình nghĩa vợ chồng, bè bạn. Ròng rã gần một tháng trời, thì đến hôm ấy, ông chủ nhiệm đi vắng, tức là hôm ông chủ bút cho in một vạn rưởi tờ. Dám in một vạn rưởi tờ, hẳn các ngài đoán ngay rằng số báo đó có chuyện ông Tê và bà Ca thế nào lạ lắm thì phải. Vâng. Báo ấy đăng là đã tìm thấy tin tức ông Tê và bà Ca. Và có in thêm tấm ảnh hai người đi chơi mát. Bài đăng ấy tuy là thìa khóa mở nắp hòm bí mật, nhưng nó cũng lại là cái thìa khóa, khóa tách câu chuyện Tê Ca.

Nguyên sáng hôm ấy, hồi tám giờ, khi ông chủ bút đến tòa soạn, thì người loong toong theo vào, đưa phong bì thư, và nói:

– Thưa ông, ông phóng viên ở Lào Cai đưa thư này, và dặn rằng đây là một việc đăng về vụ Tê Ca. Vì trong ấy có cái kính ảnh, nên ông ấy gửi nhà dây thép sợ vỡ mất, ông ấy phải thân hành đem về, và xin ông cho đăng ngay vào kỳ báo hôm nay. Đến chiều hay sáng mai, ông ấy sẽ lại nói chuyện.

Nỗi mừng nở thành nụ cười trên miệng ông chủ bút. Ông vội vàng bóc thư ra đọc. Đọc xong, ông cầm bút chì đỏ biên số cỡ chữ, rồi gọi người cai nhà in, bảo cho xếp ngay lập tức vào trang nhất.

Ông bắt rập ngay bản in thử để tự tay ông sửa lại. Ông ngắm xem cách in như thế đã nổi bật chưa, rồi đặt bút, xoa tay, tủm tỉm cười. Ông bảo người thợ:

– Báo hàng ngày ăn thua nhau về tin tức có nhanh chóng mới có thể đánh đổ được “chúng nó”.

Ông cho in một vạn rưởi tờ. Mà mới hơn ba giờ sáng, báo đã lên khuôn. Rồi in được bao nhiêu, ông hãy cho gấp ngay, để trẻ con chạy bán khắp các phố.

Ngày ấy chưa có lệnh cấm lối quảng cáo các bài trong tờ báo bằng mồm, cho nên trẻ con rao ầm ĩ, khách qua đường ai nghe thấy cũng bỏ ra hai xu để mua.

– Đời Mới đã tìm thấy Tê Ca ơ!

Ngót vạn tờ đua nhau bay như bươm bướm ở nhà in ra, đến độ mười giờ đã hết sạch. Mà khi tòa báo đóng cửa rồi, còn có người đấm thình thình hỏi mua một số.

Bài đăng về việc ấy như sau này:

 

TÊ VÀ CA ĐI ĐÂU?

Tê và Ca chẳng phải có óc yêu nước, trốn ra ngoại quốc làm cách mệnh, như nhiều người đã phỏng đoán, Tê và Ca chỉ là hai nhân vật thờ thần ái tình, mà yêu nhau quá đỗi nên mê.

Tê và Ca chẳng bị làn sóng dư luận đánh bạt xuống sông, xuống bể mà mất tích. Tê và Ca hiện nay đương trú ngụ tại nhà săm Mỹ Lạc, tỉnh Lào Cai.

Chứng cớ?

Thì đây, độc giả thử nhìn cái ảnh in dưới này sẽ biết rõ.

Kết cục mối ngờ, Đời Mới hẹn từ nay chẳng thừa hơi để đả động đến tên đôi gian phu dâm phụ.

P.V

Dưới bài, in ảnh hai người khoác tay nhau đi chơi trong miền rừng núi.

*
*     *

Người loong toong tòa báo Đời Mới lật đật đi gọi ông chủ bút, và cũng nói qua không biết vì đâu ông chủ nhiệm chẳng bằng lòng. Ông chủ bút cũng không đoán được ra cớ gì, vừa đi đường vừa luẩn quẩn nghĩ.

