Ads 468x60px

.

Chủ Nhật, 30 tháng 4, 2023

Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903 – 1977)


Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903 – 1977)

Bảo tàng Văn học Việt Nam


1. TIỂU SỬ

Nhà văn Nguyễn Công Hoan sinh ngày 06 tháng 03 1903 ở làng Xuân Cầu, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên).
Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan mất ngày 6 tháng 6 năm 1977 tại Hà Nội.



2. QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

Nhà văn Nguyễn Công Hoan xuất thân trong một gia đình quan lại nho học. Lúc nhỏ, ông học ở trường Bưởi, nay là trường Chu Văn An, Hà Nội. Năm 1922, ông học trường sư phạm. Cũng từ năm ấy, Năm 1926, ông tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, làm nghề dạy học ở nhiều nơi (Hải Dương, Lào Cai, Nam Định,…) cho đến khi Cách mạng tháng Tám nổ ra.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan viết văn từ rất sớm. Truyện ngắn đầu tiên “Quyết chí phiêu lưu” ông viết năm 17 tuổi, Tác phẩm đầu tay Kiếp hồng nhan (viết năm 1920, được Tản Đà thư điếm xuất bản năm 1923) là một đóng góp cho nền văn xuôi Việt Nam bằng chữ Quốc ngữ. Từ năm 1930, ông thường xuyên có bài trên mục Xã hội ba đào ký của báo An Nam tạp chí, hầu hết là những truyện ngắn trào lộng, phê phán xã hội. Tiểu thuyết “Những cảnh khốn nạn” tập I, xuất bản năm 1934, viết trong thời gian ông dạy học ở Lào Cai, đã báo hiệu con đường văn chương độc đáo của riêng ông. Năm 1935, tập truyện ngắn Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan được xuất bản gây một tiếng vang lớn và đưa ông lên vị trí hàng đầu những nhà văn hiện thực xuất sắc lúc bấy giờ. Cho đến trước 1945, nhà văn đã viết hàng trăm truyện ngắn và hàng chục cuốn tiểu thuyết vừa hiện thực vừa lãng mạn.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông làm Giám đốc báo chí Hà Nội rồi Phó giám đốc Sở tuyên truyền Bắc Bộ.
Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, nhà văn gia nhập bộ đội, làm biên tập viên báo Vệ quốc quân (báo Quân đội Nhân dân ngày nay), Giám đốc Trường Văn hóa Lý Thường Kiệt, Chủ nhiệm tờ Quân nhân học báo. Năm 1951 ông làm việc ở Trại tu thư của ngành giáo dục, biên soạn sách giáo khoa và sách Sử Việt Nam. Ông cũng viết bài cho báo Giáo dục nhân dân, cơ quan ngôn luận đầu tiên của Bộ Quốc gia giáo dục lúc bấy giờ.

Hòa bình lập lại 1954, ông trở lại nghề văn. Từ sau năm 1954, nhà văn công tác ở Hội văn học nghệ thuật Việt Nam với cương vị Ủy viên. Khi thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, Ông được bầu làm Chủ tịch Hội (khóa đầu tiên 1957 – 1958), kiêm Chủ nhiệm Tuần báo Văn (tiền thân của báo Văn nghệ) và là Ủy viên Ban Thường vụ trong Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa sau đó. Ông cũng là Ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học & nghệ thuật Việt Nam. Ông tiếp tục viết truyện ngắn, tiểu thuyết và nhiều bài về kinh nghiệm sáng tác, nghiên cứu bình luận văn chương. Ông mất ngày 6.6.1977 tại Hà Nội và để lại một di sản văn học khá đồ sộ: 200 truyện ngắn, 30 truyện dài, và hàng trăm bài viết về kinh nghiệm sáng tác, phê bình và nghiên cứu văn học. Tên Ông hiện được đặt cho một đường phố ở quận Ba Đình, Hà Nội. Tại thành phố Đồng Hới, Quảng Bình có con đường mang tên ông. Vào năm 2009 tên ông đã được đặt cho trường Trung học phổ thông Nguyễn Công Hoan tại Xã Mễ Sở, Huyện Văn Giang, Tỉnh Hưng Yên.



3. TÁC PHẨM
  • Kiếp hồng nhan (truyện ngắn, 1923)
  • Răng con chó của nhà tư sản (truyện ngắn, 1929; đăng Annam tạp chí số 23 năm 1931 với nhan đề Răng con vật nhà tư bản)
  • Hai thằng khốn nạn (truyện ngắn, 1930)
  • Thật là phúc (truyện ngắn, 1931)
  • Người ngựa, ngựa người (truyện ngắn, 1931)
  • Thế là mợ nó đi tây (truyện ngắn, 1932)
  • Xin chữ cụ nghè (truyện ngắn, 1932)
  • Tắt lửa lòng (truyện dài, 1933). Năm 1936, truyện dài Tác phảm Tắt lửa lòng của ông đã được soạn giả Trần Hữu Trang chuyển thể thành vở cải lương nổi tiếng “Lan và Điệp”.
  • Lá ngọc cành vàng (tiểu thuyết, 1934)
  • Kép Tư Bền (tập truyện ngắn, 1935)
  • Đồng hào có ma (truyện ngắn)
  • Mất cái ví (truyện ngắn)
  • Đào kép mới (truyện ngắn)
  • Hai thằng khốn nạn (truyện ngắn)
  • Xuất giá tòng phu (truyện ngắn)
  • Một tin buồn (truyện ngắn)
  • Nỗi lòng ai tỏ (truyện ngắn)
  • Tôi cũng không hiểu tại làm sao? (truyện ngắn)
  • Chiếc quan tài (truyện ngắn)
  • Sáu mạng Người (truyện ngắn)
  • Thịt người chết (truyện ngắn)
  • Sáng, chị phu mỏ (truyện ngắn)
  • Ông chủ (truyện dài)
  • Bà chủ (truyện dài)
  • Thanh đạm (truyện dài)
  • Cô giáo Minh (Truyện dài)
  • Cô làm công (tiểu thuyết, 1936)
  • Oẳn tà roằn (truyện ngắn, 1937)
  • Vợ (truyện ngắn, 1937)
  • Bước đường cùng (tiểu thuyết, 1938)
  • Tinh thần thể dục (truyện ngắn, 1939)
  • Phành phạch (truyện ngắn, 1939)
  • Cái thủ lợn (tiểu thuyết, 1939)
  • Nông dân và địa chủ (tập truyện ngắn, 1955)
  • Tranh tối tranh sáng (truyện dài, 1956)
  • Người cặp rằng hầm xay lúa ở ngục Côn Lôn 1930 (1960)
  • Hỗn canh hỗn cư (truyện dài, 1961)
  • Đống rác cũ (tiểu thuyết, 1963)
  • Ðời viết văn của tôi (hồi ký, 1971)
  • Tuyển tập Nguyễn Công Hoan (3 tập, Nhà xuất bản Văn học, 1983 – 1986)



4. GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC

– Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996.





Thứ Tư, 19 tháng 4, 2023

Nguyễn Công Hoan - Bậc thầy về truyện ngắn châm biếm


Nguyễn Công Hoan -
Bậc thầy về truyện ngắn châm biếm

TTXVN
Là tác giả của trên 200 truyện ngắn và gần 30 truyện dài, truyện vừa với nghệ thuật đặc sắc và độc đáo, Nguyễn Công Hoan là một trong những ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam thời kỳ 1930-1945. Qua hơn 50 năm cầm bút, sự nghiệp văn học của ông khá đồ sộ. Ông đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm với hàng trăm truyện ngắn, truyện dài và nhiều tiểu thuyết, bút ký, tiểu luận về ngôn ngữ văn học. Ông sinh ngày 6/3/1903, cách đây 120 năm.




Bậc thầy về truyện ngắn châm biếm –
Nguyễn Công Hoan

Theo: Thanh Hoa (TTXVN)



Là tác giả của trên 200 truyện ngắn và gần 30 truyện dài, truyện vừa với nghệ thuật đặc sắc và độc đáo, Nguyễn Công Hoan là một trong những ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam thời kỳ 1930 – 1945.

Một bậc thầy về truyện ngắn và nghệ thuật trào phúng
Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6/3/1903, quê ở làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Ông được sinh ra và trưởng thành trong một gia đình quan lại xuất thân nho học. Từ nhỏ Nguyễn Công Hoan đã được nghe và học thuộc rất nhiều câu thơ, câu đối, những giai thoại mang tính chất trào lộng, châm biếm, đả kích bọn tầng lớp quan lại tham lam, địa chủ cường hào, ác bá. Chính những thơ ca và giai thoại này đã làm ảnh hưởng sâu sắc tới lối viết của ông sau này.

Nguyễn Công Hoan viết văn từ rất sớm, từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường và ngay từ những ngày đầu cầm bút, ông đã xác định được hướng đi và phong cách viết. Ông có biệt tài về truyện ngắn trào phúng, ông giỏi phát hiện những tình huống mâu thuẫn đáng cười và có cách kể chuyện thật tự nhiên, có duyên, hấp dẫn với một ngôn ngữ sinh động.

Nếu như Nam Cao nhìn thấy cuộc đời của con người chỉ là đang sống mòn, đang chết dần đi hoặc bị tha hóa; với Vũ Trọng Phụng, cuộc đời chỉ toàn sự vô nghĩa lý, thì đối với Nguyễn Công Hoan, đời là một sân khấu hài kịch. Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là giai đoạn của mọi thứ lố lăng, kệch cỡm, nhìn vào đâu cũng thấy sự giả dối, lừa bịp, những cái đáng cười, đáng chế giễu, thậm chí cười ra nước mắt…

Trong hồi ký của mình, nhà văn Lê Minh, con gái Nguyễn Công Hoan đã chia sẻ: “Thời của ông, trong lúc một số nhà văn đang say sưa với chủ nghĩa lãng mạn, với những hư hư thực thực kiểu “Hồn bướm mơ tiên” thì ông lại dứt khoát lựa chọn một đường đi khác cho riêng mình”.

Còn GS.TS văn học người Nga Niculin đã gọi ông là “bậc thầy về truyện ngắn châm biếm”. Với hàng trăm truyện ngắn trào phúng, mỗi câu chuyện là một cảnh đời, một số phận, ông đã vẽ lên bức tranh sinh động về xã hội thực dân nửa phong kiến tàn ác, đầy rẫy bất công, giả dối.

Ông đả kích không thương tiếc bọn quan lại tham lam, bỉ ổi, chức cao nhưng ít tài đức, bọn địa chủ cường hào keo bẩn, ngu dốt, bọn tư sản vô lương tâm chỉ biết chạy theo đồng tiền và lối sống tư sản lố lăng, đồi bại… bằng một bút pháp trào lộng, khiến bạn đọc không thể không cười ra nước mắt. Nhưng ở chỗ sâu thẳm trái tim ông là lòng xót xa, thương cảm đối với những người dân nghèo bị cho là thấp cổ bé họng..

Thế giới nhân vật trong các sáng tác của Nguyễn Công Hoan vô cùng đông đúc. Đó là những phu phen, thợ thuyền, dân quê, những địa chủ, lý dịch, cường hào; những nghị viên, dân biểu, quan lại; những con buôn, tư sản, chủ thầu; những giáo chức, nghệ nhân, viết văn, làm báo; những me tây, cô đầu, kép hát; những gái điếm, con sen, thằng nhỏ, lính cơ, thầy quyền, những bồi bếp, tây trắng, tây đen…

Ông đã dày công khắc họa thế giới nhân vật đông đúc, đa dạng ấy khiến cho họ trở nên đặc sắc, sinh động, đầy sức sống. Sau mỗi một hành động của nhân vật, tiếng cười bật lên với nhiều cung bậc khác nhau. Đó là tiếng cười khoái trá, sảng khoái. Đó cũng là tiếng cười mỉa mai, châm biếm, đả kích, đầy chua xót.

