Ads 468x60px

.

Thứ Tư, 11 tháng 12, 2024

Tiểu thuyết Lá Ngọc Cành Vàng: Câu chuyện MÔN ĐĂNG HỘ ĐỐI ! | Nguyễn Công Hoan


Tiểu thuyết Lá Ngọc Cành Vàng: Câu chuyện MÔN ĐĂNG HỘ ĐỐI ! | Nguyễn Công Hoan

Anh Kiệt Đọc Sách



Nhà tưởng niệm Nhà văn Nguyễn Công Hoan - HienMB


Nhà tưởng niệm Nhà văn Nguyễn Công Hoan

HienMB



Thứ Ba, 10 tháng 12, 2024

Truyện ngắn “Kép tư bền” của Nguyễn Công Hoan


Truyện ngắn “Kép tư bền” của Nguyễn Công Hoan

Trần Đăng Suyền


Nhà văn bậc thầy Nguyễn Công Hoan viết thiên truyện ngắn xuất sắc “Kép Tư Bền” trong thời gian ông bị đau mắt.


Nhà văn Nguyễn Công Hoan


Trong Đời viết văn của tôi, nhà văn cho biết: “Có đề tài lúc chập tối, tôi bứt rứt, bực bội, đắn đo, không biết có nên thức mà viết hay không. Tôi mà liều, mắt bị sưng rất nặng. Nhưng chờ cho đến ngày khỏi mới viết, thì câu chuyện nó nguội, hóa thiu, hóa thối ra mất thôi. Thế là tôi quyết định viết” (Nguyễn Công Hoan, Đời viết văn của tôi, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1994, tr. 270).

Nguyễn Công Hoan đã lẳng lặng dậy và rón rén đến bên bàn viết. Dưới ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn dầu vặn nhỏ (vì phải giấu vợ), nhà văn vừa viết, vừa lau mắt. Ông đã đầy đọa đôi mắt ốm yếu của mình từ mười giờ tối đến năm giờ sáng ngày 27/3/1933 để viết cho bằng xong truyện Kép Tư Bền.

Nguyễn Công Hoan là nhà văn đặc biệt nhạy cảm trước những cảnh ngộ, tình huống có tính chất trào phúng. Trong thiên truyện Kép Tư Bền, ông đã phát hiện ra mâu thuẫn hết sức trớ trêu của anh Tư Bền: anh ta buộc phải cười (vì phải đóng vai hề) vào đúng cái lúc đáng ra anh phải khóc (người cha của anh sắp chết).

Kết cấu của truyện ngắn Kép Tư Bền được tổ chức theo trình tự thời gian. Nhà văn đã dẫn dắt câu chuyện theo chiều hướng mỗi lúc lại càng bộc lộ rõ hơn mâu thuẫn có tính chất trào phúng, thời gian càng kéo dài lại càng làm nổi bật hơn cảnh ngộ bi thảm của anh kép Tư Bền. Con mắt sắc sảo, thấm đượm nhân tình của ông đã nhìn thấy, đằng sau cái vở hài kịch vui vẻ, ồn ào đang diễn ra trên sân khấu, là cả một tấn bi kịch thê thảm thực sự của một con người. Ngòi bút truyện ngắn bậc thầy của ông đã làm hiện hiện lên trước mắt người đọc “sự tương phản gay gắt” giữa cảnh ngộ bi thảm, tâm trạng đau xót của kép Tư Bền với nội dung vui nhộn, bông lơn, cười cợt của cái vai hề mà anh cực chẳng đã phải biểu diễn trên sân khấu.

Cùng với thủ pháp tương phản, trong truyện ngắn Kép Tư Bền, Nguyễn Công Hoan còn sử dụng thành công thủ pháp “tăng cấp”. Tăng cấp trong việc miêu tả nội dung vai diễn của của kép Tư Bền mỗi lúc lại càng rôm rả, “nhiều cái vui trò” hơn. Tăng cấp trong việc thể hiện sự cổ vũ, hoan nghênh, tán thưởng của khán giả càng lúc lại càng cuồng nhiệt hơn. Tăng cấp trong việc đưa tin bệnh tình người cha kép Tư Bền mỗi lúc một một nguy kịch hơn. Lúc kép Tư Bền từ nhà đi đến rạp Kịch trường thì cha anh “sắp chết”, “đã thấy nguy lắm rồi”.

Đến hồi thứ hai, khi Tư Bền đang phệnh phạo trên sân khấu thì cha anh đã “nguy hơn ban nãy. Đã cấm khẩu rồi!”. Hết hồi hai, lúc đang ngồi thừ người trong phòng trò thì Tư Bền lại nhận được tin “cha anh đã mê đặc, chân tay đã lạnh cả rồi”. Buổi biểu diễn vừa kết thúc, Tư Bền đang trong tâm trạng rối bời thì một bạn hát chạy đến nói: Cha anh đã “hỏng từ nãy mất rồi”. Mỗi một lời thông báo về bệnh tình của người cha kép Tư Bền lại thêm từ “rồi” ở cuối như những tín hiệu báo trước, trong cuộc chạy đua nước rút với tử thần, kép Tư Bền lúc nào cũng chậm hơn.

Để tô đậm tâm trạng nóng lòng, sốt ruột của kép Tư Bền, Nguyễn Công Hoan đã miêu tả dòng thời gian của vở diễn trôi chảy thật nặng nề, chậm chạp. Đó là dòng thời gian tâm trạng. Cảnh đầu diễn ra đối với anh Tư Bền, “sao mà lâu thế!”. Cảnh thứ hai, cũng “lâu như cảnh đầu, mãi mới hết”. Cái cảnh cuối cùng, “anh cho là lâu tới, thì khán giả cho là chóng quá”. Đến lúc sắp hạ màn, kép Tư Bền cúi chào, thì “cả rạp vỗ tay đôm đốp thật dài”.

Anh tưởng phen này đã “hết nợ”, có thể về để kịp nhìn mặt cha trước khi ông trút hơi thở cuối cùng, thì ở chỗ ghế hạng nhất, tiếng kêu “Bis! Bis!” lại nổi lên. Anh Tư Bền, cực chẳng đã, “lại phải giấu bộ mặt rầu rầu” để “vui vẻ diễn lại đoạn cuối một lần nữa”. Rồi đến khi bài kèn chào nổi lên, cái màn từ từ buông xuống, kép Tư Bền vẫn chưa được buông tha. Anh vẫn bị đầy đọa, hành hạ tiếp bằng những cái bắt tay, những lời khen ngợi, những bó hoa, làm cho anh “ruột càng như thiêu như đốt”.

Qua truyện ngắn Kép Tư Bền, Nguyễn Công Hoan đã thể hiện sự cảm thông với nỗi niềm, tâm sự của một con người buộc phải làm trò cười trong hoàn cảnh đáng khóc. Nhà văn đã nhìn thấy những biểu hiện tinh tế trong tâm hồn kép Tư Bền và miêu tả diễn biến tâm lí của nhân vật “mỗi lúc một thêm rầu rĩ, xót xa, cay đắng”.

Ở nhà, cha kép Tư Bền “đương dở chứng khò khè, chỉ chờ từng phút để thở một hơi nữa là hết nợ” thì trong buồng trò, anh cũng “đương nẫu ruột nhầu gan”. Anh “ngồi ủ rũ trước cái gương, bụng thì rối beng, mặt thì nhăn nhó, nhưng tay vẫn phải sờ vào hộp phấn để đánh mặt, quệt vào đĩa mực để bôi nhọ cái mồm…”.

Trình diễn xong cảnh đầu, đến cảnh thứ hai, cái vẻ “lo âu” của kép Tư Bền “nó hiện ra ở trước mặt”. Đến khi nhận được tin cha đã mê đặc, kép Tư Bền “ứa hai hàng nước mắt”, không sao kìm nổi nỗi đau thương đã “khóc nức khóc nở”. Khi bị đẩy ra sân khấu tiếp tục làm trò, anh “vừa thắt dải áo, vừa sụt sịt mếu máo”.

Chứng kiến cảnh anh kép hát buộc phải diễn trò, người kể chuyện đưa ra nhận xét: “Cái cảnh thương tâm của anh Tư Bền đi đôi với cái bông lơn, cứ diễn ra mãi, mỗi chốc lại càng thương tâm hơn lên”. Thủ pháp tăng cấp vừa có tác dụng tô đậm thêm cảnh ngộ bi thảm của nhân vật, vừa tạo ra trong tác phẩm một không khí căng thẳng, hồi hội, đầy kịch tính. Tác phẩm được kết thúc vào đúng cái lúc tâm trạng của kép Tư Bền tột cũng bi thảm, đau đớn, tạo nên một dư vị thật ngậm ngùi, chua chát cho người đọc.

Trong truyện ngắn Kép Tư Bền, cũng nhờ thủ pháp tương phản mà Nguyễn Công Hoan đã lột trần cái mặt nạ giả nhân giả nghĩa của ông chủ rạp Kịch trường. Con mắt sắc sảo của nhà văn đã nhìn thấu tim đen của hắn. Để buộc kép Tư Bền phải nhận lời đóng vai chính cho vở Ông nghị ba phải, hắn đã dùng mọi mánh khóe, thủ đoạn, từ dọa nạt đến ân cần thăm hỏi người cha của anh, từ dỗ dành, phỉnh nịnh đến trói buộc anh bằng giấy giao kèo… Thật là nhẫn tâm khi hắn biết cha kép Tư Bền đang ốm sắp chết mà vẫn cố tình “đẩy anh ra sân khấu” để anh “lại phải hò, hét, ngâm, cười, múa, nhảy, để mua gượng lấy những tràng vỗ tay”.

Nguyễn Công Hoan đã bóc trần lớp sơn bên ngoài hào nhoáng của một bộ phận thuộc tầng lớp ông chủ, những kẻ giả nhân giả nghĩa, nhân danh nghệ thuật mà thực chất là lợi dụng nghệ thuật, chà đạp lên cả lương tâm, đạo lí, cả tình cảm thiêng liêng của con người, coi đồng tiền là trên hết. Qua Kép Tư Bền, Nguyễn Công Hoan đã thể hiện sự cảm thông sâu sắc của mình trước tình cảnh một nghệ sĩ “tính thích tự do” nhưng vì nghèo túng mà phải bán rẻ tự do, trở thành kẻ lệ thuộc vào túi tiền của những ông chủ. Cảm hứng hài kịch ở đây đã nhường chỗ cho cảm hứng bi kịch, trào lên niềm xót thương chân thành của nhà văn trước tình cảnh thê thảm của người nghệ sĩ nghèo trong xã hội cũ.

Viết xong truyện ngắn Kép Tư Bền, mắt Nguyễn Công Hoan đau nặng thêm, nhưng nhà văn cảm thấy “rất khoan khoái, nhẹ nhõm”. Thiên truyện xuất sắc này cùng với 14 truyện ngắn khác được in trong tập truyện Kép Tư Bền (1935). Cuốn sách đã được 18 tờ báo lớn nhỏ khắp Trung, Nam, Bắc đăng bài khen ngợi. Nhà sách Hương Giang ở Huế đã mở một cuộc trưng cầu ý kiến các bạn đọc để xem cuốn sách nào được hoan nghênh. Kết quả là Kép Tư Bền được xếp lên đầu. Tập truyện ngắn đầu tay này của Nguyễn Công Hoan cũng là một trong những nhân tố làm bùng nổ cuộc tranh luận gay gắt giữa hai phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945.


Trần Đăng Suyền

Tác phẩm "Kép Tư Bền"



Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2024

Nghe đọc Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Công Hoan - Yêu Ngữ Văn (ABC Book)


Nghe đọc Tuyển tập truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan

Yêu Ngữ Văn (ABC Book)


Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: Yêu Ngữ Văn (ABC Book)

Mời nghe đọc tại YouTube - #nguyenconghoan
Diễn đọc: Yêu Ngữ Văn (ABC Book)

Xin nhấp chuột vào truyện ngắn muốn nghe




Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2024

Về truyện ngắn "Mất cái ví" của Nguyễn Công Hoan


Nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1993)

Về truyện ngắn "Mất cái ví"
của Nguyễn Công Hoan

Văn Tâm


Từ trước Cách mạng tháng Tám, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã có một khối lượng tác phẩm đồ sộ: hơn 20 chuyện dài, số truyện ngắn nhiều gấp mười - tác giả cũng tự hào: "Về số lượng sách, nếu tôi có thua, thì chỉ thua Lê Văn Trương thôi”(1). Tổng kết về đề tài chủ yếu trong sáng tác của cây bút hiện thực phê phán này, các nhà nghiên cứu phê bình văn học trước và sau 1945 đều thống nhất nhận định: “Sự xung đột giữa kẻ giàu người nghèo là cái cốt của hầu hết các truyện ngắn truyện dài Nguyễn Công Hoan”(2), “Hầu hết truyện ngắn, truyện dài của Nguyễn Công Hoan đều xoay quanh sự đối chọi giữa kẻ giàu và người nghèo”(3)... Những ý kiến đó đúng đắn, nhưng là kết quả của góc độ cảm nhận đặt trên cơ sở một phương thức khám phá nghệ thuật có phần đã chững lại.