Lúc ông ta đến tòa báo, thì ông chủ nhiệm đương đứng dưới nhà in, gắt gỏng với thợ. Thấy ông chủ bút đến, ông chạy lên, bắt tay, và mời vào buồng giấy. Ông chủ bút nhận thấy ông chủ nhiệm vẫn còn ngậm tẩu thuốc lá chệch sang một bên hàm và khịt mũi luôn, biết rằng cơn bẳn chưa nguôi, bèn làm ra mặt vồn vã, vui vẻ hỏi:

– Ông vẫn bình yên?

– Bình yên! Mời ông ngồi đó. Úi chà!

Ông chủ nhiệm đặt phịch cây thịt xuống ghế, duỗi thẳng hai cẳng, đánh diêm châm lại điếu thuốc, nghiêm sắc mặt lại, thở dài, vỗ vào tập báo ở bàn, rồi hỏi:

– Thế nào? Hôm qua ông cho in bao nhiêu?

– Tôi cho in một vạn rưởi. Ngày hôm qua thực đáng là ngày kỷ niệm của tờ Đời Mới. Nguyên bán lẻ ở Hà Nội cũng đã ngót một vạn tờ mà còn thiếu. Gửi đại lý các tỉnh và các người mua năm xong, ở nhà hiện nay chỉ còn có ngót trăm tờ.

– Các ông làm ăn thế thì tòa báo này đến vỡ mất thôi!

– Tại làm sao? Ông nói lạ quá!

– Nhưng trước hết, xin ông đừng giận. Tôi bực mình lắm. Tôi lăn lộn trong làng báo trong bao nhiêu năm, không lần nào tôi thấy nguy hiểm như ngày hôm qua.

– Ông thử xem, từ ngày Bắc Kỳ có báo tới nay, có tờ nào một số chạy nổi vạn rưởi không?

– Vẫn biết vậy. Nhưng chính ông đáng trách ở chỗ đó. Thì ra ông làm báo chưa lành nghề. Sao ông lẩn thẩn thế?

– Thế lại còn lẩn thẩn?

– Phải. Chính ông lẩn thẩn. Ông được một tin hay, mà chỉ để báo ra có thế, chỉ có một kỳ thôi, còn có nghĩa lý gì không?

– Ô hay! Thì câu chuyện tóm lại chỉ có thế thôi mà?

– Chỉ có thế! Tóm lại! Thôi, ông đừng lý sự nữa. Ông để yên cho tôi nói. Tôi cần nói dài. Âu cũng là một bài học về nhà nghề. Độc giả đang đói thời sự, sao ông không cho họ ăn dè? Ông nhồi nhét cho cả vào một kỳ, ông lại hẹn không đả động đến chuyện ấy nữa! Ông không biết tôi cố công nuôi cái tin này bao nhiêu ngày à? Thế mà đến hôm tôi đi vắng, ông giết chết nó! Sao ông không câu độc giả? Họ đang say lử về cái mồi của tôi, đến tay ông, ông thả buột đi mất! Sao ông không “còn nữa”, “còn nữa”, mãi một tin ấy? Cứ như tôi, thì việc này ít ra tôi cũng kéo được nửa tháng. Mà hèn ra mỗi số cũng được ngót vạn tờ. Vậy mà ông vụng đến nỗi chỉ in ra có một số, cuối bài đã chẳng hẹn hò độc giả xem tin thêm ở số sau, ông lại cao thượng mà chẳng thèm nói nữa. Bây giờ, thôi, thế là xong!… Đây này, ông nhìn xem, vì ông khờ mà mấy tờ báo lá cải nó cướp mất mồi. Báo ông cho ra lúc ba giờ, thì chín giờ tối nó in ngay phụ trương để tranh khách! Này, còn tờ Buổi Sáng này nữa, ông thử đọc mà xem, có phải bài phóng sự ấy nó viết hay, và văn chương bao nhiêu không?

– Ai chả biết là tin ăn cắp! Họ làm gì có phóng viên ở Lào Cai?