Đó còn là tiếng cười căm phẫn xã hội đồng tiền đưa đẩy con người vào những hoàn cảnh trớ trêu mà cái bi, cái hài xen lẫn hòa trộn.

Danh tiếng của ông thật sự nổi bật trên văn đàn Việt Nam là một bậc thầy về truyện ngắn và nghệ thuật trào phúng khi tập truyện ngắn “Kép Tư Bền” ra đời. Tác phẩm đã gây một tiếng vang lớn và tên tuổi của ông nổi tiếng khắp Bắc Trung Nam, có 18 tờ báo đăng bài khen ngợi…

Nguyễn Công Hoan viết nhiều trong những năm 1920 đến 1945, truyện của ông chiếm khối lượng lớn. “Bước đường cùng” là tác phẩm tiêu biểu nhất, có giá trị cao nhất của Nguyễn Công Hoan. Với “Bước đường cùng” lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam có một tác phẩm nói đến đời sống nông thôn Việt Nam một cách sâu sắc, vạch trần được một trong hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội nước ta dưới thời thuộc Pháp là mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ phong kiến.

Người nông dân trong “Bước đường cùng” không còn thụ động như người nông dân trong văn học Việt Nam ngày trước nữa. Đó là một hiện tượng rất mới trong văn học nước ta hồi bấy giờ. Chính quyền thực dân đã phải ra lệnh cấm lưu hành.

Cùng thời điểm này ông cũng có nhiều các tác phẩm khác tiêu biểu như: “Cô làm công” (tiểu thuyết, 1936), “Lá ngọc cành vàng” (tiểu thuyết, 1934), “Cái thủ lợn” (tiểu thuyết, 1939), “Phành phạch” (truyện ngắn, 1939)… Từ sau năm 1954, ông cũng có nhiều truyện ngắn viết về cải cách ruộng đất và chiến sĩ cách mạng.

Một thế đứng vững vàng trong văn mạch dân tộc

Sau ngày hòa bình lập lại, Nguyễn Công Hoan công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm cán bộ Nhà xuất bản văn nghệ. Khi Hội Nhà văn thành lập (1957), ông được bầu làm Chủ tịch Hội khóa đầu tiên và ủy viên Ban Thường vụ trong các khóa tiếp sau đó; đồng thời là ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Năm 1977, Nguyễn Công Hoan qua đời tại Hà Nội, ông thọ 75 tuổi. Qua hơn 50 năm cầm bút, sự nghiệp văn học của ông khá đồ sộ. Ông đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm với hàng trăm truyện ngắn, truyện dài và nhiều tiểu thuyết, bút ký, tiểu luận về ngôn ngữ văn học. Các tác phẩm của ông đã được tái bản nhiều lần và hiện được chọn lại trong bộ tuyển tập Nguyễn Công Hoan (3 tập, nhà xuất bản Văn học 1983-1986).

Với tài năng và những cống hiến của mình cho văn học nước nhà, Nguyễn Công Hoan có một vị trí sang trọng trong lịch sử văn học Việt Nam; một thế đứng vững vàng trong văn mạch dân tộc. Tên tuổi của ông còn được ghi trong “Từ điển bách khoa toàn thư” của Liên Xô những năm 60…

Đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu và bài viết về ông (kể cả của những người nước ngoài), khai thác, tìm hiểu nhiều góc cạnh, nhiều tầng vỉa trong khối di sản lớn mà ông để lại. Năm 1996, cùng với 14 nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt Nam thế kỷ XX, ông đã vinh dự được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về Văn học nghệ thuật.


Theo: Thanh Hoa (TTXVN)



Thứ Bảy, 11 tháng 3, 2023

Người cứu tiểu thuyết "Đống rác cũ"


Người cứu tiểu thuyết "Đống rác cũ"

Nguyễn Việt Chiến


Ngày 27.8, Hội Nhà văn VN tổ chức hội thảo nhằm làm rõ sự đóng góp của nhà văn Lê Minh (85 tuổi) đối với nền văn học cách mạng, kháng chiến và đề tài công nhân.

Tại hội thảo, bài phát biểu của nhà văn Xuân Cang đã cung cấp nhiều thông tin mới về Lê Minh. Năm 1956, truyện ngắn Nhật ký một người mẹ của bà bị lên án trong vụ Nhân văn giai phẩm và Lê Minh cùng một nhóm văn nghệ sĩ phải đi “cải tạo lao động” ở Nam Định, Thái Nguyên. Năm 1982, trên cương vị Trưởng ban VHVN Báo Nhân dân, Lê Minh đã thẳng thắn phản đối bài phê bình có tính “chụp mũ” đối với tiểu thuyết Búp sen xanh của Sơn Tùng. Vào năm nhà văn Nguyễn Công Hoan gặp nạn vì tiểu thuyết Đống rác cũ tập 1 in ở NXB Văn học bị cấm, Lê Minh đã thực sự hành động để cứu tác phẩm của cha.
Một mặt, bà an ủi chăm sóc sức khỏe của cha, một mặt thu giấu, giữ gìn bản thảo, mặt khác ngăn chặn những tin đồn thổi. Sau đó, Lê Minh đã sắp xếp rất kỹ với NXB Thanh Niên một kế hoạch thật kín kẽ để xuất bản được toàn tập Đống rác cũ cùng một thời điểm.

Nhà văn Lê Minh sinh năm 1928, là con gái của nhà văn lỗi lạc Nguyễn Công Hoan. Đến nay, bà đã in 35 tập truyện ngắn, truyện dài, ký và tiểu thuyết, từng đoạt 2 giải nhất thi ký và truyện ngắn của Hội Nhà văn năm 1962 và năm 1969, 2 giải nhất về văn học đề tài công nhân của Hội Nhà văn từ 1980-1995.

Nguyễn Việt Chiến




Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2023

Trách nhiệm của một quan Công sứ Pháp


Trách nhiệm của một quan Công sứ Pháp

Q. A. (st)


talawas – Đoạn tin sau đây đăng ở mục Bạn đọc & Toà soạn của tạp chí Xưa & Nay số 343 (11/2009) tr. 41-42. Tìm kiếm thông tin trên mạng về nhân vật Công sứ Thái Bình tên Perret, chúng tôi chỉ được xác nhận gián tiếp qua truyện ngắn “Tôi tự tử” (1938) của Nguyễn Công Hoan:
“Một ông Công sứ Thái Bình, vì để đê vỡ, lo phải cách, nên tự tử bằng súng lục.”
Mong được cung cấp thêm thông tin từ quý vị và các bạn.


Perret là một quan cai trị hạng ba, tốt nghiệp trường Hành chính Thuộc địa Paris (Pháp), được bổ nhiệm làm Công sứ Thái Bình từ 2-4-1913 đến 17-8-1913. Khi mới nhậm chức đi kinh lý được ba phủ huyện, chưa kịp khám đến đê điều, thì đột nhiên huyện Thư Trì báo vỡ đê Phú Chử. Perret, tuần phủ Phạm Văn Thụ và lục lộ đến thì chỗ vỡ đã to lắm rồi. Chỉ trong một ngày đã huy động được 10 vạn dân phu toàn tỉnh và điện lên Thống sứ Bắc Kỳ xin trợ cấp tiền gạo để hàn đê. Cách mấy hôm sau, nước lên mạnh quá, không thể đắp theo được nữa, mới chịu rút phu về đắp giữ quanh vòng thành phố. Tuần phủ kể lại trong tập Đàn Viên ký ức lục: “Quan Sứ thường ở các tỉnh thượng du, chưa từng thấy cảnh lụt lội. Lòng thương dân quá. Cứ kêu: Không biết dân họ ăn ở thế nào cho sống được.”

Đêm rằm tháng 7-1913, Perret tự bắn vào thái dương. Bác sĩ Caseaux lập biên bản, nói: Quan Sứ vì thương dân quá. Ba ngày đêm không ăn không ngủ, phát chứng điên, tự bắn mình chết.

Người bồi nói với Phạm Văn Thụ: Quan Sứ tiếp cơm quan Thống, xin các khoản điều tễ được cả. Duy khoản giảm thuế thì quan Thống không ưng. Xem ý quan Sứ lấy làm buồn. Nằm không yên. Gần sáng truyền đốt nến, viết bức thư để bàn quan Thống. Rồi lại đi nằm. Một lúc thì nghe tiếng súng nổ.

Nội dung bức thư ấy viết: “Tôi phụng mệnh về đây, cốt khai hóa cho tỉnh Thái Bình. Không giữ được đê Phú Chử, di hại cho dân. Xin chết thay cho dân Thái Bình.”

Hết thảy xa gần, nghe nói đều thương tiếc. Nhân dân Thái Bình đã xây miếu thờ ông ở thị xã Thái Bình và trên đê Phú Chử. Nay miếu không còn, nên lập bia tưởng niệm.


Q. A. (st)



Nguồn:
Tạp chí Xưa & Nay số 343 (11/2009).
Xem bản PDF tại Thư viện tài liệu miễn phí
.



Mời đọc thêm:
1. Ngài Công sứTruyện ngắn. Đức Hậu
- Tạp chí Văn nghệ Thái Nguyên điện tử, 15 September, 2016.
2. Viên công sứ Pháp quyên sinh vì dân bị lụt ở Thái Bình - Giao Blog, 20/06/2013.

Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2023

Để có tiếng cười...


Để có tiếng cười...

Nguyễn Thanh Tú


Nói đến cái hài là nói đến tiếng cười nhưng không phải là một, đúng hơn, chúng thống nhất nhưng không đồng nhất. Tiếng cười luôn có mặt trong cái hài, trong mối quan hệ chủ thể khách thể của quan hệ thẩm mỹ, cái hài là khách quan thì tiếng cười gắn liền với chủ thể.
Hề chèo - Tranh Bùi Xuân Phái.


Là kết quả của cái hài, tiếng cười bao giờ cũng vang lên từ một chủ thể nào đó hướng về phía khách quan là cái xấu, cái đáng chê. Thế nên mỹ học rất đề cao tiếng cười, coi đó là một dấu hiệu rõ nhất của tính người, "là vũ khí của người mạnh". Là mỹ học của cái hài, nhưng tiếng cười còn là mỹ học của cái đẹp, vì cười cái xấu để con người tránh xa nó để hướng đến cái đẹp, cái tốt, cái tích cực. Đào hố chôn cái xấu là một bước chuẩn bị cho cái đẹp sinh thành. Tiếng cười là mỹ học lưỡng tính hay mỹ học phổ quát, ngày nay gọi là "mỹ học nhân bản" là như vậy. Một nền văn học thiếu vắng tiếng cười là nền văn học thiếu sinh khí!

Cái hài là cơ sở tạo nên tiếng cười nên tìm hiểu, nghiên cứu hay kiến tạo tiếng cười thường trước hết phải chú ý đến đối tượng gây cười mang tính hài. Đó là những khuyết tật xấu xí, hèn kém, dối trá, ác độc, tham lam... Không phải cái xấu nào cũng đều tạo nên tiếng cười, mà chỉ có cái xấu về mặt xã hội mới tạo ra tiếng cười.

