Ads 468x60px

.

Thứ Hai, 31 tháng 10, 2016

Danh tiết





Mời nghe đọc
Mời nghe đọc MP3 tại Internet Archive
Diễn đọc: 1. Thái Hoàng Phi (Trọn bộ) | 2. Cô Vân | 3-6. Thái Hoàng Phi (P 1-4)
TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi - Diễn đọc: Thái Hoàng Phi




Mời đọc Bản đánh máy

Danh tiết

Nguyễn Công Hoan




I



Đến gốc cây đề gần đầu làng, Thúy đứng lại, đặt gánh hàng xuống đất. Vào chỗ có bóng râm, nàng thấy mát hẳn đi. Gió hiu hiu. Lá đề phần phật đập vào nhau kêu lạch tạch. Nàng quay lại, nhìn khúc đường vừa qua. Ánh nắng chói, làm đất trắng xóa. Cỏ mọc ở hai bên lối đi như khát nước đều lả xuống hoặc vàng như cháy.

Thúy lấy nón quạt cho ráo mồ hôi. Nàng thổi bụi trên khúc rễ cây trồi trên mặt đất, rồi ngồi nghỉ. Nàng mệt lắm. Nhìn quãng đường về, còn những một thôi dài nữa mới tới làng, nàng ngại.

Nàng về chợ hôm nay, thế này là muộn. Là vì nàng chờ mãi không thấy vú già đến dọn hàng và gánh hộ nàng. Vú tuy đã có tuổi, nhưng sức lực bằng mấy nàng còn là con gái. Mọi ngày, cứ vào lúc mặt trời xế một lát đã thấy vú ra, giục nàng xếp hàng vào tay nải. Lắm bận đông khách, nàng muốn nấn ná ở lại ít lâu, cũng miễn cưỡng phải thu dọn mà về. Nàng tuy là con chủ nhà, nhưng không nghe vú không được. Vì vú rất lắm việc. Vú đi đón hàng, về còn phải thổi cơm chiều, rồi cho lợn ăn. Thu xếp vừa xong các việc lặt vặt, thì tối sập.

Nàng muốn tránh cho vú việc đi đón mình. Nàng đã thử một hôm, gánh hàng cả buổi về chợ nữa. Nhưng hôm sau mình mẩy đau ê ẩm, phải nghỉ ở nhà. Ông bà Đồ - tức là cha mẹ nàng - cứ mắng mãi nàng quá tham công tiếc việc. Và từ lần sau, nàng không thể không chờ vú được.

Nhưng hôm nay, nàng đã đợi vú lâu lắm. Đến lúc chợ gần vãn người, bất đắc dĩ nàng mới phải về một mình. Nàng chắc chỉ phải gánh độ một lát, thì gặp vú ngay. Nhưng đến tận lúc này mà vẫn chẳng thấy gì, nàng mới phải ngạc nhiên. Nàng không rõ tại sao hôm nay lại khác ngày thường làm vậy.

Nắng vẫn chang chang. Trên trời xanh ngắt, thỉnh thoảng mới có một làn mây trắng mỏng lững lờ trôi. Nhưng được ngồi dưới bóng râm, lại có gió mát, nên Thúy khoan khoái lắm. Nàng lẩm nhẩm tính toán hàng họ xem hôm nay lãi lờ ra sao.

Bỗng ở phía xa, có hai người đội nón và mặc quần áo thâm đi lại. Nàng chỉ biết là hai người đàn ông, nhưng không rõ là quen hay lạ. Song dù sao, nàng cũng không thể rấn ngồi ở đây để chờ vú già. Chỗ này vắng vẻ. Nàng là con gái, phải giữ gìn ý tứ. Gặp người quen đã đành, lỡ phải người lạ, họ giở thói bờm xơm, chẳng lẽ nàng đối phó thế nào. Vả quen hay lạ, mà dù là những người đứng đắn chăng nữa, họ thấy một người con gái ngồi một mình ở chỗ quạnh quẽ này, chắc chẳng nói ra miệng, họ cũng phải lấy làm lạ mà bàn tán cùng nhau. Rồi khi biết nàng là con ông bà đồ Lục ở Phương Bá, ắt người ta tìm để giảng cái lẽ tại sao nàng ngồi ở gốc đề như có vẻ chờ đợi ai. Sự thực chỉ có một, nhưng sự không thực thì có đến trăm nghìn. Mà sự thực chỉ là nàng chờ vú già ra gánh hàng hộ, tất không ai nghĩ ra. Họ sẽ đoán liều đoán lĩnh đến trăm nghìn cớ khác. Và biết đâu trong trăm nghìn cớ không đúng sự thực ấy, lại không có lấy một cớ - hay một thôi - không chính đáng. Chỉ một cớ ấy đủ gây thành tiếng thì thào. Mà do thế, câu chuyện xuyên tạc, tự nhiên người ta bị mang tai mang tiếng một cách rất oan uổng. Nàng là con gái, tốt hơn hết là tránh những dịp có thể gây nên dư luận.

Bởi vậy, nàng vội vàng đội nón, xếp lại dây quang, và ghé vai vào đòn gánh.

Nàng quay nhìn hai người. Họ còn xa lắm. Nàng chưa nhận ra những ai. Chắc họ cũng chưa rõ nàng.

Nàng cố rảo cẳng. Đòn gánh mềm làm hai bọc hàng nặng rún rẩy theo đà chân bước. Ra khỏi bóng râm, nàng lại thấy cái nóng thiêu người ban nãy. Nhưng nàng đành phải xông pha. Cái tiếng trong sạch của một người con gái con nhà gia thế là cần hơn nhất.

Thật vậy, tuy nàng chỉ là con một ông đồ, nhưng ông nàng đã đỗ tú tài, và trong các cụ nhà nàng đã có một vị đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức bố chánh tỉnh Quảng Bình đời Minh Mệnh. Nhà nàng tuy thanh bạch, nhưng vẫn được trọng nhất làng. Anh em nàng học hành giỏi, tất rồi cũng đỗ đạt, và làm nên. Vả làm thân con gái của một nhà nho, muốn giữ nền nếp, không khó khăn gì. Ông bà Đồ chỉ dạy nàng có bốn tiếng nhưng thực ra chỉ có hai, là đức hạnh và đảm đang.

Nàng đã không phụ công giáo dục của cha mẹ. Nàng đứng đắn và buôn bán thạo. Cho nên với cái nhan sắc, cái đoan trang trời cho nàng, trong họ ngoài làng, nhiều người đã đoán già rằng thế nào nàng cũng sẽ là một bậc mệnh phụ.

Thật vậy, Thúy là một cô gái đẹp nhất làng Phương Bá. Nước da nàng trắng và mịn. Ánh nắng như cũng nể công tạo hóa mà chừa nàng ra, không nỡ nhuộm mặt nàng ra màu ngăm ngăm. Đôi mắt và hàm răng nàng đen lay láy. Cái miệng nhỏ rất hợp với cái mũi dọc dừa trên khuôn mặt trái xoan. Cả một tấm thân nhỏ nhắn ấy rất ăn nhịp với tiếng nói, mỗi khi cất lên, nó trong như tiếng chuông, nó gọn như tiếng phách, nó mềm mại như tiếng sáo, nó quyến rũ như tiếng đàn bầu. Nói tóm lại, tất cả nàng là một khúc nhạc nhịp nhàng, là một bài thơ tuyệt tác của một thi bá lúc cao hứng nhất.

Song, bởi có nhan sắc ấy, nên lẽ cố nhiên nàng không được mạnh mẽ như người ta. Cho nên mới đi chưa được trăm bước, nàng đã lại thấy mệt ngay. Nàng vừa mới được nghỉ dưới gốc đề, nhưng chưa lại sức. Nàng quay nhìn phía sau, hai người tuy vẫn còn xa, nhưng không dám chậm bước. Thì may quá, vú già đã từ cổng làng đi ra.

Thúy mừng rỡ, đứng lại, đặt hàng xuống đất. Nàng quay mặt về chiều gió, vẫy tay gọi:

- Mau lên, vú ơi, sao hôm nay muộn thế?

Vú già đi mau đến, trả lời:

- Tại nhà có khách, tôi phải làm cơm.

Thấy không can thiệp đến mình, Thúy thản nhiên, đáp:

- Thế à, tôi không biết, cứ chờ mãi vú.

Vú già cười:

- Tôi cũng chờ mãi cô, thấy chưa đến nhà, bà mới sai tôi đi đón.

- Tôi mệt quá, tưởng không lê nổi gánh hàng.

Thúy mỉm cười. Vú già ghé vai vào đòn gánh, vừa chạy phăng phăng, vừa nói chuyện:

- Hôm nay nhà có khách, cô ạ.

Thấy vú nhắc lại câu chuyện không liên can đến mình, Thúy không trả lời. Bởi vì vừa được thảnh thơi, nhẹ nhõm, nàng muốn yên lặng để tính toán nốt tiền nong. Vú già tiếp:

- Khách lại ăn cơm, cô ạ.

Bất đắc dĩ. Thúy phải đáp cho xong chuyện:

- Thế à!

Rồi nàng lại vẩn vơ với những con số trong óc. Nhưng vú già nhìn Thúy, và cười có vẻ ranh mãnh:

- Hẳn cô nóng ruột lắm.

- Nóng ruột lắm.

- Tôi biết, cô nóng ruột là phải, mong về phải không?

Thúy thấy vú có ý chế nhạo mình, nên cau mặt:

- Vú này sắp hóa dại chắc. Tôi khổ vì vú hôm nay đấy.

- Tôi cũng khổ vì cô hôm nay đấy.

Thúy hiểu ý. Xưa nay, vú không nói đùa bao giờ, nay tự nhiên vú vui vẻ, bảo là khổ vì mình, lại khoe mấy lần là nhà có khách. Nàng đoán đây, tức lại có một đám nào đến xem mặt nàng. Bỗng thèn thẹn, lảng chuyện:

- Hôm nay hàng họ khá, vú ạ.

- Khá là phải!

Rồi vú cười sằng sặc. Càng hiểu thêm mình đoán không sai, Thúy càng thẹn và càng không dám nghiêm khắc với vú. Nàng vốn không ưa những thói trẻ con, nhất là đối với người ăn người ở, nàng càng giữ đứng đắn. Nhưng lần này, tự nhiên nàng lại sợ vú già. Nàng sợ vú làm nàng ngượng nghịu nữa. Mà vú có thể đùa với nàng, nào phải lỗi tại vú. Chỉ do vú khoái trí vì nàng. Bởi vậy, nàng lại đánh trống lảng:

- Tháng tám rồi mà vẫn còn nắng quá.

Vú không bắt lời, nói:

- Cậu ta là học trò cụ Cử Nho Quan, cô ạ.

Thấy vú nói rõ, Thúy nghiêm mặt, mắng:

- Tôi không trẻ con!

Vú già lại cười:

- Tôi có trẻ con đâu. Tôi nói chuyện cho cô biết đấy chứ!

Thúy lại nói sẵng:

- Tôi không nói chuyện ấy.

Vú già vẫn cười:

- Rồi cô không nói chuyện cũng không được, chuyện nó cứ đến.

Thấy vú càng trêu ghẹo mình, Thúy bèn ngọt ngào để vú quên câu chuyện làm nàng thẹn thò đi. Nàng nói:

- À, vú nhỉ, lần trước, cái bà mặc áo đổi vai mua chịu mười vuông nái của tôi là bà gì ấy nhỉ?

- Bà Tư Nỉ.

- Hôm nay bà ta giả tiền rồi, lại mua thêm tấm vải nữa.

Quả nhiên vú già không đả động đến khách khứa, bèn nói:

- Bà ta ở dưới cuối tổng, vẫn là người tử tế. Bà ấy tháo vát đáo để.

Hai người vào qua cổng làng. Đường đi đã có nhiều chỗ có bóng râm mát. Thúy ngả nón ra cầm ở tay:

- Sung sướng quá!

Bất đồ vú già lại được dịp để quay về chuyện nói dở:

- Cô lại chả sung sướng thì ai sung sướng! Tôi nghe loáng thoáng trên nhà nói chuyện, cậu ta học giỏi lắm.

Không muốn nghe thêm, Thúy vờ bảo vú:

- Vú gánh hàng về trước, tôi tạt vào bà ba Nghệ đòi món nợ, rồi tôi về sau nhé.

Nói đoạn, nàng rẽ vào trong xóm.

Kỳ thực, nàng có định đòi nợ đâu. Nàng không muốn đi cùng vú nó cứ ranh mãnh định chế nàng.

Song, nàng không khỏi nghĩ ngợi.

Đi một mình trong ngõ vắng vẻ, nàng nghĩ đến bọn khách ở nhà ngày hôm nay. Nàng tuy chưa biết là ai, nhưng cứ vú nói là học trò cụ Cử Nho Quan, học giỏi, thì nàng đoán ra rồi.

Vào cữ tháng năm, bà Đồ đã cho nàng biết có một đám là học trò cụ Cử đến xem mặt nàng. Gọi là xem mặt, nhưng sự thực chỉ là để cha mẹ nàng xem mặt chàng, chứ nàng đi chợ vắng cũng như hôm nay. Nàng không biết người đã đành, nhưng cũng không biết tên nữa, vì mẹ nàng quên tên, và nàng thì không bao giờ dám hỏi cha, hoặc nhờ mẹ hỏi lại cha. Bởi vì gả chồng cho nàng là quyền của cha mẹ nàng chứ không phải quyền nàng. Cho nên biết tên hay biết mặt, nàng không được lợi gì hơn. Thân gái như hạt mưa sa. Tương lai nàng là ở trong tay cha mẹ nàng. Cha mẹ nàng có bổn phận gây dựng cho nàng, lẽ cố nhiên nàng hoàn toàn tin cha mẹ, và nghe lời cha mẹ. Cha mẹ kén rể, chứ nàng không có phép kén chồng.

Nàng hàng ngày đi chợ, thỉnh thoảng có gặp học trò cụ Cử, và một đôi khi có những người táo bạo vào hàng nàng mua. Nàng biết họ vờ vĩnh, đến để thử thách hoặc định chòng ghẹo nàng. Vậy thì người đến hỏi nàng ngày tháng năm, ắt đã rõ mặt nàng lắm rồi. Và người hôm nay đến làm bận vú già suốt buổi, chẳng qua cũng lại là người ấy.

Nàng nhớ rằng tối hôm ấy, bà Đồ có bảo nàng:

- Nó là người học giỏi ở trường cụ Cử, con nhà gia thế ở làng Đông Đạo, với nhà ta cũng là đăng đối, nhưng thầy u còn phải xem xét kỹ lưỡng, chưa dám nhận lời.

Nàng nghe nhưng không đáp. Bà Đồ chỉ báo cho nàng biết tin ấy, chứ không hỏi ý kiến nàng. Việc của nàng, chẳng lẽ bà không cho nàng rõ một tí.

Ông Đồ thì tuyệt nhiên không nói gì với nàng cả. Vả ông có cần nói làm gì. Ông là bậc cha mẹ. Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy. Bao giờ cha mẹ chẳng tìm chỗ xứng đáng để đặt con.

Để vú già đi một lát lâu, Thúy mới ở trong ngõ ra đường cái để về nhà.

Đến cổng, nàng lắng lặng đi thẳng xuống bếp. Qua sân, nàng ngả nón che về phía nhà trên. Nàng muốn giấu mặt. Nhưng vú già cười:

- Người ta về từ bao giờ rồi còn gì.

Lúc ấy Thúy mới dám tự do. Nàng hỏi:

- Ông đâu?

- Ông xơi rượu xong thì nằm ngủ.

- Bà đâu?

- Tôi chả biết.

Bà Đồ ở trong vườn, đáp ra:

- U đây, Thúy mới về đấy à? Hàng họ có khá không, mày?

*
*    *

Nhưng tối hôm ấy, ông bà Đồ không nói cho Thúy nghe về bọn khách lúc ban ngày. Mà rồi nàng cũng bận việc nọ việc kia, cũng quên đi mất. Sự thực, dù nàng có nghĩ đến cũng không dám hỏi. Quyền gả bán nàng là ở cha mẹ, nàng không được dự bàn. Ông bà không cần hỏi ý kiến nàng. Vả dù có biết tên tuổi người hỏi nàng, nàng cũng không thể biết mặt người ta ra làm sao. Học trò cụ Cử Nho Quan rất nhiều, thỉnh thoảng nàng có gặp đấy, nhưng biết thế nào được là nàng sẽ nưng khăn sửa túi cho ai. Vả lại, tình cờ có gặp người ấy, và có người bảo cho nàng biết, thì nàng phải tìm đường mà trốn tránh ngay, nếu không thì thẹn chết. Lỡ lại gặp vào lúc không thể trốn tránh vào đâu được, thì nàng đành vậy, nhưng phải cúi gầm mặt xuống, không dám nhìn lên.

Hôm sau, Thúy dậy sớm, cơm nước xong, lại đi chợ như mọi ngày. Lúc ấy, nàng mới nhớ đến bọn khách hôm trước, bèn bảo vú già:

- Chốc nữa, vú đi đón tôi sơm sớm một tí nhé.

Bà Đồ mỉm cười:

- Được, không phải dặn, tại hôm qua vú bận chút việc ở nhà.

Bà không nói rõ là bận việc gì, mà Thúy cũng không muốn biết là bọn khách nào. Nàng muốn thảnh thơi, để tâm trí vào công việc làm ăn. Ít lâu nay hàng họ bán chạy, nên nàng rất ham mê buôn bán. Nàng giúp đỡ được cha mẹ sự chi tiêu hàng ngày.



II



Mãi cho đến tháng Giêng năm sau, bà Đồ mới nói cho Thúy biết việc trăm năm của nàng.