– Ai biết? Ông bảo ai biết? Ông xem hai bài có đoạn nào giống nhau không? Đấy, sự thực có hơn gì câu bịa? Những thời sự mọi khi ông viết, tôi vẫn kêu là ngắn quá. Phải tốn nhiều việc mới đầy mấy cột báo. Mà ông còn kém ở chỗ cứ phải mắt trông thấy mới viết được việc. Ngồi nhà mà chả viết được một bài tường thuật đám đánh nhau, cuộc diễn thuyết, việc chẹt xe à? Thì nó có mẫu sẵn, chỉ thay đổi một vài tiếng, có khó gì! Hứng bút ra, ông tìm những giọng văn cho mới, dùng những chữ cho ngây ngô, có vẻ tây một tý, để lòe đời, có phải lắm người chuộng không? Mà làm báo kiêng nhất một việc là công kích phong trào. Độ nọ, nếu tôi không can, thì ông đã công kích bọn phụ nữ tự do rồi đấy! Cổ động phứa đi, công kích làm gì? Ông tính có phải vợ con mình đâu mà mình cấm? Công kích họ, tức là gây một bọn ác cảm với báo mình, hơi đâu? Thôi, xin ông nghe tôi một chút, và mời ông đi làm việc. Ông chớ giận tôi nhé!

Ông chủ bút chẳng được vui, cầm tập báo mới sang bàn giấy. Ông đọc tờ Bạn Trẻ xuất bản hồi chín giờ đêm hôm trước.

TIN TÊ CA

Tê và Ca mà bấy lâu nay độc giả Bạn Trẻ vẫn mong ngóng tin tức, thì hiện nay đang ở nhà săm Mỹ Lạc, tỉnh Lào Cai.

Đôi nam nữ lãng mạn ấy, nay chẳng dám nhìn mặt người xã hội, thỉnh thoảng chỉ hai người thơ thẩn với nhau, khoác tay nhau vào nơi rừng rậm non cao, xa nơi phố phường đông đúc, để tiêu dao cùng hoa tươi cỏ thắm. Vậy mấy lời vội vàng, Bạn Trẻ mách nhỏ hai gia đình có con quý hóa ấy, sớm liệu tìm đến nơi mà bắt về, dạy cho một bài học về phong hóa.

(Theo điện thoại của phóng viên Bạn Trẻ)

Mặt tím bầm như quả bồ quân, ông chủ bút lại mở tờ Buổi Sáng ra đọc:

KẾT QUẢ CUỘC ĐIỀU TRA CỦA BUỔI SÁNG

AI BẢO TÊ VÀ CA TỰ TỬ?

Vì Buổi Sáng tiếp được tin của phóng viên khí chậm, nên kỳ báo hôm qua đã lên khuôn, không kịp đăng ngay. Vậy nay xin đăng nguyên văn bài tường thuật ấy.

Tỉnh Lào Cai ở vào chỗ biên thùy. Tuy là một nơi ban ngày vắng vẻ, nhưng đến tối thì lại là một cái phòng trọ lớn chứa hành khách lạ, từ Hà Nội đi Vân Nam, hoặc đi Cha- pa, và Cha- pa, hoặc Vân Nam về Hà Nội. Bởi vậy, các phòng chứa khách rất nhiều, mà việc thuê buồng ngủ đêm cũng rất thường thấy.

Vì mục đích Buổi Sáng là bài trừ hạng người làm bêu rếu phong hóa của nước Cổ Việt Nam, cho nên từ ngày xẩy ra vụ Tê Ca, Buổi Sáng đã đoan quyết tìm cho ra đôi nam nữ quá ư tự do ấy. Từ đó, Buổi Sáng phái một phóng viên đi khắp các nơi, để mong giúp một phần tìm tòi hộ sở Mật thám, và cho hai gia đình đáng thương ấy. Thì đây, câu chuyện đã rõ rệt như ban ngày.