Cười một người không may bị ngã, thì là cái cười vô duyên, phản cảm. Nếu cố tạo nên tiếng cười từ sự khuyết tật bẩm sinh thì là biểu hiện của sự kém hiểu biết về mỹ học, không có sự đồng cảm, là sự nhạo báng vô đạo đức vì là cười trên sự đau khổ của người khác. Nếu khoét vào những cái vặt vãnh, đời thường, vào cái thông tục, cái không bản chất sẽ chỉ cho tiếng cười rẻ tiền…

Nhưng cũng nhìn rộng rãi hơn thì tiếng cười có ngay trong cái mới, tiến bộ khi nó tự mang trong mình cái cũ chưa gột bỏ hết, còn những cái chưa hoàn thiện. Trường hợp này tạo ra tiếng cười hài hước, đáng yêu như em bé vụng về mà hồn nhiên bắt chước người lớn hay nhà bác học đãng trí có vẻ ngoài ngô nghê…

Bản thân những cái xấu vẫn chưa phải cái hài. Xấu nhưng không đành phận xấu, lại đội lốt cái đẹp, tự cho mình là đẹp thì mới là cái hài. Phải có tiếng cười của nhà trào phúng lột, rồi giật phăng cái mặt nạ giả dối để làm trơ ra sự thật thảm hại của cái xấu ấy. Vì thế bản chất cái hài là sự mâu thuẫn giữa các mặt đối lập, giữa nội dung và hình thức, giữa đạo đức và phi đạo đức, giữa hèn kém và cao thượng, giữa dốt nát ngu đần và trí tuệ hiền minh…

Những mâu thuẫn này càng căng thẳng càng tạo ra sự bất ngờ (kịch tính) thì càng tạo nên cường độ mạnh mẽ của tiếng cười. Điều này lại dẫn đến vai trò quyết định của chủ thể cười, tức nhà trào phúng, phải trí tuệ để nhìn thấy những mâu thuẫn hài; phải có sự phẫn nộ của lý trí muốn đòi lại lẽ phải, sự công bằng; phải có trái tim đầy yêu thương con người, căm thù cái xấu bênh vực cái tốt; phải có năng khiếu trời phú, có tài năng mỹ học về cái hài biết đẩy mâu thuẫn đến cái đích bất ngờ;…

Vì vậy cảm xúc hài kịch là cảm xúc thiên về trí tuệ. Tiếng cười bật ra từ cái hài luôn là một thái độ nhận thức, phê phán, phản biện hiện thực, tức tiếng cười phủ định cái tiêu cực. Nhưng cũng có tiếng cười khẳng định, đấy là tiếng cười tự trào, cười mình để khẳng định mình, thường chỉ có ở những nhà văn lớn.

Trên cơ sở những lý thuyết cơ bản này ứng vào thực tế sẽ thấy ngay cái yếu của văn học tiếng cười hôm nay ở cả ba vấn đề cơ bản là xây dựng tình huống trào phúng, nhân vật trào phúng và lời văn trào phúng.

Tài năng của nhà trào phúng trước hết là nhìn ra những mâu thuẫn mang tính ngược đời. Cuộc đời vốn đầy mâu thuẫn nhưng phải là mâu thuẫn nghịch lý, ngược đời, trớ trêu, oái oăm, ngẫu nhiên,... mới là tiền đề cho tiếng cười xuất hiện. Đám ma thông thường là buồn thương, nhớ tiếc nhưng chỉ Vũ Trọng Phụng mới nhìn thấy đó là một đám ma "hạnh phúc". Cả gia đình ai cũng mong người được coi là đáng kính, là trụ cột, là điểm tựa... chết để làm "tang gia" vì có thế mọi người mới có điều kiện thể hiện hoặc có cơ hội làm giàu... Đó là tình huống hội tụ những mâu thuẫn ngược đời.

Tình huống này vừa mang tính truyền thống vừa nhại truyền thống. Nhại ở chỗ cũng là đám ma cổ điển ở bề ngoài nhưng bên trong lại ngược hẳn để nhằm mục đích mỉa mai, để chế giễu cái nhố nhăng kệch cỡm "tân thời" lại gắn với truyền thống thì càng đáng cười hơn. Đấy là mâu thuẫn mang tính thời đại.
"Số đỏ" là tác phẩm bất hủ vì nó giễu nhại cả một xã hội văn minh rởm dở ta dở Tây! Điều này hoàn toàn đúng với truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan. Ngoài một tài năng kiến tạo các tình huống trào phúng, nhân vật của Nguyễn Công Hoan đậm tính hài, tính bi của thời cuộc. Giết mẹ là đại bất hiếu. Giết mẹ rồi làm đám ma cực to, khóc lóc cực kỳ thảm thiết thì không còn là con người mà ngược trở về loài quỷ dữ. Con người là kết quả của môi trường. Thì ra trong môi trường phi nhân tính sẽ đẻ ra những phi nhân tính! Cái ý nghĩa phổ quát bật ra thật dữ dội, lớn lao: phải thay đổi môi trường ấy để con người được có nhân tính!

Lời văn là da thịt của cơ thể tác phẩm. Lời văn tiếng cười cũng phải đầy mâu thuẫn, nghịch lý, oái oăm, đầy những tiếng nhại, tiếng mỉa... Thể hiện trước hết ở cách đặt tên truyện, tên chương, tên nhân vật. Chỉ có cái tên ẩn dụ không thể thay thế "Ngựa người và người ngựa" mới làm toát ra được cái ý kiếp người sao mà khổ thế, làm kiếp phu xe (người ngựa) cũng chẳng hơn gì kiếp gái điếm (ngựa người). Thế mà họ lại gặp nhau. Ngẫu nhiên mà hợp lý. Vì trong không gian ấy, hoàn cảnh ấy, họ còn gặp được ai...

Tiếng cười trên sân khấu hài hôm nay yếu do kịch bản chưa tạo ra những mâu thuẫn đích đáng, thiếu tính nổi bật của đời sống xã hội. Trong khi nhận thức của khán/độc giả ngày một cao thì nhiều vở chỉ là cười để mà cười, thiếu tính tư tưởng. Mới chỉ mang tính chọc cười bông lơn vui vẻ, cười xong rồi thôi hơn là sự gây cười trí tuệ sâu sắc, càng ngẫm càng thấy thấm thía, sâu lắng. Xã hội đang rất cần những Tào Mạt, Lộng Chương, Lưu Quang Vũ… những nhà trào phúng lớn!

Chất muối hài mặn mòi luôn là sự kết tinh của những mâu thuẫn đời sống được khúc xạ qua cái nhìn nghệ thuật tiến bộ, nhân văn, được cấu trúc lại thành các tình huống giàu kịch tính trớ trêu, nhầm lẫn, éo le... Kịch bản đuối tay thường dông dài, không tiêu biểu nên thường phải viện nhờ đến yếu tố cái tục.

Phải tìm ra những câu chuyện thật sự đáng cười để kể lại, dựng lại nhằm mục đích phê phán chế giễu từ đó làm bật ra ý nghĩa tích cực làm lành mạnh, trong sạch hóa cuộc sống. Từ xa xưa người ta coi sân khấu có tác dụng "thanh lọc" là theo ý nghĩa đó. Do vậy, kịch bản luôn là khâu quyết định. Tác giả kịch bản phải thực sự tài năng cùng một sự hóa thân vào cuộc đời để nắm bắt những mâu thuẫn bản chất, có "bịa" cũng phải "bịa như thật" tức phải dựa trên lôgic thực tại của cuộc sống. Về hình thức, kịch bản hài phải cô đọng, ngắn gọn, phải có tình tiết, chi tiết hài được giấu kín để làm sao khi "mở nút" bật ra thật bất ngờ kéo theo tiếng cười ngạc nhiên, thích thú, sảng khoái của người xem. Sự dài dòng sẽ làm giảm sự chú ý của khán giả, sân khấu chỉ còn là sự "độn" cảnh, "độn" lời thoại của sự pha trò vặt...

Cái hài luôn mang ý nghĩa xã hội tích cực, có thể tích truyện của ngày hôm qua nhưng tiếng cười phải hướng đến hôm nay để giúp đời tốt hơn, lạc quan, đáng sống hơn... Vì thế diễn xuất phải làm sống động hóa kịch bản, diễn viên phải hiểu thấu ý nghĩa chủ đề, có hiểu đời mới đau đời. Nhân vật Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan càng đau bên trong (vì cha ở nhà đang hấp hối) nên càng diễn xuất sinh động (trên sân khấu) mà hấp dẫn khán giả!

Không phải cứ có tiếng cười là cần đến cái tục, vì cái tục chỉ là một trong nhiều phương tiện, phương thức gây cười. Ngay ở truyện tiếu lâm hay ca dao trào phúng cái tục cũng chỉ xuất hiện khi cần đến sự vạch trần, đả kích, châm biếm đích đáng đối tượng. Sự có mặt của nó còn tùy thuộc chủ đề, hoàn cảnh không gian, nội dung kịch bản, tùy thuộc đối tượng tiếp nhận. "Đônkihôtê" của Xécvantec có cái tục đâu mà sao tiếng cười triết lý, chua chát như thế. Ở ta, tiếng cười của mỹ học Nho gia Nguyễn Khuyến, trước đó là Hồ Xuân Hương rất ít cái tục nhưng sao mà đau đớn đắng đót và tinh tế sâu sắc... Lạm dụng cái tục là hạ thấp và coi thường độc giả!



Nguyễn Thanh Tú






Tranh minh họa hai "thầy trò" Đôngkisốt.

https://hanghieugiatot.com/vai-tro-cua-cai-hai-trong-my-hoc

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2023

Phê bình văn học “cũng lắm công phu”...


Phê bình văn học “cũng lắm công phu”...

Hồng Diệu


Thế đấy! Đụng đến lý luận là mệt lắm! Trích nữa thì còn dài, nhưng cũng không cần thiết, vì tưởng đã quá đủ! Nói phương pháp luận chỉ là “công việc của triết học”, ít nhất cũng chứng tỏ người nói vừa lơ mơ về triết học, vừa lơ mơ về nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học, lại còn khá... liều nữa!

Hội nghị lí luận, phê bình văn học lần thứ 4.


1. Nếu chỉ với một “nghề chơi” thôi, mà cụ Nguyễn Du đã viết trong “Truyện Kiều”:

Nghề chơi cũng lắm công phu thì dễ ngẫm ra rằng nghề nào cũng cần “lắm công phu” cả, huống chi là chuyện phê bình văn học. Đã phê bình văn học, nhất thiết phải bỏ “lắm công phu” vào đấy.

Vấn đề là, có một số cây bút không chuyên về phê bình trong làng văn của ta, kể cả những vị được coi như “cây đa cây đề”, đôi khi vì những lý do khác nhau, đã quên mất điều này, nghĩa là họ chả cần công phu, hay để rất ít công phu vào chuyện phê bình của mình mà vẫn cứ tưởng rằng mình đúng, mình hay! Vì vậy, mới... có chuyện!

2. Ta biết, niêm luật của thơ lục bát thể hiện sự phối thanh của thể thơ này, đã được giới nghiên cứu xác nhận bằng công thức dưới đây:

Câu lục: O B O T O B
Câu bát: O B O T O B O B

Trong đó B là thanh bằng, T là thanh trắc, O có thể thanh bằng, có thể thanh trắc. Xét theo chiều ngang (của từng câu) thì bằng hay trắc thể hiện luật thơ. Xét theo chiều dọc, thì các tiếng ở vị trí 2, 4, 6 của câu lục phải lần lượt “niêm” (dính) với các tiếng ở vị trí 2, 4, 6 của câu bát (bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc).

Các câu lục bát không giữ niêm và luật đã nói thì gọi là lục bát biến thể, hay câu thơ thất niêm, phá niêm.

Đọc hai câu thơ này của Xuân Diệu, có thể thấy cụ thể một phần công thức trên:

Tôi cầm mùi dạ lan hương
Trong tay, đi đến người thương cách trùng

(Tuy nhiên, muốn thấy hết công thức ấy, còn phải so hai câu này với các câu lục bát khác nữa).

Kể ra, chuyện niêm luật của thơ lục bát còn những chỗ tỉ mẩn, lôi thôi, rắc rối. Nhưng hãy dừng lại ở đây, vì vấn đề mà ta sẽ bàn không nằm ngoài mấy điều vừa nói.

Tôi đọc thấy mấy lần nhà thơ Xuân Diệu nói về niêm luật trong thơ lục bát (khi phê phán thơ của mấy nhà thơ trẻ) mà lúc thì bất nhất, khi thì không chính xác. Trong quyển “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam” tập I, Nhà xuất bản Văn học, 1981, Xuân Diệu viết về câu: Trên án sẵn có con dao:

“Đó là câu phá niêm duy nhất trong “Truyện Kiều””.