Ngày hôm ấy đi chợ về, Thúy biết ở nhà, cha mẹ hiện có một việc gì bàn tán với nhau, và xem chừng hể hả lắm.

Nguyên mọi ngày, bao giờ thấy nàng về đến cổng, bà cũng hỏi thăm ngay hàng họ thế nào. Thúy và vú già cất gánh vào trong buồng, thì xuống bếp làm cơm, nhưng bà đã nhặt mớ rau, hoặc cọ nồi, hoặc xé cua hộ rồi. Lần này, bước chân về đến nhà, Thúy tưởng mẹ đi vắng. Vì bà không có ở dưới bếp, và không thấy công việc bếp nước được sửa soạn sẵn sàng.

Thì ra bà ở nhà trên, dở nói chuyện với ông. Thoáng nghe một câu, Thúy đoán cha mẹ bàn việc nhân duyên của mình, nên nàng vội vã lánh xa.

Quả nhiên đến tối, khi quạt màn xong, hai mẹ con đi nằm, bà Đồ mới hỏi:

- Thế nào? Hôm nay hàng họ ra sao?

- Cũng khá, u ạ. Con chỉ tiếc mớ vải của bà Tư Nỉ, không mua được.

Nhưng những chuyện ấy không là chuyện bà Đồ định nói và định nghe, bà chỉ dùng làm câu mở đầu để vào đề mà thôi. Bà thở dài:

- Mày buôn bán đang lãi lờ thế mà bên kia người ta xin cưới!

Bà dùng tiếng “bên kia”, tưởng chừng như con bà đã biết rõ là người nào như bà rồi vậy. Thúy không đáp. Nàng vơ lấy hai tay đập vào nhau, như để đánh muỗi vậy. Nàng thẹn thò, nhưng may lúc ấy trong buồng không thắp đèn, nên không ngượng nghịu. Bà Đồ lại thở dài:

- Thôi thì mày cũng đến tuổi về nhà người ta chứ có bé bỏng gì, thầy u giữ thế nào được mãi.

Thúy nghẹn ngào. Tự nhiên nàng thấy thương cha mẹ thiếu người đỡ đần. Nàng nén hơi, để thở dài một tiếng khẽ. Bà Đồ nói:

- Được cái nó cũng là con nhà gia thế, thầy u đã xem xét kỹ lưỡng. Nó học giỏi, mà lại có nết. Thày u cũng chỉ chuộng đám học trò, cốt được đứa hiền lành ngoan ngoãn, biết theo đức mà ăn ở, còn ngày sau có đỗ đạt, làm nên gì hay không, là nhờ ở phúc ấm đôi bên.

Thúy vẫn yên. Bà Đồ tiếp:

- Nhà ta thanh bạch, người ta cũng chỉ chuộng người, chứ nếu cốt lấy vợ giầu thì vùng này thiếu gì người.

Rồi bà tặc lưỡi:

- Chẳng qua là cái duyên cái số. Nếu cứ ý tao thì ngày tháng năm năm ngoái, tao đã bằng lòng đám con ông Thông Sứng bên Đông Đạo, tên là thằng Hạnh, vì nó học giỏi có tiếng ở trường cụ Cử Nho Quan. Nhưng thầy hỏi ra, thì tuy nó tên Hạnh, nhưng hạnh kiểm kém, nên thầy không bằng lòng. Mấy lần ông Thông sang khẩn khoản, thầy đã gần xiêu lòng, nhưng thầy lấy ngày sinh tháng đẻ của thằng Hạnh để tính tử vi, thì thấy gia đình ấy phúc đức cũng kém lắm. Thày có giảng cho tao nghe những sao gì sao gì, nhưng tao không nhớ. Thì đến ngày tháng chín, ông Bát Tiên làng Thượng nhờ người đến dạm mày cho con ông ấy, tên là Chính. Thằng Chính này cũng là học trò cụ Cử Nho Quan hay chữ không kém gì thằng Hạnh. Thày u bằng lòng gả mày cho thằng Chính. Thằng này học giỏi, có đức hạnh hơn thằng kia. Nội vùng Nho Quan, ai cũng khen. Nhà nó không thanh bạch như nhà ta. Cụ thân sinh ra ông Bát làm Tri huyện, vậy là ở chỗ cố gia cả. Vậy nhà này hơn nhà ông Thông ở cái là nhà ông Thông không ai đỗ đạt gì, mới có ông ta có chân nhị trường rồi đi thông lại, chứ tổ tiên về bên hào, đất chỉ có thể phát phú chứ không phát quý.

Bà Đồ yên một lát để xem Thúy có hỏi gì không. Nhưng thấy con vẫn yên lặng, bà mới nói:

- Thày đã sang bên Thượng xem nhà cửa ông Bát, thầy bằng lòng lắm. Tuy không ruộng sâu trâu nái, nhà ngói cây mít, nhưng cả họ Trần quây quần vào một khu, mà nhà nào cũng có vượng khí, nên thầy thích lắm. Như thế là họ người ta phúc lắm. Thày lấy tử vi thằng Chính, và ở lại một hôm để ra đồng, nói thác là muốn tìm cho người quen một ngôi đất, nhưng kỳ thực cốt xem mồ mả bên ấy ra sao, thì thấy rằng mộ ông cụ tam đại được. Cho nên thầy có bụng mừng, về bảo u, hễ người ta có nói lần nữa, thì nhất định bằng lòng, và từ chối đám con ông Thông Sứng.

Thúy lúng túng đáp:

- Vâng.

- Thằng Chính nó đã sang bên nhà ta, thầy u đã biết mặt. Nó không đui què mẻ sứt gì đâu, con đừng sợ.

Bà cười vui sướng, rồi tiếp:

- U chỉ chuộng nó là đứa học giỏi, trông mặt mũi phúc hậu, lại là con nhà dòng dõi.

Thúy lại ấp úng:

- Vâng.

- Nhà ông Bát cấy mươi mẫu ruộng. Ruộng bên ấy cũng như bên ta, vậy kể thì không là bậc có, nhưng không phải vào hạng nghèo. Vậy con làm dâu nhà ấy là xứng đáng lắm. Bà Bát trông người thật thà dễ dãi, chứ không thớ lợ ý tứ như người khác. Nhưng dù sao, người ta cũng là mẹ chồng. Ông bà ấy có thằng Chính là lớn, còn ba đứa con nhỏ nữa, hai giai một gái, chúng nó đều có vẻ hiền lành. Đi làm dâu mà được mẹ chồng dễ dãi, chị chồng không có, em chồng còn bé, là may mắn lắm. Vậy con về bên ấy, phải ăn ở cho phải đạo, trước là được tiếng khen, sau nữa để làm gương cho người khác.

Thúy mỉm cười. Nàng dám mỉm cười vì chắc trong bóng tối, mẹ nàng không trông rõ. Nàng rất bằng lòng người mà mẹ nàng vừa nói. Cả gia đình người ấy cũng không có gì đáng phàn nàn. Nàng nhớ kỹ mấy tiếng cần: Chính, con ông bà Bát Tiên trên làng Thượng. Nàng sẽ là vợ Chính, sẽ về làm dâu tận trên làng Thượng. Nàng chỉ ngại cái xa nhà. Từ Thượng đến Phương Bá, phải đi thuyền mất gần nửa ngày. Có lối đi tắt bờ ruộng, nhưng phải qua cái lạch, cần đò ngang. Nàng biết vậy, vì đã có lần bán hàng cho một người làng Thượng; người ta nói chuyện thế.

Thấy Thúy không hỏi han câu nào, lại chẳng trả lời gì, bà Đồ gọi:

- Thúy, mày ngủ đấy à?

Thúy lại mỉm cười trong tối, đáp:

- Thưa u, không.

Bà Đồ cười:

- Ừ, u cứ tưởng mày ngủ thì lạ quá. Hay mày nghĩ ngợi điều gì?

Thúy đáp:

- Không, con có nghĩ ngợi gì đâu.

- Ừ, thế là phải, con gái lớn, bố mẹ gả chồng, tìm được nơi xứng đáng thì bằng lòng cho người ta. Phận làm con, cha mẹ đặt đâu phải ngồi đấy.

Sợ bà Đồ tưởng mình đắn đo, nên Thúy đáp:

- Vâng.

- Thày u đã xem xét kỹ lưỡng, so sánh những đám người ta hỏi xin mày, chỉ có đám này hơn cả.

- Vâng.

- Đến hai mươi này, người ta xin đi cái vấn danh. Rồi rằm tháng sau, người ta xin cưới. Vậy mày đi nốt buổi chợ ngày mai, rồi nghỉ, thu xếp tiền nong, đòi những món nợ lặt vặt, kẻo sang bên ấy, rồi lâu mới lại về được.

- Vâng.

- Mày có điều gì dặn dò thầy u không?

- Thưa không.

- Mày có điều gì nói không?

- Nói cái gì ạ?

- Nói về việc nhân duyên mày, chứ nói cái gì.

- Không ạ.

- Thế là phải, nhà ta có phúc, con biết nghe lời cha mẹ. Còn như dẫn cưới, thầy u tuỳ người ta, có nhiều mày được nhiều, có ít mày được ít, chứ không thách thức gì. Thày u chỉ cốt lấy người. Chứ vẽ vời lắm, lỡ người ta không lo được, phải đi vay, thì mày lại nai lưng ra làm để giả. Như vậy, thầy u chả được gì, lại để khổ cho mày.

Rồi bà thở dài:

- Người ta gả chồng cho con, thì còn được lờ lãi, chứ thầy u chỉ bị thiệt.

Song, bà tặc lưỡi:

- Thế cũng phải, biết con mình có hay hớm gì không, lỡ về nhà người ta chả biết làm ăn, rồi mỗi chốc người ta lại lôi ra người ta kể.

Nhưng bà lại nói:

- Ông bà Bát chẳng phải người thế. Ông bà ấy phúc hậu, nhà ấy là nhà nền nếp. Thày u chỉ khuyên mày một điều là ăn ở cho phải đạo. Một câu nhịn là chín câu lành, đối với ai cũng vậy. Nghĩa là đừng để người ta nói đến cha mẹ, tổ tiên.

Thúy cảm động, đáp:

- Vâng.

Thấy đã hơi khuya, vả không có gì nói thêm, bà Đồ yên lặng một lát, rồi bà ngáp:

- Mày có gì muốn hỏi hay muốn nói nữa không?

Thúy thẹn thò, đáp:

- Không ạ.

- Ừ, thế thì ngủ đi.

Bà Đồ nằm yên một lát, đã thấy ngáy đều đều.

Còn Thúy thì thỉnh thoảng lại cựa. Nàng không nghĩ sao được. Nhưng nàng nghĩ mà không dám nói ra.

Nàng muốn biết mặt người tên là Chính. Nàng muốn biết nhà chàng thế nào. Nhưng không thể. Không thể biết những điều ấy, thì nàng không cần biết những điều phụ, mà những điều phụ này rất nhiều. Hiện nay hoang mang, nàng chưa nghĩ được gì. Song, nàng rất hài lòng vì được tấm chồng xứng đáng. Một người mà cha nàng đã biết mặt, biết số, biết nhà cửa, lại biết cả mồ mả tổ tiên, người ấy đã được cha mẹ ưng cho nàng được ký thác cả một đời, thì nàng rất mừng.



III



Hỏi vợ thì cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha. Kể ra bên nhà xin cưới ngay như thế rất phải. Trong bốn anh em ta ở đây, anh là người sung sướng nhất!

Chính mỉm cười:

- Vậy ra, anh Quý ạ, anh vẫn chưa hiểu bụng tôi.

Quý rặt mồi thuốc lào vào điếu, nhìn Chính. Thân bĩu môi:

- Những thằng con trai, thằng nào cũng vậy, lấy được vợ đẹp, thích mê, nhưng vẫn còn làm bộ.

Quý vừa kéo hơi thuốc, vừa gật lia lịa, vừa nhìn Hạnh. Nhưng Chính rầu rầu nét mặt:

- Tôi nói các anh chưa hiểu bụng tôi là đúng lắm. Hẳn ba anh đã nhận thấy là mấy hôm nay tôi kém vui.

Thân đáp:

- Có, cái ấy có. Anh kém vui, là anh lo lắng ăn ở sao cho xứng đáng với cái nhan sắc của người bạn trăm năm của anh.

Chính lắc đầu:

- Không phải. Tôi kém vui, vì anh Hạnh.

Lúc bấy giờ Hạnh mới lên tiếng:

- Anh lại làm tôi khó hiểu anh hơn. Sao anh lại bảo tại tôi? Tôi với việc anh cưới vợ của anh, có liên can gì đến nhau?

Chính ngậm ngùi:

- Điều ấy anh giấu tôi, nhưng tôi đã tự tìm ra. Tôi hỏi thực anh nhé. Có phải anh đã hỏi con ông bà Đồ Phương Bá và bị bên ấy từ chối không?

Hạnh đỏ mặt, gật:

- Phải, nhưng tôi có giấu ai đâu, anh dùng tiếng giấu không đắt. Tôi hãy hỏi ba anh, có anh nào hỏi tôi về việc tôi với con ông đồ Phương Bá không?

Ba người yên lặng.

- Vậy nếu có hỏi, mà tôi không nói hoặc tôi nói dối, mới là tôi giấu chứ. Đằng này các anh không hỏi thì sao anh Chính lại bảo là tôi giấu? Chỉ có là tôi không nói chuyện ấy cho các anh nghe, bởi vì một người con trai như chúng ta, thấy chỗ nào xứng đáng thì hỏi, bị từ chối là thường. Lại có khi đến hai ba đám nhận gả, mà ta gạt những đám ta thấy kém, cũng là thường. Cho nên tôi cho việc ông đồ Phương Bá không gả con cho tôi là việc thường, kể làm gì cho các anh nghe.

Cả ba người cùng cười. Hạnh nói xong, đắc chí, hút một hơi thuốc dài. Quý nói:

- Anh Hạnh có lý. Chính tôi đây, bị từ chối đến năm lần, rồi mới kết hôn với nhà tôi bây giờ.

Thân gật gù:

- Cho nên gọi là duyên số thực đúng. Như tôi đây, không ngờ đâu lại làm bạn với nhà tôi, vì thật là một người xứ Đông, một người xứ Đoài, tưởng không đời thuở nào gặp nhau, thế mà chỉ tình cờ một chuyến thuyền hai cụ làm quen nhau, đồng ý nhau, rồi hứa dâu gia với nhau. Thật nực cười. Chúng tôi đến hôm cưới nhau, còn chưa biết mặt nhau.

Hạnh nói:

- Chưa biết mặt nhau là thường. Cô Thúy, tôi chắc cũng chưa biết mặt anh Chính.

Chính cười:

- Phải, chỉ mình ranh mãnh mới biết mặt họ, chứ họ có để ý đến mình bao giờ đâu.

Rồi nghiêm trang, chàng tiếp:

- Hôm nay tôi nhờ chủ nhân mổ gà dọn rượu cho anh em ta, là tôi muốn làm một bữa chén tạm ly biệt các anh nửa tháng, về cưới vợ.

Thân và Quý cười ha hả:

- Đấy mới là anh giấu chúng tôi. Thảo nào, tôi thấy bà Lý giết gà, hỏi bà không nói, lại bảo hỏi thầy Chính thì rõ.

Chính đáp:

- Là tại tôi dặn, muốn ba anh ngạc nhiên về bữa cơm chiều nay một chút.

Rồi chàng quay về phía Hạnh:

- Anh Hạnh ạ, thầy u tôi hỏi con ông bà Đồ lúc nào tôi không biết. Một hôm, thầy tôi bảo tôi sửa soạn sang bên Phương Bá, nói là thăm ông Đồ là chỗ bạn thân. Ai ngờ để cho ông bà Đồ xem mặt, mà thầy tôi với ông Đồ chỉ là quen nhau xoàng. Rồi một hôm thầy tôi dắt tôi đi chợ, vào hàng cô Thúy mua vải. Mãi đến khi ông bà Đồ nhận lời, thầy tôi mới nói rõ cho tôi nghe.

Hạnh cười:

- Thế là anh sung sướng hơn tôi. Bên thầy tôi nhờ người nói đi nói lại đến mấy tháng cũng không xong. Chẳng qua là duyên số thật.

Đoạn phá lên cười một cách vui vẻ. Chính nói:

- Nếu tôi biết bên ấy từ chối anh, thì tôi quyết nói với thầy tôi hỏi đám khác.

Hạnh cau mặt:

- Anh này mới lạ chứ!

Chính nghiêm trang:

- Thực vậy. Tôi có thể coi tình bạn bè nặng hơn nghĩa vợ chồng.

Thân thấy câu chuyện hay hay, nói xen vào:

- Anh Chính tốt bụng với anh em, nhưng như thế cũng gọi là dở hơi.

Chính cười:

- Bây giờ đã chót thì phải chét.

Hạnh nói:

- Nếu chỉ vì tôi trọ học với anh một nhà, mà anh bỏ lỡ cuộc trăm năm với người xứng đáng, thì anh Thân gọi là dở hơi thật đúng. Tôi đã nói, một người con trai thấy chỗ nào xứng đáng thì hỏi, cũng như cha mẹ người con gái, thấy đám nào đăng đối thì gả. Đó là thường tình. Tôi có phải vì bị từ chối mà buồn và oán người ta, thù người con trai khác được nhận lời đâu. Trái lại, tôi thấy anh sắp kết hôn với cô Thúy, tôi lại mừng, mừng vì chính cô ấy về sửa túi nưng khăn cho một người trong bọn anh em mình, mừng vì anh lấy được một người có nhan sắc, có đức hạnh, lại mừng vì cô Thúy được một người chồng xứng đáng.