Tê và Ca không làm chính trị, Tê và Ca cũng chẳng tự tử như mấy tờ báo “lá cải” đã dám đoán phỏng một cách vô lý. Tê và Ca hẳn chỉ tìm quanh ở đất nước nhà một nơi hẻo lánh để tránh mặt nương thân. Trọng việc làm hơn lời bàn suông nói hão, Buổi Sáng quyết nhúng tay vào việc. Thì trừ tỉnh Lào Cai ra, hẳn không còn nơi nào có thể lẩn núp được mãi cái bộ mặt khuyển lang của đôi gian phu dâm phụ, Buổi Sáng nghĩ. Vì vậy, phóng viên Buổi Sáng chẳng quản đường xa dặm thẳm, cố lặn ngòi ngoi nước, lên được đến nơi ải lạnh rừng thiêng, cố điều tra trong các săm trọ, thì thấy đã hơi có chút ánh sáng rọi qua tấm màn đen bí mật.

Này! Ai đi qua nhà Mỹ Lạc, nhác mắt nhìn vào trong một buồng, có trông thấy một đôi thiếu niên nam nữ ăn mặc ra cách tân nhân vật Hà thành, mà chẳng lấy làm ngợ? Đôi trai gái ấy, ngày thường chẳng dám bè bạn cùng ai, mà bốn bức tường buồng chật hẹp như chẳng đủ điểm vào câu chuyện cho thêm nồng mặn, nên những khi trăng thanh gió mát, êm ả chiều trời, thì ta lại thấy trên đường kia, ẩn hiện ở dưới bóng cây một cặp trai gái, xinh đẹp như đôi uyên ương, cậu can bạc, đầu trần, mợ áo màu, quần trắng, khoác tay nhau, đo từng bước mà trò chuyện nhỏ to. Ôi! Trước mắt rừng rung, bên tai sóng réo, non nước đa tình nó cũng hợp với óc lãng mạn của giống đa tình! Cho nên mảng vui về cảnh, quá say về tình, mà dư luận eo óc bên mình, nào có để ý tới!

Ấy, Tê và Ca đấy!

Than ôi!

Chữ tình là chữ chi chi
Cho gan sắt đá cũng si về tình.
Khuyên em đừng đẹp đừng xinh,
Em khuynh thành lắm, anh khuynh gia nhiều!
Khuyên anh, anh chớ mỹ miều
Anh giòn tán lắm, em liều theo ngay!

PHÓNG VIÊN

Ông chủ bút đọc xong, tái mặt lại. Bỗng ngoài cửa có tiếng gõ. Ông phóng viên Lào Cai vào.

Ông chủ bút đứng dậy chào, bắt tay, mời ngồi. Rồi cũng đặt bịch cây thịt xuống ghế, duỗi thẳng cẳng ra, nghiêm sắc mặt lại, thở dài. Ông vỗ vào tập báo ở bàn, rồi nói:

– Ông làm ăn thế thì tòa báo này đến vỡ mất thôi!

– Tại làm sao, thưa ông?

– Tôi bực mình lắm. Tôi lăn lộn trong làng báo trong bao nhiêu năm trời, không lần nào thấy bất đắc ý bằng ngày hôm qua.

– Thưa ông, tôi tưởng báo hàng ngày ăn thua nhau ở tin tức nhanh chóng. Hẳn chỉ có một mình tôi biết tin ấy, chứ các báo khác có phóng viên ở Lào Cai đâu?

– Vẫn biết vậy, nhưng chính là ông đáng trách ở chỗ đó. Thì ra ông làm báo chưa lành nghề, mà tòa báo dùng lầm ông! Sao ông lẩn thẩn thế? Ông vẫn còn trẻ người non dạ, chưa lịch duyệt, còn nhiều cái hấc lờ lắm!

– Thế còn lẩn thẩn, hấc lờ?

– Phải, chính ông lẩn thẩn, ông hấc lờ. Ông được một tin hay, mà ông chỉ viết có một bài ngắn, để đăng vào có một kỳ, chỉ có một kỳ thôi, còn có nghĩa lý gì không?

– Vâng, thì nói thế là đủ ý, chứ còn gì nữa?

– Trời ơi! Thế nào là đủ ý? Ý biết thế nào cho đủ? Bây giờ tôi mới thấy ông nói thế là một! Độc giả đang đói thời sự, tôi đương nuôi vụ Ca Tê cho nó đỡ ngắc ngoải, thế mà được tin sửng sốt, ông không cho bạn đọc ăn dè? Ông nhồi, ông nhét, ông tọng vào cả một kỳ, viết ngắn có mấy dòng tủn hoẳn, ông lại hẹn không đả động đến chuyện ấy nữa.