Đến quyển “Công việc làm thơ”, Nhà xuất bản Văn học, 1984, nhà thơ lại quên điều mình đã viết ấy mà lại viết:

“Trong hơn ba ngàn câu thơ Kiều, Nguyễn Du không lần nào dùng điệu lục bát biến thể”!

Không! “Truyện Kiều” đã có những lần “dùng điệu lúc bát biến thể” và cũng không chỉ có câu “phá niêm duy nhất” như nhà thơ Xuân Diệu nói. Tôi còn thấy ít nhất là ba câu nữa:

- Sao chẳng biết ý tứ gì?
- Đau đớn thay phận đàn bà!
- Tưởng bây giờ là bao giờ

(Xin đối chiếu với công thức đã dẫn).

Thiết tưởng, chỉ cần dụng công một chút thôi, chắc chắn nhà thơ đã không truyền đi cái sai về niêm luật ở trên, mà nhìn ra, đâu có khó!

3. Ít người biết rằng nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977) còn làm thơ. Có điều, thơ ông chỉ làm để tặng bạn bè. Nó cũng mang đặc điểm phong cách ở văn xuôi của ông: Hóm hỉnh, dí dỏm, và... hay. Đại loại như những câu này, trong bài “Năm Dần mừng Tú Mỡ”, viết ngày 15-2-1974:

Năm nọ, anh đi ra nước ngoài,
Về nhà, anh đi ngoài ra nước.
Chẳng hay xúp xiệc xơi thế nào,
Anh phải chữa mãi mới khỏi được.

... Thế rồi Quảng Bá lại Quảng Bá
Thì thọt vào, ra, vào, ra, vào
Tôi đi nghỉ rét lo cho anh.
Chẳng biết ra vào vì thế nào.

Thế nào? Thể lực thoái hay tiến?
Không khéo Bành Tổ phát đơn kiện
Truất chức Thường vụ Hội Nhà văn
Bắt đưa ra Hội Nhà văn... Điển...

Nhà văn Nguyễn Công Hoan lại có những lúc bình luận, tranh luận về thơ nữa. Có điều, ở lĩnh vực này cũng thấy ông đôi ba lúc... sơ hở, như trường hợp này. Bài thơ “Năm mới chúc nhau” (hay là “Chúc Tết”) của Tú Xương có năm khổ thơ, mỗi khổ bốn câu. Bốn khổ trên, các câu đầu thứ tự như sau:

- Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau
- Nó lại mừng nhau cái sự giàu
- Nó lại mừng nhau cái sự sang
- Nó lại mừng nhau đẻ lắm con

Và khổ cuối của bài thơ là:

Bắt chước ai ta chúc mấy lời
Chúc cho khắp hết cả trên đời
Vua, quan, sĩ, thứ người muôn nước
Sao được cho ra cái giống người!

Khác với nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn Nguyễn Công Hoan cho khổ thơ cuối của bài thơ không phải của Tú Xương, mà viết:

“Đọc bốn câu này, ta phải tự hỏi: Tú Xương làm bài thơ chúc Tết này sau ai, mà lại nói là bắt chước”? (Xem: Trần Tế Xương - Về tác gia và tác phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục, 2001, trang 511).

Thật ra, cũng không khó gì mà thấy ở bốn khổ trên, Tú Xương “mời” mọi người “Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau”... Đến khổ cuối, Tú Xương “bắt chước ai”, nghĩa là bắt chước “nó”, những người vừa chúc ở bốn khổ trên, để chúc (theo cách của mình), chả có gì vô lý để phải “tự hỏi” như trên! Nhà văn mới đọc lướt qua, không để thêm công phu mà đọc và nghĩ nữa, mới hỏi một câu... không cần hỏi, như thế!

4. Trường hợp sau đây thì thuộc về một nhà thơ cũng rất quen biết, đang đồng hành với giới văn chương của ta, cho tôi được không nói tên.

Có một cuộc tranh luận nho nhỏ mà khá sôi nổi và bất phân thắng bại về thơ chưa lâu lắm. Do khuôn khổ các tờ báo, thời gian tranh luận không được dài, một số vấn đề khơi ra hồi ấy chưa được bàn, có cả vấn đề rất sơ đẳng.

Tôi lưu ý đến chuyện này: Khi một nhà phê bình... phê một nhà thơ là đã “sai từ một vấn đề có tính chất phương pháp luận nghiên cứu”, thì một nhà thơ khác, chắc là để bênh vực bạn mình, lập tức có một kết luận tưởng chắc như đinh đóng cột rằng, nhà phê bình “đã nhầm giữa phương pháp nghiên cứu văn học với phương pháp luận, là công việc của triết học” (Báo Văn nghệ, số 42, 16-10-1999). Cũng có nghĩa nhà thơ ta muốn nói: Phương pháp luận không phải “công việc” của văn chương, không phải “công việc” của thơ, mà là công việc của triết học (!)

Vậy, ta thử xem, trước hết, các nhà triết học nói gì về vấn đề này.

Trong quyển “Từ điển triết học” do Nhà Xuất bản Sự Thật (Hà Nội) in lần đầu năm 1958, về sau tái bản nhiều lần, trong bản in lần thứ ba (1976) ở trang 753, các nhà triết học giải thích:

“Phương pháp luận:

a) Khoa học về phương pháp, về những phương pháp nghiên cứu; b) Tổng hợp những cách, những phương pháp tìm tòi trong một ngành khoa học nào đó”.

Thế là rõ. Phương pháp luận đụng đến “một ngành khoa học nào đó” nghĩa là không chỉ đụng đến riêng một ngành triết học.

Để thấy rõ hơn nữa, có thể xem quyển “Thuật ngữ nghiên cứu văn học” của Khoa Văn, Trường Đại học Sư phạm Vinh, in năm 1974. Các tác giả định nghĩa: “Phương pháp luận nghiên cứu văn học” là:

“Bộ môn nghiên cứu những phương pháp và những nguyên tắc chỉ đạo sự nghiên cứu văn học. Do sự phát triển của nghiên cứu văn học càng ngày càng tự giác về mặt phương pháp, phương pháp luận nghiên cứu văn học cần được xác lập - và thực tế đã xác lập - thành một bộ môn riêng.

“Phương pháp luận nghiên cứu văn học có quan hệ mật thiết với lý luận văn học. Mỗi quan niệm về lý thuyết văn học đều có tiềm lực phương pháp luận. Mỗi quan niệm lý thuyết được vận dụng vào sự phân tích văn học đều có giá trị phương pháp luận...

“Thuật ngữ này còn được dùng để chỉ toàn bộ những phương pháp cần thiết cho nghiên cứu văn học...” (trang 188)

Lại thấy, sau cuộc tranh luận không lâu, gần như đồng thời xuất hiện hai quyển sách mang cùng một tên: “Phương pháp luận nghiên cứu văn học”; một của Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Văn Dân (2004), một của Giáo sư - Tiến sĩ Phương Lựu (2005).

Ta thử đọc vài dòng ở quyển sách của Nguyễn Văn Dân, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội (2004):

“Bất cứ một ngành hay một bộ môn khoa học nào cũng đều không thể không có phương pháp luận của riêng mình. Và mọi người đều biết rằng, sự phát triển của một ngành khoa học phụ thuộc một phần quan trọng vào sự đóng góp của phương pháp luận nghiên cứu khoa học nói chung và của phương pháp luận nghiên cứu của ngành khoa học đó nói riêng” (trang 9).

“Phương pháp luận nghiên cứu văn học là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu một cách hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo việc thực hành nghiên cứu văn học cũng như nghiên cứu các phương pháp nghiên cứu văn học, phục vụ cho lý luận, lịch sử và phê bình văn học” (trang 42).

Thế đấy! Đụng đến lý luận là mệt lắm! Trích nữa thì còn dài, nhưng cũng không cần thiết, vì tưởng đã quá đủ! Nói phương pháp luận chỉ là “công việc của triết học”, ít nhất cũng chứng tỏ người nói vừa lơ mơ về triết học, vừa lơ mơ về nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học, lại còn khá... liều nữa!

Hồng Diệu



Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2023

Hai bức biếm họa về tết của NGUYỄN CÔNG HOAN


Hai bức biếm họa về tết
của NGUYỄN CÔNG HOAN

Vương Trí Nhàn

Từ ảo tưởng hão huyền
đến cố thây trắng trợn


Hình ảnh méo mó của một lớp người cầm bút tiền chiến

Cái tết của những nhà đại văn hào là tên môt truyện ngắn không có trong các tuyển tập Nguyễn Công Hoan gần đây. Đầu năm Canh Thìn (tức đầu 1940), nhà văn đã viết truyện ngắn này cho một số báo Tết đương thời. Cũng như những Một tin buồn, Báo hiếu trả nghĩa mẹ, Thế là mợ nó đi Tây – cái tên đặt cho thiên truyện có ý nghĩa mỉa mai. Thực chất, nó kể lại một cái tết nhếch nhác thảm hại của mấy người làm nghề cầm bút trước 1945.

Mở đầu thiên truyện là nỗi hí hửng của thi sĩ Vũ.
Đang lo không biết sống sao cho qua mấy ngày tết, anh chợt nghĩ ra một lối thoát: đến ăn chực ở nhà cây bút tiểu thuyết Lê. Nhưng Lê cũng đang trong cảnh túng quẫn. Cả hai bèn nghĩ ra mẹo là rủ nhau nhảy dù đến nhà kịch sĩ Trần. Anh này cũng đang đói nốt, nên nhập ngay với Lê, Vũ, thành một bọn giong tàu điện về ám nhà Nguyễn.
Song nhà Nguyễn cũng không khá gì hơn, vợ Nguyễn đi xoay món nợ khẩn chưa về. Đã tới bước đường cùng cả bọn không còn biết đi đâu thành ở đấy báo vạ. Cho đến sáng mùng một, “Cả nước Nam mà có lẽ cả nước Tàu nữa, nghĩa là một góc địa cầu, đang vui vẻ ăn Tết” thì bốn anh em vẫn “nằm khàn, đắp chăn xù xù, chưa thèm dậy”. Họ chỉ có cách “ăn tết bằng những giấc ngủ ngon lành và nói những chuyện văn chương” cho hết thì giờ.
Từ thiên truyện, cái ý nghĩa đập vào mắt mọi người đã quá rõ. Khi người trí thức kiếm chưa đủ sống, thì không ai có quyền đòi hỏi ở họ lòng tự trọng, chí tiến thủ, nỗi lo đời – cùng là đủ thứ phẩm hạnh cao quý khác. Nhà văn, nhà giáo, nhà báo, nhà nghèo – cái nghèo đã thành gia truyền trong các gia đình trí thức, từ thời Nguyễn Công Trứ (Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch, người quân tử ăn chẳng cần no”) đến thế hệ Tản Đà, Nguyễn Công Hoan…-- vẫn còn nguyên vai trò của nó. Nó là nguồn gốc của bao nhiêu chán chường oán giận thất vọng cay đắng từng đến trong lòng mỗi người. Hơn thế nữa, khôn ngoan đến cửa quan mới biết - giàu có đến ba mươi tết mới hay, cảnh tết “ngủ trừ bữa” của những Vũ, Lê, Trần… ở đây còn làm bộc lộ mấy căn bệnh độc ác đang hoành hành trong giới cầm bút bấy giờ.
Một là tâm lý A.Q, tự mình lừa mình. Trong cảnh khốn quẫn, họ tự an ủi “nghề của mình là nghề cao thượng nhất vì nó thật thà nhất… Mình không như những đứa làm bất cứ nghề gì khác ở xã hội này. ở xã hội này, họ không cần giỏi nghề bằng giỏi khen rắm quan thơm và giỏi nói dối với nói phét” Nghiêm khắc mà xét, phải nói đó là những ý tưởng hàm hồ: chính trong nghề văn không thiếu những kẻ dối trá, nịnh nọt, làm đủ việc độc ác để tiến thân, khiến người ngoài nghề không thể tưởng tượng nổi là có lúc họ đã viết nên bài thơ này cuốn tiểu thuyết nọ.
Nhưng thôi, cứ tạm cho qua. Lúc nghe thi sĩ Vũ bảo: “cái nghèo của nhà văn là cái nghèo thanh cao, cái nghèo đáng trọng, cái nghèo phải ghi vào lịch sử văn học của thế giới”, người ta mới thấy họ đã đi tới cùng của lối tự mê hoặc, tự tạo ra những ảo tưởng hão huyền. Giá Vũ, Lê,Trần là những nhân vật có thực và đến nay còn sống, chắc họ sẽ thấy chả có thứ lịch sử văn học thế giới nào rỗi hơi nhắc tới những cuốn sách nhảm nhí cùng là ghi lại cảnh nghèo túng quẫn bách của họ cả.