Chính cảm động, nhìn bạn. Thân gật gù:

- Thế mới biết lòng đại lượng không thể tìm ở đâu ngoài đám học trò. Tôi nghe chuyện từ nãy đến giờ, được hiểu thêm hai anh mà thêm phục. Anh Chính vì lấy người từ chối anh Hạnh nên không vui, anh Hạnh thấy người từ chối mình được kết hôn với chỗ xứng đáng lại mừng.

Hạnh vui sướng:

- Phải, kết hôn với chỗ xứng đáng hơn.

Chính nhún:

- Sao anh lại gọi là hơn?

- Thì hai ta, người ta từ tôi và nhận anh, tất người ta coi anh hơn tôi. Đó là hiển nhiên anh hơn chứ gì.

Chính cười:

- Vị tất đã hơn.

Quý nói:

- Kể ra cứ công bình mà nói, trường ta, hai anh sức học ngang nhau, nhưng về bên đức, thì anh Hạnh hơi kém. Đó là tôi nhắc lại lời Thầy, chứ tôi không phải tự ý suy xét thế.

Hạnh đáp:

- Điều ấy ai cũng phải công nhận. Thường Thầy vẫn khuyên bảo tôi nên trông gương anh Chính mà ăn ở. Tôi vì phục anh Chính và muốn noi anh Chính, nên mới nói với ông bà Lý đến trọ đây với các anh. Trước là được chỗ gần để học tập, hai là có những bạn giỏi để theo đòi, ba là được luôn luôn ở gần anh Chính để sửa sang tính nết.

Chính dơm dớm nước mắt, ngắt lời bạn:

- Anh Hạnh, xin anh đừng nói thêm nữa, anh làm tôi khóc, tôi bắt đền.

Hạnh cũng cảm động:

- Không, tôi nói thực đấy. Chúng ta đây là những học trò đứng đắn, người nào cũng ngoài hai mươi tuổi cả rồi, tức là hạng biết nghĩ. Những điều tôi vừa nói, là do ở tận trong lòng tôi, chứ không phải lời khách sáo.

Quý đương nhìn lũ chim bồ câu mổ hạt ở ngoài sân, bỗng quay lại Hạnh:

- Anh mới đến đây ở với chúng tôi hơn một tháng, chắc anh chưa được rõ tại sao anh Thân với tôi coi anh Chính như anh, và nhận làm em. Là chúng tôi cũng cùng một ý như anh, lấy anh Chính làm gương. Chúng tôi trọ nhà ông bà Lý đây ba năm nay, chúng tôi càng không muốn rời anh Chính. Chúng tôi tưởng tượng giá anh Chính đi trọ chỗ khác, thì chúng tôi cũng theo đi.

Chính vò tờ giấy lau vệt nước trên mặt bàn cho đỡ ngượng, nhũn nhặn nói:

- Ba anh quá khen. Các anh quên rằng ở với các anh, tôi được lợi nhiều à? Học thầy chẳng tầy học bạn.

Hạnh vớ lấy cái điếu:

- Cho nên Thầy bảo tôi, tôi nghe ngay. Tôi vốn phục thiện. Mà xin nói thực là chỉ tại tôi biết việc hỏi cô Thúy chắc chắn là hỏng, tôi mới xin lại trọ với các anh. Mà sao tôi biết là chắc chắn hỏng, là do tôi thấy anh Chính cũng hỏi, thì thể nào tôi cũng thua.

Chính ngậm ngùi nhìn bạn:

- Đó, tôi kém vui là vì thế, nếu không có tôi, chắc cuộc nhân duyên của anh thành.

Hạnh lắc đầu:

- Chả chắc.

Rồi chàng tặc lưỡi:

- Chà, tại số hết. Anh nên tin ở số. Tin ở số thì không còn điều gì đáng buồn, đáng oán, đáng giận cả.

Con đỏ bưng mâm cơm lên, nói:

- Mời các thầy xơi cơm.

Chính bàn với bạn:

- Bốn chúng ta cùng xuống dưới nhà, thỉnh chủ nhân cùng ăn cho vui.

Con đỏ đáp:

- Thưa các thầy, ông bà Lý đã vô phép rồi.

Chính ngấc mắt nhìn:

- Thực à? Ông Lý ăn bao giờ?

- Thưa, ban nãy ạ. Ông tôi phải ra đình họp việc làng.

- Chị mua cho anh em tôi nửa chai rượu nhé. Hôm nay chúng tôi muốn mượn chén để mua vui.

Thân hỏi:

- Nhưng dù chủ nhân ăn rồi, mà mình thành tâm, thì cũng cứ xuống mời, khi nào người ta từ chối hãy hay.

Quý khen:

- Phải. Anh Chính với anh Hạnh xuống mời, tôi còn có việc phải lau chén để rót rượu.

Chính và Hạnh vừa khăn áo xong, thì ông Lý đã lên nhà học, xoa hai tay vào nhau:

- Mời bốn thầy xơi rượu.

- Ông ngồi với anh em chúng tôi cho vui.

- Quả là tôi đã vô phép bốn thầy rồi.

Đoạn ông nhìn Chính:

- Để vài hôm nữa, tôi xin về mừng việc vui của thầy, tha hồ chè chén. Bây giờ tôi phải vội đi đằng này.

Chính mỉm cười:

- Vâng, ông đã hứa với tôi từ hôm nọ.

Nói đoạn, ông Lý chào bốn người học trò rồi ra.

Một lát, con đỏ mang rượu về. Quý đùa:

- Tôi phải tập uống rượu, nay mai đi ăn cỗ cưới, không biết chén người ta cười cho.

Hạnh gật:

- Có lẽ trong bốn anh em ta, chỉ mình tôi là biết uống.

Chính khoe:

- Tôi nữa. Tôi được hai chén.

Hạnh vỗ đùi:

- Thế thì kém tôi, tôi được những ba chén.

Thân vừa rót rượu, vừa nói:

- Không biết ai sinh ra cái uống rượu, thật là thần tiên. Chúng ta là môn đệ Thầy mà không học được nết rượu của Thầy, thật đáng xấu hổ.

Chính cười:

- Rượu bên làng tôi nấu ngon có tiếng, Thầy vẫn thích. Hôm qua tôi mời Thầy sang ăn cưới tôi, Thầy nói đùa rằng: Anh cho thầy một vò rượu còn hơn bắt thầy phải đi đường nhọc nhằn.

Thân hỏi:

- Nhưng Thầy có đi chứ?

- Có. Chú tôi hôm nay sang tận đây mời Thầy, Thầy đã nhận lời. Lát nữa chú tôi cũng đến đây, mời cả ông bà Lý và ba anh.

Hạnh trố mắt:

- Chết, việc vui mừng của anh, anh bảo sang, chúng tôi phải nghe lời, sao anh lại phải nhờ ông chú đến mời cho thêm phiền.

- Các anh là chỗ bạn thân, tục bên tôi mời thế mới là trân trọng. Tôi nhờ ba anh đi phù rể. Xin ba anh chớ chối từ.

Quý đáp:

- Anh làm hân hạnh cho chúng tôi nhiều quá.

- Tôi ăn với các anh bữa nay, rồi lâu mới lại được họp mặt.

Thân ngắt lời:

- Họp mặt ở nhà trọ này, họp mặt ở trường, chứ còn họp mặt ở nhà anh, thì mai kia chúng tôi về ăn cưới kia mà.

Chính đắc chí, rũ ra cười:

- Ừ nhỉ. thế là tôi đã chếnh choáng rồi đó. Mới thấy hơi men đã say.

Bốn anh em nhắp rượu và cầm đũa. Chính nói tiếp:

- Các anh sang bên tôi trước một hôm, đón dâu xong, sáng hôm sau về với Thầy.

- Thầy sang hôm nào, chúng tôi cũng đi hầu Thầy hôm ấy.

- Thầy sang trước một hôm.

Thân cầm chén, giơ lên, nói:

- Bốn chúng ta cùng cạn cả chén này để mừng anh Chính đi.

Cả bọn cùng uống một hơi. Họ không biết uống, nên nhăn mặt, khà một tiếng. Quý vớ lấy thùng cơm:

- Anh nào uống nữa thì uống, chớ bắt chước tôi mà hèn.

Nói đoạn, chàng xới cơm vào bát, rồi rót rượu đầy chén cho ba bạn.

Chính thấy các bạn, nhất là Hạnh, đối với mình có vẻ thành thực, âu yếm, lấy làm vui sướng lắm.



IV



Mấy hôm nay, nhà ông bát Tiên làng Thượng tấp nập những khách. Làng, giáp, họ, bạn, cả đàn ông lẫn đàn bà, người ta đến ăn cỗ mỗi bữa có đến dăm chục miệng. Pháo đốt những tràng dài. Tiếng đàn, tiếng phách, tiếng hát véo von của cô đầu hòa với tiếng cười vang dậy của khách khứa. Ban đêm, dưới ngọn đèn ba dây, người ta đánh tổ tôm với những nét mặt trầm tĩnh, hoặc quanh ba khay thuốc phiện, người ta quây quần bàn tán cạnh ngọn đèn dầu lạc leo lét, hưởng những làn khói đượm thơm tho:

- Ông bà Bát tên là Tiên rất xứng với tên. Được nàng dâu ấy, thật sung sướng. Mối nào mà giỏi thế. Cậu Chính được vợ đẹp và hiền, giời quả có mắt. Giai anh hùng, gái thuyền quyên, phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.

- Thôi, cũng là xứng đáng. Một bên là học trò giỏi, có đức hạnh, một bên là con gái đảm, có nhan sắc. Nhà người ta vượng có khác, kén được dâu hiền.

Rồi thấy Chính đi qua, người ta gọi:

- Cậu Chính đấy à? Cả làng cả họ mừng cho cậu.

Chính dừng lại, mỉm cười. Biết là câu phỉnh phờ, nhưng chàng cũng vui sướng lắm:

- Cảm ơn các cụ, các ông.

- Đám cưới cậu, ông bà làm to cũng đáng, mất trăm mất nghìn mà được một người, chúng tôi mong thế không được đấy cậu ạ. Đám cưới cậu còn nhiều câu đối mừng hơn đám cưới cậu cả nhà quan Phủ.

Sợ đứng lâu mất thì giờ, Chính chỉ mỉm cười mà không đáp. Thật vậy, chàng đương dở bận. Nhân không thấy ai nói thêm câu nào, chàng vội len lén đi thẳng.

Chàng vào buồng riêng đóng lại chiếc mắc áo ra chỗ khác. Buồng này ngày mai, sẽ đón người vợ mới của chàng, cho nên chàng trông nom từng ly từng tý.

Buồng ấy là một góc cái lẫm thóc, ở mé sân bên trái, về phía trong nhà khách. Nó rộng vừa vặn để kê cái giường ngủ, bộ ghế ngựa ngồi chơi, và chiếc bàn nhỏ, để đèn, cháp trầu, ống nhổ và bộ ấm chén.

Ông Bát chọn chỗ cho con ở thật khéo. Một là nó riêng biệt hẳn ra một nơi hẻo lánh ở khu nhà, lợi cho vợ chồng mới còn thẹn thò, e lệ. Hai là để chỗ chứa thóc khỏi quá hẻo lánh, từ nay có người ở ngay cạnh trông nom. Cho nên ông chát vách ngăn riêng lẫm thóc để làm buồng.

Chính lấy làm vừa lòng về chỗ ở riêng của mình lắm. Chàng cầm kìm nhổ đanh để lấy mắc áo, rồi đóng ra chỗ khác cho gần giường ngủ hơn. Vả chỗ trước không được kín đáo, bất tiện cho một người nàng dâu mới, cần phải giữ gìn ý tứ. Chàng lấy dây đo lại xem những đanh mắc màn đã đều nhau chưa. Chàng kê lại chiếc yên để mai đặt hòm cô dâu, sau chiếc màn hoa đào mới, cùng sẽ đem sang với chăn, chiếu, gối, cũng vừa mới sắm.

Bỗng bà Bát vào. Bà mỉm cười:

- Thế nào, anh còn muốn lấy thêm gì vào nữa hay không?

Chính bối rối, đáp:

- Thưa đẻ, không.

- Vậy xong xuôi cả rồi chứ?

- Vâng.

- Thế thì đi mà ngủ sớm, mời các anh ấy lên nhà thờ nằm cho tĩnh. Mai tan canh đã phải đi rồi, kẻo muộn.

Bà Bát dùng tiếng các anh ấy để chỉ bọn bạn học cùng trọ với Chính một nhà bên Nho Quan. Quý, Hạnh và Thân mới tới đây lúc ban chiều cùng với cụ Cử. Họ đi phù rể. Chính nói với mẹ:

- Để các anh ấy nghe hát một lát, ngủ bây giờ khí sớm.

Rồi bà vén áo, ngồi trên ghế ngựa, khẽ hỏi Chính:

- Này, anh ạ, từ chiều cứ bận, đẻ chưa kịp hỏi chuyện anh, có phải cái nhà anh hai mắt xếch tên là Hạnh phải không?

- Vâng, sao đẻ biết?

- Đẻ trông ba người, thấy mặt mũi anh mắt xếch, đẻ đoán ngay ra chắc anh này bị ông bà Đồ từ chối.

Nói đoạn, bà đắc chí, tiếp:

- Hai anh kia hiền lành.

- Vâng, đẻ đoán đúng. Ở nhà trọ, chỉ có anh Hạnh là khác tính, chúng con không thích mấy.

- Anh ta là người mới đến trọ đấy nhỉ?

- Vâng, sao đẻ biết?

- Chả một lần anh nói chuyện với thầy đẻ là gì.

Chính nghĩ một lát, rồi đáp:

- À phải, vâng.

- Kể ra anh ta cũng quân tử, hỏi vợ không đắt, rồi mà nhận lời đi phù rể.

- Vâng, con bất đắc dĩ mới mời anh ấy, và anh ấy cũng bất đắc dĩ mới nhận lời. Đẻ tính, chẳng lẽ con mời anh Thân và anh Quý đi phù rể, lại không mời anh ấy, và chẳng lẽ hai anh kia nhận lời, anh ấy lại chối từ.

- Con xử thế rất phải, mà anh Hạnh nhận lời cũng rất nhã nhặn. Ở đời nhiều sự giao thiệp tuy bất đắc dĩ nhưng mà cần. Con không mời, sợ anh ấy tủi thân, hoặc chạnh lòng. Anh ấy chối từ, sợ mang tiếng là nhỏ nhen.

- Vâng, con mời thêm anh ấy chẳng thiệt gì, mà anh ấy nhận lời cũng chẳng mất gì.

Bà Bát gật gù, bà vứt miếng bã trầu ra sân, rồi hỏi:

- À, thế con xem anh Hạnh đối với việc cưới của con ra làm sao?

- Không thấy tỏ ý gì cả.

- Sao con không nhờ hai anh kia dò hộ.

- Có, nhưng anh ta kín đáo lắm. Thấy anh ta đến cùng trọ, con hơi ngạc nhiên, cho là anh ta không biết con sắp làm rể ông bà Đồ. Nhưng hỏi ra, thì anh ta có biết. Nhưng anh ta nói, làm giai, hỏi vợ bị người ta không gả là sự thường.

Bà Bát khen:

- Thế thì bụng dạ khá đấy. Sao trước kia, con cứ kêu là anh ta kém đức hạnh?

- Cái kém đức hạnh thì có, chứ không không. Không phải vì con nghi kỵ mà con bịa đặt ra như vậy. Chính cụ Cử và cả anh em ở trường cũng nhận thấy thế.

Bà Bát gật đầu:

- Có lẽ, cho nên ông bà Đồ mới không gả con cho.

- Nhưng từ ngày anh ta đến ở chung với ba chúng con, anh ta đã thay đổi nhiều, bớt kiêu ngạo, tuyệt nhiên không có những ngón xỏ xiên, lừa lật.

- Phải, mình ăn ở đứng đắn, tử tế, tự khắc người ta phải bắt chước.

- Vâng, chúng con cảm hóa được một người nên lấy làm thích lắm.

Bỗng nghe tiếng chân người đi ngoài sân, bà Bát quay ra, hỏi:

- Ai thế?

Có tiếng đáp:

- Bẩm cháu.

- Hỏi gì?

- Thưa, cháu xin đi bắt lợn.

- Độ đầu trống ba bắt cũng vừa. Này, tôi bảo.

Rồi bà đứng dậy, nói với Chính:

- Còn bận đến trưa ngày kia mới vãn khách. Anh rủ các anh ấy đi ngủ đi. Đẻ còn vần vật suốt đêm nay.

Đoạn, bà ra sân.

Chính đứng lại, ngắm nghía căn buồng với các đồ đạc. Chàng có vẻ nghĩ ngợi. Rồi chàng cầm đèn đi ra, đóng cửa buồng, khóa trái lại.



V



Mõ ngoài điếm đổ hồi tan canh. Bà Bát lên nhà thờ gọi Chính:

- Sáng rồi, gọi các anh dậy, ăn cơm rồi sắm sửa đi kẻo muộn.

Chính ngồi nhổm dậy. Tuy đêm chàng ngủ rất ít, nhưng không mệt nhọc mấy. Óc chàng lúc nào cũng tỉnh táo, vì luôn luôn luẩn quẩn nghĩ. Chàng không nghĩ sao được. Còn gì sung sướng hơn người con trai sắp kết hôn với một người con gái vừa ý. Chàng mừng và mong chóng sáng. Chàng cũng nghĩ đến bổn phận sau này, bổn phận làm chồng, bổn phận làm rể, rồi đến bổn phận làm cha. Chàng tính đến cách sinh nhai khi cha mẹ già yếu. Chàng phải học hành, đỗ đạt, để sau này làm rạng rỡ họ hàng. Chàng lo. Nỗi mừng, nỗi lo đã làm chàng mất ngủ mấy đêm nay. Gia dĩ từ sáng hôm kia, ở Nho Quan về, chàng phải tiếp khách, lên nhà trên, xuống nhà dưới, đi lại quần quật, không lúc nào rảnh. Vậy mà óc làm việc, chân tay làm việc, song, chàng vẫn khoan khoái, tỉnh táo như thường.