– Thì sao ông không chữa lại và kéo dài ra?

– Vì tôi không muốn làm mất lòng ông. Ông đã phụ công tôi, nuôi nấng tin này trong bao nhiêu ngày. Thế mà chính tay ông, ông giết chết nó! Sao ông không câu độc giả! Họ đang say lử về cái mồi của tôi, đến ông, ông thả buột đi mất! Sao ông không “còn nữa”, “còn nữa” mãi một tin ấy như mục tiểu thuyết, như bài diễn văn, như lối tường thuật một vụ án quan trọng? Cứ như tôi, thì việc này ít ra tôi cũng kéo được một tá mà hèn ra, mỗi số cũng chạy nổi hơn vạn tờ. Vậy mà ông vụng đến nỗi chỉ viết ra có một số, cuối bài đã chẳng hẹn hò độc giả xem tin thêm ở số sau, ông lại cao thượng mà chẳng thèm nói nữa! Bây giờ thôi! Thế là xong!… Đây này, ông nhìn xem, vì ông khờ mà mấy tờ báo lá cải nó cướp mất mồi. Bài của ông ra lúc ba giờ, thì chín giờ tối, chúng nó in ngay phụ trương để tranh khách! Này, còn tờ Buổi Sáng nữa, ông thử đọc mà xem, có phải bài thời sự ấy nó viết hay và văn chương bao nhiêu không?

– Chà! Họ mà lại tin, ai mà chẳng biết!

– Sao ông nói dốt thế? Ai biết? Ông xem hai bài, có đoạn nào giống nhau không? Đấy, sự thực có hơn gì câu bịa? Những thời sự mọi khi ông viết, tôi vẫn kêu là ngắn quá, mà thiếu nhiều văn chương. Như thế phải tốn nhiều việc mới lắp đầy mấy cột báo. Ông phải biết những người làm báo lâu năm như tôi, viết thời sự không cốt gì phải mục kích mới viết nổi. Mất thì giờ đi. Mà đi thì tốn tiền! Ngồi nhà mà chẳng viết nổi bài tường thuật đám đánh nhau, việc chết chẹt, vụ đắm thuyền à? Này, đến ngay như việc chiến sự ở Ngô Tùng bên Tàu, mà tinh ý ra, cũng viết được một bài rõ ràng không kém báo Trung Hoa, Nhật Bản. Thì nó có mẫu sẵn cả. Đám chẹt xe thì tất sứt đầu, kẹp tay, máu me lênh láng. Rồi khéo tả cho rùng rợn, và kéo dài như bài luận nhà trường rồi để kết luận, ông thêm cho hai tiếng “tội nghiệp”, thế là hay đáo để rồi. Những việc xẩy ra ở nước ta, việc nào chẳng giống việc nào, chỉ thay đổi một vài tiếng tên người, tên chỗ, có khó gì? Hứng bút ra, ông tìm những giọng văn cho mới, dùng chữ cho ngây ngô, có vẻ tây một tí, để lòe đời, có phải lắm người chuộng không? Bây giờ họ làm báo thế cả, chứ có cốt gì học thức lắm đâu? Vậy mà báo họ vẫn chạy lắm. Những lời tôi khuyên ông, tôi xin ông nghe tôi, bởi vì, chẳng phải khoe, tôi sành nghề làm báo hơn ông.

– Vâng, cảm ơn ông và xin lỗi ông, tôi muốn sang buồng ông chủ nhiệm.

– Thôi, ông không cần sang. Ông ấy vừa gắt ông đấy. Ông ấy gắt suốt cả ngày hôm qua đến nay! Nếu không có tôi nói đỡ thì có lẽ ông ấy đã viết thư ngay từ sáng sớm lên Lào Cai để thu cái thẻ phóng viên của ông lại rồi.