Hai là, do đã bị cuộc sống hành cho khốn đốn quá lâu, ở những Vũ, Lê, Trần, Nguyễn này dần dần nảy sinh ra tâm lý cố thây trắng trợn mà họ không tự biết. Đây chính là lời Vũ bàn trên đường “hành quân” đến nhà Nguyễn:
- Được đến đâu hay đến đó. Chúng mình đi đâu mà chết đói được. Nó không có nhà đã có anh em nó tiếp chúng ta. Và nếu không gặp ai, chúng mình cứ vào bừa một nhà nào đó, chẳng lẽ người ta nỡ hất hủi ba nhà đại văn hào à?
Còn đây là lời Nguyễn nói với các bạn.
- Tao tưởng chúng bay đến chơi với tao thì tao mới tiếp. Chứ chúng bay đến chơi với cái bánh chưng nhà tao, thì tao tống cổ bây giờ.
Cái giọng rất phũ ấy, một nhà văn – nếu thật sự là một trí thức – không có quyền nói, dù là nói đùa: ở đây, nhân vật không hoàn toàn đùa, đây là nửa đùa nửa thật! Lại nữa, một câu tuyên ngôn của cả bọn: “Chúng ta là những đại văn hào chúng ta không cần gì hết”. Câu nói thoạt nghe vô thưởng vô phạt, nhưng ngẫm cho kỹ, thấy không được. Tư tưởng của các nhân vật lúc này đã đi gần tới sự hư vô, với họ chúa đã chết không còn gì là linh thiêng phải giữ gìn nữa.
Từ thằng ăn cắp, anh lính gác đến các viên công chức quèn rồi các điền chủ phất lên thành hàn nọ, nghị kia, các quan phủ, quan huyện… nhân vật của Nguyễn Công Hoan thường có một số nét chung: trắng trợn, bất cần, những cách nghĩ của bọn lưu manh. Lúc đầu, nhân danh cái nghèo, họ cho phép mình làm đủ thứ xấu xa, miễn sao sống sót. Về sau đã có danh có lợi rồi, thói quen suy nghĩ của bọn du thủ du thực trộm cắp lừa đảo vẫn còn nguyên trong họ.
Với Cái tết của những nhà đại văn hào, người đọc lại bắt gặp chất lưu manh ấy trong lớp người làm nghề thoạt nghe rất sang trọng là nghề cầm bút. Thật rõ – nhân vật nào của nhà văn ấy. Trong khi mang dấu ấn riêng của Nguyễn Công Hoan, thiên truyện đồng thời phác ra một cách chân thực hình ảnh một lớp trí thức quặt quẹo được hình thành trong xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ này với những căn bệnh vô phương cứu chữa của họ.






Cái nạn mừng tuổi

Câu chuyện mồng một đi chúc tết nhau

Ngòi bút tác giả Oẳn tà roằn vốn nhạy cảm với những gì là phi tự nhiên, éo le, kỳ cục. Trong những sáng tác viết về tết, thói quen ấy vẫn được ông khai thác triệt để. Sở dĩ một thiên truyện như Người ngựa và ngựa người để lại trong bạn đọc cái dư vị chua xót là do nó đã nêu lên một nghịch cảnh mà trong những khi bận rộn tết nhất, người ta ít để ý: ấy là giữa lúc thiên hạ náo nức vui tết với gia đình, có những kẻ vẫn phải lang thang kiếm sống. Và tình thế lại càng thê thảm hơn, khi xảy ra cảnh đò nát đụng nhau, tức là trong cơn tuyệt vọng, hai kẻ khốn khổ đó (ở đây là một phu xe ế hàng và một nhà thổ không bói ra khách) còn lừa lọc nhau, rút cục là người nọ làm khổ người kia, và đứng ngoài nhìn, chúng ta chỉ có cách cười ra nước mắt.
Trong một truyện ngắn mang tên Năm mới tôi mừng ông (in trong một tập sách tết, 1943) Nguyễn Công Hoan lại trình ra một cảnh trớ trêu khác. Lần này, ông lấy một chuyện chính ông đã trải để kể với bạn đọc.
Ấy là một lần, đúng mồng một tết, ông tới thăm nhà một đồng nghiệp dạy học tên là Định. Người này với ông không thật thân nên không mấy khi ông đến chơi. Mà ông lại không nhớ số nhà, chỉ ang áng quãng ấy quãng ấy.
Vào cửa, ông được con sen trong nhà tưởng là khách quen nên mời ngay lên gác để gặp chủ và trong khi đang lên cầu thang, ông được chủ mời làm một chân tổ tôm. Nghe tiếng, đã hơi ngờ ngợ, đến lúc chủ nhà ngẩng mặt lên, mới biết đã vào nhầm nhà, đành xin lỗi quay ra. Lúc ông xuống thang còn nghe chủ nhà mắng đầy tớ:
- Con ranh con, cửa cứ mở toang, ông Hoan đấy chứ, giá là kẻ gian thì có chết không?
Đến nước này, tự nhiên tác giả cảm thấy bẽ bàng vô hạn: “Như bị một phát đạn nữa, tôi vội vàng trút trả miếng trầu và điếu thuốc lá, cút thẳng một mạch”.
Kể ra đây cũng là một tình thế trớ trêu, mà người ta ai cũng có thể gặp, nhất là những khi sơ ý.
Có điều, đằng sau câu chuyện mua vui, cái dụng ý của Nguyễn Công Hoan trong thiên truyện này ở ở chỗ khác. Mặc dù là một người ghét lý luận, lại càng ghét sự dông dài trong khi thuật truyện, song trước khi kể lại cái “kỷ niệm để đời” nói trên, Nguyễn Công Hoan vẫn để ra một đoạn dài gọi là trữ tình ngoài đề mà chúng tôi muốn chép lại đầy đủ như sau:
“Tối ba mươi tết năm ấy, tôi cố xong tất cả các công việc để đến hôm sau, chịu cái tai nạn nó làm mất cả ngày: nạn tiếp bạn đến mừng tuổi và nạn mừng tuổi bạn.
Sự đi mừng tuổi nhau hôm mùng một đầu năm thật là một cái nạn. Còn gì khổ cho bằng phải tiếp những người hoặc đi đến nhà những người quanh năm chẳng gặp nhau lần nào, trừ tết nguyên đán. Chuyện đã chẳng có gì để nói, mà cứ phải cười gượng, nịnh nhau sằng, rồi mắt trước mắt sau chỉ muốn chuồn cho mau đến nhà khác để cũng làm cái công việc nhạt nhẽo ấy. Còn gì dơ dáng cho bằng mình vừa ở nhà một ông bạn chẳng thân gì, đã không có chuyện để nói, mà độ nửa giờ sau, ông bạn ấy đã lại nghễu nghện đến nhà mình cũng chẳng để nói một chuyện gì hơn là để mình khỏi trách là xử quỵt.
Cho nên, ngày mồng một tết, ở nhà nhưng nói dối là đi vắng, tức là đã làm một việc nghĩa rất to tát. Nhiều ông chỉ cần dò xem mình không có nhà lúc nào là đến tót ngay, để quảng lại trên bàn tấm danh thiếp rồi đi cho mau, để lại quẳng vào nhà khác tấm danh thiếp. Đến nhà người ta mừng tuổi mà được chủ đi vắng, nhiều người cho là một sự may.

Vậy mà lối giao thiệp giả dối này lại rất cần cho những chỗ bè bạn sơ sơ. Vì quanh năm chẳng đến nhà nhau, hôm mồng một tết cũng chẳng đoái hoài đến nhau nốt, ấy là tỉnh bằng hữu đi đứt”.
Không chỉ các nhà nghiên cứu mà trước tiên, bản thân Nguyễn Công Hoan đã chú ý tới một nét tiểu sử nó quy định tính cách con người ông. Ấy là ông xuất thân từ một gia đình phong kiến có nền nếp, thứ phong kiến thanh đạm, biết giữ đạo trung dung, và thường có một chút bảo thủ trong cách nhìn nhận sự đời.
Nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh, thì gần như đã thành một quy luật ở ông: “Nếu có quan hệ đối lập giữa nam và nữ thì ông đứng về phía nam. Giữa bố mẹ và con cái thì ông đứng về phía bố mẹ. Giữa vợ cả và vợ lẽ thì đứng về phía vợ cả”.
Thế thì giải thích làm sao cái trường hợp phá cách nói trên, nghĩa là thái độ ngán ngầm ra mặt của ông với một nghi lễ thiêng liêng và phổ biến trong ngày tết? ở đây, chúng ta phải đối chiếu giữa nghi thức và cái cách người ta thường tiến hành nó để cùng nhận chân ra một sự thực:
Nghi thức ra đời và tồn tại là để bảo đảm tính chất trang nghiêm của một buổi lễ.
Trong những quy định đôi khi rườm rà, cổ nhân cốt lưu ý con cháu rằng đây không phải là một chuyện thông thường mà là một dịp đặc biệt. Các nhà nghiên cứu về Nho giáo thường nói lễ là để bày tỏ cái thành ý, kính ý. Trong cuốn sách viết về Khổng Tử, từ con mắt nhìn của con người hiện đại, Nguyễn Hiến Lê cũng nhấn mạnh “các nghi thức mà ngày nay chúng ta cho là phiền phức chính là có mục đích phát dương những tình cảm đôn hậu của ta”.
Tuy nhiên, là một sản phẩm của lịch sử, nghi thức cũng không tránh khỏi một tình trạng mà ngày nay, ta gọi là sự tha hoá, tức là hình thức không đi kèm với nội dung, và ở một số người trong một số trường hợp, sự cảm động thiêng liêng càng ít thì nghi thức càng trở nên cầu kỳ rắc rối. Nghi thức trong những ngày tết cũng không tránh khỏi sự biến dạng đó. Sự thực này không lọt khỏi con mắt quan sát tinh quái của Nguyễn Công Hoan. Trong ông không chỉ có con người trọng lễ giáo mà còn có con người thực sự cầu thị, chán ghét mọi chuyện phi tự nhiên, giả dối, cho nên ông đã lên tiếng. Mà khi đã nói, thì ông nói khá phũ, đến mức như là hơi trắng trợn nữa.
Về phần mình, giờ đây đọc lại thiên truyện, chúng tôi cho rằng một mặt nghi thức rất cần, bao giờ cũng cần, mặt khác, những gì quá ư cầu kỳ mà lại vô bổ nên được xem xét lại. Và nhất là trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không nên tiến hành nghi thức một cách giả tạo.
Với lối nói có phần cực đoan của mình trong thiên truyện nói trên, Nguyễn Công Hoan còn kể là ông chia bạn bè ra làm bốn loại:
“Hạng nhất là các bạn quen xoàng hoặc hay giận
Hạng nhì là các bạn quen xoàng nhưng đại lượng.
Hạng ba là các bạn thân vừa
Hạng bét là các bạn thân”.
Và mỗi năm ngày mùng một tết ông cư xử như sau:
”Tôi chỉ cần đi chúc tết các bạn hạng nhất, còn từ hạng nhì trở đi, không tết năm nào tôi xử lại sòng phẳng”.
Chúng tôi chép đoạn văn này ra đây, không phải để… khuyện bạn đọc làm theo, mà là để bạn đọc tham khảo và tìm ra cách đi chúc tết tốt nhất và phù hợp nhất với bản thân.





Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2023

Đêm cuối năm thương xót những phận người


Đêm cuối năm thương xót những phận người

Nguyễn Văn Luyện
(Giáo viên Trường THPT Hậu Lộc 4 – Thanh Hóa)


GD&TĐ - Thời khắc Giao thừa giữa năm mới và năm cũ, người người hân hoan tống cựu nghinh tân, những mong nàng xuân vui gõ cửa, nhà nhà đoàn tụ ấm êm.

Song đâu đó, còn ẩn khuất những cảnh đời trôi nổi, xót đau, ước mong sum vầy chỉ như món quà xa xỉ. Đọc lại câu chuyện về phận người “Tối ba mươi” của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam gần trăm năm về trước, nhân gian vẫn khắc khoải niềm thương, chan chứa những niềm đau.

Kiếp người ngựa
Danh thơm của Nguyễn Công Hoan tỏa sáng trên văn đàn từ những năm 30 của thế kỉ XX. Trong công cuộc hiện đại hóa văn học dân tộc, Nguyễn Công Hoan thuộc thế hệ mở đường, đặt những viên gạch đầu tiên, vững chắc cho sự phát triển bền vững về sau, nhất là văn xuôi. Nhắc đến ông, người ta nhắc đến một bậc thầy về truyện ngắn của văn học Việt Nam hiện đại.

Thế giới truyện ngắn Nguyễn Công Hoan tựa như một bức tranh đa diện về những trò đời tréo ngoe, cười đấy mà cay xót khôn nguôi cho kiếp nhân sinh. “Báo hiếu trả nghĩa cha”, “Báo hiếu trả nghĩa mẹ”, “Đồng hào có ma”, “Mất cái ví”, “Tinh thần thể dục”, “Kép Tư Bền”… là những tác phẩm hay, in đậm phong cách truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, mỗi truyện gắn với tình huống trào phúng bất ngờ, người ta phá lên cười, song ngẫm lại đau xót thương tâm bởi nghịch cảnh éo le, nghĩa nhân đảo lộn.

Đọc truyện ngắn “Ngựa người và người ngựa” của Nguyễn Công Hoan, tôi băn khoăn tự hỏi, chẳng biết trong cái đêm ba mươi trớ trêu ngày xưa ấy, anh phu xe hay cô gái “ăn sương” mới là người đen đủi, không may? Suy đi ngẫm lại, chỉ biết rằng kẻ khốn, gặp người khổ, bi đát gặp nhau, cay đắng xiết bao. Ngòi bút hiện thực giúp nhà văn vẽ nên những cảnh đời cùng quẫn, cơ hàn trong xã hội thực dân phong kiến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Mỗi trang văn, một kiếp người, ai cũng khốn khổ như ai.

Phận người ngựa lắm nỗi gian truân, anh phu xe gia cảnh thật trớ trêu, gánh nặng mưu sinh đè xuống cái lưng còng của gã đàn ông còm cõi mới thoát chết sau một trận ốm. “Bao nhiêu tiền của dành dụm trong bấy lâu, sạch sành sanh cả”, thành thử, túng phải tính, mệt vẫn phải cố, anh cố “vay cái vốn để đi mua xe, kiếm bữa gạo ăn Tết”. Bởi thế, “tám giờ tối ba mươi Tết”, anh phu xe vẫn lang thang hết phố nọ, phố kia. Phường phố vắng vẻ, nhà nhà đóng cửa, gã kéo xe “đói” khách, từ chiều đến đêm mới được “hai hào chỉ”.

Dù cho “khách áo gấm, áo nhung đi nhan nhản ở đường”. Song, mời mỏi miệng cũng chả có ai lên xe, anh phu xe “lo méo mặt mấy hào bạc gạo ngày mai không xong”, tiếng thở dài ngán ngẩm sao mà chua xót. Phận đời bấp bênh tội nghiệp biết bao. Buồn ngủ, gặp chiếu manh, phận “ngựa người” gặp thân “người ngựa”, ngỡ may mà hóa rủi, phận hẩm duyên ôi, nhọc thân mà lại mất thêm tiền. Đúng là đã rách lại thêm nát, túng còn thêm thiếu, hi vọng chưa kịp nhen, vụt tan như bong bóng xà phòng.

Lầm lũi trong đêm, lê bước nhọc nhằn, anh xe “phấn chấn” trong lòng nghĩ đến cái “doanh thu” đêm cuối năm: “Mười lăm phút nữa, mình sẽ có sáu hào. Sáu hào với hai hào là tám. Thế nào ta cũng nài thêm bà ấy mở hàng cho một hào nữa là chín. Chín hào. Mở hàng ngay vào lúc năm mới vừa đến. Thật là may! Năm mới đã phát tài!”. Nhà văn rất khéo mở ra cho anh phu xe nghèo khổ viễn cảnh thì thoáng chốc, anh ta rơi vào thảm cảnh: Mất trắng.

Câu nói của ả “ăn sương”: “Cảnh tôi cũng như cảnh anh, cũng là đi kiếm khách cả. Nhỡ phải một tối thế này, thì chịu vậy, chứ biết làm thế nào?” phơi bày sự thật, và khép lại đêm ba mươi đen đủi của anh kéo xe bằng cú lừa ngoạn mục. Vào nhà săm cửa trước, cô ả chuồn cửa sau, anh xe bị quỵt tiền, năm mới chưa kịp phát tài, chỉ thêm phát khổ, tay trắng rồi lại trắng tay. Thảm thương cho kiếp cu li, chẳng biết sau khi “móc túi lấy bao diêm đốt vía”, phận nghèo còn đeo đuổi anh không? Viết về phận “ngựa người”, sau tiếng cười vẫn là nỗi đau đời, thương đời của người cầm bút.

Người ta khổ, song còn một chốn để về thì chưa phải cùng đường. Anh phu xe trắng tay, đen đủi bị quỵt tiền nhưng còn vợ, còn con để sum họp đoàn viên dù đói nghèo túng thiếu. Cô ả “ăn sương”, kiếp “người ngựa” mới bi đát, khốn cùng. Chẳng biết, sau hành động vào nhà săn cửa trước, trốn cửa sau, cô ả sẽ đi đâu, về đâu? Vất vưởng, trôi dạt, chìm sâu trong tủi nhục, đắng cay? Bởi thế, phận “ngựa người” khổ, song kiếp “người ngựa” mới tủi nhục, đáng thương hơn gấp bội phần.

Đêm ba mươi, tiếng pháo đì đùng, nhà nhà đón Tết, cô gái phải đi kiếm ăn mà ế chỏng ế chơ, hết phố nọ, sang phố kia mà xôi hỏng, bỏng không, chẳng ma nào tìm đến. Cũng phải, đêm trừ tịch, ai đời nào lại tìm đến “món hàng” này để vui xuân. Kì thực, cô gái “ăn sương” này không định quỵt tiền của anh phu xe. Cô mong gặp khách, kiếm tiền để trả tiền. Chẳng may, gặp cái tối “xúi quẩy” đành trơ mặt, vậy thôi. Bất đắc dĩ, “con ngựa người, kéo con người ngựa”, con “người ngựa” không ai đoái hoài, khốn khổ như nhau, nên thành kẻ lọc lừa.

Mỗi trang văn, một cảnh đời, ngòi bút chân thực của Nguyễn Công Hoan đưa người đọc khám phá mảng tối của xã hội thị dân trước cách mạng, ở đó những kiếp “người ngựa - ngựa người” cứ lầm lũi trong đêm, tội nghiệp xót xa. Tiếng cười trào phúng bật lên ngay từ nhan đề, kết hợp với cách kể khôi hài, người đọc tủm tỉm cười, song ngẫm ngợi vẫn thương cảm, nhói đau. “Tiếng pháo chào xuân nối đuôi nhau đùng đùng, toạch toạch...”, anh phu xe “nghiến răng, cau mặt, thủng thẳng dắt xe đi”, cô gái bán hoa lẩn khuất nơi nào? Cuộc đời khổ nhục của kiếp người ngựa, ngựa người luôn ám ảnh trong ta mỗi độ xuân sang.

Một trong những tác phẩm kinh điển của nhà văn Nguyễn Công Hoan.
Phận tha hương
Văn chương khơi nguồn từ trái tim sẽ đi đến những trái tim, người đọc sẽ nhớ mãi không quên. Hơn ba mươi tuổi đời, vẻn vẹn sáu năm cầm bút, những truyện ngắn khơi nguồn từ trái tim của Thạch Lam mang vẻ đẹp riêng, lãng mạn mà vẫn rất đời, chan chứa niềm thương, niềm đau. Dõi theo những thiên truyện của cây bút biệt tài, người ta mến yêu “Hai đứa trẻ”; cảm phục “Gió lạnh đầu mùa”; say mê “Dưới bóng hoàng lan”; cảm kích với “Cô hàng xén”... Với tôi, mỗi truyện đều có dư vị riêng, song ấn tượng vẫn là “Tối ba mươi”, câu chuyện giản dị mà ám ảnh về phận người tha hương trong thời khắc Tết đến, xuân về.

Ngẫm về thiên chức của người cầm bút, ai đó đã sẻ chia một quan niệm chí tình, chí lí: “Nhà văn có thể viết về bóng tối, nhưng từ bóng tối phải hướng đến ánh sáng”. Thiên truyện diễn ra trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, đêm ba mươi; không gian là một căn buồng nhà “săm”, ẩm ướt, nhếch nhác, bẩn thỉu, ô uế: “Cái giường sắt lạnh, đệm và gối hoen bẩn, cái thau gỉ, cái bô, và cái bàn gỗ rửa mặt gỗ đã mọt”.

Đó là khung cảnh của cuộc đời trụy lạc của hai cô gái bỏ quê, lên phố sống đời tha hương, Huệ và Liên. Đêm cuối năm, quãng phố hẹp vắng teo, cái se lạnh của ngoài trời thấm cả vào lòng người, “ngoài đường trời hẳn còn mưa, mưa buồn rầu và âm thầm trong bóng tối”, hai cuộc đời trơ trọi bám víu nhau trong nỗi hờn tủi, đắng cay.

Mỗi người một cảnh, họ vùi chôn đời mình trong cảnh ngộ tha hương. Huệ, mẹ chết, cha lấy vợ khác, không biết ở đâu, bảy tám năm không về làng, đêm cuối năm nàng vùi mình vào giấc ngủ trong căn buồng nhà “săm” lạnh lẽo. Đôi mắt “lờ đờ”, “nét mặt mệt mỏi”, “chút nước mắt rơm rớm ở hàng mi” của Huệ gợi bao nỗi ưu tư, “tâm hồn u ám, nặng trĩu”, cuộc đời “trụy lạc” rồi sẽ đi đâu, về đâu? Có nơi đi chẳng còn chốn trở về, kí ức đẹp nhất với Huệ còn lại chỉ là chút kí ức buổi sáng mồng một Tết năm nào, nàng không nhớ rõ.

Trong truyện, Huệ khổ, Liên thậm chí khổ hơn, “còn cha mẹ nhưng không dám về”. So với vẻ “bất cần” của Huệ, Liên chu tất, mạnh mẽ hơn, mấy thứ đồ ăn mua vội mua vàng ngoài phố chống đói cho mấy ngày Tết, sửa soạn cúng Giao thừa, an ủi động viên Huệ… nhưng cố tỏ ra can đảm thì lại càng mềm yếu, gắng gượng vượt lên cay đắng lại dưng đầy.