Chàng ra hiên nhìn trời. Sao trên không lấp lánh như những hạt bạc đính trên tấm nhung đen.

Trời hôm nay có vẻ tươi sáng, tạnh nắng. Chính trông xuống bếp: dưới những ngọn đèn treo tỏa ra một thứ ánh sáng vàng, người nhà vẫn yên lặng làm việc cơm nước một cách tấp nập. Chàng cảm động thấy ai nấy bận rộn vì mình. Chàng súc miệng, rửa mặt, rồi vào đánh thức các bạn.

Một lát sau, bốn mâm cỗ bưng lên nhà khách. Ông Bát mời cụ Cử và bọn học trò đi uống rượu với bọn họ hàng dự cuộc đón dâu.

Vì ngái ngủ, vả bữa cơm này chỉ là để điểm tâm thôi, nên mọi người ăn chiếu lệ. Người ta chỉ uống dăm ba chén rượu lấy sức hoặc một hai bát cơm khỏi mệt mà thôi. Vả để đi sớm cho được việc.

Trời đã tang tảng. Một thứ ánh sáng xanh lờ mờ đã gần soi rõ các cảnh vật. Ông Bát sai tuần đốt bốn ngọn đuốc đứng chờ ở sân.

Khi mọi người đã khăn áo chỉnh tề và lễ vật đã sắp sẵn, ông mới lên nhà khách, sai đốt bánh pháo, rồi gãi tai nói:

- Các cụ, các ông, các bà đã có lòng yêu tôi và thương đến cháu, vậy xin ra thuyền kẻo muộn.

Chính vui sướng theo các bạn, miệng nhai trầu bỏm bẻm.

Đám đón dâu thong thả đi đầu làng, rồi theo đường khuyến nông nhỏ, ra bến Nứa.

Sáng rõ dần. Mặt trời xuân hiện lên, ấm áp và long lanh. Giọt sương trên đầu cỏ tóe ra những màu của kim cương. Chính đội chiếc nón dứa chóp bạc mới, cố đi ở giữa đường cho khỏi ướt mờ mũi giầy Gia Định mới và khỏi lấm bít tất trắng. Chàng nhìn những thửa ruộng của cha chàng trong màu. Những luống cải hoa lý đứng thẳng thắn trên nền đất xám. Những hàng khoai lá tím xen lẫn với lá xanh già.

Đám cưới theo con đường quanh co, vừa đi vừa chuyện ồn ào. Cụ Cử được mọi người kính trọng nhất vì tuổi tác, vì học thức, nên nói nhiều nhất. Cụ giảng về địa lý khi thấy một ngôi mả đẹp, cụ giảng về địa dư và lịch sử khi có một ngọn núi phớt tím hiện ra ở phía chân trời.

Vì vậy, đi đã khá lâu, nhưng không ai thấy mệt. Người ta yên lặng nghe, và lễ phép trả lời bằng tiếng “dạ”. Thỉnh thoảng, cụ lại dừng ở một gốc đa để đọc và bình phẩm đôi câu đối khắc trên cột vôi của một cái miếu, hoặc để ngắm nghía cách kiến trúc sơ sài nhưng chắc chắn của một cái cầu gạch cạnh đường.

Vì đi thong thả, nên đến bến Nứa, mặt trời lên đã khá cao. Mười lăm người chia nhau xuống ba chiếc thuyền có che mui thấp. Các ông bà già xếp chỗ nằm nghỉ. Bọn trai trẻ, kẻ ngồi trong khoang, người đứng ngoài mũi, ai nấy yên trí theo dòng nước chảy nó đưa đi, không nóng ruột.

Thuyền xuôi, lại có bốn tay chèo lực lưỡng, nên trôi băng băng. Chính thấy ngắm cảnh bây giờ là làm một việc vô ích. Cảnh này đối với chàng không lạ. Và dù có lạ, rồi chàng còn phải đi về lối này cho đến ngày đầu bạc lưng còng thì bao giờ hưởng phong cảnh không được. Chàng bèn xin lỗi các bạn, chui vào trong khoang, cởi khăn, cởi áo, đi nằm, nhắm mắt lại. Chàng muốn nhân lúc rỗi, được chợp ngủ một tí. Cả ngày hôm nay, chàng còn phải bận rộn, và rồi tất phải thức cho đến khuya. Rồi đến khuya, chàng đã được ngủ đâu, chàng còn tiếp vợ mới. Nghĩ vậy, chàng thấy lòng rạo rực. Vậy chàng cần phải ngả lưng, dù không ngủ được, thì lan man nghĩ, để ngắm cái cảnh của tương lai, của hạnh phúc, còn thú hơn cái cảnh của tạo hóa.

Thuyền rập rềnh như ru, Chính ngủ được. Khi đến đầu làng Phương Bá, sắp tới bến, Hạnh mới gọi chàng dậy, Chính mỉm cười. Có lẽ chàng đã ngượng với mọi người vì giấc ngủ quá ngây thơ. Chàng lấy vạt con áo chùi mắt và lau mặt, rồi soi gương để đội khăn mặc áo cho chỉnh tề. Chàng đứng dậy, ra đằng mũi vặn mình và bẻ khục tay.

Đầu làng Phương Bá, với cái cầu gạch xây vồng lên, với cây si uốn éo trên bờ ao bán nguyệt, rủ bộ rễ xuống làn nước trong xanh như món tóc của người gội đầu, những thức ấy đối với chàng không lạ mắt. Chàng còn nhớ như in trong óc, ngày năm ngoái, chàng sang nhà ông Đồ với cha chàng. Chàng thuộc cả đường vào nhà vợ, dù đường ấy ngoắt ngoéo.

Thuyền vào bờ, mọi người lên cạn. Dân làng đã đổ ra xem rất đông để ngắm chú rể.

Vượt qua đến hàng trăm đám chăng dây, bọn đón dâu mới đến đầu ngõ nhà ông Đồ.

Bỗng một tràng pháo dài nổ. Mọi người theo phía có làn khói xanh thơm để đi vào.

Nhà ông Đồ tuy nhỏ, hẹp, nhưng ai cùng khen là ngăn nắp và có vượng khí. Ông bà Đồ ra tận cổng đón họ nhà trai. Ông vái dài cụ Cử mặc áo thụng xanh cầm hương đi đầu. Ông mỉm cười chào những người quen ông sẵn, hoặc nghiêm trang chào những người chưa quen.

Ông mời quan viên vào nhà và vui vẻ nói:

- Nhà cháu thì thanh bạch, lại được ông bà Bát bên ấy thương yêu, chẳng quản nghèo hèn, nhận làm thông gia, chúng cháu thật sung sướng quá.

Cụ Cử bước lên thềm, nói:

- Ông quá nhún nhường, hai bên cùng là thế gia, thật đôi trẻ xứng quá, tôi rất mừng.

Ông Bát mời khách đàn ông ngồi trên dãy phản kê bên trái giường thờ và khách đàn bà ngồi trên dãy phản kê bên phải.

Ông nhờ ông Phó Lung là em ruột tiếp khách đàn ông, và bà Tư Tích tiếp khách đàn bà. Ông bà phải chạy đi chạy lại, và xuống bếp gióng giả người nhà sửa soạn cỗ bàn.

Người nhà ông hầu hạ nhanh nhẹn và lễ phép. Toàn là trai trong họ đến làm giúp cả.

Nước chè tầu ngào ngạt bốc hơi thơm, ông Đồ gãi tai mời mọi người giải khát. Bà Đồ bưng bốn đĩa trầu đặt trên bốn phản. Ai thấy ông bà mặt mũi phúc hậu, cử chỉ dễ dãi, cũng đoán được là cô con gái tất biết ăn ở đầy đặn, và âu yếm họ hàng.

Một lát, mâm cơm đầy ắp những đồ ăn bưng lên, đặt trên bàn thờ. Ông Đồ mặc áo thụng, vào lễ và khấn gia tiên. Mọi người đứng cả dậy, yên lặng. Lễ xong, ông nói với các cụ:

- Xin phép các cụ cho chú rể vào lễ.

Ông lang Minh bên nhà trai, tức là trưởng họ, gọi:

- Cậu cả đâu?

Chính đã chờ ở hè. Chàng thong thả tiến vào chiếu, đứng ngay ngắn, và lậy bốn lậy thong thả.

Đoạn, ông lang nói với ông bà Đồ:

- Xin rước ông bà ngồi, cho cháu được mừng tuổi.

Ông Đồ chắp tay, lễ phép đáp:

- Thôi ạ, để xin miễn, chúng tôi còn trẻ trung, xin các cụ tha cho chúng tôi được sống lâu.

Nhưng ông lang không nghe, cứ kéo tay ông Đồ ngồi xuống phản, và sai giải chiếu. Ông lại hất hàm làm hiệu cho Chính. Ông Đồ cuống quýt, vừa lắc đầu, vừa kéo tay ra:

- Tôi không dám nhận lễ đâu. Cháu còn bé dại, được về làm dâu bên ông bà Bát tôi, tôi đã mừng lắm rồi. Để cậu cả mừng tuổi ông bà Bát là đủ.

Ông lang càng nằn nì:

- Tứ chi phụ mẫu, xin ông bà cho cháu được trọn đạo làm con.

Nhưng ông Đồ đã giật tay thoát. Ông chạy vội ra ngoài hiên, đứng với mọi người:

- Đành vậy, nhưng chú rể lễ gia tiên là đủ rồi.

Rồi ông mời:

- Xin rước các cụ, các ông, các bà giải tọa.

Bà Đồ lúc ấy mới ở trong buồng bước ra nhà ngoài. Ban nãy, bà cũng đi trốn. Bà đưa ông một gói bọc nhiễu đỏ, rồi đứng cạnh ông. Ông Đồ đặt gói vào cái đĩa, nói:

- Trình các cụ, các ông, các bà, thật cũng là duyên số cháu mà giời se về làm dâu bên ông bà Bát, gọi là thế, chúng tôi có cái này, thật là cây nhà lá vườn, mừng cho hai con.

Ai nấy đều chú ý nhìn cái gói. Cụ Cử gọi:

- Anh Chính đâu, ông bà cho, bác lĩnh đi.

Chính giơ hai tay cầm, và vái cha mẹ vợ một cái.

Ông Đồ mỉm cười:

- Cậu mở ra, thật là cây nhà lá vườn.

Chính ngượng nghịu, mở tấm khăn nhiễu ra. Mọi người yên lặng, để chờ.

Thì ra trong là một tờ hoa tiên màu cánh trấu, viết một bài thơ tứ tuyệt bằng nét mực đen lay láy. Những người biết chữ châu đầu vào xem.

Cụ Cử khen:

- Ông Đồ làm cái gì cũng có ý nhị.

Đoạn, cụ bảo Chính:

- Anh đọc cả nhà nghe.

Chính thẹn đỏ mặt. Chàng đã nhìn bốn câu thơ của ông nhạc, và đã phục là tài tình, nhưng không dám cất lên tiếng.

Cụ Cử hiểu ý, nhìn Quý:

- Anh đọc hộ anh ấy vậy, bằng ngần ấy tuổi rồi mà còn thẹn thò.

Quý dạ, lên tiếng ngâm. Cụ Cử gật gù, nức nở khen:

- Hay! Hay!

Rồi cụ giảng cho các bà đàn bà đương tò mò muốn hiểu nghĩa:

- Tôi nói qua loa để các bà hiểu, bài thơ là ông Đồ mừng chú rể, ông mong chú rể thành đạt để nối nghiệp ông cha, ông lại khiêm tốn, nói là không biết con ông có xứng đáng làm vợ một người hiền sĩ hay không. Kể nghĩa đen thì thế, nhưng lời thơ bóng bảy, và còn cái hay thì không thể nói rõ được. Phải hiểu thơ mới chịu là bài này hay.

Ông Đồ sung sướng, mỉm cười. Cụ Cử nói với Chính:

- Tôi hẹn cho chú rể năm hôm phải họa lại.

Chính chắp tay:

- Dạ.

Cỗ bưng lên. Hai họ vui vẻ ăn với nhau. Câu chuyện thù tiếp không đến nỗi nhạt nhẽo.

Bà Đồ không ăn với khách. Bà ăn rồi. Giờ này, bà ở buồng nhà dưới ngồi với con gái. Bà dịu dàng, nói:

- Nhà người ta là nhà phúc hậu, mày nên ăn ở thế nào cho phải đạo, đừng để mang tiếng bố mẹ, con ạ.

Thúy cúi mặt xuống, đỏ hoe mắt, hai má hồng hồng. Từ nãy, nàng ngồi cạnh phản, một chân co lên để tựa cằm, một chân thõng xuống xỏ vào chiếc dép cong bóng nhoáng. Hôm nay nàng đẹp bội phần, bởi vì hôm nay nàng mới hết sức làm dáng. Nàng mặc áo băng thâm ra ngoài áo lụa đỏ. Trên hò áo, nhóng nhánh một tràng kim. Từ lúc mặc chiếc quần lĩnh mới, nàng ít đi lại, vì nghe tiếng sột soạt, nàng phát ngượng với chị em. Vả lại, từ lúc họ nhà trai tới, nàng thụt vào trong buồng, không dám ra nữa. Ai chế thế nào, nàng cũng chỉ vui sướng mà cười, chứ không dọa khóc như mọi khi. Nàng trắng, lại vận bộ đồ thâm, làm tăng thêm vẻ ngọc.

Bà Đồ thấy cái phút phân ly tới dần, nên không muốn bỏ sót những lời khuyên con:

- Mày đi lấy chồng, thầy u nhớ, nhưng thầy u mừng cho mày được nương tựa nơi xứng đáng.

Rồi bà thở dài:

- Cho nên cốt nhất là bao giờ cũng phải nghĩ đến mẹ cha ở nhà, đừng để người ta nói đến.

Thúy cảm động quá, sụt sịt khóc. Nàng vớ cái tráp trầu phủ khăn hoa đào để tựa tay, khẽ đáp:

- Vâng.

- U khuyên mày thì khuyên đã nhiều rồi, chẳng qua hôm nay u chỉ nhắc lại những điều u nhớ, chứ ruột u bây giờ cũng rối như mớ bòng bong.

Nói đoạn, bà lấy vạt áo chùi mắt.

Một lát, Kim, chị họ Thúy, mở mành ra, hớt hải vào nói:

- Cụ Cử đã xin rước dâu đấy, cụ chỉ sợ tối.

Bà Đồ đáp:

- Chị xem bóng nắng đến đâu rồi?

- Thưa, đứng bóng rồi. Chú cho hỏi em cháu đã sắm sửa xong chưa?

Bà Đồ thở dài, đứng dậy:

- Cho tôi còn đôi hồi với nó một vài câu đã chứ.

Đoạn, bà ngậm ngùi lên nhà trên.

Kim trêu Thúy:

- Chú rể ăn cảnh giả quá, thằng Cán nó bảo chỉ ăn có hai bát, về phải dạy bảo người ta ăn uống thế nào chứ!

Thúy đương rầu rầu, nên cau mặt, gắt:

- Gớm, cái nhà chị này, trẻ con mãi!

Kim ranh mãnh cười:

- Phải, cô có chồng thì cô người lớn, ai cô cũng khinh là trẻ con.

Thúy vớ được Kim, đấm thùm thụp vào lưng chị:

- Đến lượt chị thì ai chế chị!

Nhưng bà Đồ đã lại vào. Bà tưởng Thúy vui vẻ, nên mỉm cười, lắc đầu:

- Chỉ có mình nhớ nó, chứ đố nó có nhớ mình!

Rồi bà hỏi Kim:

- Các cô phù dâu đâu cả rồi?

Kim đáp:

- Để cháu gọi chị Cúc.

- Các chị sắm sửa xong cả rồi chứ?

- Vâng.

Bà Đồ thân mật nhìn Kim:

- Em thì bỡ ngỡ, có chị thạo, chị đưa em đi lễ, hoặc có gì thì bảo em nhé. Chị Cúc tiếng thế mà không bằng chị đâu.

Kim nhanh nhẩu, đáp:

- Vâng.

Bà Đồ mỉm cười:

- Chóng rồi thím làm mối cho.

Đến lượt Kim thẹn thò, và Thúy được nhìn chị bằng đôi mắt chế nhạo. Nàng không nói. Vì nàng không muốn nói. Nàng chỉ muốn yên lặng, hưởng nốt những giây phút âu yếm bên cạnh mẹ, dưới cái mái nhà thân yêu. Bụng nàng nao nao. Nàng khóc. Nước mắt nàng rất nhiều nghĩa. Nàng khóc sướt mướt. Nàng gục đầu vào vai bà Đồ mà nức nở.



VI



Đến lúc lặn mặt trời, đám cưới cập bến Nứa, và sẩm tối thì tới đầu làng.

Thấy nhiều người đổ ra xem quá, Kim và Cúc vội vàng ẩn Thúy đi giữa, và lấy nón che mặt nàng. Vì nón rộng, nên Thúy đỡ ngượng nghịu. Nàng cúi gầm xuống, đưa tay cho hai cô phù dâu dắt.

Bỗng một tràng pháo nổ rất lâu. Bọn đàn bà con gái phải đứng dừng lại, chờ một lát.