Ông phóng viên bùi ngùi đứng dậy, cảm ơn ông chủ bút và cáo từ lui ra. Khi cửa đã khép, ông chủ bút còn trông theo và tủm tỉm cười. Ông vui vẻ như cậu học trò đọc thuộc bài. Rồi, như còn quên một câu gì của ông chủ nhiệm, chưa nói nốt, ông gọi giật ông bạn đồng sự lại:

– À, này, ông phóng viên! Sau hết, xin ông đừng giận tôi nhé!

Ông phóng viên nhìn ông chủ bút như một vị ân nhân, vội trả lời:

– Ấy chết! Thưa ông, tôi không dám ạ.

3-4-1932



Mời đọc Bản chụp dạng ảnh

Quan Tham nửa giờ (Sỹ diện)


Minh họa: Hoài Niệm – Kính Hồng


Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Hạ Radio | 2. Chiến Hữu | 3. Kính Hồng




Mời đọc Bản đánh máy


Quan Tham nửa giờ
(Sỹ diện)

Nguyễn Công Hoan
(1903-1977)


Năm tôi mười tám tuổi, tôi đã có cái vẻ mặt đứng đắn của con người hai mươi. Nhất là khi khăn áo chỉnh tề, thì các bạc ngàn, người lạ cũng chả dám đánh cuộc rằng tôi còn mài đũng quần ở ghế trường học.

Sở dĩ tôi nhớ lại chuyện cũ, là vì độ này bên tai tôi, ai ai cũng còn nói đến Tết.

Nguyên từ nhà quê tôi ra đến Hà Nội, có hai mươi cây số. Muốn đi xe lửa, thì thuê một hào xe ra ga, lấy vé mất hào bảy. Nhưng nếu sợ phu xe bắt chẹt, thì cứ đứng ở chợ Đường Cái, mà chờ ô-tô hàng Hưng Yên và Hải Dương đến. Vừa chóng, vừa chỉ tốn có hào rưỡi thôi.

Hôm ấy là mồng hai tháng Giêng, tôi phải ra Hà Nội để lễ tết người nhà họ.

Tôi chờ ở giữa đượng mãi không thấy có xe qua. Có lẽ vì năm mới, các hãng còn nghỉ việc.

Nhưng may quá, tôi đương nóng ruột, bỗng có cái ô-tô hòm đi tới, mà đến gần tôi, người tài xế hãm lại, ngó cổ ra, hỏi có đi Hà Nội thì lên. Tôi mừng quá, vội lên ngay.

Các ngài thử tưởng tượng mà xem, một người mặc lịch sự như tôi, giầy ban, khăn nhiễu, trong gấm, ngoài xa-tanh, mà chĩnh chệm ngồi giữa cái xe hòm, thì phỏng ngay các ngài có dám nói dựng đứng rằng không phải xe nhà tôi không?

Đi được một ít, anh tài xế dặn tôi:

- Đây là xe của chủ tôi ở Hải Phòng, hôm qua lên Hà Nội có việc, nay bảo tôi đi đón; vậy giữa đường, lỡ có gặp ai hỏi, ông cứ nhận là người nhà tôi.

- Được.

- Ông lên Hà Nội có việc gì?

- Tôi đi lễ tết, chiều về.

- Hôm nay ngày xấu, sao ông vội xuất hành thế?

- Nếu cứ chờ ngày tốt, thì còn gì là ngày nghỉ nữa.

Anh tài thấy tôi nói đến tiếng "nghỉ", cơ chừng anh đoán là tôi cũng đã có địa vị chi đây, phi ông tham, thì ông phán, ông ký, không cũng ông giáo hẳn - chứ chắc chẳng dám đoán tôi là học trò - cho nên anh hỏi ngay:

- Ông làm gì ở đâu?

Cái sĩ diện của tôi mới "bơm" được có một ít, chẳng lẽ nay tôi lại trả lời thực thà để nó "xì" mất a? Tôi liền "thụt" ngay cho thêm vài nhát nữa, vả đã nói khoác, tội gì không nói mình thực sang, cho nó bõ chuyến, tôi liền đáp:

- Tôi làm tham tá phủ Thống sứ.