Ở đây, bài viết này muốn nhìn nhận nội dung sáng tác của Nguyễn Công Hoan trước 1945 (chủ yếu qua truyện ngắn Mất cái ví) từ góc độ khác, nhằm đóng góp thêm một phương thức tiếp cận và nhận diện cây bút hiện thực phê phán nổi tiếng ấy.

Trò diễn mất cắp tiền của ông Tham - nhân vật trung tâm trong truyện ngắn Mất cái ví của Nguyễn Công Hoan - nhằm mục đích: “... để bận sau ông (ông cậu ruột - V.T) đừng ra chơi nữa. Tốn kém lắm!...” là một "thao tác" tích lũy theo "bản chất sinh vật". Hành động ấy tuy không phạm pháp, nhưng vô đạo (với ý nghĩa: không còn khả năng tự hình thành, tự kiểm tra các nghĩa vụ đạo lý đòi hỏi bản thân phải thực hiện và đánh giá những hành động theo nghĩa vụ đó).

Với vốn sống phong phú, khả năng nhạy cảm trước tâm địa, tâm trạng con người, óc quan sát lọc lõi..., Nguyễn Công Hoan đã xây dựng được trong truyện ngắn - kịch Mất cái ví hai hình tượng nhân vật đặc sắc có "nét nhân cách" đột xuất: thứ nhất, ông Tham, do sự thúc đẩy của bản năng tích lũy mà mất nhân phẩm, trở thành "đồ đểu", thậm chí "chó đểu" (thú vật hóa) như ông cậu ruột đã nói và nghĩ; thứ hai, cụ già cậu ruột ông Tham, một người có vẻ còn sót lại tự thuở nào: giàu tình cảm họ hàng, chất phác và khái tính, nạn nhân của thú tính kẻ đồng loại - hơn nữa: kẻ có quan hệ huyết mạch gần gũi có thể xem là đồng tôn tộc ("cậu cũng như mẹ" như cụ già đã quan niệm giản đơn và có phần bất cập trước "tình rừng" điên đảo bấy giờ).

Xây dựng hình tượng nhân vật ông Tham, một vị tân trí thức có trình độ học vấn cao (tham tá thời Tây thường đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học), cương vị xã hội cũng không thấp (thường được gọi là "quan": "quan tham"), nhưng lại cư xử tàn tệ với họ hàng bề trên kiểu như vậy; trước hết, tác giả muốn vạch ra mấy nghịch cảnh nhãn tiền đương thời: mâu thuẫn giữa danh (thượng lưu trí thức) với thực ("chó đểu"); và sự thấp cao của thân thế con người không có liên quan gì đến bản chất xấu tốt của họ (tương tự các truyện: Sóng Vũ Môn, Kép Tư Bền...).

Ông Tham, người soạn kịch bản, giàn dựng lớp lang và đảm nhiệm vai chính trong trò diễn "mất cái ví" quả là một kẻ khôn khéo có trí khôn lưu manh (Ai cũng rõ bọn trộm cắp lọc lõi đều có trí khôn: trước khi nắn túi đã biết nắn tâm lí nạn nhân - về một phương diện nào đó, chúng là các nhà "tâm lí học thực nghiệm", từ chỗ "chẩn đoán tâm lí" chính xác, tiến đến việc sử dụng các "công cụ tâm lí" thích hợp mà sắp xếp đạo diễn, tự đóng vai chính trong các trò diễn bịp bợm linh hoạt bất ngờ, chúng biết chớp thời cơ hành động rồi "thoát hiểm" với con đường tối ưu...). Ông Tham với thứ trí khôn tương tự ít nhiều mang tính bẩm sinh (ông cậu đã nhận xét: “Tôi biết ông ấy từ thuở để chỏm chòe bằng ngần này, nên tôi hiểu cả giọng nói”) đã xua ông cậu ruột ra khỏi nhà mình cho đỡ “tốn kém” một cách khéo léo tinh vi, khiến đối với miệng lưỡi thiên hạ (trừ bà Tham "đầu gối tay ấp"), ông hoàn toàn là người "ngoại phạm" trước một điều khoản trong khế ước xã hội: cung dưỡng các bậc thân cựu.

Mở màn tấn kịch, với những câu nói thớ lợ trong cuộc điều tra tại chỗ: “Chúng bay làm gì mà to mồm thế, nói khẽ cho cụ ngủ”, “ấy mợ khẽ để ông ngủ...”; một mặt ông đã tự tô vẽ được tấm lòng son trước đám gia nhân; mặt khác, thực hiện được những động tác giả khiến ông cậu thực thà bán tín bán nghi về tâm địa người cháu ruột. Thế rồi trong quá trình hỏi cung đám người làm, tường trình về tình huống vụ trộm cắp, và đối thoại với mọi người, ông đã gián tiếp thông báo kết quả phương pháp loại trừ (như một điều tra viên chuyên nghiệp) cho ông cậu rõ: “thằng xe”, “thằng bếp” không thể là thủ phạm bởi chúng ngủ cả ở nhà dưới, nhà trên suốt đêm cài cửa cẩn thận, sáng ra khi chưa mở cửa, ông đã phát hiện ngay được chuyện "mất cái ví"; “con vú em” cũng không thể là kẻ gian, mặc dù ngủ chung với bà Tham ở phòng trong của nhà trên, vì ông đã khẳng định mười mươi về tính nết lương thiện truyền thống của người giúp việc đáng tin cậy này: “Tao thì tao không ngờ cho con vú em đâu. Nếu nó có tính tắt mắt, thì tao mất nhiều lần rồi. Mọi khi tao ngủ để bừa bãi cả tiền nong ra bàn, nhưng sáng dậy vẫn còn nguyên, một trinh cũng không suy suyển”; bà Tham hẳn vô can, vì không có lý do gì lại ăn cắp tiền của chồng; cuối cùng đến ông Tham, thì chẳng lẽ ông ăn cắp tiền của... chính mình - một đầu óc bình thường khó có thể tưởng tượng cái chuyện oái oăm phi lý đến mức ấy... Kết quả phương pháp loại trừ xem ra rất khoa học của quan Tham thì rút cuộc chỉ còn trơ khấc lại: ông cậu ruột!... Phương pháp loại trừ được chủ nhà kết hợp lửng lơ mà chặt chẽ với sự phát hiện những hành động khả nghi của một người ("cụ thức khuya", "lủng củng mãi mới chợp mắt đấy") trong một hoàn cảnh dễ gây án: “Tao nhớ rằng khi tao đi nằm, tao còn mở ví ra để đếm lại giấy bạc, rồi tao gối ở đầu giường chỗ này. Tao nằm bên cạnh cụ. Vì thức khuya nói chuyện, nên tao mệt, tao ngủ say lúc nào không biết. Tao chắc lúc đếm tiền, có đứa nào trông thấy”... Theo dõi sít sao quá trình điều tra vụ án sát bên tai, ông cậu ruột đã bị cháu dùng các "công cụ tâm lý" để chi phối phản ứng. Lúc đầu cụ thấy: “trái tai”, “phân vân”..., rồi cụ “thở dài, cựa mình một cái”, tiếp đó: “ông cụ thấy khó chịu”, “hơi tức đầy đến ngực”... Kịp đến khi ông cháu chủ nhà quý hóa điều tra viên như cũng phát uất lên mà buông ra một câu hỏi đầy tính uyển ngữ: “Thế thì chúng bay bảo tao ngờ cho cụ à?”... thì cụ bị quá tải: “... tự nhiên như có cái gì nó giật nhổm ông cụ ngồi dậy. Cụ hỏi dồn: “Cái gì? Cái gì? Thế nào? Thế nào?”....” Chỉ chờ có thế, đấu pháp của người cháu biến hóa kịp thời theo đúng tinh thần kịch bản - "nhũn như con chi chi":

“Ông Tham dịu ngay nét mặt lại, nói:
- Không ạ.
Rồi ông bảo bọn người nhà:
- Cho chúng mày xuống nhà”.


"Bọn người nhà" diễn viên vô tình (đồng thời lại là khán giả) được ông Tham ra lệnh rút khỏi sân khấu nhà trên, để đạo diễn nghiệp dư này chuyển lớp (scène): cho nhân vật ông cậu xuất hiện, ông Tham biết trước phản ứng dữ dội của ông già khái tính nếu đám gia nhân chứng kiến cảnh tượng đó nhiều nghi ngờ thắc mắc ắt xuất hiện trong đầu óc họ; và như thế sẽ không ảnh hưởng được tâm lý của họ; sẽ rách việc, thậm chí vở kịch - ảo thuật có thể bị lộ tẩy.

Than ôi! cụ già tình nghĩa cũ kỹ đâu phải là đối thủ xứng đáng của ông cháu tân nhân vật. Thêm một vài thao tác tâm lý nữa của ông Tham; nếu có ai chứng kiến sẽ thấy cụ đã tự đưa mình vào tình huống có vẻ "không khảo mà xưng": “Chính anh nghi cho tôi”, để rồi ông Tham có cơ hội chụp ngay lấy câu nói đó mà vỗ tuột được tội vu oan giá họa: “Tự ông đổ cho ông đấy”... Tiếp theo, ngòi bút “tả chân tuyệt khéo” (Vũ Ngọc Phan) của tác giả Mất cái ví như vẽ ra trước mắt người đọc những hành động, cử chỉ đầy vẻ bi hài của cụ già thực thà khí khái bị lăng nhục:

“Nói đoạn, ông cụ chạy đến mắc áo, giật cái áo trắng dài và cái áo the xuống rồi rũ rõ kỹ. Rồi cởi tuột cái áo cộc ra, lộn các túi. Xong rồi, lại tháo cả thắt lưng đưa cho ông Tham xem. Giá có tiện, có lẽ cụ cũng tụt phăng cả cái quần ra nốt, cho cháu tin rằng tất cả trong mình không dấu diếm cái ví vào chỗ nào cả. Nhưng cụ cũng cứ lấy hai tay, nắn bóp khắp hai đùi thật kỹ, từ trên xuống dưới”. Chứng tỏ xong với chủ nhà phẩm chất lương thiện của mình, cụ thề: “Tao thề rằng từ nay tao không họ hàng gì với vợ chồng mày nữa!”. “Nói đoạn, ông cụ hầm hầm cắp ô đi” và “cút thẳng”.

“Ông Tham ung dung tủm tỉm cười”; cười vì kịch bản của ông đã được trình diễn đến phút hạ màn với hiệu quả mĩ mãn; cười để tự tán thưởng cách hành động “ba que”; cười vì người cậu ruột đầy tinh thần tự trọng “từ nay” sẽ kệch đến chết (cụ đã thề rồi) không bao giờ còn bén mảng thăm hỏi gia đình ông, khiến vợ chồng ông “Tốn kém lắm!...” - khó tích lũy, không khá giả được - ông tham tá chủ nhà đã thắng. Đó là sự thắng thế của “bản chất sinh vật” (“chó”) và hành động “ba que” (“đểu”) đối với tình nghĩa (ăn ở theo đạo lý làm người) và lương tâm (sống lương thiện, tôn trọng khế ước cộng đồng) trong một xã hội mà nhà văn hiện thực phê phán Vũ Trọng Phụng đã khái quát như tác giả Mất cái ví là: “cuộc đời chó đểu”.

Tương tự nhiều truyện ngắn khác của mình, ở Mất cái ví, Nguyễn Công Hoan khắc họa tính cách nhân vật cũng như dẫn chuyện một cách "khách quan" cho đối tượng miêu tả và sự việc tự nói lên ý nghĩa của nó, chứ ít khi xen vào những lời thuyết minh, bình phẩm vô bổ thiếu nghệ thuật. Khi sáng tạo nhân vật; ta thấy với "con mắt tinh đời", Nguyễn Công Hoan như đã "đi guốc vào bụng" thiên hạ qua những biểu hiện bên ngoài tưởng chừng không tải của họ: một câu nói lấp lửng, một cử chỉ vu vơ, thậm chí dại dột... - Hình tượng nhân vật ông Tham khó quên trong Mất cái ví quả có khả năng lột mặt nạ được nhiều kẻ ăn ở thất đức đối với người thân. Đó cũng là một trong những biểu hiện tài năng bẩm sinh của tác giả - một nhà văn nhạy cảm về tâm lý người đời và vốn sống phong phú, một nhà văn có trí nhớ tốt và giàu tưởng tượng.