Với Liên, khoảnh khắc “tiến đến bàn thờ, đứng yên”, nghẹn ngào “biết khấn sao bây giờ” quả là một chi tiết nghệ thuật đắt giá. Thạch Lam thật tinh tế phát hiện chuyển biến tinh vi trong tâm hồn Liên: “Nàng bỗng nấc lên, rung động cả vai rồi gục xuống ghế, tay ấp mặt. Những giọt nước mắt nóng chảy tràn mi mắt, nàng không giữ được; Liên cảm thấy một nỗi tủi cực mênh mang tràn ngập cả người, một nỗi thương tiếc vô hạn; tất cả thân thể nàng lướt hiện qua trước mắt với những mong ước tuổi trẻ, những thất vọng chán chường”.

Tiếng khóc tủi hờn, tiếng khóc thổn thức, tiếng khóc đắng cay của một kiếp tha hương, sống trong nhục nhã ê chề. Tiếng khóc tiếc cho mong ước tuổi trẻ đã vùi chôn, tiếng khóc cho năm mới, và cả những tháng ngày trước mắt nổi chìm, phiêu dạt. Đặc biệt, tiếng khóc ấy trở thành “Sợi tóc” mong manh níu giữ phần thiện, phần lương tri còn sót lại của cô gái giang hồ bán thân nuôi miếng. Xót đau cùng tiếng khóc của Liên, của Huệ trong đêm ba mươi đượm buồn, lạnh lẽo, bất chợt tôi nhớ đến cái “giật mình mình lại thương mình xót xa” của nàng Kiều “khi tỉnh rượu lúc tàn canh” trong kiệt tác của Nguyễn Du.

Thì ra, con người dẫu cùng cực, dẫu trôi nổi, muôn đắng ngàn cay thì phần Người vẫn sẽ còn vương sót, thiên tâm có thể bị vùi chôn nhưng không thể biến đi. Quan trọng là hoàn cảnh, cuộc sống có đủ khả năng lay tỉnh, giữ vững thiện lương của con người hay không?

Viết về phận đời tha hương của hai cô gái nhà quê bỏ lên phố sống đời “trụy lạc”, ngòi bút nhân đạo của Thạch Lam đâu chỉ cảm thương, mà quan trọng hơn nhà văn đã gửi gắm một niềm tin bất diệt vào bản tính lương thiện của con người. Niềm tin đó giúp ông phát hiện, tìm được ánh sáng trong “Những linh hồn chết”.

Kí ức về “căn nhà ấm cúng và sáng đèn, then cửa cài chặt, mọi người trong nhà đang tấp nập sửa soạn đón năm mới trong sự thân mật” của Huệ, giọt nước mắt tủi cực của Liên… sẽ mãi mãi là “thanh âm trong trẻo” giữa cuộc đời chìm nổi, tối tăm. Sinh thời, Thạch Lam chiêm nghiệm: “Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường”.

Với truyện ngắn “Tối ba mươi”, dường như nhà văn đã hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng của người cầm bút. Viết về bóng tối, ông hướng con người khổ tìm đến ánh sáng, lay tỉnh tâm hồn, đánh thức lương tri. Câu chuyện về Huệ, về Liên khép lại, nhân gian hiểu thấu bài học sâu sắc, đừng buông thả, đánh mất mình để không bao giờ rơi vào nghịch cảnh trớ trêu, nước mắt sẽ không rơi trong khoảnh khắc nhói đau.

Trang văn rất đời và rất tình
Xuân đang gõ cửa muôn nơi, lòng người hân hoan cùng mai đào khoe sắc. Đọc truyện của hai cây bút “Vang bóng một thời”, ta thầm nghĩ về sức sống bất diệt của văn chương chân chính.
“Văn chương có loại đáng thờ và không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”
(Nguyễn Văn Siêu).

Có thể khẳng định, những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam đích thực là áng văn chân chính “đáng thờ”, bởi những câu chuyện rất đời, rất tình đó đâu chỉ cần cho hôm qua, hôm nay, mà còn cả mai sau. Góp vào vườn hoa muôn sắc của nền văn học đầu thế kỉ XX, những truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan, truyện ngắn trữ tình giàu chất thơ của Thạch Lam mãi để thương để nhớ trong trái tim người đọc, góp phần vang danh những cây bút tài năng của nền văn học Việt Nam hiện đại.

Cuộc sống luôn là một bức tranh đa diện, bóng tối đồng hành cùng ánh sáng; no đủ, an vui đi bên cực nhọc, đắng cay. Những kiếp “người ngựa - ngựa người”, phận tha hương vẫn ẩn khuất đâu đây trên vạn dặm đường đời. Chỉ mong, sự đời đổi thay, nhân sinh nước mắt vơi đi, nụ cười nhiều lên cho đong đầy hạnh phúc. “Ngoài kia pháo hoa rộn khắp nơi. Cùng nhau đón Giao thừa đang tới. Bình minh vẫy tay chào ngày mới. Trong con tim tôi nghe những yêu thương tràn về...”.


Nguyễn Văn Luyện







Những tác phẩm kinh điển của nhà văn Nguyễn Công Hoan.

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2023

Nhà văn Nguyễn Công Hoan và truyện ngắn “Cái tết của những nhà đại văn hào”


Nhà văn Nguyễn Công Hoan và truyện ngắn
“Cái tết của những nhà đại văn hào”

Nguyễn Trường Văn

(HNM) - Trong sự nghiệp văn học đồ sộ của nhà văn Nguyễn Công Hoan có một tác phẩm mà tiêu đề nghe hài hài và liên quan đến Tết: Đó là truyện ngắn “Cái tết của những nhà đại văn hào”.


Truyện được viết vào đầu năm Canh Thìn (1940), theo đơn đặt hàng của một tờ báo Tết. Thời kỳ này, con đường văn chương của Nguyễn Công Hoan gặp nhiều trắc trở. Trước đó, năm 1938, nhà văn cho xuất bản tiểu thuyết “Bước đường cùng”. Sau khi sách phát hành được ít tháng thì có lệnh cấm lưu hành, thoạt đầu ở Bắc kỳ, rồi tới Trung kỳ và Nam kỳ. Ngày 29-9-1939, Nguyễn Công Hoan bị bắt ngay trên bục giảng, bị giải sang Sở Mật thám Nam Định để tống giam. May nhờ sự can thiệp của Đảng Xã hội Pháp nên nhà văn được tại ngoại. Cũng trong năm đó, Nguyễn Công Hoan viết tiểu thuyết “Cái thủ lợn” bị cấm in. Một loạt các truyện ngắn ông viết sau đó như “Êu êu Mê đo”, “Hồi còi báo động”, “Công dụng của cái miệng”... đã bị kiểm duyệt xóa bỏ gần hết. Tiếp đó, ông bị treo bút.

Nhắc vậy để thấy bối cảnh xuất hiện của “Cái tết của những nhà đại văn hào”. Năm Canh Thìn ấy, ngoài truyện ngắn nhắc tới trên, Nguyễn Công Hoan cũng chỉ sáng tác thêm vài ba truyện ngắn nữa (không như năm 1938, ông viết tới gần ba chục truyện ngắn).

Truyện kể về mấy anh văn sĩ nghèo kiết xác, người nọ tính đến nhà người kia ăn tết, thế rồi xoay qua xoay lại, cuối cùng họ quyết định tìm đến nhà văn sĩ Nguyễn “ăn chực”, vì tin rằng, văn sĩ Nguyễn là người “có lương của Nhà nước”, trong năm lại xuất bản được nhiều sách, chắc tiền nong dư dả, đủ “bao” anh em một cái tết. Ai dè khi họ đến thì văn sĩ Nguyễn đang trong thảm cảnh phải cho vợ chạy đôn chạy đáo vay tiền trả nợ nếu không muốn bị người ta kiện ra tòa.

Tuy rốt cuộc các “đại văn hào” (cách mà mấy anh em văn sĩ đùa vui gọi nhau) cũng được gia chủ đồng ý cho ở lại ăn tết với mình, song với điều kiện là chỉ bao khoản... ngủ.
Vậy là, các “đại văn hào” Việt Nam đã trải qua một trong những cái tết bi hài nhất trong cuộc đời họ: Trong khi ở làng, người dân quê đã diện quần áo mới, đội khăn mới, đi giày mới để đến nhà nhau chúc tết thì họ vẫn nằm tùm hum trong bóng tối mà bàn luận về thân phận người nghệ sĩ, những người “góp tâm trí vào cho cái Tết của thiên hạ thêm vui”, trong khi bản thân thì “phải nằm khàn, đắp chăn xù xù”, “ăn cái tết tinh thần”.

Truyện “Cái tết của những nhà đại văn hào” mang âm hưởng buồn nhiều hơn vui. Truyện đưa ra nhiều câu bình luận nghe vừa châm biếm hài hước nhưng cũng đủ khiến độc giả hiểu và thương cảm cho thân phận của nhân vật - những người mà độc giả cứ ngỡ là cao sang, quyền quý, trong khi thực chất đến tiền đi xe điện vài kilômét mà cũng không đủ, buộc phải rảo cẳng bách bộ. Khổ là vậy song họ luôn tìm cách “trấn an”, “động viên” mình bằng những câu đại loại như: “Cái nghèo của nhà văn là cái nghèo thanh cao, cái nghèo đáng trọng, cái nghèo phải ghi vào lịch sử văn học của thế giới”, “sau khi chết, nhà văn còn bất tử”. Ở đây, cũng cần nói thêm, không rõ các nhân vật trong truyện ngắn “Cái tết của những nhà đại văn hào” phát biểu điều gì “phạm thượng” mà trong truyện ngắn nói trên, có một số đoạn bị mất chữ và được chú thích là “do Ty kiểm duyệt Pháp xóa”. Ngày nay, so với thời của Nguyễn Công Hoan, cuộc sống thay đổi nhiều. Song về cơ bản thì so với nhiều thành phần khác, các văn nhân thi sĩ vẫn thuộc lớp người gặp khó khăn, nhất là khi chế độ nhuận bút hầu như chỉ mang tính tượng trưng.



Nguyễn Trường Văn



Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2023

Về Cái tết của những nhà đại văn hào


Về “Cái tết của những nhà đại văn hào”

hải đăng


(Hình ảnh một lớp người cầm bút tiền chiến qua truyện ngắn “Cái tết của những nhà đại văn hào” của Nguyễn Công Hoan)


Đầu năm Canh Thìn (tức đầu 1940), Nguyễn Công Hoan đã viết truyện ngắn “Cái tết của những nhà đại văn hào” này cho một số báo Tết. Cũng như những Một tin buồn, Báo hiếu trả nghĩa mẹ, Thế là mợ nó đi Tây - cái tên đặt cho thiên truyện có ý nghĩa mỉa mai. Thực chất, nó kể lại một cái tết nhếch nhác thảm hại của mấy người làm nghề cầm bút trước 1945.
Mở đầu thiên truyện là nỗi hí hửng của thi sĩ Vũ. Đang lo không biết sống sao cho qua mấy ngày tết, anh chợt nghĩ ra một lối thoát: đến ăn chực ở nhà cây bút tiểu thuyết Lê. Nhưng Lê cũng đang trong cảnh túng quẫn. Cả hai bèn nghĩ ra mẹo là rủ nhau nhảy dù đến nhà kịch sĩ Trần. Anh này cũng đang đói nốt, nên nhập ngay với Lê, Vũ, thành một bọn giong tàu điện về ám nhà Nguyễn. Song nhà Nguyễn cũng không khá gì hơn, vợ Nguyễn đi xoay món nợ khẩn chưa về. Đã tới bước đường cùng cả bọn không còn biết đi đâu thành ở đấy báo vạ. Cho đến sáng mùng một, “cả nước Nam, mà có lẽ cả nước Tàu nữa, nghĩa là một góc địa cầu, đang vui vẻ ăn Tết” thì bốn anh em vẫn “nằm khàn, đắp chăn xù xù, chưa thèm dậy”. Họ chỉ có cách “ăn tết bằng những giấc ngủ ngon lành và nói những chuyện văn chương” cho hết thì giờ.
Từ thiên truyện, cái ý nghĩa đập vào mắt mọi người đã quá rõ. Khi người trí thức kiếm chưa đủ sống, thì không ai có quyền đòi hỏi ở họ lòng tự trọng, chí tiến thủ, nỗi lo đời - cùng là đủ thứ phẩm hạnh cao quý khác. Nhà văn, nhà giáo, nhà báo, nhà nghèo - cái nghèo đã thành gia truyền trong các gia đình trí thức, từ thời Nguyễn Công Trứ (Ngày ba bữa, vỗ bụng rau bình bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no” ) đến thế hệ Tản Đà, Nguyễn Công Hoan vẫn còn nguyên vai trò của nó. Nó là nguồn gốc của bao nhiêu chán chường oán giận thất vọng cay đắng từng đến trong lòng mỗi người. Hơn thế nữa, khôn ngoan đến cửa quan mới biết - giàu có đến ba mươi tết mới hay, cảnh tết “ngủ trừ bữa” của những Vũ, Lê, Trần... ở đây còn làm bộc lộ mấy căn bệnh độc ác đang hoành hành trong giới cầm bút bấy giờ.
Một là tâm lý A.Q, tự mình lừa mình. Trong cảnh khốn quẫn, họ tự an ủi “nghề của mình là nghề cao thượng nhất vì nó thật thà nhất... Mình không như những đứa làm bất cứ nghề gì khác ở xã hội này. Ở xã hội này, họ không cần giỏi nghề bằng giỏi khen rắm quan thơm và giỏi nói dối với nói phét”. Nghiêm khắc mà xét, phải nói đó là những ý tưởng hàm hồ: chính trong nghề văn không thiếu những kẻ dối trá, nịnh nọt, làm đủ việc độc ác để tiến thân, khiến người ngoài nghề không thể tưởng tượng nổi là có lúc họ đã viết nên bài thơ này cuốn tiểu thuyết nọ.