Kim và Cúc đưa Thúy qua cổng xây vào sân gạch, rồi đến buồng. Thúy bước qua hỏa lò than hồng, nón mới ngả ra. Nàng thấy cái buồng xinh xắn và kê dọn rất gọn mắt. Nàng ngồi xuống tấm ghế ngựa, khẽ bảo Kim:

- Chị đóng hộ hai cánh cửa lại, kẻo ở ngoài người ta nhìn vào. Chị để cái đèn ra chỗ khuất nữa.

Cúc đứng dậy, thò cổ dòm ra ngoài, rồi khép cửa:

- Nhà cũng khá rộng, không ngờ vừa tối mịt mới đến nơi.

Kim hỏi:

- Các cô có mệt không?

Thúy gật:

- Em không quen đi thuyền, chóng cả mặt.

Cúc nói:

- Mọi khi quen đi nhanh, lần này phải đi thong thả, khó chịu quá.

Rồi cô tiếp:

- Chú rể này cũng khá đứng đắn, không sấn sổ vào cô dâu để xem mặt.

Kim cười:

- Chốc nữa tha hồ xem mặt nhau, họ cần gì...

Thúy mỉm cười, lườm Kim:

- Chị chỉ được cái thế.

Cúc hỏi:

- Chú rể trông đầy đặn đấy, xứng đôi lắm.

Thúy tự nhiên thấy hồi hộp. Nàng chưa biết mặt chồng, nhưng từ nọ đến nay, thấy ai cũng khen, nên lấy làm sung sướng lắm.

Bỗng bà Ba Hảo, là dì Thúy, mở cửa đánh kẹt. Thúy giật mình, ngẩng lên. Bà Ba hớn hở nói:

- À, ra buồng ở đây. Hai cô phù dâu sắm sửa cho cô dâu, rồi dẫn lên lễ nhà thờ với tế tơ hồng đi.

Kim đưa Thúy cái gương tròn nhỏ vẫn bỏ trong túi, Thúy làm ra bộ không cần, đáp:

- Thôi, tối rồi, ai trông thấy cái mặt ngoáo mà sợ.

Thúy theo Kim và Cúc. Nàng lại nhìn xuống đất, và đi thong thả.

Bà Ba đưa ba cô lên nhà trên. Thúy bước chân vào chiếu, ngồi ngay ngắn. Kim và Cúc xếp lại vạt áo cho cô dâu, rồi Thúy lễ. Nàng biết lúc này bao nhiêu mắt đều tròng trọc nhìn nàng. Nàng thẹn quá.

Lễ xong, trộm liếc thấy lố nhố những người trước mặt, nàng cuống queo đứng dậy, rồi cúi gầm mặt, nàng lẩn vào sau cột để lấp ánh sáng đèn.

Bỗng Kim kéo tay Thúy. Nàng chỉ còn như cái máy. Nàng theo Kim ra sân và biết là để tế tơ hồng.

Bàn thờ bày giữa sân, có hai ngọn nến lớn chiếu sáng. Thúy len vào giữa bọn Kim, Cúc và các bà bên họ nhà gái. Nàng không dám nhìn ai. Nàng lại cảm động nữa. Lúc này là lúc ông Tơ bà Nguyệt se nàng lấy Chính, làm chứng cuộc hôn nhân của nàng.

Bà Ba ẩy nàng đi, khẽ bảo:

- Vào lễ.

Nàng lại theo Kim và Cúc dắt đến gần chiếu. Nàng thấy có tiếng nói to:

- Xin để cô dâu ngồi chiếu dưới, chú rể đứng chiếu trên.

Nàng không nhận được chiếu nào trên, chiếu nào dưới, cứ theo tay Kim:

- Ngồi xuống.

Nàng vén áo, run run, ngồi xếp bằng tròn. Cũng như lần trước, Cúc xếp các vạt áo hộ nàng cho gọn gàng, rồi nàng thấy tiếng bảo:

- Lễ đi.

Nàng chắp tay, thong thả cúi đầu bốn lượt.

Rồi đứng dậy vái, nàng xỏ chân vào dép và thong thả đi.

Một tràng pháo dài bắn tung tia lửa, nổ liên thanh, Kim dắt nàng đi nhanh. Nàng vẫn thấy cạnh mình tiếng nói ồn ào, biết là người ta xem nàng đông lắm.

Hết sân, nàng vào đến buồng. Nàng nhìn hai chị, mỉm cười một cách bạo dạn, như đã trút được một gánh nặng:

Cúc nói:

- Cô dâu lễ khéo đấy.

Kim gật:

- Kể cô dâu này cũng bạo. Lúc tế tơ hồng, tôi đứng ngoài mà trống ngực thòm thòm.

Thúy lại mỉm cười:

- Lại cứ vẽ ra cô dâu với chú rể lễ với nhau.

Kim đứng dậy, ngó ra sân, rồi quay lại nói:

- Ông bà nhạc không nhận lễ mừng tuổi của chú rể, nên bố mẹ chồng cũng miễn mừng tuổi cho cô dâu. Đáng lẽ Thúy còn phải lễ sứt trán.

Thúy sực nhớ ra, sung sướng, đáp:

- Ừ nhỉ, không có lại thẹn đến chết. May các chị đi nhanh quá.

Cúc cười:

- Chúng tôi có phải lấy dáng dấp đâu mà phải chậm.

Thúy lườm yêu:

- Rồi đến lượt mình đấy, cho mà hết nói thánh.

Một lát, một mâm cơm bưng vào, có một cô con gái trạc tuổi cô dâu theo sau. Cô ấy được cắt vào để tiếp khách.

Cô xích mâm cho chính giữa phản, đặt cây đèn xuống gần, rồi mời:

- Mời chị cả với hai cô xơi rượu.

Kim khẽ đáp:

- Vâng.

Đoạn, cùng Thúy và Cúc vén áo ngồi ngay ngắn. Lan nhìn Thúy, tự giới thiệu:

- Em tên là Lan, là em họ anh cả em đây.

Rồi so đũa, rót rượu vào bốn chén, để bốn góc mâm, trong khi ấy, Cúc đặt bốn chiếc bát tầu cạnh đũa, và mỉm cười, nói:

- Chị em chúng tôi lại không biết uống rượu.

Lan nhanh nhẩu vừa đứng dậy, vừa nói:

- Vâng, thì xin ăn cơm.

Lan xới bốn bát, và gắp đồ ăn đầy tú ụ để tiếp khách. Thúy không đói chút nào. Cứ kể nàng không ăn bữa này cũng được. Nàng thấy trong bụng đầy đầy, và có người lạ bên nhà chồng, nàng càng phải giữ ý tứ. Nàng nhấm nháp gọi là, và hết một bát, nàng xin vô phép.

Lan giằng bát nàng để xới, nhưng nhất định nàng giấu biệt đi. Lan nói:

- Hay em tiếp chị không khéo, chị xơi ít?

Dịu dàng, Thúy mỉm cười, đáp:

- Không ạ, tôi no thật.

Kim đùa:

- Cô dâu làm khách. Còn chúng ta ăn cho no.

Lan cũng cười:

- Vâng, chị tôi mừng đấy ạ.

Thúy không đáp, đứng dậy. Người nhà đã bưng thau, chén nước và ống tăm vào. Nàng rửa mặt, rồi ngồi trên giường, xỉa răng và uống nước.

Nàng không để ý đến những câu chuyện của Lan nói với hai chị. Nàng vẩn vơ nghĩ. Nàng nghĩ đến cha mẹ ở nhà, hiện giờ này đương nhắc nhỏm đến nàng. Ông bà mong cho chóng đến mai, để đợi bọn đưa dâu về, hỏi chuyện đám cưới. Văng vẳng, nàng còn như nghe thấy những điều dặn dò của mẹ, và mường tượng nàng còn như trông thấy nét mặt băn khoăn của bà. Bỗng nàng nước mắt chạy quanh.

Sực nhớ ra, nàng ngồi lánh vào chỗ khuất đèn và lấy vạt áo chùi lệ. Nàng muốn không nghĩ ngợi nữa, bèn đứng dậy, ra phía bàn, mở tráp tròn, lấy miếng trầu để ăn. Nhưng Lan nói:

- Ấy, còn mời chị xơi đồ nước nữa kia mà.

Lễ phép, Thúy đáp:

- Tôi vô phép rồi ạ.

Nàng nhai trầu, mắt nhìn xuống đất, thính thoảng thở dài một tiếng khẽ.

Một lát, ba cô con gái ăn cơm xong. Mâm bưng đi, người nhà đặt khay bánh trái vào. Lan cố mời Thúy, nhưng Thúy nhất định từ chối.

Kim nếm các thứ bánh, khen lấy khen để. Cô này vẫn khéo mồm khéo miệng.

Xỉa răng, uống nước xong, Lan làm hết phận sự, bèn đi ra...

Kim và Cúc cũng cho là hết phận sự phù dâu, bèn bấm nhau. Từ giờ này trở đi, đã có chú rể tiếp Thúy, hai cô ngồi đây mãi, bất tiện.

Kim vờ ra cửa đứng, nói:

- Ăn cơm xong mà cứ ngồi một chỗ không tiêu được.

Rồi cô gọi:

- Cúc ạ, ra đây mà xem.

Cúc theo Kim. Hai người rỉ tai nhau, rồi quay vào, nói với Thúy:

- Chúng tôi lên nhà trên một lát nhé.

Thúy hiểu ngay là hai chị bỏ mình, bèn luống cuống đáp:

- Không, không đi đâu cả.

- Không, một tí thôi mà.

- Đi đâu làm gì mới được chứ!

- Ngồi một chỗ tù cẳng, cho chúng tôi đi một lát.

Nói đoạn, cứ đi.

Thúy còn nghe thấy Kim và Cúc rúc rích cười với nhau.

Ở lại một mình trong buồng, nàng cảm động lắm.

Nàng vặn nhỏ đèn, rón rén ra khép hai cánh cửa, rồi thở dài. Nàng ngồi trên giường, tựa cầm vào hai đầu gối, lòng rất xao xuyến.

*
*    *

Ở trên nhà, Chính đã phải giữ gìn lắm mà không nổi.

Chàng có dám uống rượu đâu. Chàng không biết uống và rất sợ say. Chàng vốn không chịu được cái hơi nồng nàn của những người mặt đỏ bừng nói chuyện trước mặt chàng, cho nên chàng không muốn chốc nữa đem hơi rượu sặc sụa vào buồng vợ mới. Và chàng muốn tỉnh táo, tinh thần minh mẫn để nói chuyện với người yêu.

Vậy mà họ hàng và bạn bè ép chàng uống:

- Chú rể không uống thì chúng tôi cũng không uống.

Ông Bát xin hộ chàng:

- Cái gì chứ rượu thì thật cháu chỉ một hớp đã đỏ mặt. Xin cho cháu ăn cơm, đã có anh Tư cháu tiếp các ngài.

Nhưng người ta không nghe. Bởi vậy, Chính bất đắc dĩ phải nhấp chén luôn luôn. Song, chàng dè dặt, chỉ nâng chén rượu đến miệng lấy lưỡi nhấp tí một, khi thấy hơi chếnh choáng, chàng gọi cơm, nhưng người anh họ chàng ngồi cạnh, nhìn vào chén chàng nói to:

- Chú chưa ăn cơm được. Mới hết một nửa rượu.

Rồi người ấy rót đầy, nói:

- Ra chú khôn thật, chúng tôi hết ba, bốn chén rồi. Nam vô tửu như kỳ vô phong, làm tài giai không biết uống rượu thì vợ nó cười cho, chú ạ.

Mọi người ồn ào, người anh họ lại nói:

- Ít ra, bữa nay chú cũng phải uống ba chén. Chú bị thím ấy cười, tôi cũng xấu hổ lây. Có thân, tôi mới dạy chú uống.

Tiếng cười lại vang dậy, người ta nói đùa:

- Phải, không là anh em thân, ai dạy cái ngoan ngoãn như uống rượu làm gì.

- Thật thế, rồi anh dạy chú đủ ngón, cả đánh trống cô đầu nữa.

Lại có tiếng cười. Chính nhếch mép:

- Tôi chỉ uống hết chén này thôi đấy.

- À, phải rồi, chú định uống mau, ăn mau, rồi bỏ khách khứa ở đây để vào hú bí với vợ, phải không?

Tiếng cười lại rầm rầm, làm lấp cả giọng hát cô đầu, tiếng phách và tiếng trống ở gian bên kia, mâm các cụ. Chính thẹn đỏ mặt, đáp:

- Ai muốn chế thế nào thì chế!

Nói đoạn, chàng nhấc chén lên miệng, ngửa cổ, hớp cả rượu, nuốt đánh ực.

Chàng nhăn mặt, khà một tiếng.

Người ta khen rầm rĩ:

- Giỏi quá! Giỏi quá rồi!

Có người nói:

- Giỏi thì uống luôn chén nữa cho tôi phục.

Nhưng Chính giấu chén, và cố giằng lấy thùng cơm. Chàng ăn ba bát, rồi đứng dậy. Uống nước xong, chàng gặp ông Bát ở hè. Ông bảo:

- Anh chạy đi chạy lại, xem có mâm nào thiếu gì thì gọi lấy nhé.

- Vâng.

- Thỉnh thoảng bóc bánh pháo đốt cho vui nhà nhé.

- Vâng.

Chính lại vội vàng đi qua các mâm để phục dịch. Đến đâu, người ta cũng đùa chàng bằng câu ý nhị:

- Chú rể mừng nên ăn ít.

- Anh ấy ăn bữa này đói, để bụng ăn với vợ cho được nhiều.

- Chỉ vội vào với cô dâu thôi, còn suốt đêm nay kia mà.

Chàng thẹn lắm, nhưng chỉ cười, chứ không nghĩ câu châm chọc lại.

Bữa cỗ kéo dài lâu quá. Mãi gần sang trống hai mới thật xong.

Họ hàng nhà trai, những người không biết chơi gì, hoặc cho là ở lại vô ích, hoặc quá nhọc mệt, đều ai về nhà nấy.

Họ hàng nhà gái, nhất là các bà, đều kiếm chỗ ngả lưng.

Từ trống hai trở đi, trên nhà thờ có bàn đèn thuốc phiện, và nhà dưới, một chỗ hát cô đầu và hai bàn tổ tôm.

Vì thiếu giường tươm tất cho bọn đàn ông ngủ nên ông Bát tổ chức cuộc đánh bài để tiêu thì giờ. Một bàn tổ tôm có thể làm mất ngủ ít ra bảy tám người là ít, kể cả bọn công ty và bọn chầu rìa. Đánh tổ tôm, người ta thức không mỏi mệt, lại tỉnh táo, hoạt động là đằng khác. Rồi khi tan, người ta có thể nằm rúm rum với nhau, vật vạ ở chiếu nào cũng được, không cần màn, không cần chăn. Bởi vì lúc ấy đã gần hết đêm, có nằm cũng là tạm bợ cho đỡ mỏi lưng, để chờ sáng. Vả những người thích bài bạc không cần chỗ ngủ hợp ý mình. Muốn được nằm tử tế, có chăn, có màn, thì đừng họp tổ tôm, đi ngủ ngay từ chập tối. Vậy nếu chỗ ngủ không được như ý là lỗi ở người đánh bạc, không phải lỗi chủ nhân.

Bởi thế, ông Bát lập ra những hai bàn tổ tôm. Hạnh và Thân, mỗi người phải ngồi một chân. Thân và Quý công ty với nhau. Hạnh rủ Chính chung phần, nhưng Chính chối từ. Hạnh mỉm cười, chế:

- Anh chỉ mong đi ngủ, còn bụng dạ nào để vào chỗ đánh bài!

Thân gật đầu:

- Anh Hạnh nói đúng. Đáng lẽ anh Chính ngồi một chân mới phải, chỉ tại anh ấy nóng ruột, nên mới định bỏ anh em mình.

Quý tiếp:

- Chúng ta có công đi phù rể, phải khó nhọc suốt ngày, mà anh ấy nỡ có mới nới cũ!

Chính cười nhạt, nói khẽ với Thân:

- Tôi không công ty với anh Hạnh, vì anh ấy có nhiều tiền rồi.

Hạnh nghe tiếng, đáp:

- Chơi vui chốc lát, chứ ăn trăm ăn nghìn gì. Cộng lạc, anh ạ.

Chính chiều bạn, gật đầu:

- Được, tôi công ty với anh.

Chàng bắc ghế ngồi cạnh Hạnh, nói:

- Anh lên bài trước, nếu thắng thì thôi, bằng bại thì tôi thay anh ra trận tiền.

Hạnh cầm phần bài, gài phu vào với nhau, rồi bàn bạc với Chính nước ăn, quân đánh.

Bài Hạnh không đen, nhưng cũng không đỏ, nên hội đầu hòa. Đến hội thứ bai, vì tham ván ù to, Hạnh không chờ hai tiếng, lại chờ một quân hết, nên đánh để nhà dưới ù. Rồi ngươi ấy ù to thông luôn ba ván, ván sau là thông chi chi tôm. Hạnh bị cả làng kêu là tham, vả nhận thấy bài mình xấu hẳn đi nên phải đổi tay:

- Anh ra cầm quân, chắc anh đỏ, vì anh đương khoan khoái.

Thân đùa:

- Anh Chính đánh thế nào cũng thua, vì bụng anh đương rối beng chứ không khoan khoái. Sang canh ba rồi, còn gì là đêm!

Chính cười, đáp:

- Được, rồi anh xem. Phen này các anh không còn một mảnh giáp.

Chàng ngồi lên giường, chỗ Hạnh. Hạnh xuống ghế, mách nước.

Lúc ấy ngoài sân đã thưa người đi lại. Đầy tớ, ai phục dịch bàn tổ tôm thì thức, còn đi ngủ cả. Họ đã nhọc mệt suốt mấy ngày.

Đêm khuya thật vắng vẻ, lặng lẽ.