Giọng kể “có duyên” (như nhiều người thừa nhận) tương tự phần lớn truyện ngắn của tác giả, kết hợp với thủ pháp "do thiển nhập thâm" (đi từ nông đến sâu, từ nhẹ đến nặng...) khiến đoản thiên Mất cái ví tăng thêm sức hấp dẫn người đọc.

Về các phương diện hư cấu cốt truyện, kết cấu diễn biến nội dung, sử dụng hình thái ngôn ngữ..., thì cũng giống hàng trăm truyện ngắn khác của ông, Mất cái ví đậm đà chất kịch:

- Cốt truyện chứa đựng một tình huống mâu thuẫn xung đột, với “động tác duy nhất”(4)
- Kết cấu gồm 3 phần: khai đề, khúc thắt và giải đề.
- Hình thái ngôn ngữ: có nhiều câu thoại giữa các nhân vật (những câu thoại gần gũi ngôn ngữ kịch: vừa cá tính hóa nhân vật, vừa có công năng động tác hóa nội dung: thoại làm bùng nổ tình tiết, thúc đẩy vụ việc diễn biến).


Tính kịch trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan còn mang thêm màu sắc truyện tiếu lâm Việt Nam: phần giải đề (dénouement) thường chứa đựng thủ pháp đột biến (coup de théâtre) có khả năng làm bật ra tiếng cười lớn để hạ màn câu chuyện - Nguyễn Công Hoan rất quan tâm đến ngôn ngữ hạ màn (coup de rideau) kiểu này: “Viết truyện không khác gì đánh cá bằng lờ ở chỗ nước chảy. Người đánh cá cắm dăng chăng lưới, rồi gõ cạch cạch. Tất cả những việc ấy đều quy vào một mục đích là lừa cá, cho nó chui tọt qua cái hom. (...) Câu kết truyện của tôi là cái lờ. Nó thường làm cho độc giả đột ngột, cũng như đến chỗ hẹp, nước chảy mạnh, thì cá bất thình lình bị đẩy tuột vào hom” (ĐVVCT, tr. 294) - các nhà nghiên cứu phê bình văn học cũng đã khẳng định sự thành công của cái "tiếng nói nghệ thuật" ấy: “Một trong những thủ thuật hóm hỉnh nhất của nhà văn là dùng những chi tiết đánh lạc hướng độc giả khỏi cái đích thực sự của câu chuyện. Người đọc càng bị lạc xa bao nhiêu thì khi truyện kết thúc, càng bị bất ngờ bấy nhiêu. Đây là chỗ mà nhà trào phúng có thể nghĩ ra đủ thứ “cạm bẫy” thú vị” (Nguyễn Đăng Mạnh - Nhà văn, tư tưởng và phong cách, tr. 129).

Trong truyện ngắn Mất cái ví, độc giả hẳn đã bắt gặp sự tình “đột ngột” mà cười to lên (dẫu là cười cay đắng) khi đọc đến đoạn hạ màn đột biến:
“- Tôi vờ thế, chứ ví đây này, có mất đếch đâu!
Vừa nói, ông móc trong túi quần, quẳng cái ví đánh bẹt xuống mặt phản. Bà Tham trố mắt nhìn chồng:
- Rõ khéo khỉ, thế có phải là ông giận không?
- Mợ không hiểu. Tôi chỉ cốt làm thế để bận sau ông đừng ra chơi nữa. Tốn kém lắm!...”


Đáng tiếc là trong Mất cái ví, về thủ pháp nghệ thuật sở trường của tác giả hằng tâm đắc và nhiều cây bút nghiên cứu từng tán thưởng này; lại còn sót một hạt sạn không nhỏ. Thông thường trong truyệnkịch, thủ pháp đột biến được đi kèm (trước nó) với thủ pháp báo trước (có tính phục bút). Báo trước thì phải mơ hồ lấp lửng để độc giả (và khán giả) dự đoán đến nhiều khả năng diễn biến, kết thúc. Trong truyện ngắn Mất cái ví, tác giả không làm như vậy. Mở đầu tác phẩm, tác giả đã trực tiếp miêu tả nội tâm ông bà Tham khi điều tra đám gia nhân là: “Ông Tham, bà Tham thấy chúng nó quả quyết, cũng không biết xử trí ra sao. Nhưng vẫn không sao bỏ được lòng ngờ”. Với tư cách tác giả, người dẫn chuyện một tác phẩm hư cấu (nghĩa là người nắm được mọi chuyện, thấu hiểu nội tâm mọi nhân vật), thì qua mấy câu ấy, tác giả mặc nhiên đã khẳng định chắc chắn với người đọc rằng: ông Tham không phải là thủ phạm ăn cắp cái ví (người viết giới thiệu rõ ràng: ông Tham “không sao bỏ được lòng ngờ” đám gia nhân). Độc giả tin tưởng theo tác giả. Nhưng đến khi kết thúc câu chuyện, tác giả lại trình bày sự thật rằng: chính ông Tham tự ăn cắp ví của mình. Sự tiền hậu bất nhất ấy trong quá trình giới thiệu nhân vật và dắt dẫn câu chuyện biến thành một kiểu đánh lừa người đọc, chứ không phải đã sử dụng thủ pháp đột biến theo lôgich tất yếu. Hạn chế nghệ thuật này trong Mất cái ví phải chăng là do có lúc Nguyễn Công Hoan đã viết “ẩu” - như về sau ông cũng thừa nhận trong hồi ký: “Tối tối, tôi vừa viết tiểu thuyết vừa chầu rìa tổ tôm, hoặc đánh vật lá ba tam cúc. Có hôm, tôi vừa viết, vừa rút bất. Kể lại việc này, tôi cũng thấy là tôi ẩu” -, và nói chung là “do vô tâm với nghề”: “Chưa bao giờ tôi ước mong một ngày kia, lớn lên cũng làm thơ, làm văn” (ĐVVCT, tr. 69)...

Về một số phương diện mà nói, truyện ngắn Mất cái ví có thể xem như tác phẩm tiêu biểu cho toàn bộ sáng tác của Nguyễn Công Hoan - mặt đặc sắc cũng như hạn chế.

V.T. (TCSH54/03&4-1993)

---------------------------
(1) Đời viết văn của tôi, tr. 103 - Nguyễn Công Hoan (Nxb Văn học, 1971).
(2) Vũ Ngọc Phan - Nhà văn hiện đại, quyển tư, tập hạ, tr. 45-46, NXB Tân dân, 1945).
(3) Nguyễn Đăng Mạnh - Đọc lại truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan, in trong Nhà văn, tư tưởng và phong cách, tr. 121 (NXB Văn học, 1983).
(4) Nguyễn Công Hoan rất quan tâm đến nghệ thuật “lập ý” duy nhất trong đoản thiên tiểu thuyết - Ông kể chuyện cũ: “Khi viết một truyện ngắn, tôi chỉ nêu một ý thôi, hoặc ngược lại, mỗi một ý chỉ được tôi dùng để viết một truyện” (ĐVVCT, tr. 307); kinh nghiệm này về sau được đúc kết thành lý luận sáng tác trong cuốn Hỏi chuyện các nhà văn: “... mỗi truyện cần có một ý, một ý thôi. Ý ấy là ý chính của truyện, nhưng thực ra nó là ý định của tác giả viết để làm gì” (tr. 176).





Xem:
Giảng văn Văn học Việt Nam (tái bản lần thứ sáu) -
Phần ba: Văn học hiện đại -
I - Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng Tháng Tám 1945 -
Bài 11: Mất cái ví - Văn Tâm

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2024

GIỚI THIỆU SÁCH - “Nhớ gì ghi nấy” của Nhà văn Nguyễn Công Hoan - Ký ức về Hà Nội đầu thế kỷ XX


GIỚI THIỆU SÁCH
“Nhớ gì ghi nấy” của Nhà văn Nguyễn Công Hoan
- Ký ức về Hà Nội đầu thế kỷ XX

Phòng Địa chí


Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977), quê ở làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Ông là người đặt viên gạch đầu tiên xây nền móng cho dòng văn xuôi hiện thực phê phán Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ cầm bút ông đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam hơn 300 truyện ngắn, hơn 20 tiểu thuyết và nhiều ông trình nghiên cứu văn học có giá trị. Nhiều tác phẩm và truyện ngắn của ông đã được chuyển thể sang sân khấu và điện ảnh. Ông là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đầu tiên. Năm 1996 ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học.

Trong những bản thảo của nhà văn để lại, có một tập 7 quyển vở nhỏ ghi chép từ năm 1970 cho tới trước ghi mất về những điều trải qua, tai nghe mắt thấy trong đời lên tới 600 đoạn ghi chép. Lần in năm 1978, nhà xuất bản Tác phẩm mới chỉ chọn in một số đoạn trong tập bản thảo của nhà văn lấy tên “Nhớ và ghi” gồm 132 trang. Theo Nhà xuất bản, những điều ghi chép của ông chia làm 3 loại:
1. Những việc xảy ra trong đại gia đình mà nhà văn có lẽ muốn cho con cháu biết.
2. Một số nhân vật (những tên Tây thực dân, quan lại, địa chủ, tư sản mại
bản) mà tác giả nghe biết và ghi lại.
3. Những điều tai nghe mắt thấy phần nhiều vào đầu thế kỷ này khi nhà văn đương tuổi thanh niên. Đó là những ghi chép về Hà Nội, những nơi nhà văn đã ở, làm việc và đi qua.

​Năm 1993, nhà xuất bản Hà Nội chọn tiếp những đoạn chưa công bố và xếp những sự việc theo một mạch trong những tiêu đề mà nhà xuất bản đặt tên, để giúp bạn đọc dễ theo dõi như: Vua quan ta Toàn quyền tây; Những chí sĩ yêu nước; Nghề làm sách báo; Buôn bán kinh doanh; Phố phường kẻ chợ. Lần in này gồm 173 trang mang tên “Nhớ về một thưở (Nhớ gì ghi nấy)”.

​Năm 1998, Nhà xuất bản Hội Nhà văn in bản đầy đủ tập bản thảo với độ dày 770 trang và mang tên “Nhớ gì ghi nấy”.

​Ngoài ra, Nhà xuất bản Trẻ - Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 chọn những trang viết ông dành riêng để nhớ về Hà Nội xưa cũ vào những thập niên đầu của thế kỷ XX với tên sách “Nhớ và ghi về Hà Nội” gồm 263 trang.

Qua những trang sách, có thể nhận thấy sự hồn nhiên, tinh nghịch, phá vỡ quy tắc của cậu học sinh trường Bưởi Hà Nội khi chưa đầy mười tuổi.

Mặt khác, từ nhỏ, Nguyễn Công Hoan đã quen với nhân tình thế thái người phường phố, thành thạo sự đời, và chả coi cái gì làm quan trọng. Thành thử, tuy không bao giờ phải trực tiếp đả động tới chuyện Hà Nội, nhưng trong cái nhìn của ông, chất Hà Nội rất rõ. Toàn bộ đời sống của Hà Nội thời nửa thuộc địa nửa phong kiến đã hiện lên rõ nét: các phương tiện giao thông đương thời; các trường học; nghề in, các nhà in và tình hình xuất bản; nghề ảnh; các rạp hát và chiếu phim; các hội; chuyện buôn bán; chuyện cô đầu…

Số lượng các nhân vật được đề cập đến trong tác phẩm là khá lớn từ Toàn quyền Pháp đến vua quan ta, những tay tư sản Pháp hay tư sản người Việt, các chủ nhà in, các nhà văn, nhà thơ đương thời, các nghệ sĩ… cho đến thằng ăn cắp, người đi đòi nợ thuê.