Lúc đó, anh tài quay lại nhìn tôi. Hẳn anh không ngờ đâu cái ô-tô của anh đã được hân hạnh một nhân vật "oai" thế đặt cái quý đít lên trên, cho nên tuy bụng anh không nói ra, nhưng cứ đọc ở đôi con mắt, tôi cũng đoán được là anh vừa ngạc nhiên, vừa sợ hãi. Quả thực, từ đó, mỗi câu nói, anh ta lại bẩm quan và lại xưng là con nữa.

Thấy thế, tôi tự phụ là tuy ít tuổi, nhưng ra ngoài xã hội đã khôn khéo hơn người, biết làm cho kẻ khác phải vị nể.

Rồi, từ đó đến Hà Nội, trong nửa giờ, tôi cứ hô hấp, nói năng, cử chỉ một cách tham tá, mà anh tài càng nghe tôi nói khoác bao nhiêu, lại càng lễ phép khúm núm bấy nhiêu. Rồi xe vào cầu Đu-me, anh nói:

- Bẩm quan, người ta thì đến đầu cầu bên kia, phải xuống ngay, nhưng quan đây thì con vững tâm lắm, con xin đánh xe hầu quan đến tận nhà.

Đấy, các ngài đã phục lăn ra chưa? Cái sĩ diện của tôi cùng thời gian mà to dần, cho nên đến các phố, tôi càng lấy dáng bảnh chọe, ta đây là kẻ giờ, cái mặt vênh vênh, đôi tay khuỳnh khuỳnh, cặp mắt gấp gay, rõ con người trưởng giả không chịu nổi gió bụi. Xe qua nhà các tiểu thư ngày thường bốn buổi tôi cuốc bộ cắp sách qua, các cô còn trố mắt ra nhìn theo, không biết có phải chính hắn không!

Đến nhà tôi. Xe vừa dừng bánh, anh tài đã chạy vội ngay xuống để mở cửa. Nhưng về phần quan tham thì tính sao? Quan phải chi tiền xe chứ? Lúc bấy giờ quan mới sực nghĩ ra rằng trong túi quan, đếm đi đếm lại, chỉ có đồng tư bạc.

Thì giá các ngài vào địa vị tôi, các ngài định trả bao nhiêu? Giá từ trước, cứ ngồi cạnh anh tài xế, đừng chồm chỗm như con chó tiền rưỡi ở yên sau, hoặc cứ ngồi yên sau mà nói rằng mình học ở trường Cao đẳng, cũng sĩ diện chán, mà không nguy hiểm đến tính mệnh số tiền tí xíu kia. Chết một nỗi làm những quan tham mất rồi! Chẳng lẽ quan tham ngài lại xử nhọ, đưa bốn hào hoặc đưa đồng bạc bắt anh tài trả lại mấy hào, coi không tiện. Thôi, quan đành cắn răng lòi cả đồng bạc ra vậy. Ô hô!

Anh tài thấy tôi chi sang, dang cả hai tay ra nâng một cách cung kính:

- Bẩm quan, năm mới quan mở hàng, con xin bái lĩnh.

Nói đoạn, anh vái rồi đánh xe đi, để tôi với cái tham tá của tôi lại giữa đám cát bay mù.

*
*     *

Xe đi khuất phố. Tôi phủi bụi áo, chợt nghĩ đến cái sĩ diện quan tham ban nãy, thôi, nó theo anh tài xế đi đằng nào mất rồi? Thực là dại! Tiếc quá, được làm quan tham trong nửa tiếng đồng hồ, thành ra đi nhẹ mất đồng bạc!

Thì ra có dại mới nên khôn, nhưng khốn nạn, lúc khôn thì dại quách rồi. Tôi nghĩ còn dại hơn anh chàng thiếu niên trong chuyện Gil Blas nọ, được là "cái kỳ quan thứ tám trên thế giới" mà phải trả tiền cơm ăn kẹ cho con chó đói nó nịnh mình. Nhưng chàng thiếu niên ấy nó hơn tôi ở chỗ được người ta tự nhiên đến biếu cái sĩ diện thì mất tiền cũng đáng, chứ mà như tôi, tự mình mua cái sĩ diện cho mình đến nỗi đánh gãy mất ba phần tư cơ nghiệp mới dại làm sao?