Trong bàn tổ tôm ai nấy mải đăm đăm, đôi mắt nhìn quân bài, lúc nào cũng trầm ngâm nghĩ ngợi. Người ta chỉ nói để xướng quân đánh, hỏi xem bốc quân gì, hoặc bàn bạc khẽ với nhau. Thỉnh thoảng mới có những tiếng cười đắc ý về ăn quân bài cao, hoặc vỗ đùi xuýt xoa tiếc nước bốc.

Mỗi khi có người hạ ù, lúc ấy mới hơi ồn ào. Người lật nọc lên, phân trần bài mình đen, chỉ ù cắp tráp, hoặc than thở, tiếc bày thế nọ, đánh thế kia, đến nỗi nhà dưới được ăn ngon. Họa hoằn lắm mới có những trận cười to và dài.

Chính thỉnh thoảng cùng được ù một ván suông. Nhưng bên cạnh, Hạnh cứ ngáp vặt. Thấy vậy, chàng chán ngán, không bàn với bạn nữa, nói:

- Anh để tôi đánh một mình.

Hạnh gật đầu:

- Phải, càng bàn càng khó đánh.

Quả nhiên ván ấy chàng được ù tôm, và ván sau ù thông lèo.

Chàng phấn khởi, vui vẻ lắm. Hạnh đứng dậy, nói:

- Tôi ngồi cạnh anh chỉ tổ hại cho công ty.

Đoạn, Hạnh ra hè, đi bách bộ.

Chính cầm bài một mình, được tự do hành động, nên thấy rất dễ chịu. Lại được lúc vận đỏ tới, chàng linh tay lạ. Chàng phá phỗng rất trúng và chờ những quân lên rất dễ dàng. Bởi vậy, chàng ù luôn, và gỡ gần hòa hội thứ hai.

Hội thứ ba, chàng vẫn ù nhiều, không những không phải góp, lại lấy được tiền về.

Lúc ấy, chàng mới nhớ đến bạn mà từ nãy mê đánh, chàng quên bặt đi mất. Chàng nhìn khắp nhà, không thấy Hạnh. Chàng gọi, không thấy bạn thưa. Chàng bèn nói:

- Đã chui vào chỗ nào đi ngủ rồi.

Nhưng chàng nghĩ ngay ra là đã hớ mà lỡ lời như vậy. Vì nếu biết bạn đi ngủ, bổn phận chàng phải kiếm chăn, kiếm màn. Hôm nay nhà đông khách, những thức ấy nhường cả cho đàn bà và họ nhà gái.

Song, nước bài cần tính toán làm chàng quên băn khoăn về Hạnh. Được ván bài tốt, chàng vui thích lắm. Chàng gọi phỗng ngũ văn có kèm quân ông cụ và lật quân thất sách úp dưới chiếu, chỉ chực đánh đi.

Mọi người nhìn chàng, ra dáng hiểu ý, nói:

- Đã chờ rồi, đánh nhanh thế.

Chính gật gù, lại gài quân ông cụ vào hai quân bài và mài xuống giường, hồi hộp khấn:

- Ông cụ khôn thiêng bắt cho tôi quân này.

Rồi chàng trống ngực, để ý đến những cây bốc. Bỗng người ta xướng:

- Chi chi!

Chính rú lên, vật ngửa ba quân cửu vạn, bát sách với ông cụ ra giữa chiếu, rầm rộ nói:

- Chi!

Rồi vừa hạ bài, vừa cười, vừa khoe:

- Có ngũ văn phải có chi chi. Chỉ có phỗng ấy cốt tử.

Bảy tám cái đầu châu cả vào nhìn bài Chính. Chính sung sướng:

- Chi nẩy!

Chàng yên một lát cho làng khám bài, rồi cười ha hả, hỏi:

- Xong chưa?

Người ta đáp:

- Được rồi.

Chàng xóa bài đi, nói:

- Thế mà để anh Hạnh cầm, thì chân này thua đấy.

Rồi ngẩng lên, tự đắc, chàng nhìn mọi người. Bỗng thấy Hạnh, chàng khoe:

- Thật đen tại người. Anh đã chịu tôi chưa?

Hạnh gật đầu, cười:

- Tôi phục anh lắm.

- Tôi tưởng anh đi ngủ.

Thấy bạn không đáp, chàng vừa lên bài, vừa nói:

- Hết ván này lại đến lượt anh cầm. Chân này quyết không thua nữa.

Hạnh từ chối:

- Thôi, anh cứ cầm, đương đỏ.

- Không, mỗi người đánh một lúc, nếu anh đen thì tôi lại vào cầm quân.

- Không, anh cứ cầm.

Rồi muốn Chính không thể nhường cho mình được, Hạnh sang đứng bên cạnh Thân. Nhưng chỉ nhìn bài mà không bàn bạc gì cả. Hình như chàng không để ý đến bài người khác vậy.

Hội thứ ba, Chính được nhiều quá. Hội thứ tư chỉ ù loáng thoáng, song, rặt tôm lèo, nên hòa.

Gần hết hội ấy, Thân nói:

- Xong hội này xin thôi, canh tư đã lâu rồi.

Hạnh đáp:

- Làm hội nữa cho vừa tan canh. Hôm qua thầy dặn tan canh thì ra thuyền.

Thân nhăn mặt, lắc đầu:

- Thức khuya quá, tôi không quen.

Hạnh cười:

- Mấy khi đã có cuộc vui để mà thức. Mai xuống thuyền tha hồ ngủ.

Một người đương thua cay, nói:

- Phải, đánh hội nữa cho mãn canh mãn võ.

Thấy Thân không đáp. Hạnh thân mật, nói khẽ:

- Được, một hội nữa thôi.

Hết hội thứ tư, quả nhiên Thân không đứng dậy nổi. Hội thứ năm được vài ván, thì sang canh. Bọn người nhà đi ngủ từ chập tối đã lục tục dậy để làm cỗ điểm tâm tiễn khách và họ hàng nhà gái.

Ngoài sân, tiếng gót chân đã nện thình thịch và tiếng nói đã xôn xao.

Chính chợt nghĩ đến Thúy chờ mình từ chập tối. Chàng muốn lẻn xuống buồng để chuyện trò với nàng. Chàng sợ nàng không hiểu vì lẽ gì chàng lại thờ ơ với tối tân hôn.

Chàng nhìn sang phía Thân, gọi:

- Anh Hạnh!

Hạnh nhìn chàng, đáp:

- Anh gọi gì?

Chàng sợ bạn đã hiểu ý mình, nên khẽ nói:

- Lại đây cho vui.

Nhưng Hạnh lắc đầu. Chàng không thể đùn việc cho ai được, đành phải cầm lấy bài. Nhưng chàng nóng ruột lạ. Đêm sắp hết rồi. Chờ cho xong cuộc tổ tôm, còn gì là thì giờ. Chàng lại gọi Hạnh:

- Anh Hạnh đánh một lát cho vui.

Hạnh vẫn lắc đầu, thoái thác:

- Tôi đen.

- Nhưng tôi hết hồi đỏ rồi.

- Thôi, còn hồi này nữa, thua thế nào được.

Thấy Hạnh cứ đứng ỳ cạnh Thân không nhúc nhích, Chính không dám tỏ ý khó chịu. Chàng đâm đánh liều. Chàng ra rặt quân tốt cho nhà dưới ăn để chóng ù.

May sao, hội ấy làng ù nhiều ván to, nên chừng giữa trống năm thì tàn cuộc.

Hai chân thua nhiều chèo kéo đánh nữa. Hạnh cũng nằn nì vào, nhưng không thành. Thân nói:

- Mê man, thầy mắng chết.

Đám tổ tôm tan. Người nhà dọn đẹp, lấy phất trần quét giường.

Chính vờ vịt sai bảo người nhà vài việc. Chàng định lúc không ai để ý đến mình, thì lẻn đi, xuống buồng với vợ. Nhưng Hạnh đã đến gần:

- Thế nào, chia lãi đi chứ?

Chính sực nghĩ ra đến việc mất thì giờ ấy. Chàng bèn móc túi, đưa cả tiền cho bạn:

- Anh cầm cả. Tôi đánh hộ anh, chứ chung chạ quái gì.

- Không, đã giao hẹn là chung thì phải phân minh.

Chính không muốn đứng lâu, bèn chia đôi số tiền được, rồi nói:

- Các anh đi nằm một tý, kẻo mệt.

Thân vươn vai, ngáp, nói:

- Buồn ngủ, đánh mất cả hứng.

Quý hỏi:

- Nằm đâu?

Thân trỏ cái phản:

- Nằm ngay đây cho tiện.

Nói đoạn, Quý rủ Hạnh:

- Nào, ta ngả lưng một tí, nhức cả đầu.

Nhưng Hạnh dở đùa dở thật, hỏi Chính:

- Anh cũng ngủ đây với tôi chứ?

Chính cười, không đáp. Chàng không muốn đáp bỡn tiếng “được”. Sợ bỡn thành thật thì tai hại. Quý bảo:

- Thôi, mặc chúng tôi ở đây, cho phép anh Chính ngủ đâu thì ngủ.

Hạnh nắm tay Chính:

- Anh ngủ đây.

Thân cau mặt:

- Thôi, đừng đùa nữa, phải tội.

Hạnh vẫn nói:

- Chẳng lẽ anh bỏ chúng tôi.

Rồi tiếp:

- À, anh Chính ạ, cái ông ban nãy ngồi cuối cánh ta, tên là gì ấy nhỉ?

- Là ông ba Phụng, chú họ tôi.

- Ông ấy nhã nhặn lắm. Không ù, mà không cáu kỉnh. Người như thế tốt nết lắm.

Thấy bạn nói chuyện phiếm, Chính nóng ruột quá, nhưng không lẽ làm thế nào.

Trên giường, Thân đã ngáy. Quý gọi:

- Anh Hạnh!

- Gì? - Lại đây tôi nói thầm, có câu chuyện hay lắm.

Hạnh lại gần Qúy. Cho là dịp tốt để lảng, Chính bèn xuống hè, rồi vờ đằng hắng một tiếng. Chàng quay lại, thấy Hạnh đương cúi xuống nói chuyện với Quý, bèn đi rảo cẳng.

Bỗng có tiếng Hạnh gọi:

- Anh Chính!

Nhưng chàng lờ như không nghe thấy.

Chàng nhìn trước nhìn sau, rồi len lén về phía lẫm thóc. Đến cửa buồng, trống ngực đánh thình thình.

Chàng lấy hết can đảm, khẽ mở một cánh cửa. Chàng bước chân vào, run lên.

Chàng thắp đèn lên cho sáng, vặn nhỏ ngọn lại, rồi rón rén đến cạnh giường. Trống ngực càng đánh mạnh. Chàng càng run.

Chàng giơ tay vén màn.

Thúy đương ngủ, bỗng mở bừng mắt ra. Chính mê hồn, bao nhiêu câu định hỏi quên hết.

Nhưng chàng thấy Thúy nhìn chàng, mỉm cười:

- Chết chửa, lại vào, có ra tiếp các bác ấy hay không, gần sáng rồi.

Chính mỉm cười, vén áo ngồi cạnh giường, toan nói. Nhưng Thúy nhắm mắt lại, hắt tay:

- Thôi, đi ra đi, ai lại thế, người ta cười chết.

Lúc ấy Chính mới để ý đến hai câu nói.

Chàng rất ngạc nhiên và nghi ngờ.

Chàng lừng lững ra sân, khẽ khép cửa.



VII



Sáng hôm sau, Chính tiễn họ nhà gái và khách khứa đến tận đầu làng mới quay về.

Bây giờ chàng mới được rỗi rãi để suy nghĩ kỹ về hai câu đầu tiên của vợ chàng nói với chàng.

Chàng không hiểu lúc bấy giờ tại sao chàng không ngồi rốn lại cạnh nàng để hỏi cho rõ ý nghĩa của những câu nói ấy. Có lẽ chàng cả thẹn, vả lại lời khuyên của vợ cũng có lý. Bạn bè chàng nằm tạm bợ ở phản tổ tôm để chờ sáng, cũng chẳng còn bao lâu nữa. Đáng lẽ chàng nên tiếp họ, hoặc chờ họ đều thiu thiu ngủ cả, rồi có lẩn đi hãy hay. Đằng này Hạnh lại tỉnh như con sáo, và đang hỏi chuyện chàng. Hẳn các bạn không ở địa vị chàng là người rể mới, nên không hiểu tâm lý chàng chỉ mong cho chóng được vào buồng trò chuyện với tân nhân. Hoặc có khi họ cũng hiểu - vì ai còn lạ cái tâm lý ấy - nhưng đã chót thức để vui chơi với nhau gần đến sáng rồi, thì cho là chàng cũng có thể hy sinh chút thì giờ còn chẳng mấy ấy để tiếp họ. Rồi khi khách khứa đâu về đấy, chàng sẽ được tha hồ tự do với vợ chàng.

Nhưng sao câu đầu của Thúy lại là:

- “Chết chửa, lại vào...”

Chàng nghĩ kỹ xem có đúng những tiếng ấy hay không. Đúng lắm. Vậy sao nàng lại bảo “lại vào”, và mở đầu bằng hai tiếng “chết chửa”.

Bỗng bà Bát gọi:

- Anh Cả!

Chính giật mình. Thì ra chàng đã về tới cổng nhà. Bà Bát bảo:

- Anh thức suốt đêm tiếp khách, chắc mệt lắm. Vậy đi nằm một tí. Dọn đẹp đã có họ hàng phục dịch.

Chính vừa ngáp vừa đáp:

- Vâng.

Chàng không biết nên lên ngả lưng trên nhà thờ hay vào buồng vợ. Vào buồng vợ! Chắc nàng lại bảo chàng không nên, và ban ngày ban mặt, chàng không dám táo bạo thế. Rồi đến khi ở trong ấy ra, mười mắt nhìn một, người ta chê cười là chàng mê vợ và có lẽ cũng kêu vợ chàng là không biết khuyên bảo chồng.

Chàng lên nhà thờ, tung chăn ra nằm. Nhưng chàng không thể không nghĩ nốt những điều ban nãy được.

Chàng là đàn ông, còn cả thẹn, huống là vợ chàng, cô dâu mới. Chàng nhớ lúc bước chân vào buồng, trống ngực đánh thình thình và cả trong mình rung động, đến nỗi bao nhiêu câu định nói, vì cảm động, đến nỗi quên hết. Vậy đáng lẽ chính chàng phải nói câu đầu tiên với vợ, thì lại là nàng nói với chàng một cách rất bạo đạn, như thể quen nhau không phải lần đầu vậy. Nàng lại mỉm cười một cách âu yếm nữa. Chàng đã từng nghe chuyện những người mới cưới nói lúc ban đầu vào buồng vợ. Có khi người vợ thẹn thò đến nỗi chồng hỏi ba bốn câu không dám trả lời. Mà có trả lời cũng chỉ dám nói khẽ và nhát gừng. Vậy mà vợ chàng đã nói liền hai câu dài, như nói với người quen thuộc sẵn.

“Chết chửa, lại vào...”

Chàng đã vào lúc nào đâu mà vợ chàng bảo là “lại vào”, và sao nàng mở đầu bằng hai tiếng “chết chửa” để tỏ nỗi sợ hãi. Nàng sợ gì? Hẳn nàng sợ người ngoài cười khi trông thấy chàng “lại vào”. Phải, đúng thế. Câu thứ hai nàng chả bảo “người ta cười chết” là gì. Nàng nói: “Ai lại thế, người ta cười chết!”

Vậy thì cố nhiên người ta không cười người rể mới vào buồng với vợ, ai chả thế. “Ai chả thế, người ta cười thế nào được!” Đáng lẽ nàng nghĩ câu ấy mới phải, mà nàng lại nói câu “Ai lại thế, người ta cười chết!” Người ta cười được, chỉ khi nào người rể lẻn vào với vợ nhiều lần trong một đêm.

Nghĩ đến chỗ ấy, Chính khó chịu lắm. Chàng cựa, nằm quay mặt vào tường, nhắm mắt lại. Chàng quyết rồi sẽ hỏi vợ cho ra nghĩa hai câu nói này. Có thể nào có một người khác dám vào nói chuyện với vợ chàng trước chàng hay không? Và người đó là ai? Chàng không thể mà cũng không nỡ tự trả lời câu hỏi oái oăm ấy, vì chàng không rõ vợ chàng có biết mặt chàng hay không.

Chính thở dài, xếp lại chăn cho kín chân, rồi ngẫm nghĩ lại những buổi chàng giáp mặt nàng trước khi cưới. Tất cả ba lượt. Lần đầu tiên, cố nhiên nàng không để ý đến chàng, vì chàng không định hỏi nàng làm vợ. Lần ấy ở đầu chợ Nía, chàng nhìn nàng cũng như đã nhìn trăm nghìn cô con gái bán hàng khác. Vậy cố nhiên nàng cũng không để ý đến chàng, vì ở chợ có biết bao nhiêu học trò đi sắm sửa giấy bút và các thứ cần dùng. Thấy nàng có nhan sắc, chàng cũng chỉ tò mò biết qua loa nàng là con ông Đồ làng Phương Bá mà thôi. Đến lần thứ hai, khi cha mẹ chàng định hỏi nàng cho chàng, thì cha chàng mới dắt vào hàng nàng, mà bảo tên là Thúy, và khen là nết na, ngoan ngoãn. Thì chàng vô tình, cũng xem thứ nọ, mặc cả thứ kia, chàng thấy tiếng nói dịu dàng, và khi nói thì cái miệng tươi, lộ hàm răng đen nhánh. Như vậy, chàng đã rõ mặt nàng, ắt nàng cũng rõ chàng lắm. Lại còn lần thứ ba nữa. Chàng cùng dăm ba anh em rủ nhau đi chợ mua giấy bút, anh em tinh nghịch, gọi tên chàng luôn miệng, khiến nàng thẹn đỏ mặt, cứ cúi gầm xuống. Không những hai lần ấy, còn ngày hôm qua, biết bao dịp nàng đã phải gặp chàng. Vậy thì thế nào nàng cũng đã biết mặt chàng. Cho nên không thể lần này nàng lại tiếp một người không phải là chàng.