Nhà văn dành một số trang để nói về doanh nhân Bạch Thái Bưởi, luật sư Phan Văn Trường, dịch tả ở Hà Nội hè năm 1914, chuyện năm 1918 đường Cổ Ngư (Thanh niên) vẫn thắp đèn dầu hỏa, nạn vỡ đê Gia Lâm các năm từ 1924 đến 1926, tên một số đường phố thời người Pháp cai trị, hội Khai Trí Tiến Đức, hiệu mũ Hai Chinh, trang phục thời kỳ này… Qua tác phẩm, bạn đọc biết rạp chiếu bóng đầu tiên của Hà Nội là rạp ở phố Hàng Quạt. Rồi đến rạp Pathé Frères ở miếng đất sát đền Bà Kiệu, sau đó là rạp Palace ở Tràng Tiền giá vé đắt hơn vì sang hơn. Vở kịch nói đầu tiên của Việt Nam "Chén thuốc độc" do Vũ Đình Long, chủ nhà in, nhà xuất bản Tân Dân và nhiều tờ báo có tiếng ở Hà Nội lúc bấy giờ viết và đăng trên tạp chí "Hữu thanh" năm 1921. Hồi Nguyễn Công Hoan còn đi học, phố Hàng Giấy còn là phố cô đầu, các cô đầu sau mới chuyển xuống phố Khâm Thiên. Phố Phùng Hưng, nhà số 25 chuyên cho thuê nhà làm đám cưới những đôi vợ chồng mà chồng người quê vợ người Hà Nội, chuyện nghĩa trang Hợp Thiện… Chuyện về Hà Nội của tác giả trong tác phẩm còn rất nhiều và không thể kể hết trong khuôn khổ một bài giới thiệu.

Những bản in mà chúng tôi giới thiệu ở trên hiện đang có tại:
Thư viện Hà Nội
- 47 Bà Triệu, Hoàn Kiếm
- 2B Quang Trung, Hà Đông

Xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc.

Tài liệu tham khảo:
1. Nhà văn Việt Nam hôm nay với Hà Nội: Kể chuyện đời sống văn học / Vương Trí Nhàn. - H.: Nxb. Hà Nội, 1986. -177tr.; 19cm
2. Nhà văn Việt Nam hiện đại. - H.: Hội nhà văn, 1997. - 809tr ; 25cm



Không gian đô thị và cảm quan hiện thực trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan


Không gian đô thị và cảm quan hiện thực trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan

Nguyễn Thị Thanh Tâm
Trường Cao đẳng Hải Dương



Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2024

Không chỉ là “cái lò gạch cũ”!


Không chỉ là “cái lò gạch cũ”!

Nguyễn Thanh Tú


Nam Cao đưa đến bản thảo “Cái lò gạch cũ”, nhà xuất bản bèn đổi tên, có thể còn có một lý do sau: nhà văn Nguyễn Công Hoan trước đó vừa cho in một truyện “đình đám” có tên “Cái lò gạch bí mật”. Hẳn nhiên có lý vì dù thế nào cái tiêu đề tác phẩm na ná nhau, nhất là lúc bấy giờ Nam Cao chưa có tên tuổi gì, trong khi đó tác giả Nguyễn Công Hoan đã rất ấn tượng với độc giả!

Với phong cách trào phúng đặc sắc, nhất là một cách kể rất “hóm”, truyện “Cái lò gạch bí mật” ra đời là một cách nhại truyện trinh thám đang được ưa chuộng như một “mốt” thời thượng lúc bấy giờ. Nhân vật chính tên Trinh (cũng là lối nhại “trinh thám”) vì đọc quá nhiều truyện điều tra mà mắc bệnh hoang tưởng, nhìn cái gì cũng ra “hình sự” cả.

Hôm ấy “điều tra” một vụ “giết người” Trinh yêu cầu ba người bạn nữa, trong đó có “tôi” – người kể chuyện, đi “thi hành công vụ”. Theo hiệu lệnh của Trinh, đang đêm họ bí mật đi ra cánh đồng rồi cả bốn trèo lên bốn góc cái lò gạch cũ. Đây là cái nhìn và suy nghĩ của “tôi” trước khi “bắt quả tang”, một vụ án, theo Trinh là vụ “giết người ghê gớm”, có thể nổi tiếng nhất nhì xứ Bắc Kỳ về độ nguy hiểm:
“Trông bốn thằng chồm chỗm, đen ngòm, ngồi trên bốn góc thành tường cũng đen ngòm, tôi nghĩ ngay đến cái xe đám ma. Mà cũng may, nghĩ vậy, tôi tự nhiên thấy phấn chấn trong lòng. Vì nếu cảnh này giống cái xe đám ma thì sao chả có một cái xác chết. Cái xác chết ấy bao giờ cũng ở giữa xe. Thế vị chi là thằng giết người chốc nữa nó chui vào giữa lò. Thế thì nó chết. Chúng tôi sống!”…
“Nó” chui vào thật! “Nó” loay hoay. “Nó” ngồi xuống. Chưa thấy hiệu lệnh… Chắc là Trinh, “trưởng toán điều tra” muốn “cất mẻ vó” to hơn! Nhưng rồi “nó” đứng dậy. “Nó” ra cửa lò. Một hiệu lệnh vang lên… Hẳn nhiên là tên “giết người” đã chạy mất vì các “điều tra viên” không “chuyên nghiệp” lại không “ăn khớp” với nhau. Cả bốn chỉ còn “nước” tìm “tang vật”. Rồi cũng tìm thấy:
“Theo ngón tay trỏ, ngọn đèn bấm của Trinh to ra một tia lửa sáng như ban ngày. Tang vật đó to bằng vành khăn đàn bà, cuộn khoanh lù lù trên mặt đất thành một bãi, đầu hình búp măng, màu vàng, mà đích là có hơi ngạt…!!!”…
Vì là truyện “nhại” nên nó phải tìm đến phương tiện cái tục để gây cười, để châm biếm, mỉa mai. Ai cũng hiểu cái “tang vật” kia là gì… Bạn đọc được mẻ cười. Còn các nhà văn “trinh thám” thì được bữa… tím mặt…

Cái lò gạch ấy nay đi vào dĩ vãng rồi. Nhưng chỉ chừng hai ba chục năm trở về trước thì vẫn thấy hiện hữu ở nhiều nơi, thường là vùng đồng bằng, giữa cánh đồng lúa. Vì nơi đó mới có đất sét để làm gạch, phơi gạch, khi đốt không ảnh hưởng đến dân cư…

Đó là những lò gạch thủ công được xây kín, thường có một cửa ra vào để đưa gạch, bên trên có mái che. Thế là những lò gạch cũ thành địa điểm “lý tưởng” để người ta cần làm những việc “kín đáo”. Kết truyện “Chí Phèo” là chi tiết Thị Nở “thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người lại qua…” để dành cho bạn đọc “liên tưởng”: Thị lại sẽ ra nơi ấy rồi đẻ một “Chí Phèo con”… Cái vòng luẩn quẩn lại tiếp diễn nếu người ta không thay đổi được hoàn toàn cái môi trường tha hóa phi nhân tính của chủ nghĩa thực dân nửa phong kiến kia!

Cái lò gạch tất nhiên để sản xuất gạch, ở đây là loại gạch đỏ xây dựng, quen thuộc với bất cứ người dân nào trong thời buổi đô thị hóa đang diễn ra chóng mặt. Loại gạch này được làm từ đất sét nung. Theo lịch sử ngành xây dựng thì gạch đã được loài người sử dụng khoảng 7.500 năm trước Công nguyên, dành cho các công trình xây dựng có tuổi thọ hàng ngàn năm. Đất sét được đào lên, tưới nước, nhồi (giáo) nhuyễn rồi đưa vào khuôn thành viên (gạch mộc) phơi thật khô rồi xếp vào lò. Ngày trước nhiên liệu để đốt là củi, rơm rạ, sau là than đá trộn với bùn. Lò được đốt liên tục hàng tuần liền cho đến khi gạch “chín”, chuyển sang màu đỏ hoặc nâu sẫm. Lò được tắt đến khi nguội thì dỡ gạch, dỡ sớm gạch dễ vỡ vì giòn. Là nguyên liệu chính để xây nhà nên thời hiện đại viên gạch được chuyển nghĩa sang tu từ ẩn dụ ví người nào đó có công lao hoặc công việc gì đó quan trọng mang tính tiền đề, tiên phong thì được gọi là “một viên gạch đặt nền móng”…
Một cái lò gạch cũ!


Là một chứng nhân văn hóa “biết nói” bền bỉ với thời gian, xem viên gạch nhà khoa học khảo cổ sẽ hình dung ra được phần nào “bộ mặt” của thời đó!

Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội (tập 32, số 1S, 2016) có đăng bài báo “Về vấn đề tồn tại của quốc gia Đại Cồ Việt thế kỷ X-XI” của nhà nghiên cứu Nga Polyakov Alexey Borisovich (Đại học Tổng hợp quốc gia Matxcova). Căn cứ vào chứng cứ khảo cổ học tại Hoa Lư, thủ đô của các triều Đinh, Tiền Lê, Hậu Lý là các viên gạch “có màu đỏ, độ nung cao, nhiều viên có chữ “Đại Việt quốc quân thành chuyên” (gạch xây thành quân đội nước Đại Việt – NTT) được in nổi vào gạch ướt sau khi đóng khuôn… Kích thước 30cm X 16cm X 4cm… được xác định là gạch của thời Đinh”. Dựa trên căn cứ này bài báo rút ra kết luận quan trọng: quốc hiệu Đại Việt đã có từ thế kỷ X. Vấn đề còn đợi sự thẩm định của giới sử học, từ góc nhìn văn hóa, bài viết chỉ xin khẳng định mỗi viên gạch càng xa trong quá khứ càng là những mã văn hóa rất quý giá.

Không chỉ là hòn đất nung mà mỗi viên gạch có khi giá trị tương đương với vàng (tính theo trọng lượng). Đấy là trường hợp “gạch vàng” để lát nền ở Tử Cấm Thành. Thậm chí giới nghiên cứu khoa học xây dựng còn cho rằng gạch lát sàn trong Tử Cấm Thành có giá trị hơn vàng bởi để có loại gạch này cần đến 720 ngày, qua nhiều công đoạn cực kỳ phức tạp, tinh vi. Được làm từ lò gạch ở làng Lục Mộ (Tô Châu) vì đất ở đây chất lượng đặc biệt tốt, có điểm kỳ lạ đặc trưng là âm thanh phát ra khi gõ vào gạch giống như âm thanh phát ra khi gõ vào vàng hay đá quý. Thế nên gọi là “kim chuyên” (gạch vàng).
Tử Cấm Thành - cung điện xa hoa xây bằng "gạch vàng"!


Riêng công đoạn xử lý đất phải đủ 7 quy trình: đào, vận chuyển, phơi khô, đập đất, nhào trộn, mài và sàng. Đất được loại bỏ “tạp chất”, loại bỏ hết bọt khí, cho vào khuôn đã tạo sẵn, phơi khô trong 7 tháng liên tiếp rồi mới nung. Dùng rơm rạ và trấu để loại bỏ hết hơi ẩm trong đất rồi dùng củi đốt tiếp một tháng, sau cùng, dùng cành thông đốt tiếp 40 ngày. Gạch ra lò có bề mặt sáng bóng, trơn nhẵn, có khả năng thấm nước cao nên mùa hè rất mát, tạo cảm giác dễ chịu, thoải mái. Nếu đặt hoa quả trên nền gạch này sẽ tươi rất lâu, ăn sẽ ngon và mát hơn…

Trên bề mặt những viên gạch ấy luôn được khắc dấu của phủ Tô Châu và ghi rõ niên hiệu của từng thời kỳ như Vĩnh Lạc, Chính Đức, Càn Long!

Văn hóa kiến trúc đền đài Việt Nam góp với thế giới kỳ quan Tháp Chăm có từ thế kỷ XI – XII. Ngoài độ điêu luyện về nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc, sự hài hoà trong tiếp biến phong cách nghệ thuật Chămpa và Khmer, sự độc đáo của chất liệu xây dựng là những viên gạch Chăm kỳ lạ. Cũng làm từ đất sét nhưng bí ẩn đến mức ngày nay vẫn chưa rõ đó gạch mộc hay gạch nung. Chỉ biết ngoài đất sét còn biểu hiện của sự gia thêm vỏ trấu, vỏ sò, vỏ ốc…

Tại sao có vỏ trấu? Vì khi nung (nếu có) thì vỏ trấu cháy đi để lại những lỗ rỗng, dễ thoát nước nhưng vẫn đủ độ chắc. Nếu là gạch nung thì các công đoạn như thế nào để có những viên gạch thật sự quý hơn vàng này vẫn còn là những câu hỏi. Tìm ra dấu vết của những “lò gạch cũ” là việc rất cần thiết. Nhưng người ta đã khảo sát, khảo cổ dưới mặt đất, trong văn bản cổ xưa, trong truyền thuyết dân gian… vẫn chưa tìm ra manh mối. Cũng chỉ biết trong những viên gạch Chăm có nhiều bã thực vật và thành phần silic cao hơn gạch thông thường ngày nay. Rất đặc biệt là những viên gạch bị rơi ngoài cấu trúc của tháp, dù không còn nằm trong cơ chế rút nước tổng thể nhưng do cấu tạo đặc biệt nên không bị mục.