Bây giờ tôi lớn lên, nhân nhớ lại chuyện cũ mà lại buồn cười. Té ra là hai bên cùng lầm cả, cho nên mới thành câu chuyện. Anh tài lầm vì anh chỉ biết trọng quan tham, mà anh không biết khinh thằng nói khoác; mà tôi lầm vì lại đi trả đắt cái sĩ diện với kẻ xét lầm mình!

Ấy cũng chỉ vì người đời đều lầm như anh tài xế và tôi, cho nên mới đánh giá những cái không đáng quý khí cao quá. Bởi vậy mà xung quanh tôi đây, từ năm ấy đến nay, tôi hằng gặp biết bao tôi và anh tài xế! Trong những hạng người ấy, không thiếu gì anh to đầu hơn tôi, có râu rồi, có con rồi, có cháu rồi, mà còn dại như đứa trẻ thơ, cố mua hớ một tí sĩ diện hão huyền.

Các cô tiểu thư! Các cô cứ kệ cái nước da ngăm ngăm cho có duyên, các cô cứ mặc cái làn tóc tự nhiên của giống đẹp nó phất phơ trước gió có được không? Các cô lại muốn đánh lừa chúng tôi mà tô son điểm phấn, để lấy cái bộ mặt khác, các cô lại đánh sáp bôi nước hoa để làm lạc cái vẻ nhu mì của các cô đi. Các cô đẹp thực, thơm thực. Vậy cái sĩ diện các cô đã bắt các cô tiêu phí bao nhiêu tiền về trang điểm, về thì giờ, về mất việc? Các cô đi qua mặt chúng tôi, việc gì trong ngực các cô phải bồi hồi, việc gì các cô phải lấy dáng cho yểu điệu, việc gì các cô phải làm nét mặt cho nghiêm chỉnh? Chúng tôi tưởng rằng các cô đoan trang thực đấy, nhưng các cô có biết cái sĩ diện ấy đã xui các cô giết mất cái dáng điệu tự nhiên không?

Các ông nhà quê! Các ông không muốn ngồi yên chiếu dưới, các ông phải xoay lấy cái lý trưởng phen này. Nhưng nào các ông đã thỏa cho, cụ Chánh còn có điếu có tráp kia, vào quan không phải tụt giầy, được bạn với cụ Thừa, cụ Lục kia; mà lúc các ông được làm Chánh tổng, các ông có ngồi yên đâu? Các ông lại còn nhấp nhổm lên cái ghế nghị viên hàng xứ. Phải, quan nghị oai lắm! Nhưng, các ông muốn được cái sĩ diện lâu và to gấp trăm gấp nghìn cái quan tham trong nửa giờ của tôi, thì hẳn các ông phải sùy một món tiền cũng gấp trăm gấp nghìn cái đồng bạc ấy. Bây giờ các ông thử vỗ túi xem có còn cái gì không?

Lại còn nữa; lại còn những anh kiết xác, muốn được cái sĩ diện tư bản, cố vay mượn để xe nhà, để ô-tô, để Đồ Sơn, Sa Pa, để vợ con ăn mặc ngang bà nọ bà kia; thì ra anh ấy đã tiêu phí mất cái tự do về tinh thần. Ông chủ báo dốt đặc muốn lấy sĩ diện với quốc dân, đã liều thân làm cái bia cho đời mai mỉa. Ông võ tướng muốn lấy sĩ diện hoàn cầu hậu thế, đã tiêu tốn mấy mươi vạn sinh linh.

Ấy các ngài đừng dại như tôi, trước khi chui vào cái ô-tô hòm mà chễm chện, ta hãy bấm lưng xem có bao nhiêu vốn cái đã, mà anh tài có hỏi cũng cứ sự thực mà nói, thì ở xã hội làm gì có những cảnh ba đào? Nhưng nếu không thế, sao đã có câu chuyện tôi hiến các ngài đây.



20 Janvier 1932



Mời đọc Bản chụp dạng ảnh