Nàng có tiếng là chín chắn, nếu xảy ra như thế, tất nàng đã hô hoán lên để bắt quả tang đứa mình người dạ thú toan hãm hại một đời danh tiết của nàng rồi.

Hay nàng có ngoại tình trước khi kết hôn với chàng, và vừa rồi đã chuyện trò với người cũ? Không có thể. Nàng đứng đắn có tiếng. Vả nếu có phải thế, thì nàng càng phải giấu giếm, chứ sao lại buột miệng ra câu ấy. Vả câu ấy nói với người yêu cũ nếu hắn lại vào với nàng lần thứ hai trong một đêm, chứ không phải nói với chồng vào với vợ lần ấy là lần thứ nhất. Hai câu ấy quả là hai câu chân thật nói bằng giọng âu yếm của một người vợ biết giữ gìn tiếng tăm cho chồng.

Hay nàng đã nói trong lúc chiêm bao? Phải, có lẽ lắm. Chính trước ngày cưới, chàng đã nằm mê thấy hai lần. Chàng chỉ buồn cười một mình, không dám nói chuyện với ai. Một lần chàng thấy đi đón dâu, người ta bắt chàng mặc áo thụng, lễ vung vít, cả vào chỗ cô dâu đứng, và chàng không rõ ai là vợ, chỉ thấy mấy người con gái đứng bưng miệng cười. Một lần chàng tưởng như cười đã lâu, vợ chàng gánh hàng ở chợ về, đưa chàng trăm giấy lệnh và mỉm cười rủ chàng cùng ăn cùi dừa bánh đa. Nàng lại nói đùa: “Chồng đánh chẳng chừa, vẫn giữ cái cùi dừa bánh đa”. Rồi lăng nhăng thế nào, chàng mở bừng mắt ra.

Vậy suy ta ra người, nàng không thể không nghĩ đến chàng và đến ngày cưới. Mà đã nghĩ, tất có thể chiêm bao.

Thế thì chắc lúc chập tối, nàng chờ và mong chàng lắm. Nhưng vì đi đường mệt, nên thiêm thiếp ngủ đi, và mê thấy chàng vào chuyện trò với nàng, rồi chàng ra. Hẳn nàng không lạ gì là chàng phải tiếp khách, nhất là mấy người bạn học đi phù rể. Cho nên khi chợt mở mắt, thấy chàng trước mặt, thì nàng bàng hoàng, tưởng giấc chiêm bao là sự thực nên mới nói hai câu có vẻ đột ngột ấy.

Phải, trước khi nói câu sau, nàng chả nhắm mắt lại là gì. Thế là nàng đã dở tỉnh dở mê, tưởng chiêm bao là thực và tưởng thực vẫn là chiếm bao. Sở dĩ lúc chàng vào, đứng trước nàng, mà nàng mở trừng ngay mắt dậy, là do trời cho người con gái một linh tính để giữ gìn trinh tiết, dù ngủ say đến đâu, mà khi có hơi người lạ đến gần, cũng sực tỉnh ngay được để chống cự nếu là một sự toan bậy bạ. Bởi thế nàng đã tỉnh ngay được, và khi biết là chồng thì mỉm cười và yên tâm, mới nói ra một câu dở tỉnh dở mê.

Suy xét được đến như thế, Chính sung sướng lắm. Chàng mỉm cười một mình. Một xuýt không nghĩ ngợi kỹ lưỡng, chàng đã gieo vào trong đầu óc một mối nghi ngờ oan uổng cho một người vô tội.

Chàng rung cẳng chân, khoan khoái lắm. Chàng sẽ được một chuyện để chế vợ, làm cho vợ phải bật cười, mất thẹn. Chàng nghĩ đến cuộc vui vầy tối nay. Chàng mong chóng hết ngày. Chàng nhớ lại giờ này hôm qua, chàng đương thiu thiu ngủ ở dưới thuyền.

Chàng tưởng tượng đến nét mặt tươi tỉnh, đến dáng điệu xinh đẹp của vợ. Rồi thiêm thiếp, chàng ngủ được một giấc dài, cho đến khi có người đánh thức dậy ăn cơm.



VIII



Tối hôm ấy, không còn ai ngăn trở nên Chính vào buồng sớm lắm. Lúc ấy Thúy quay mặt vào trong, đương soạn hòm. Nàng mặc áo nâu non, và chiếc quần nái. Trông nàng xinh xắn, chàng rạo rực cả người.

- Làm gì đấy?

Chính mỉm cười hỏi vậy, thì Thúy giật mình quay ra, nàng luống cuống, nhưng cũng mỉm cười và nói:

- Gớm, vừa chập tối đã vào, ngộ thầy u gọi thì sao?

- Thầy u đi ngủ cả rồi.

- Thế trên nhà không còn ai thức nữa à?

Chính không đáp. Vì chàng thấy là chàng háo hức quá thực. Cha mẹ chàng mới nói dạo là ngủ sớm, chứ chưa đi nằm, và trên nhà cũng còn nhiều người thức.

Thúy giắt lại đuôi gà, nói khẽ:

- Để tôi đảo qua lên nhà một tí, kẻo thầy u thấy đi ngủ sớm, lại kêu. Mấy tôi cũng chưa rửa chân.

Đoạn, nàng cúi xuống gần chân chàng, lấy đôi guốc dưới gậm giường, rồi ra sân. Chính ngồi xuống, nhìn theo, vui sướng quá. Chàng đã thấy phảng phất quanh mình một cái mùi thơm thơm, mùi này chỉ khi nào chàng quá gần một người con gái mới ngửi thấy. Vậy cái mùi mà hiện chàng thấy đây, là cái mùi thân yêu của một người đẹp, người đẹp ấy lại là vợ chàng.

Chàng nghĩ lại mấy tiếng “chết chửa, lại vào” mà bật cười. Chàng thấy vợ chàng giữ gìn ý tứ quá cẩn thận. Chàng vào buồng sớm, nàng e cha mẹ mắng, và sợ nhà có người thức. Tiếng nàng trong như tiếng chuông.

- “Gớm, vừa chập tối đã vào, ngộ thầy u gọi thì sao?”

Nhắc lại câu ấy, bỗng chàng lại suy nghĩ. Nàng đã ăn nói bạo dạn. Nhất là khi cúi xuống lấy đôi guốc, lại quá bạo dạn nữa. Sự bạo dạn không phải của một người con gái khi gặp chồng lần đầu tiên. Người ấy phải rụt dè, e lệ hơn mới phải. Nàng làm như đã quen với chồng lắm rồi. Chàng là đàn ông, mà vào đến đây còn không giữ nổi cảm động, huống chi là đàn bà con gái.

Chính cau mặt, hơi khó chịu.

Nhưng không muốn có những sự nghĩ ngợi vô lý nó làm mất vui, chàng đứng dậy, lấy tráp trầu, đặt vào lòng, chọn một miếng rất ngon, bỏ vào miệng, nhai ngon lành lắm. Chàng cầm chiếc ống vôi bạc, ngắm nghía mãi. Chàng lách móng tay, lật miếng kính, xếp lại cái lót giấy trang kim cho ngay ngắn. Màu đồng lóng lánh dưới ánh đèn. Chàng nhìn cái mắc áo, trên treo mấy chiếc áo dài. Chàng đến tận nơi, gí mũi vào để ngửi mùi đặc biệt của vợ. Rồi chàng ra phía bàn, bày biện lại cái tráp, cái ống nhổ, cái đèn, cho ngay ngắn, gọn gàng.

Thỉnh thoảng, chàng nhìn ra sân.

Chàng mong vợ chàng quá.

Chàng nóng ruột, thở dài.

Nhưng những ý nghi ngờ về sự bạo dạn của vợ, chàng cố xua đuổi, mà nó vẫn luẩn quẩn trong óc, mỗi khi chàng ngồi không. Chàng bèn ra hè đứng, thì một lát, vợ chàng rón rén guốc ở sân. Chàng hồi hộp, vào buồng trước.

Thúy vừa bước chân vào đã nhìn thấy Chính:

- Chắc nóng ruột lắm đấy.

Chính sung sướng, gật đầu:

- Nóng ruột.

- Đáng lẽ tôi còn ở trên ấy, nhưng thấy anh đứng cửa, nên biết hiệu, phải bỏ cả công việc.

Lời nói bạo dạn và thân mật ấy lại gợi mối nghi ngờ của Chính. Song, chàng tươi vui ngay:

- Thế thì ngoan.

Rồi run run, chàng bảo:

- Tôi đóng cửa lại nhé, mình bỏ màn đi.

Thúy không đáp, ngoan ngoãn, lấy chiếc quạt để dưới chiếu đầu giường, phẩy mạnh cho hết muỗi, rồi giắt màn lại. Nàng cởi áo, vắt ở mắc, trong khi ấy, Chính vặn nhỏ ngọn đèn, rồi hai vợ chồng đi nằm.

Thúy nói:

- Đêm qua tôi ngủ một mình lại tắt đèn, thành ra sợ sợ là!

Chính cười:

- Có trẻ con mới hay sợ hão huyền chứ.

Rồi chàng hỏi tiếp:

- Thế sao lại tắt đèn đi?

- Tôi có tắt đâu! Tự nhiên nó tắt lúc nào, thành thử tôi vừa ngủ vừa thấp thỏm. Mãi lần sau anh vào, có đèn sáng, tôi mới được ngủ yên.

Chính hơi cau mặt về câu nói ấy. Cái chuyện mà chàng định chế nhạo cho nàng cười bây giờ lại không thể để cười được nữa. Chàng hỏi:

- Đêm qua, mình có chiêm bao thấy gì không?

- Không. Tôi mệt, thành ra lơ mơ ngủ không giấc nào say, nhưng chẳng nằm mê nằm mộng thấy gì cả.

Bỗng Chính thở dài. Thúy hỏi:

- Sao?

Chàng giấu:

- Không.

Và lúc chàng không khỏi không tò mò, nên hỏi:

- Tại làm sao hồi canh năm tôi vào đây, mình lại bảo tôi thế?

- Thế chả phải à? Các bác ấy sắp về, thì phải tiếp chứ.

- Ai chả biết là phải, nhưng lẻn vào một tí kẻo mình mong.

- Mong thì có mong, nhưng ai lại vào luôn thế.

Chính nghe câu ấy, cố nhịn thở dài, hỏi:

- Luôn là thế nào?

- Chứ lại không là luôn. Các bác ấy mà biết, không cười cho ấy à.

- Thảo nào, mình bảo “lại vào”.

- Chứ không là lại vào à? Vừa vào lúc trống tư, trống năm lại vào!

Chính giật mình, cố nhịn thở dài. Chàng lặng đi, không nói được nữa. Thì ra chàng đã nghi ngờ đúng, bèn vờ hỏi:

- Lúc tôi vào hồi trống tư, sao không bảo tôi thắp đèn lên cho?

- Thẹn chết lên ấy!

Rồi nàng tiếp:

- À, chỗ sứt chỉ hôm qua, tôi khâu rồi đây này.

Chính bâng khuâng, đáp:

- Ừ.

Nàng vẫn nói một cách ngoan ngoãn.

- Thật đấy mà, sờ mà xem.

Chính không biết chỗ sứt chỉ nào. Thúy bèn cầm tay chàng, đặt vào phía lưng áo, và nói:

- Đấy.

Chính đáp:

- Ừ.

Chàng đã quá nghĩ ngợi. Đó là sự thực mất rồi.

Chàng đắn do, không biết có nên nói rõ cho vợ biết rằng đêm qua chàng chỉ vào với nàng có lúc trống năm thôi hay không.

Nhưng người vào trước chàng là ai? Sao Thúy lại tiếp? Hai câu hỏi ấy làm chàng quên phứt là hiện đương nằm lần đầu tiên với vợ mới. Chàng bất giác thở dài.

Thúy hỏi:

- Anh làm sao thế?

Chính lại thở dài, nói dối:

- Tôi hơi đau bụng, cho tôi nằm yên một lát.

Thúy ngồi dậy, xuống đất, mở hòm lấy lọ đầu. Nàng xoa vào mũi, hai thái đương và bụng cho chồng, và lo lắng, hỏi:

- Đã đỡ chưa?

- Chưa, nhưng cho tôi nằm yên, tự khắc khỏi.

Nói đoạn, chàng vắt cánh tay lên trán. Thúy ghép chăn cho chồng kỹ lưỡng, rồi khẽ nằm xuống, im lặng. Và Chính vẩn vơ nghĩ. Chàng biết là vợ chàng đã bị lừa. Người ấy đã vào buồng chàng, tắt đèn đi, hay nhân lúc đèn tắt thì vào?

Rỗi tự nhiên, chàng hỏi:

- Thế chập tối hôm qua, sao mình lại tắt đèn đi?

Cho chồng hỏi câu chuyện vui, Thúy cười:

- Anh khỏi rồi à?

- Chưa thực khỏi.

- Sao bảo nằm yên, lại hỏi?

- À, buồn thì hỏi thế. Vậy ai tắt đèn?

- Lúc anh vào, tôi thấy đèn đã tắt, vậy không anh thì ai, còn tảng lờ!

Nói đoạn, nàng cười rúc rích. Nhưng Chính không cười. Chàng còn đương bị một cơn giông tố nó làm dào giạt cả lòng. Thúy nói:

- Hay anh uống một tí dầu nhé?

Chính lắc đầu:

- Không cần. Thôi, đừng nói chuyện vội.

Để chàng nghĩ. Đích nàng đã bị lừa. Vậy ai đã lừa nàng? Máu nóng trong người chàng như sôi lên sùng sục. Chàng quay mặt ra, mở mắt nhìn Thúy. Nàng cũng nhìn chàng, mỉm cười. Thấy nét mặt ngây thơ, dịu dàng, xuýt chàng ứa nước mắt. Chàng thương nàng quá. Tâm sự chàng, chỉ một mình chàng hiểu.

Nàng không có tội. Nhưng nếu chàng nói rõ cho nàng biết là nàng bị lừa, ắt tấn bi kịch diễn ra, khủng khiếp không thể tưởng tượng được. Một duyên vợ chồng và một đời người còn hay mất là ở chàng.

Bỗng hai dòng nước mắt chảy ra, từ từ rỏ xuống thái dương chàng. Nàng băn khoăn, ngồi đậy, hỏi:

- Anh đau đến thế ư?

Nhưng Chính thở dài, lắc đầu, rồi giơ hai cánh tay quàng vào cổ vợ, kéo đầu nàng cho cái má phinh phính sát vào miệng chàng. Chàng hôn nàng một cách âu yếm, rồi lại thở dài, nói:

- Tôi khỏi rồi, mình đừng lo lắng nữa. Hễ biết đại lượng để thương nhau thì trăm việc cũng vứt đi.

Thúy không thể hiểu rõ được câu nói sâu xa ấy, nàng sung sướng quá, ứa nước mắt...



IX



Mười hôm sau, Chính sang Nho Quan để đi học. Nhưng vừa bước chân tới nhà trọ, Thân đã cho biết ngay một tin:

- Hoài của, anh không sang hôm qua để tiễn anh Hạnh.

Chính thản nhiên, chỉ cười lạt:

- Anh Hạnh đi đâu mà tiễn?

- Anh ấy thôi học rồi, về nhà làm ruộng.

Quý tỏ ý tiếc:

- Anh ấy đương tấn tới, lại thôi học nửa chừng, anh nghe tin ấy lại cười được à?

- Mà nhà lại khá.

Chính trầm ngâm, không nói không rằng. Là vì chàng đoán chắc Hạnh đã lừa Thúy đêm tân hôn, nay sợ chàng, nên phải lánh mặt mà bỏ học.

Trong mười hôm gần vợ, Chính đã lấy đại lượng mà thương nàng vô tội, nên nhất định không nghĩ ngợi gì, và nhất là không tìm xem kẻ phản chàng là ai. Nhưng có mấy lần, nàng đã vô tình hỏi chàng vài câu, và do những mẩu chuyện có tính cách tố giác ấy, chàng đã biết kẻ thù là Hạnh. Lần thứ nhất, nàng nắm bàn tay chàng, rồi sờ sờ vào ngón tay út tay phải để tìm, rồi bỗng hỏi:

- Cái nốt cơm của anh đâu rồi?

Chàng đáp:

- Làm gì có nốt cơm nào.

Thì nàng ngạc nhiên, bảo:

- Rõ ràng tôi thấy nó thây lẩy ở chỗ này.

Vừa nói, nàng vừa trỏ vào đầu đốt thứ hai, rồi lại hỏi:

- Hay là tay bên kia?

Rồi nàng lại nhìn, nhưng cũng không thấy.

Bởi vậy, chàng để ý cố nhớ xem ai có nốt cơm ở ngón út bên tay phải. Chàng đã đoán là Hạnh, vì nhiều lần, Hạnh phàn nàn với anh em là có nốt cơm, hễ cắt đi nó lại mọc. Và chính chàng đã mách Hạnh cách chữa, là lấy thoi vàng rắc đường của đám ma, sát vào nốt cơm, rồi giắt lỏng lẻo vào cạp quần. Tự nhiên nốt ấy bay đi lúc nào không biết. Song, Hạnh vẫn chưa có dịp gặp đám ma. Vậy cố nhiên nốt cơm ấy vẫn còn, và Thúy đã sờ thấy.