Đã rất nhiều nhà nghiên cứu đầu ngành trên thế giới ở các chuyên ngành xây dựng, kiến trúc, vật liệu… từ cổ điển đến hiện đại cũng chưa trả lời được những viên gạch tháp Chăm dán chặt vào nhau theo cơ chế gì vì giữa chúng không có mạch vôi vữa. Thậm chí có một phỏng đoán người xưa xếp gạch mộc thành hình như tháp hiện nay, xây một cái lò gạch khổng lồ bao quanh rồi… đốt theo quy trình đặc biệt. Sau đó phá bỏ cái vỏ lò để giữ lại cái lõi!!!

Còn biết bao những giả thuyết khác. Còn bạn, xin mời có ý kiến!?

Nguyễn Thanh Tú





Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2024

80 năm truyện ngắn 'Thịt người chết'!


80 năm truyện ngắn 'Thịt người chết'!

Bùi Hoàng Tám


Hiện trường vụ tai nạn khiến em Y. tử vong
(Ảnh: Phạm Diện/Báo Thanh niên)


Dư luận tuần qua dậy sóng xung quanh câu chuyện một cháu bé 12 tuổi đi xe máy cán qua dây cáp quang bị trượt té, đúng lúc bị một xe tải chạy cùng chiều va chạm dẫn đến tử vong.
Sau đó, người thân của em đã liên tục xin đi xin lại các loại giấy tờ xác nhận của cơ quan công an, bệnh viện… nhằm làm thủ tục chứng tử cho nạn nhân. Thế nhưng 11 ngày sau (7/12 - 18/12), gia đình vẫn bị cán bộ phường Tân Phước Khánh (TX Tân Uyên, Bình Dương) từ chối. Lý do, "giấy tờ làm tầm bậy, tầm bạ", "công an xác nhận nội dung không đúng".

Cứ tưởng “quá tam ba bận”, nhưng ở đây thì đến lần thứ tư, sau khi lo đầy đủ giấy tờ theo yêu cầu đến cho cán bộ phụ trách, người thân của nạn nhân xấu số vẫn tay trắng đi về.

Thậm chí đến sáng 19/12, khi phóng viên tìm đến để tìm hiểu vụ việc thì ông Chủ tịch UBND phường này vẫn khẳng định cán bộ của phường làm đúng theo quy định. Phóng viên phải dẫn quy định pháp luật ra thì lãnh đạo phường mới thừa nhận cấp dưới của mình "thiếu sót" và mong được "thông cảm".

Khi thông tin được đăng tải, nhiều ý kiến cho rằng nguyên do gia đình em bị gây khó khăn, người chết 12 ngày không xin được giấy chứng tử để đem đi chôn là bởi thiếu cái thủ tục… “đầu tiên”.

Những ý kiến này, làm nhớ lại một truyện ngắn của nhà văn trào phúng xuất sắc Nguyễn Công Hoan cách đây hơn 80 năm (1938) có tên “Thịt người chết”.

Truyện kể về anh nông dân có tên là Xích vì “vô học, ngu dốt” nên đã không biết chọn cho mình cách chết và giờ chết.

Xích chết một cách đầy “bí ẩn” ở chính cái ao sen nhà mình mùa hoa nở sau một bữa nhậu say lúy túy ở sân đình và vào ngày thứ 7.

Thế là cả một đám quan lại từ hương lý, chánh tổng đến quan phụ mẫu trên phủ huyện bu quanh cái xác ấy như một lũ kền kền.

Đau đớn thay, cái xác chết ấy cứ ngày một trương phềnh lên, tỏa mùi nồng nặc trong sự lăn lộn, van xin của gia đình tang quyến.

Câu chuyện vừa bi hài, vừa cay đắng qua ngòi bút thiên tài của nhà văn Nguyễn Công Hoan đã có đoạn kết, ông Cửu (bố Xích) bằng lòng khấn quan bảy mươi đồng mới được đem xác con đi chôn:
“Và một giờ sau, lũ ruồi, lũ nhặng, lũ cá, lũ quạ, tiếc ngẩn ngơ. Chúng nó biết đâu rằng quan huyện tư pháp đã tranh mất món mồi ngon của chúng”.
Hi vọng rằng câu chuyện của 80 năm trước không tái hiện ở Tân Phước Khánh.

Bùi Hoàng Tám



Thứ Ba, 18 tháng 6, 2024

Nghề làm báo - thủa ban đầu


Nghề làm báo - thủa ban đầu

Vương Trí Nhàn blog


Về mặt số lượng mà xét, giờ đây không mấy ai còn phải tỏ ý phàn nàn: Báo ở ta đang ra nhiều đến mức cả những bạn đọc có nhiều thời giờ cũng than phiền là không sức đâu đọc hết. Thế nhưng cái sự đã như là thừa ấy một phần cũng lại là do chất lượng. Giả sử thế giới có một bảng xếp hạng, hẳn có thể đoán là tay nghề của các nhà báo ở ta, cũng như bóng đá mà hàng ngày chúng ta vẫn xem, chỉ chiếm một vị trí khiêm tốn.

Điều này hoàn toàn là có thể hiểu được nếu biết rằng nghề báo mới chỉ du nhập vào xã hội VN từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XIX sau đó trở thành một hoạt động bình thường trong xã hội từ nửa đầu thế kỷ XX, và ngay từ thời ấy nhiều người làm nghề đã tỏ ý chưa thoả mãn với trình độ của các đồng nghiệp. Trở lại với nghề làm báo thời tiền chiến có lẽ cũng là một dịp tốt để chúng ta nhận chân trình độ báo chí hôm nay.

Dẫu rằng nghề làm báo vốn từ Tây phương truyền sang, song những người đứng ra viết báo đầu tiên lại ở xứ ta (rõ nhất là ở Hà Nội) lại là các cụ đồ nho biết chữ Tàu. Nói gì thì nói các cụ cũng có một căn bản văn hoá nào đó. Chữ quốc ngữ lại dễ học với mọi người. Các cụ tìm thấy trong việc làm báo một điều kiện tốt để thực hiện cái chí đã hấp thụ từ đạo thánh hiền “nhất ngôn khả dĩ hưng bang”, nói nôm na như con người ngày nay tức báo chí có thể là một công cụ tốt để đóng góp cho xã hội và trước tiên là giáo dục quần chúng.

Bên cạnh những tờ báo do chính quyền thuộc địa lập ra thì báo chí Việt Nam ban đầu chủ yếu đã là báo chí tư nhân hoặc mang danh những hội ái hữu nọ kia nhưng thực chất là do tư nhân thao túng. Người đứng ra xin phép mở toà báo không chỉ muốn làm một công vịệc có tính cách khai hoá (tên một tờ báo do Bạch Thái Bưởi chủ trương), mà còn muốn xem báo chí là một cơ quan kinh doanh có lãi. Trong hoàn cảnh ấy, họ giữ tư cách những ông chủ, còn ký giả thì là kẻ làm thuê. “Chủ báo quan niệm rằng ký giả là người làm công, ngày hai buổi đến toà soạn để viết xã luận đưa tin tức trám cho đầy các cột báo”. Đấy là ghi nhận của Hoàng Tích Chu, một người có công lớn trong việc hiện đại hoá báo chí. Nguyễn Công Hoan trong Đời viết văn của tôi kể lại một chuyện khá vui:

Những người thực thi việc làm báo cũng chẳng khá hơn bao nhiêu. Tiếp tục cái ý bảo họ là kẻ làm thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi, Hoàng Tích Chu nói thêm “Những người làm công nói trên tìm ở đâu ra? Đa số là những nho sĩ nghèo và dốt, những người kiến thức nông cạn nhưng muốn loè thiên hạ với những câu văn hoa bóng bảy”. Câu khái quát xanh rờn ấy, như chúng ta nói bây giờ, có cái cơ sở thực tế của nó. Bởi sự thực là người có gan sang tận Pháp để học nghề như ký giả họ Hoàng, số đó đếm chưa đầy năm đầu ngón tay. Còn lại toàn vừa làm vừa học, đại khái trông vào các tờ báo viết bằng tiếng Pháp mà học theo. Tin thế giới thì dịch theo bản tin yết ở nhà bưu điện. Tin trong nước toàn việc vặt nào là quan chức thuyên chuyển, vợ chồng đánh ghen, toà án xử rượu lậu... Bên cạnh những tin tức hổ lốn ấy là những bài thơ phú cuối mùa đặc giọng thù tạc hoặc những bài xã luận đại cà sa, không ai muốn đọc.

Để hình dung ra công việc hàng ngày của một người làm báo, không gì bằng đọc lại các hồi ký viết về Tản Đà lúc làm An nam tạp chí. Tạp chí lay lắt chết đi sống lại mấy lần. Mà ngay lúc đang sống nó cũng ốm rề ốm rệt. Toà soạn chỉ có một mình Tản Đà, ông vừa viết bài vừa đi nhà in vừa thu tiền bán báo. Mà lại rất thích tiếp khách. Gặp người tương đắc, ông có thể sai mấy cậu nhỏ đi mua đồ nhắm về khề khà chén rượu nói chuyện với khách hàng buổi. Cái cảm giác về thời gian đang trôi - điều cần nhất với nhà báo - thì Tản Đà chẳng coi ra gì. Chẳng bao lâu đã tới cái ngày Xuân Diệu về sau còn nhớ mãi: ở Quy Nhơn tác giả Thơ thơ mỏi mắt trông đợi mà mãi chẳng thấy báo ra và càng ngóng càng thấy vô vọng. An nam tạp chí cũng yểu mệnh như người chủ trì của nó vậy.
Hình ảnh nhà báo trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Trong khi hướng cặp mắt quan sát người đời tác giả Bước đường cùng không quên dừng lại ở giới báo chí. Ông có hai thiên truyện khá sắc sảo đó là Tôi chủ báo, anh chủ báo, nó chủ báoÔng chủ báo chẳng bằng lòng.

Truyện trên tố cáo cái lý do mỹ miều mà nhiều nhà giàu đương thời xông vào làm báo, đó là tính hiếu danh. Chẳng những không quan tâm tới sứ mệnh của ngòi bút mà cả đến cái thực chất của báo chí họ cũng không hiểu gì cả. Ngày họ đảm đương cái chức danh chủ báo là ngày họ nhận ra mình bị lừa: Bài vở kém cỏi, người viết xoàng xĩnh, báo ế. Cách duy nhất để họ thoát ra khỏi cảnh phá sản là đi lừa những anh háo danh và kém hiểu biết như mình hôm qua để thay mình chèo lái.

Còn truyện dưới thì tố cáo cái mánh khoé xoay tiền của giới làm báo. Họ sẵn sảng đánh quả tù mù đưa tin theo lối nhỏ giọt bôi ra trong nhiều số, cốt để câu khách. Ai không làm thế bị coi như tay nghề kém cỏi.

Trong khi công kích bọn người lừa đảo mọi kẻ giàu sang phú quý đang phất lên, một số ký giả lại biến thành một kẻ làm tiền, lo bán được báo với bất cứ giá nào, chứ chẳng có gì gọi là tâm huyết với trách nhiệm cả.


Và trong một mẩu chuyện vui của Vũ Trọng Phụng

Trong các tiểu thuyết của nhà văn này như Giông tố, Vỡ đê... người ta đã loáng thoáng nhận ra hình ảnh của kẻ làm báo với sứ mệnh điều tra sự thật từ đó đóng góp vào việc làm sáng rõ hình ảnh một xã hội vốn nhiều bóng tối. Song là một ngòi bút hoài nghi, Vũ Trọng Phụng không quên đặt một dấu hỏi khá to trước tư cách người làm nghề viết báo đương thời. Sao mày không vỡ nắp ơi là tên một bài viết trên báo Loa 1934 (mới được sưu tầm và in lại trong tập Vẽ nhọ bôi hề in ra năm 2000). Để nói về tài đổi trắng thay đen của người cầm bút, họ Vũ dùng bút pháp thậm xưng kể chuyện một nhà báo kiếm ăn quanh một người chết. Ban đầu anh ta dựng chuyện người kia bị bức tử để tống tiền. Không được anh ta đánh bài chuồn bằng cách kể rằng hồn người chết vừa báo mộng cho biết người ấy tự tử vì một cớ vớ vẩn khác. Mọi chuyện được giải quyết gọn ghẽ tới mức viên tri huyện có liên quan xem xong phải thì thào “Này, sang năm về hưu tôi cũng muốn mở báo. Vậy thế nào ngài cũng về giúp việc cho tôi nhé !”.