Nhưng thôi, cứ tạm cho qua. Lúc nghe thi sĩ Vũ bảo: “cái nghèo của nhà văn là cái nghèo thanh cao, cái nghèo đáng trọng, cái nghèo phải ghi vào lịch sử văn học của thế giới”, người ta mới thấy họ đã đi tới cùng của lối tự mê hoặc, tự tạo ra những ảo tưởng hão huyền. Giá Vũ, Lê,Trần là những nhân vật có thực và đến nay còn sống, chắc họ sẽ thấy chả có thứ lịch sử văn học thế giới nào rỗi hơi nhắc tới những cuốn sách nhảm nhí cùng là ghi lại cảnh nghèo túng quẫn bách của họ cả.
Hai là, do đã bị cuộc sống hành cho khốn đốn quá lâu, ở những Vũ, Lê, Trần, Nguyễn này dần dần nảy sinh ra tâm lý cố thây trắng trợn mà họ không tự biết. Đây chính là lời Vũ bàn trên đường “hành quân” đến nhà Nguyễn: - Được đến đâu hay đến đó. Chúng mình đi đâu mà chết đói được. Nó không có nhà đã có anh em nó tiếp chúng ta. Và nếu không gặp ai, chúng mình cứ vào bừa một nhà nào đó, chẳng lẽ người ta nỡ hất hủi ba nhà đại văn hào à? Còn đây là lời Nguyễn nói với các bạn. - Tao tưởng chúng bay đến chơi với tao thì tao mới tiếp. Chứ chúng bay đến chơi với cái bánh chưng nhà tao, thì tao tống cổ bây giờ.
Cái giọng rất phũ ấy, một nhà văn - nếu thật sự là một trí thức - không có quyền nói, dù là nói đùa; ở đây, nhân vật không hoàn toàn đùa, đây là nửa đùa nửa thật!
Lại nữa, một câu tuyên ngôn của cả bọn: “Chúng ta là những đại văn hào chúng ta không cần gì hết”. Câu nói thoạt nghe vô thưởng vô phạt, nhưng ngẫm cho kỹ, thấy không được. Tư tưởng của các nhân vật lúc này đã đi gần tới sự hư vô, với họ chúa đã chết không còn gì là linh thiêng phải giữ gìn nữa. Từ thằng ăn cắp, anh lính gác đến các viên công chức quèn rồi các điền chủ phất lên thành hàn nọ, nghị kia, các quan phủ, quan huyện... nhân vật của Nguyễn Công Hoan thường có một số nét chung: trắng trợn, bất cần, đạp lên đạo lý mà sống ... tóm lại những cách nghĩ của bọn lưu manh. Lúc đầu, nhân danh cái nghèo, họ cho phép mình làm đủ thứ xấu xa, miễn sao sống sót. Về sau đã có danh có lợi rồi, thói quen suy nghĩ của bọn du thủ du thực trộm cắp lừa đảo vẫn còn nguyên trong họ.
Với “Cái tết của những nhà đại văn hào”, người đọc lại bắt gặp chất lưu manh ấy trong lớp người làm nghề thoạt nghe rất sang trọng là nghề cầm bút. Thật rõ - nhân vật nào nhà văn ấy. Trong khi mang dấu ấn riêng của Nguyễn Công Hoan, thiên truyện đồng thời phác ra một cách chân thực hình ảnh một lớp trí thức quặt quẹo được hình thành trong xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ này với những căn bệnh vô phương cứu chữa của họ.

Trích từ Chuyện cũ văn chương NXB Văn học, H.2001

hải đăng



Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2022

Nhớ Về Một Thuở




Nhớ Về Một Thuở

Nguyễn Công Hoan


Số lượng các nhân vật được đề cập đến trong tác phẩm là khá lớn từ Toàn quyền Pháp đến vua quan ta, những tay tư sản Pháp hay tư sản người Việt, các chủ nhà in, các nhà văn, nhà thơ đương thời, các nghệ sĩ… cho đến thằng ăn cắp, người đi đòi nợ thuê.
Nhà văn dành một số trang để nói về doanh nhân Bạch Thái Bưởi, luật sư Phan Văn Trường, dịch tả ở Hà Nội hè năm 1914, chuyện năm 1918 đường Cổ Ngư (Thanh niên) vẫn thắp đèn dầu hỏa, nạn vỡ đê Gia Lâm các năm từ 1924 đến 1926, tên một số đường phố thời người Pháp cai trị, hội Khai Trí Tiến Đức, hiệu mũ Hai Chinh, trang phục thời kỳ này…
Qua tác phẩm, bạn đọc biết rạp chiếu bóng đầu tiên của Hà Nội là rạp ở phố Hàng Quạt. Rồi đến rạp Pathé Frères ở miếng đất sát đền Bà Kiệu, sau đó là rạp Palace ở Tràng Tiền giá vé đắt hơn vì sang hơn.
Vở kịch nói đầu tiên của Việt Nam "Chén thuốc độc" do Vũ Đình Long, chủ nhà in, nhà xuất bản Tân Dân và nhiều tờ báo có tiếng ở Hà Nội lúc bấy giờ viết và đăng trên tạp chí "Hữu thanh" năm 1921. Hồi Nguyễn Công Hoan còn đi học, phố Hàng Giấy còn là phố cô đầu, các cô đầu sau mới chuyển xuống phố Khâm Thiên. Phố Phùng Hưng, nhà số 25 chuyên cho thuê nhà làm đám cưới những đôi vợ chồng mà chồng người quê vợ người Hà Nội, chuyện nghĩa trang Hợp Thiện… Chuyện về Hà Nội của tác giả trong tác phẩm còn rất nhiều và không thể kể hết trong khuôn khổ một bài giới thiệu.

Nhớ Về Một Thuở
NXB Hà Nội 1993
Nguyễn Công Hoan
178 Trang
File PDF-SCAN
Link download
http://183.91.2.157/opac/wpDetail.aspx?Id=167






Mời đọc và lấy về bản PDF


Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2022

Nhớ gì ghi nấy




Nhớ gì ghi nấy

Nguyễn Công Hoan


Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: Cô Vân

Mời nghe đọc tại YouTube - #nguyenconghoan
Diễn đọc: Cô Vân

Định làm việc này từ lâu, gọi là Nhớ Gì Ghi Nấy. Nhưng hễ sực nhớ được việc, cảnh, người cũ (mà ngày trước chưa đưa vào các truyện ngắn truyện dài), thì lại không ghi. Vì cho là chỉ phải viết có dăm mươi dòng, mà cũng phải đi tìm giấy bút thì ngại. Cho nên lại để cái sực nhớ thoảng qua đi. Từ hôm nay, quyết làm việc này. Và nhất định có những việc viết hai lần. Những sự kiện in vào óc lúc tuổi trẻ thì nhớ được lâu. Những việc làm lúc tuổi già thì dễ quên.
Ngày 14-3-1970     
Hoan            

Nhớ Gì Ghi Nấy

NXB Hội Nhà Văn 1998
Nguyễn Công Hoan
771 Trang
File PDF-SCAN

Link download
http://183.91.2.157/opac/wpDetail.aspx?Id=703



Mời đọc bản PDF tại:
THƯ VIỆN HÀ NỘI

Nhà văn Lê Minh, người con gái út của nhà văn Nguyễn Công Hoan kể, hồi ấy, căn buồng ở 66 Thợ Nhuộm quá chật, ông thường sang nhà bà ở 72 Lý Thường Kiệt để viết. Có hai cuốn sách được cha bà viết trong thời gian này, đó là cuốn "Hỏi chuyện các nhà văn", cuốn thứ hai là "Nhớ gì ghi nấy".
Cuốn sách với tên gọi giản dị thô mộc này không ngờ lại có số phận long đong lận đận đến kỳ lạ. Năm 1977, sau khi ông mất, cuốn sách này đành dở dang. Đến năm 1998, nhà văn Lê Minh tổ chức in toàn tập và lấy lại tên ban đầu "Nhớ gì ghi nấy".




Mời đọc và lấy về bản PDF


Trích Nhớ Gì Ghi Nấy

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2022

Tinh thần thể dục (2)



Mời bạn đọc theo dõi bộ đôi truyện ngắn:



Minh họa: GÓC TRUYỆN XƯA - KÍNH HỒNG
Minh họa: Đọc Truyện Cùng LaLa
Mời nghe đọc

Mời nghe đọc tại - Internet Archive


Diễn đọc: 1. Khởi Nguyên | 2. Cô Vân | 3. Trung Nghị | 4. Thanh Hiền | 5. Nguyễn Ngọc Ngạn | 6. Bích Thuận | 7. Chiến Hữu | 8. LaLa | 9. Khề Khà Official | 10. Thay bạn đọc sách | 11. Trần Thiện Tùng | 12. Hồng Ngọc | 13. TV DKD | 14. Hằng Phạm Audio | 15. Dung | 16. Bún Radio | 17. Nhật Ký Văn Học | 18. L&H | 19. Mắm tôm | 20. Anh Khôi | 21. Nui Ha Noi | 22. Phạm Định | 23. Kính Hồng


Mời đọc Bản đánh máy

Tinh thần thể dục

Nguyễn Công Hoan


Có lính huyện mang trát quan về làng:
Quan tri huyện huyện X.X. 

Sức hương lý xã Ngũ Vọng tuân cử.

Nay thừa lệnh Tỉnh đường, ngày 19 Mars này, tức 29 tháng Giêng An Nam, tại sân vận động huyện có cuộc đá bóng thi, nhiều chiến tướng đá rất hay, mọi nhẽ.

Vậy sức các thầy phải thông báo cho dân làng biết và phải thân dẫn đủ một trăm người, đúng 12 giờ trưa đến xem, không được khiếm diện.

Những người đã cắt đi dự cuộc khánh thành sân thể dục tháng trước, thì lần này được miễn.

Ai có mặt tại sân vận động cũng phải ăn mặc tử tế, đi đứng nghiêm chỉnh, và phải vỗ tay luôn luôn, vì hôm ấy có nhiều quan khách.

Làng Ngũ Vọng lại phải có năm lá cờ, sẵn sàng từ 10 giờ sáng.

Việc này tuy là việc thể dục, nhưng các thầy không được coi thường, nếu không tuân lệnh sẽ bị cữu.

Nay sức 

Lê Thăng