Trên cái nền chung của một nghề nghiệp

Trước 1945, trong hoàn cảnh một nước thuộc địa, ở VN đã có đại học, song các trí thức trẻ sau khi học xong mấy trường như trường luật trường thuốc phần nhiều gia nhập vào đội ngũ quan lại hoặc công chức cao cấp lương cao bổng hậu, nhường việc làm văn làm báo cho các loại trí thức lơp dưới. Nhà văn đồng thời là nhà báo Vũ Bằng có lần nhận xét báo chí thời ông là một thứ nghề không thày không trường, cốt biết học lỏm bắt chước là được. Thành thử, nếu như số phận của những người làm nghề ở đây có phần giống với số phận những người làm ở các ngành nghề thủ công như làm tranh dân gian, thêu ren, in ấn, làm đồ gốm, hoặc các đèo kép trong mấy gánh hát rong... thì cũng là chuyện tự nhiên. Còn cần cho mọi người thì còn tồn tại. Rât nhiều người có tài có năng khiếu. Song nhìn chung thì vẫn là cách làm cách nghĩ manh mún luộm thuộm và không ai đủ khả năng đưa nghề nghiệp lên mức hoàn thiện của một ngành công nghiệp hiện đại như người ta vẫn thấy ở các nước phát triển.


Vương Trí Nhàn blog





Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2024

Nghĩ về những người giầu ở Việt Nam hôm nay


Nghĩ về những đại gia hôm nay

Vương Trí Nhàn
Nhân bài viết Cọp, gấu và đại gia

TT - Một người ăn mày trong cơn đói phải tranh ăn với con chó của một gã nhà giàu, lỡ tay đánh gãy hai chiếc răng của con chó. Gã nhà giàu nọ lên ôtô phóng đuổi theo người ăn mày với ý nghĩ:
- À, mày đánh gãy răng chó ông, ông chỉ kẹp cho mày chết tươi rồi ông đền mạng. Bất quá ba chục bạc là cùng!


Thiên truyện mang tên Răng con chó của nhà tư sản mà tôi vừa tóm tắt được Nguyễn Công Hoan viết đúng 80 năm trước (1929). Thú thật lần đầu đọc lên tôi hơi ngờ ngợ, liệu có người ác, vô lương tâm, coi con chó hơn cả sinh mệnh của đồng loại? Nhưng rồi thực tế cho tôi biết là có một hạng người như thế với cách cư xử như thế. Dân ta gọi họ là trọc phú. Sau khi giàu lên họ coi cuộc đời chỉ còn ý nghĩa ở sự hưởng thụ và càng ngông nghênh thách thức với đời càng thích. Hơn thế nữa - như Nguyễn Công Hoan đã nói trong truyện ngắn trên - đó là những con người càn rỡ, những nhân cách kỳ dị, bề ngoài lên mặt với đời nhưng cuộc sống nội tâm lại cực kỳ nghèo nàn, nhạt nhẽo.

Trên báo chí ta gần đây, hình ảnh những đại gia cũng bắt đầu xuất hiện. Và ta lại thấy ở không ít đại gia hôm nay những nét của đám trọc phú xưa. Đúng là trong các đại gia gần đây không ít người có chất hãnh tiến, khinh thế ngạo vật, trơ tráo tàn nhẫn. Họ gợi lại hình ảnh đám giàu xổi đã thành một bộ phận đáng ghét hằn lên trong tâm lý cộng đồng Việt bao đời nay mà văn học đã ghi nhận.

Song tôi không nghĩ rằng tất cả họ đều là trọc phú.

Thông minh sáng láng, khao khát tự khẳng định, quyết đoán dám làm cả những việc động trời, họ nhiều phen gợi cho tôi niềm kính phục.

Nhiều khi cách sống, cách nghĩ, tư thế khai phá sáng tạo của họ đã đánh thức tinh thần năng động của xã hội và mở ra lối thoát cho những tình thế bế tắc.


Nhiều phen họ đã phải lấy cái xấu để vượt lên sự trì trệ. Cuộc vật lộn hằng ngày quá quyết liệt tước đi gần hết của họ cả những niềm vui hồn nhiên lẫn những giây phút hướng thượng cao đẹp.

Nhìn một cách bao quát, tôi chỉ thấy tiếc. Nếu được sự dắt dẫn của trí tuệ, lẽ ra họ có thể tìm được những định hướng khác. Tài năng và sức lực của họ sẽ được huy động để trở nên có ích hơn cho cộng đồng, và như vậy tên tuổi họ còn có khả năng ở lại với tương lai, với lịch sử, chứ không phải chỉ được truyền tụng kèm theo bao lời chê trách như hiện nay.

Huy Thọ có nhắc tới cách sống và tồn tại của nhiều đại gia nước ngoài Warren Buffett, Bill Gates, Morita Akio (cha đẻ Sony). Tôi đọc trong đây một sự gợi ý để suy nghĩ về lý do đang có quá nhiều mặt hư hỏng ở các đại gia VN hôm nay. Một thời gian dài, đất nước trong thế cô lập, và giá trị duy nhât được đề cao là những gì có ích cho chinh chiến. Luẩn quẩn trong cuộc sống tù đọng, doanh nhân VN, cũng như anh như tôi lúc ấy, tìm cách đánh bóng tên tuổi qua cách chơi trội so với chung quanh, và lấy việc học đòi bắt chước được sự phá phách cuồng loạn của thiên hạ làm niềm tự hào. Hoàn cảnh hôm qua đã quy định cho con người như thế, ta nên hiểu cho nhau. Nhưng trong hoàn cảnh hội nhập , nếu cứ diễn mãi nếp sống của đám chúa đất, và do đó nêu tấm gương xấu cho lớp trẻ, thì đó lại là điều đáng trách, đúng hơn là có tội.

Vương Trí Nhàn


Đã in ở Tuổi Trẻ - 14/09/2009
(có bổ sung thêm đoạn cuối)






Thứ Hai, 3 tháng 6, 2024

Thử bàn về hát bội


Thử bàn về hát bội

Lê Minh Quốc


Tự dưng chiều nay lại nhớ đến ông bạn già - nhà thơ Phạm Thiên Thư. Đã lâu, chừng hơn mươi năm trước đang thất tình thất điên bát đảo, lên bờ xuống ruộng, trần ai khoai củ, tóm lại là đang buồn nên lúc ấy thường vác xác lên nhà ông tìm nơi tâm tình.

Có những lúc ông an ủi bằng cách đưa ra chừng dăm quyển vở học trò chép đầy thơ. “Q đọc đi”. Bèn đọc. Những bài thơ này, ông chép tay như nét chữ học trò. Rõ ràng. Dễ đọc. Gió chiều lồng lộng. Đường vắng. Quán cà phê Hoa Vàng.
“Rằng, xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau”.
Tên quán là lấy theo câu thơ của chính ông.


Nhớ Phạm Thiên Thư

Thời điểm này, Phạm Thiên Thư đã “lậm” sâu vào phương pháp dưỡng sinh với tên gọi “phathata” do ông sáng lập. Đại khái, ông chủ trương:
“Luôn biết mình dốt
Để gọt tính kiêu
Để yêu như mới
Để cởi mối hiềm
Để thêm tinh tiến”.
Và cũng vì say mê cuồng nhiệt, trung thành với phương châm này, ông đã viết nhiều bài thơ tứ tuyệt. Mỗi lần ghé chơi, ông thường đưa ra cho đọc. Sau đó, dần dà y ít lui tới. Tại sao thế? Đơn giản chỉ vì vết thương lòng đã lành, đã có thể vi vu trăng hoa tình ái với cảm hứng yêu đời dào dạt, yêu người da diết nên y đã… quên béng ông bạn già.

Thế đấy. Có những nơi khi rầu rầu tâm sự, buồn buồn sương khói ta thường tìm đến; ngoặt một cái, lúc giông gió đã qua, biển đã yên, sóng đã lặng, ô hô, ta lại chẳng thèm nhớ đến nữa. Tệ đến thế là cùng.

Chẳng sao. Vẫn còn có cách “sửa sai”, ấy là bằng mọi cách lục lọi lại tập sách Từ điển cười Tiếu liệu pháp của Phạm Thiên Thư - bao gồm những bài thơ mà ngày ấy, y đã từng đọc. Nay, đọc một lèo và cảm thấy khoái! Trên cõi đời, nếu được cười một cách sảng khoái, còn gì thú bằng? Ngược lại, đã cười mà cười gượng gạo đành lòng, cam chịu nhưng tỏ ra vui vẻ thì còn gì là cười?

Sực nhớ, trong một truyện ngắn nọ, nhà văn Nguyễn Công Hoan kể lại có anh chàng dân đen được quan trên cử đi trừ bọn cướp. Với lòng quả cảm, nghĩa hiệp anh ta đã khám phá ra ổ trộm, nhờ đó, làng xóm bình yên. Sự thành công này rực rỡ đến độ cô vợ anh… phải góa chồng. Tất nhiên, quan lớn hứa thưởng công, đền bù công lao xứng đáng cho một người bỏ mạng vì việc làng, việc nước.

Cũng an ủi phần nào, vì sau khi chồng chết gia đình ngày càng túng quẫn, kiệt quệ. Chờ đợi mãi, dăm ba tháng sau, mừng quá chị nhận tờ sức của ông lý trưởng. Mời đi nhận tiền thưởng? Không, mời nhận cái bằng… truy tặng cửu phẩm bá hộ! Ấy là ngậm cười chăng?

Nếu người khác chỉ viết làm dăm ba bài thơ trào phúng để cười cho đỡ buồn, ông Phạm Thiên Thư đã làm hẳn một cuốn sách dày trên 1.000 trang. Nội lực sáng tạo và lao động bền bỉ về cái cười cỡ này, thiệt đáng nể. Thế thì cười là gì?

Để trả lời, chỉ có thể viết luôn một quyển sách, chẳng hạn trước kia, bác sĩ Dương Tấn Tươi có viết quyển Cười (nguyên nhân và thực chất) in năm 1968, dày 370 trang, nay cũng thuộc loại quý hiếm mà chơi sách cũ săn lùng dữ lắm.

Thế nào là cười? Trước mắt, ta hãy lấy định nghĩa ngắn gọn của Việt Nam tự điển do Hội Khai trí tiến đức khởi thảo năm 1931: “Nhách môi, há miệng lộ sự vui vẻ hay ý tứ gì ra”.

Trước đó nữa, Đại Nam quấc âm tự vị (1895) giải thích: “Ấy là cách hả miệng, nhích mép, hoặc có tiếng hoặc không có tiếng, tỏ ra mình vui vẻ hay có ý gì. Cũng có nghĩa là chê bai: Nó cười tôi”.

Có lẽ, “định nghĩa” chuẩn nhất về cười, theo y, thuộc về ông Rabelais - một nhân vật đồ sộ của thời Phục hưng: “Thay vì bàn đến khóc, tốt hơn là viết về cười, vì cười là đặc tính của con người”. Đúng thế, không con vật biết nào biết cười, chỉ có con người.

Tuy nhiên, y biết có một con bò cũng biết cười là khi nó được… xuất hiện trên bao mỳ pho mát Pháp. Hình ảnh ngộ nghĩnh, vui tươi, dễ gây thiện cảm. Con bò đó cười thế nào?

Chắc chắn không phải là kiểu cười mà ông Phạm Thiên Thư đã miêu tả:
“Tức quá gằn lên một tiếng cười
Cười như ngầm dọa: “Biết tay” thôi
Cười ông - có lúc ông cười lại
Cười lại là bay chết bỏ đời!”.
Cười này là cười gằn.


Nhớ qua hát bội

Đã lâu, lâu lắm rồi, có đọc bài thơ tứ tuyệt xưa lắc xưa lơ, xét ra là một lối cười xỏ xiên thâm trầm, ý vị, nay chép lại cho vui. Vui là tốt rồi, được thế đã là may, còn hơn phải chìm đắm trong lo âu sầu não. Bài thơ này của ông thi sĩ Lãng Ba.

Thơ rằng:
“Sân khấu hẹp hòi múa hát vang
Ăn lương bầu gánh sợ ông làng
Làm vua làm tướng chi chi đó
Thì cũng do “nhưng” núp dựa màn”.
Xét về câu chữ, rõ ràng tác giả là người miền Nam. Thử hỏi, câu cuối có từ “nhưng”, vậy nghĩa là gì? Ta bàn sau. Dám nói rằng, ông làng là cách gọi chung về ông tổ hát bội. Nhiều từ điển và sách vở xưa nay đã giải thích rành rành. Liệu chừng có đúng? Không hẳn đâu.

Một khi nói chắc nịch như thế ắt có người cãi. Dứt khoát sẽ cãi lại cho bằng được. Tránh cãi cọ lôi thôi, chi bằng hãy nghe chuyên gia hàng đầu nghiên cứu nghệ thuật hát bội là GS Hoàng Châu Ký giải thích:
“Ông làng là những tượng nhỏ được thờ với các vị tổ trong những gánh hát bội ngày xưa. Trên bàn thờ tổ có một cái tráp gỗ sơn đỏ, có cửa mở đóng, bên trong có mười tượng gỗ nhỏ, đầu bịt khăn đỏ, mình mặc áo lục, là tượng các vị tổ của nghề hát bội. Trước mười tượng này lại có hai tượng khác cũng khăn áo như vậy nhưng đứng hai bên chiếc ngai, đó là hai ông làng hát bội”
(Tự điển nghệ thuật hát bộ Việt Nam, Nguyễn Lộc chủ biên - Nxb KHXH Hà Nội - 1998, tr.448).
Rõ ràng ông làng chỉ được thờ chung chứ không phải ông tổ hát bội. Thế nhưng xưa nay người ta vẫn gọi và xếp chung vào hàng ông tổ, xét ra thiệt… éo le! Mà cũng phải thôi, theo truyền thuyết ông làng vốn là hai hoàng tử trẻ con, hỉ mũi chưa sạch, mặt búng ra sữa, còn ham chơi và cực kỳ mê hát bội.

Một hôm dù đang ốm nhưng cả hai vẫn trốn đi xem hát, núp một chỗ không ai nhìn thấy, bị cảm lạnh rồi chết. Đáng khen là sau đó, hai ông hoàng này luôn phù hộ cho các gánh hát bội nói chung nên từ đó về sau, đào kép đã thờ họ cùng với ông tổ. Từ “ông hoàng”, trải qua năm tháng đã dần dần nói trại thành “ông làng”.

Do còn trẻ con nên hai ông hoàng này… khoái mùi thơm của trái thị, vì lẽ đó, ngày xưa người ta kiêng kỵ đem trái thị vào giàn hát/ rạp hát là vậy, vì rằng, mùi thơm của trái thị khiến hai ông hoàng xao nhãng mà quên giúp đỡ cho đào kép.

Nhân đây xin nói luôn, theo ghi chép của nhà nghiên cứu Thy Hảo Trương Duy Huy về tượng ông làng:
“Thường được đẽo bằng gỗ vông, lớn bằng bắp tay, gặp những tích tuồng có vai người mẹ sinh con, người ta đưa ông làng ra đóng bé sơ sinh, chứ không mượn trẻ con thật đóng tuồng”.
Khi bàn về ông làng, y nhớ đến bài Vịnh hát bội Quảng Nam, nhà thơ Tú Quỳ viết:
“Nhỏ mà không học lớn làm ngang
Trống đánh ba hồi đã thấy quan
Ra rạp ngồi trên ba đứa hiệu
Vào buồng đứng dưới cặp ông làng”.
Về ông làng, ta đã biết, còn “ba đứa hiệu” là quân chạy hiệu, tức lính cầm cờ, sai đâu chạy đó, thuộc hạng lóc cóc leng keng. Sự đời cũng oái oăm thiệt, cũng vì câu thơ “Ra rạp ngồi trên ba đứa hiệu” mà ông Tú Quỳ mang họa vào thân.

Hiệu là tên của anh hùng Nguyễn Duy Hiệu (1847-1887) - lãnh tụ xuất sắc của phong trào Nghĩa Hội chống Pháp ở Quảng Nam. Có giai thoại, ông Hiệu đã sai lính về làng bắt Tú Quỳ lên hỏi tội vì câu thơ xách mé đó, nhưng rồi vì tiếc tài của một người giỏi chữ nên ông tha cho. Về sau, Tú Quỳ còn có dăm ba bài vè, văn tế chế giễu cuộc kháng chiến của nghĩa quân Cần vương.

Nhà “Quảng Nam học” Nguyễn Văn Xuân bình luận:
“Ở thời điểm này, ta chỉ có thể khép Tú Quỳ vào hạng người lạc hậu, bảo thủ và ông đã bị các nhà trí thức tiến bộ thời ấy khinh thường”
(Thơ văn Tú Quỳ - Nxb Văn hóa thông tin - 208, tr.256).
Đây chính là lý do khiến người đương thời không muốn nhắc đến Tú Quỳ nữa, về sau thơ văn của ông mai một dần, nay ít ai biết đến.

Thế thì, vấn đề đặt ra ở đây là gì?

Với người cầm bút, ngoài cái tài/ tài năng còn là quan điểm, thế đứng, cách nhìn, sự lựa chọn, thái độ của họ về thời cuộc, về thời đại họ đang sống. Bằng không, văn chương chữ nghĩa dù tài hoa, dù hay bằng trời đi nữa, có là gì chăng?

Thì đấy, chỉ đơn cử một hai thí dụ, ai dám bảo thơ văn của Tôn Thọ Tường không gấm thêu? Ai dám bảo kiến văn của Lê Tắc không giỏi? Thế nhưng đương thời, thời sau thiên hạ đã nhìn nhận họ bằng cái nhìn thế nào? “Rằng hay thì thật là hay”.

Hóa ra, bản lĩnh sống, tư cách sống, thái độ sống của người cầm bút cũng quan trọng không kém gì tài năng trời cho, đúng không nào? Xét ra, cái nghề sống bằng chữ nghĩa nhọc nhằn và nặng nề lắm.

Một người thợ làm xong cái bàn, cái ghế, cái tủ… sau khi bàn giao hoặc bán đi là xong. Nhẹ nhàng phủi tay. Không phải bận tâm gì nữa. Nhưng người cầm bút lại khác, rất khác. Với những gì đã viết, đã công bố dù một dòng, một chữ dẫu sau này đã chìm sâu dưới ba tấc đất, họ vẫn còn phải chịu trách nhiệm lấy nó.

Hãy quay trở lại với câu thơ của Lãng Ba vừa nêu trên: “Thì cũng do “nhưng” núp dựa màn”. Dám chắc rằng, chẳng mấy ai có thể giải thích được từ “nhưng”. Nó vô nghĩa? Nó sai moras. Nghĩ thế, bèn lật từ điển tra cứu xem sao.

May quá, Đại Nam quấc âm tự vị (1895) giải thích: “Nhưng hát bội: Người thuộc tuồng làm thầy hát bội, thầy tuồng”. Vậy suy ra, “nhưng” cũng là “thầy tuồng”? Liệu chừng có đúng? Không hẳn đâu.

Một khi nói chắc nịch như thế ắt có người cãi. Dứt khoát sẽ cãi lại cho bằng được. Tránh cãi cọ lôi thôi, chi bằng hãy nghe chuyên gia hàng đầu nghiên cứu nghệ thuật hát bội là Tuần Lý Nguyễn Khắc Dụng giải thích:
“Trong gánh hát bội, thầy tuồng là nhân vật quan trọng, cai quản nội bộ. Thầy tuồng là người thông chữ nho, biết đặt tuồng mới, soạn tuồng xưa, tập tuồng, sắp xếp cho có đầu đuôi, thứ lớp. Trong ban hát, ai cũng kính nể ông thầy tuồng”.
Nói nôm na, thầy tuồng chính là soạn giả và kiêm luôn cả đạo diễn.
“Nhân vật thứ hai, kế tiếp thầy tuồng là chú nhưng, chuyên việc nhắc tuồng cho diễn viên còn non nớt. Chú nhưng là một kép già lão luyện, thuộc hầu hết các tuồng thầy”
(Hát bội - Nam Chi tùng thư XB năm 1970 - tr.326).
Rõ ràng, “nhưng” chỉ là người nhắc tuồng.
“Làm vua làm tướng chi chi đó
Thì cũng do “nhưng” núp dựa màn”
. Câu thơ vọng lên tiếng cười xỏ xiên, châm biếm. Đọc xong, khiến ta lại nhớ đến… nghệ thuật chơi múa rối nước. Với con rối, mọi cử động của nó là do người chơi, núp phía sau điều khiển.

Thật ra, thời buổi nào cũng có hạng người cầm bút chẳng khác gì con rối. Chữ nghĩa múa may quay cuồng những tưởng tâm huyết lắm, những tưởng đau đời lắm nhưng chỉ là cái loa phát thanh cho “nhưng” núp dựa màn, giấu mặt ở phía sau. Hạng cầm bút này, gọi là gì?

Y không biết, chỉ biết văn hào Lỗ Tấn gọi loại người thuộc “nhị hoa diện”, nói nôm na là “anh hề nhì”.

Khác với hề kiểu cũ ở chỗ:
“Anh ta là trí thức. Anh ta biết chỗ dựa của mình là núi băng, nhất định không bền lâu, tương lai mình còn phải xu phụ người khác, cho nên được nuôi nấng, chia sẻ oai thừa, anh ta cũng phải giả vờ làm như mình không phải cùng một phường với tên công tử đó”
(Lỗ Tấn tạp văn, bản dịch của Trương Chính - Nxb VHTT - 2003, tr.511-512).
Có bàn luận gì thêm không?

Dạ, đã đủ rồi ạ.

Lê Minh Quốc



Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2024

Thói hư tật xấu người Việt: Khôn lỏi - Ranh vặt - Tinh tướng


Thói hư tật xấu người Việt:
Khôn lỏi - Ranh vặt - Tinh tướng

Vương Trí Nhàn

(Thethaovanhoa.vn) - Một người đã sống qua ở Nhật cho biết người Nhật trong khi giao thiệp, nhất là trong khi làm kinh tế cũng có nhiều quái chiêu không thể thương được. Đầu cơ, móc ngoặc, hối lộ, nói chung là đi đường tắt... trò gì cũng có cả.

Nhiều người trong đám dân đi chào mời tiếp thị (gọi là “mizu shobai”), như có bùa mê thuốc lú, làm cho người ta phải xiêu lòng, rồi sau mới biết mình bị lừa.

Bài viết so sánh: “Cái tinh ma thâm độc của họ khác với cách xảo trá ngô nghê hay dối quanh của người Việt, nên lúc đầu rất khó nhận ra”.

Có chút gì đó vừa “vui” vừa buồn khi nghe nhận xét trên đây. “Vui” vì không phải chỉ người Việt thích lừa lọc nhau, thiên hạ cũng xấu chẳng kém gì ta. Mà buồn vì hóa ra người Việt mình rút cục chỉ biết mẹo vặt, chứ không có cái mưu đồ sâu xa, cái thâm trầm như thiên hạ.

Hơn bù kém, thấy đáng buồn hơn vui. Người bị lừa vừa bật cười vừa bực mình – đến lừa mà cũng vụng dại hớ hênh, thì còn làm được cái gì nên hồn (!).

Người nước ngoài thường nhận xét nói chung người Việt mình thông minh lanh lợi. Nhưng họ cũng thấy ngay sự nhạy cảm nhanh nhẹn trong phản ứng này không dựa trên một sự suy nghĩ chắc chắn mà có gì đó nông nổi vội vã. Trong sự chủ động lại như mang sẵn yếu tố thị động.

Bản thân chúng ta không phải không biết điều đó.

Trong tiếng Việt từ “khôn” không hàm ý sâu sắc trong tư duy và uyên bác trong kiến thức, mà ngã sang một sự tính toán lặt vặt dễ gây phản cảm.

Đó là nghĩa của “khôn” trong những câu tục ngữ “khôn ăn người, dại người ăn”, “khôn văn tế, dại văn bia”, “khôn chẳng qua lẽ, khỏe chẳng qua lời”, “khôn sống, mống chết”, “khôn nên quan, gan nên giàu”, “khôn ngoan chẳng lọ thật thà – lường thưng tráo đấu chẳng qua đong đầy”…

Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “khôn” là khả năng suy xét để một người tìm ra một cách xử sự có lợi nhất, tránh được những gì có hại đến quyền lợi các mặt của anh ta. Khôn lỏi – ranh ma – láu cá… đều là thực dụng và vụ lợi.

Tuy không dùng đến từ khôn, nhưng câu “Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau” thật đã thâu tóm đủ cái tài tính toán của người mình và minh họa cho định nghĩa nói trên.

Tồn tại trong suốt lịch sử, công thức này đã thành một thứ “chân lý mặc định”, người Việt dùng nó để “minh triết bảo thân” và việc truyền dạy trong các gia đình được xem là hoàn toàn tự nhiên. Không ai mang nó ra phê phán bao giờ.
Gặp một người hành động theo nguyên tắc đó, chúng ta hoàn toàn thông cảm, trong bụng hiểu rằng ai cũng phải xử sự thế thôi, trông người khôn ta phải học theo để khi khác áp dụng.

Cả trong truyện kể dân gian lẫn trong chính sử, người xưa còn ghi lại nhiều mưu mẹo vặt của người mình trước sứ Tàu. Nguyễn Văn Tố trong Đại Nam dật sử (1944) kể khi tiếp Tống Cảo, Lê Hoàn cho xua trâu bò của dân ra để dọa, gọi là quan ngưu, không đầy một nghìn nói khoe là mười vạn. Đấy là khi cần khoa trương thế lực. Còn nói tới việc khoe trí khôn, hẳn ai cũng nhớ sự tích Trạng Quỳnh thi vẽ: Quỳnh chấm cả mười đầu ngón tay vào mực để vẽ giun.

Về khoản khôn ngoan ranh vặt thì Trạng Quỳnh là cả một tượng đài vĩnh viễn. Trong danh sách những điển hình của tính cách Việt, nhân vật này bao giờ cũng đứng đầu sổ.

Thời xã hội mới bước sang giai đoạn xã hội hóa, Nguyễn Công Hoan được biết tới như một ngòi bút giàu chất An Nam bậc nhất. Người Việt trong các tác phẩm của ông đôi khi cũng ngớ ngẩn, ngờ nghệch, nhưng phổ biến và được ông diễn tả hơn cả là loại láu cá và rất giỏi biến báo trong đối xử. Như viên tri châu nọ, trong truyện sáu mạng người, sau khi bắn nhầm mấy người dân đi hái thuốc, thì vu cho người ta là giặc khách để báo lên quan trên lấy thưởng. Như gã nhà giàu nọ, có ông chú từ quê lên chơi, muốn đuổi, liền kêu ầm lên mất ví để buộc ông ta phải bỏ về sớm. Và như trường hợp cụ Chánh Bá có đôi giày cũ, nhân đi ăn giỗ, bắt thằng nhỏ vứt béng ra sau vườn, để bắt vạ nhà chủ, buộc người ta mua đền đôi giày mới.

Các nhân vật nông dân của Nguyễn Khải loại như Tuy Kiền cũng nổi tiếng là ranh ma. Trong việc tính toán giành lấy một chút lợi riêng, họ ở vào thế yếu. Luôn luôn họ phải che giấu, lẩn tránh và tìm ra mưu mẹo để tự khẳng định. Họ thường hiện ra vừa đáng yêu, vừa đáng ghét.

So với “khôn lỏi, “ranh vặt”, thì “tinh tướng” có nghĩa hơi khác một chút, nó được dùng để chỉ những người không những đã khôn mà còn muốn phô ra để cho người khác biết. Đọc Ngô Tất Tố hẳn ai cũng nhớ mẩu chuyện Làm no hay là cái ăn trong những ngày nước ngập. Cái việc khoe rằng, mình có sáng kiến chế biến đất ra đủ các loại thức ăn chính là dấu hiệu của một lối xử thế tinh tướng, dù ở đây, người ta thấy ghét thì ít mà tội nghiệp nhiều hơn.


(còn tiếp)


Vương Trí Nhàn



Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2024

Không hiểu nổi


Không hiểu nổi

Việt Văn


Bạn vừa đi xa về than thở: đúng là tháng “cô hồn”. Mọi việc hỏng bét cả. Có thứ tưởng như có thể với tay lấy nó dễ dàng, rồi bỏ vào túi mà còn vuột đi trước mũi như trêu ngươi. Rồi bạn tự trách bản thân: xét cho cùng, cũng tại mình. Chả hiểu “ma đưa lối, quỷ dẫn đường” sao, mà lúc đó dốt như một con bò dốt!...

Nghe bạn kể lại ứng xử lúc đó, quả thật tôi cũng phải ngạc nhiên: xưa nay, đầu bạn “nảy số” nhanh mà sao có lúc ngây ngô con gà gô như thế! Chí ít cũng phải là con bò thông minh chứ!

Cũng như ông anh nhà bên, to như con gấu, vốn phong trần, tính khí ngang tàng như Từ Hải, thế mà có ngày tự nhiên như con cún, hạ mình một cách bạc nhược với một cô nàng bé như cái kẹo mút dở. Nó liên tưởng đến việc cả tuần nay chạy bộ ngoài công viên, tôi luôn bắt gặp một phụ nữ có dáng đi mạnh mẽ, uyển chuyển như một cơn bão, bên cạnh là một ông thấp bé nhẹ cân vừa đi vừa chạy để theo kịp. Nhưng người phụ nữ lại luôn mỉm cười thật dịu dàng như khích lệ người đàn ông cố gắng lên.

Ngẫm lại nhà văn hiện thực phê phán Nguyễn Công Hoan từng có hai truyện ngắn cùng tên “Tôi cũng không hiểu tại làm sao” là minh chứng sinh động về việc nhiều khi con người ta cũng chẳng hiểu nổi mình tại thời điểm đó lại có những thái độ, hành vi khác với bản tính thường ngày như thế. Khi cả hai anh chàng công chức mang tên Sinh và Nghĩa đều là người tự trọng, thẳng thắn mà có lúc phải nói dối hay hạ mình xin lỗi sếp một cách “đê tiện” như sau này họ tự nghĩ lại.

Ông hàng xóm là người trí thức, quen nói nhỏ nhẹ hay bị bà vợ to béo bán thịt lợn ngoài chợ, trấn áp vì bà là chủ gia đình xét về phương diện làm ra nhiều tiền. Nhiều khi, ông muốn “vùng lên” lại sợ tan cửa nát nhà, có lần ông thử nói to nhưng không ngờ, bà vợ gào hẳn lên như muốn xơi tái ông “Cái ngữ ông chỉ làm cách mạng trong gầm giường thôi”.

Sáng ra, ông ngồi cà phê mà buồn thỉu, buồn thiu, đành lôi hai câu thơ của nhà thơ dân gian Bảo Sinh ra an ủi ông: “Ước gì mình được là mình. Ước xong lại chẳng biết mình là ai”.


Việt Văn



Không hiểu nổi VIỆT VĂN -

Thứ Năm, 23 tháng 5, 2024

Thói hư tật xấu người Việt: Những cung bậc của cái hèn


Thói hư tật xấu người Việt:
Những cung bậc của cái hèn

Vương Trí Nhàn


(Thethaovanhoa.vn) - Không cần tìm đâu xa, trong các câu truyện cười dân gian, người ta đã bắt gặp vô số chân dung người Việt hèn.

Anh chàng sợ vợ định nói phét thì gặp vợ về. Thầy đồ ăn vụng, thầy đồ liếm mật. Sư mô cũng gian dâm ăn cắp.

Có đến mấy truyện cổ tích, trong đó có vài phú ông tham vàng bỏ ngãi, định gả con gái cho người này rồi thấy người khác giàu hơn lại hèn hạ bội ước. Cho đến cả chàng Thúc Sinh trong Truyện Kiều, trước cảnh Kiều bị vợ cả là Hoạn Thư hành hạ, cũng chỉ đành đóng vai giả câm giả điếc không dám đứng ra bênh vực con người mà từng thề non hẹn biển.

Dân nghèo nên hèn đâu cũng gặp, kẻ giàu hèn rất nhiều, cho đến cả mấy triều vua cũng tiếp nhau hèn một cách thê thảm.

Đó là vào giai đoạn từ đầu thế kỷ 17 trở đi khi Đàng ngoài rơi vào tình cảnh “vua Lê chúa Trịnh”. Vua bị tước quyền, chỉ ngồi làm bù nhìn, mọi công việc do phủ Chúa quyết định. Đến khi có người hỏi sao lại làm thế thì trả lời đại ý như vậy việc nặng nhọc dồn cả sang vai Chúa, mình được chân nhàn nhã, cũng chẳng là may hay sao(!).

Cũng là một thứ lý sự của kẻ hèn.

Ở phương Đông cũng như phương Tây, thật ra người xưa đã khôn ngoan bảo nhau “tránh voi chẳng xấu mặt nào”, biết sợ kẻ đáng sợ không phải là xấu.

Điều đáng nói ở đây là cái cách chịu thua và biết sợ của người xứ mình. Trong sự hèn ở đây, có thái quá biến thành khiếp nhược; lại có niềm tin rằng không bao giờ bằng người. Trước một việc lẽ ra phải lấy cái chết để tự khẳng định thì người ta vứt bỏ đạo nghĩa, hi sinh danh dự, miễn sao bảo toàn tính mệnh; từ đây sinh ra cả một cách sống lẩn khuất chui nhủi.

Theo Nguyễn Tất Thịnh (Bàn về văn hóa ứng xử của người Việt - 2006), và một số bạn khác, dân mình có một nhu cầu giấu giếm rất lạ. Đánh nhau kiểu hội đồng sau lưng mà không đối mặt đấu trường. Trên diễn đàn thì ngậm miệng, nhưng bàn nát chuyện ngoài quán. Bao nhiêu tinh lực dành cho sự lẩn lách để tồn tại, bởi vậy, ưa những hình thức phi chính thống. Nói năng cởi mở, nhưng phong cách khép kín. Khi nói chuyện không dám nhìn thẳng. Hay nói nước đôi lập lờ. Giữa đám đông hay thì thào liếc ngang, liếc dọc. Nói chung là tâm lý không ổn định, hay thay đổi thất thường.

Tất cả những thói quen tương tự không chỉ cho thấy nhiều người chúng ta là những kẻ yếu, mà lại tố cáo một điều quan trọng khác sự kèn yếu ở đây tước đi ở con người lòng tự trọng, ý chí ngoan cường vượt lên trên tình thế bi đát trước mắt.

Trong nhiều truyện ngắn Tô Hoài viết trước năm 1945, người ta bắt gặp những đôi trai gái yêu nhau, đã thề không lấy được nhau thì chỉ có chết. Kết cục vài tháng sau, trai đi lấy vợ, gái đi lấy chồng bình thản như không, chả ai chịu chết cho thiệt thân.

Nguyễn Công Hoan vốn nổi tiếng với những truyện ngắn gây cười. Song đến Tôi cũng không hiểu tại làm sao (I và II, 1937) giọng ông trầm tĩnh hẳn đi. Truyện thứ nhất kể về một công chức ăn sáng trong giờ làm việc, bị sếp người Pháp bắt quả tang. Anh này lúc đầu cãi cứng, đến khi bị sếp bảo há mồm ra cho xem thì cũng há, để phô ra cả cái vẻ lố bịch khá thương tâm.

Trong truyện thứ hai, một công chức khác (đồng sự của anh trên), đi làm muộn, đặt một con tính cũng sai, chữa mãi không được, xoay ra cáo ốm và xin nghỉ không lương. Chủ thấy thế dọa cho anh thôi việc luôn. Rốt cuộc cái anh công chức hay bướng đó đành xin lỗi chủ, để rồi ra ngoài tâm sự với bạn, không hiểu tại sao mình có những phút đê tiện như thế.

Các nhân vật trong truyện dân gian hèn một cách bẩm sinh. Đến các công chức ở đây, cái hèn của họ vẫn tự nhiên, song bước đầu con người đã nhận thức được tình thế, ít ra đã tự mình đặt câu hỏi tại sao mình lại hèn vậy. Đây là sự vận động trong tâm lý mà chỉ con người hiện đại mới có, nó là cơ sở để người ta trưởng thành dần dần.

Song, ở con người hiện đại, cái hèn còn có một hướng phát triển khác. Nên biết là trong các từ điển Tiếng Việt được soạn nghiêm túc, chẳng hạn từ điển Hoàng Phê, hèn không chỉ có nghĩa là sự nhát yếu, thấp kém, mà còn có nghĩa là cách làm kém bản lĩnh, đến mức đáng khinh, ví dụ cái hèn của một kẻ đánh trộm, cái hèn của một kẻ dùng những mưu kế ít người ngờ đến để đánh bại kẻ mạnh hơn mình. Hèn ở đây là từ phản nghĩa của dũng cảm, đàng hoàng khí phách. Trong tâm lý học, người ta còn nói đến những quá trình tâm lý kỳ lạ khi hai mặt đối lập của cùng một quá trình tâm lý tự nhiên hoán vị cho nhau, ví dụ kẻ tự ti nhút nhát bỗng có lúc tự tin quá đáng, kẻ hèn nhát đến bước đường cùng vụt trở nên liều lĩnh, làm được những việc mà bình thường chỉ người dũng cảm mới làm nổi. Đây là những khía cạnh tâm lý cũng đã thấy ở người Việt hiện đại, có điều còn ít được mưu tả và nghiên cứu.



Vương Trí Nhàn