Hôm ấy chàng nghĩ ngợi lung lắm, và thở dài luôn luôn, khiến vợ không hiểu trong bụng chàng hậm hực điều gì. Hạnh đã thèm muốn sắc đẹp của nàng, nên nhân tối đầu chàng dở cầm bài tổ tôm, chắc rằng không thể xuống với vợ nên mới lẻn đi. Chàng cố nhớ kỹ lại đêm ấy. Chàng đã công ty với Hạnh, và Hạnh chỉ ngồi có hơn một hội đầu, rồi nhường bài cho chàng. Lúc mải, chàng không để ý đến Hạnh, nhưng nhớ rằng có một lúc không trông thấy Hạnh, không rõ lâu hay chóng. Rồi khi tan tổ tôm, Hạnh cứ giữ chàng bằng những câu hỏi phiếm, không quan hệ, hẳn Hạnh cố không cho chàng được gặp Thúy đêm ấy.

Suy xét được như thế, nên chàng hỏi Thúy:

- Trước khi cưới, mình có biết mặt tôi không?

Tưởng là câu hỏi tình tứ, Thúy đáp:

- Tôi có biết mặt ngang mũi dọc anh thế nào đâu. Thẹn chết, ai dám nhìn. Chỉ đàn ông là bạo dạn, xông xáo ghê quá.

Chính gật gù, cắn môi, mắt nhìn xuống, Thúy hỏi:

- Anh hỏi làm gì câu ấy mà hỏi luôn thế.

Chính vờ mỉm cười:

- Những bao giờ mà là luôn?

- Thì ngay tối đầu tiên đã hỏi câu ấy rồi kia mà.

Chính chợt hiểu thêm. Thúy tiếp:

- Ừ, buồn cười quá, trước ngày cưới, tôi chửa biết mặt anh, lúc anh vào, đèn lại tắt, thành ra cũng chẳng rõ anh thế nào. Chỉ thấy người ta khen là đầy đặn phúc hậu, thì cũng hay rằng thế.

Chính cười:

- Nhưng rồi lúc vào lần thứ hai, tôi chả thắp đèn là gì?

Thúy gật đầu:

- Tôi chỉ thoáng nhìn.

Như vậy, chàng đã đoán đúng là Hạnh lập tâm gian nên mới ở trọ học cùng nhà với chàng. Hèn nào Hạnh cố thân với chàng để được mời về nhà ăn cưới.

Một lần nữa, nhân bàn về những thói quen nực cười của người ta khi nói chuyện, Chính bảo:

- Có người được câu gì đắc chí, thì nói xong, liếm ngay môi một cái. Có người quen miệng vâng, có người hỏi người khác xong cũng vâng liền, đại khái: “Thưa bà, bà được mấy cháu ạ, vâng ạ”. Hoặc người khác hỏi: “Năm nay bác cấy mấy mẫu?”, thì người ấy đáp: “Vâng, được năm mẫu, vâng”.

Thúy bật cười:

- Còn anh, thì từ ngày lấy vợ, đã chừa được cái tiếng “nọ kia”.

Chính không hiểu, hỏi:

- Nọ kia thế nào?

- Đại khái: “Cả ngày đi lễ nọ kia, mệt quá... Thôi, tôi lên nhà để đánh bài nọ kia với các bác ấy”.

Chính càng ngạc nhiên:

- Tôi nói những câu ấy?

Thúy lại cười, nói đùa:

- Chứ dễ người hàng xóm hẳn?

Sực nghĩ đến Hạnh hay nói tiếng “nọ kia”, chàng im lặng. Thúy vẫn vui vẻ:

- Lại có bà ở chợ chỉ hay nói tiếng “rằng thì là” và “một sự”. Bà ấy nói: “Tao về thì mày phải có một sự rằng thì là an ủi chứ”. Ngày trước, tôi hay nói tiếng “ấy”. Thổi cơm, lại bảo “ấy cơm”. Một câu tôi nói đến mấy tiếng “ấy”. Nhưng u tôi mắng mãi, nay đã bỏ được rồi.

Thấy Chính có về buồn bã, Thúy hỏi:

- Hình như anh có điều gì trong lòng?

Chính liền làm vui, lắc đầu:

- Chả có điều gì cả.

Và chàng vẫn âu yếm nàng như thường. Chàng định công việc nhà xong xuôi, thì sang Nho Quan, chàng sẽ để ý xem Hạnh đối với chàng ra sao. Chàng thâm thù với Hạnh. Chàng đã nghĩ đến cách đối phó với con người phản bạn. Chàng có thể lấy chứng cớ do vợ chàng nói ra, để đem Hạnh lên quan nhờ ngài lấy pháp luật trừng trị. Nhưng nghĩ kỹ, chàng cho là làm cách ấy không được. Vì trước hết, chàng phải nói rõ cho nàng biết là đã vô tình mà mất trinh với Hạnh.

Thế mà nói tin ấy ra, tức là chàng gây bao tấn thảm kịch. Vợ chàng sẽ không chịu được nhục nhã, có khi đến tự tử, mà nếu không tự hủy tấm thân, cũng xấu hổ, ân hận, mà héo hon dần, đến chết. Hoặc không thể suốt đời chịu tiếng xấu xa, nàng tự lìa chồng, và dây duyên tự nhiên sẽ đứt. Vả lại, câu chuyện đã vỡ lở, rồi chính chàng cũng chịu một phần tai tiếng. Người ta sẽ kể chuyện này cho nhau nghe, rồi thêu dệt, đồn đại những điều rất bực mình.

Chàng có thể trả thù Hạnh bằng cách khác, là lấy võ lực cho Hạnh một bài học. Chàng sức vóc không mấy, nhưng khỏe khoắn hơn Hạnh. Chàng không đánh chết cũng làm cho kẻ thù đến phải què quặt, đui mù, hoặc đem một tật gì suốt đời trên mặt. Nhưng chàng không thể ác như thế. Vả lại, dù chỉ riêng chàng trừng trị Hạnh giữa phố hẻo lánh, vắng vẻ, nhưng hễ Hạnh đeo thương tích, tức thì câu chuyện vỡ lở, những tấn kịch thảm đạm chàng vừa nghĩ tới, sẽ theo nhau xảy ra.

Chàng muốn trả thù Hạnh mà vẫn giữ kín được chuyện. Nhưng không thể. Đã có sự trả thù, tất không thể kín chuyện. Vậy chỉ còn một cách là chàng đã đại lượng để thương yêu vợ, thì cũng có thể đại lượng với kẻ thù. Ai làm điều ác, đã có trời trừng phạt. Biết đâu vì việc Hạnh phản chàng, hắn lại không bị ảnh hưởng xấu dần dần cho đến khi hỏng cả một đời.

Nghĩ đến thế, cho nên khi Chính nghe thấy Thân và Quý nói tin Hạnh đã bỏ bọc về làm ruộng, chàng đã cho ngay là hắn bắt đầu chịu sự trừng phạt của trời. Chàng hỏi:

- Anh ấy có nói tại sao thôi học về làm ruộng không?

Thân đáp:

- Anh ấy không nói, nhưng xem ý hình như tự anh ấy muốn thế.

- Sao các anh không khuyên anh ấy nên cố học đến khoa thi?

- Có, nhưng anh ấy không nghe. Chúng tôi tiếc giá có anh, anh bảo tất được, vì anh ấy mọi ngày vẫn phục và tin anh.

Chính lắc đầu:

- Mọi ngày thế, nhưng từ nay trở đi khác.

Các bạn không ai để ý đến câu ấy, nên Quý nói:

- Chúng tôi có lưu anh ấy ở lại chờ anh rồi hãy về, nhưng anh ấy không nghe.

Chính gật gù:

- Thế là phải.

- Tại sao?

Vẫn gật gù, Chính thong thả đáp, gần lộ ý kín trong thâm tâm:

- Gặp tôi, anh ấy thêm khó xử ra.

Song Quý và Thân hiểu ra cách khác, nên nói:

- Anh Chính nghĩ phải, nếu anh ấy chờ anh, rồi anh khuyên can, anh ấy nể, lại không thôi học nữa, mà ý anh ấy thì nhất định về làm ruộng.

Thấy Chính đăm đăm nhìn ra xa, Quý nói đùa:

- Anh này nhớ vợ!

Chính cười lạt để giấu sự căm hờn:

- Phải, sao không bâng khuâng được, nhất là tới đây, tôi thấy thiếu anh Hạnh.

Thân đáp:

- Phải, chúng ta ở với nhau đương vui. Anh ấy thôi học, thật là đột ngột.

Muốn dò Hạnh thêm, Chính hỏi:

- Anh Hạnh có nói chuyện riêng gì về tôi với các anh không?

Thân lắc đầu:

- Không.

- Anh ấy có bình phẩm gì nhà tôi không?

- Không, anh ấy chỉ bảo anh sung sướng, được vợ có nhan sắc lại có đức hạnh.

Chính cười, hỏi:

- Mai, tôi muốn về thăm anh Hạnh, các anh nghĩ sao?

- Anh lại nghỉ thêm hôm nữa à?

- Tôi định xin phép Thầy.

Quý nói:

- Anh chờ chúng tôi cùng đi cho vui.

- Chờ đến bao giờ? Tôi muốn gặp anh ấy ngay.

- Cuối tháng này, nhà Thầy có kỵ, chắc anh Hạnh sang lễ, ta sẽ gặp.

- Nhưng gặp thế, không quý bằng ta sang chơi tận nhà.

Thân nghĩ ra một dịp, nói:

- Được rồi, ngày kia có quan về làng, chắc Thầy bận tiếp, cho chúng ta nghỉ học.

Quý vui thích, cướp lời:

- Phải, ta nhân hôm ấy cùng đi.

Chính đáp:

- Vậy tôi chờ các anh đến ngày kia.

Thân hỏi:

- Chúng ta đột nhiên sang thăm anh ấy, các anh thử tưởng tượng xem gặp ta, anh ấy thế nào nhỉ?

Quý đáp:

- Chắc anh ấy mừng.

Nhưng Chính đúng đỉnh:

- Chưa chắc.

Là vì chàng quyết Hạnh sợ. Hạnh có làm tội ác, nay gặp chàng, chắc Hạnh tưởng chàng đến để gây chuyện lôi thôi.

Quả nhiên, đến hôm Chính, Thân và Quý đến chơi với Hạnh, ba người hỏi thăm người làng, biết đích là Hạnh có nhà, nhưng vào đến cổng, gọi người ra coi chó, thì người này nói là Hạnh vừa về bên quê ngoại buổi sáng.

Riêng Chính hiểu là Hạnh nói dối, vì không muốn giáp mặt chàng.



X



Hôm nhà cụ Cử có kỵ, Hạnh không sang. Lễ và ăn cỗ xong, Chính nhân được nghỉ học, nên về quê.

Thúy thấy chàng về, thì mừng rỡ lắm.

Nàng chạy ra chợ, mua thịt về làm cơm cho chàng ăn.

Bà Bát thấy con dâu nhanh nhẩu, nói với chàng:

- Kể nó ăn ở khá, thầy u cũng mừng.

- Nhà con đã bắt đầu đi chợ chưa?

- Rồi, và xem chừng cũng đắt hàng. À, ông Đồ hôm nọ có sang chơi với thầy.

- Vâng.

Ông Bát phàn nàn:

- Đáng lẽ mình phải sang chơi bên ấy trước, dâu gia nên đi lại với nhau cho thân mật. Thế mà thầy cứ hết việc nọ đến việc kia, bận mãi.

Chính đáp:

- Rằm tháng sau bên ấy có giỗ, thầy u sang chơi.

- Thế à. Anh cũng xin nghỉ để về chứ.

- Vâng. Nhưng con chỉ sợ nghỉ học nhiều quá.

Bà Bát gật đầu:

- Phải, rể mới, nên đi đủ các kỵ lạp trong năm đầu cho phải đạo. Đã đành nghỉ học thì tiếc, nhưng biết làm thế nào!

Ông Bát biểu đồng tình:

- U nó nói phải, vả lại, có sợ kém anh kém em, thì anh có ba người bạn cùng trọ một nhà, nhờ người ta giảng lại cho.

Chợt nghĩ đến Hạnh, Chính nói:

- Còn có hai người trọ cùng nhà. Một người đã thôi học.

Ông Bát hỏi:

- Ai thôi học?

- Thưa, anh Hạnh.

Bà Bát nhớ ra, gật đầu:

- À, Hạnh, u nhớ mặt người ấy rồi.

Ông Bát thấy cái tên quen quen, nghĩ mãi không ra:

- Hạnh, quái, là một người trong bọn đi phù rể ấy nhỉ?

Chính đáp:

- Vâng. Ông Bát vẫn nghĩ:

- Quái, mặt mũ anh thế nào ấy nhỉ?

Bà Bát nhắc:

- Là cái anh ngày trước đã hỏi chị Cả nhà này mà ông bà Đồ Phương Bá không gả ấy mà.

Ông Bát nhớ ra:

- À, phải rồi, thì ra chị Cả nhà này tốt số, nếu không...

Chợt thấy Thúy đi qua ngoài hè, ông không nói tiếp nữa. Nhưng Thúy đã nghe rõ cha mẹ và chồng đương có câu chuyện gì đụng chạm đến mình. Nàng tò mò muốn biết, nhưng không dám hỏi, cũng không dám đứng lại nghe. Nàng phải xuống bếp làm cơm cho chồng ăn.

Bởi vậy, tối hôm ấy, nàng hỏi ngay Chính:

- Ban nãy, thầy u nói chuyện gì với anh về tôi thế?

Chính ngơ ngác đáp:

- Không, lúc nào?

- Cái lúc tôi ở chợ về ấy mà.

- À, thầy u khen mình.

- Không phải.

- Chỉ có chuyện ấy thôi.

- Còn nữa, anh giấu tôi.

Chính cố nghĩ kỹ. Chàng đã không nhớ ra, vì Thúy hỏi không đúng. Giá nàng hỏi: “Thầy u nói chuyện gì với anh về Hạnh thế”, tức thì chàng hiểu ngay. Thực thế, ông bà Bát có nói gì về nàng nữa đâu. Tưởng là chồng giấu, Thúy có vẻ không bằng lòng:

- Rõ ràng tôi nghe thấy thầy bảo tôi tốt số thế nào ấy mà lại.

Chính rũ ra cười:

- À, tại tôi nói về anh Hạnh bỏ học.

Thúy sửng sốt:

- Hạnh nào?

- Hạnh con ông Thông Sứng ấy mà.

Thúy hỏi dồn:

- Anh ta bỏ học rồi à?

Chính gật đầu. Thúy thở dài:

- Người ấy học giỏi, tại sao bỏ học?

- Nào ai biết được!

- Thế sao thầy bảo tôi tốt số?

- Là vì nếu thầy u bên nhà bằng lòng gả mình cho anh Hạnh, thì bây giờ anh ấy bỏ học, chứ không như tôi, vẫn đi học như thường. Cho nên mình tốt số, được là vợ học trò.

Thấy hai tiếng học trò, Thúy nhạo để đùa chồng:

- Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm, chứ quý gì!

Tưởng chừng như vợ so sánh mình với Hạnh, Chính hơi bực mình. Nhưng chàng không nói gì. Thúy hỏi:

- Kể ra bỏ học như thế cũng tiếc nhỉ. Ngày trước, ông Thông Sứng nhờ người đến hỏi tôi, xuýt nữa thầy u gả đấy.

Chính lạnh lùng, hỏi:

- Sao không gả?

Thúy nhìn chồng, mỉm cười:

- Duyên số ở giời, biết tại sao!

Chính không muốn nhắc lâu đến chuyện Hạnh, nên hỏi lảng:

- Thế nào, mình đi chợ, hàng họ ra sao?

- Tôi chưa quen khách, nhưng bán cũng được.

Chưa biết tìm câu gì để nói tiếp, Chính đương nghĩ, thì Thúy đã thở dài:

- Tôi nghe thấy tin những người đương học dở dang mà bỏ, lại tiếc công cho người ta.

Chính thấy vợ lại nhắc đến Hạnh, thì không vui. Chàng yên lặng. Chàng nghĩ đến mối hiềm riêng. Nhưng Thúy không hiểu, lại nói:

- Sao anh không khuyên bảo anh ta?

Chính cau mặt:

- Kệ nó!

Thấy chồng khác ý, nên Thúy trách:

- Bạn bè với nhau, lại cứ gọi người ta là nó.

- Chẳng lẽ lại gọi là ông?

Không muốn trái ý chồng, Thúy cười. Nàng nhịn, vì một câu nhịn là chín câu lành. Nàng vẫn thường thấy ở nhiều gia đình, một khi người chồng đã nóng, nếu người vợ không biết lựa lời hoặc nhịn, thì câu chuyện chẳng ra sao cũng có thể gây nên sự bất hòa. Rồi nói sẵng quen miệng, vợ chồng sinh ra cãi nhau luôn, mất cả vui vẻ đi. Nàng biết chính người đàn bà mới gây được hạnh phúc trong gia đình. Mà một nhà thịnh vượng hay đồi bại, cũng do có người đàn bà tốt hay xấu. Những nếp luân lý ấy, nàng đã được cha mẹ dạy bảo luôn luôn. Cho nên nàng phải ăn ở cho ra người dâu hiền, vợ thảo. Chồng nàng đi học trọ xa, thỉnh thoảng mới về thăm nhà, thì những lúc gần, nàng phải hết sức làm cho chàng vui vẻ, và lúc vắng chàng, nàng phải hết sức làm cho cha mẹ chàng bằng lòng.

Thanh danh cha mẹ đẻ ra nàng, hạnh phúc của gia đình nhà chồng, lúc nào nàng cũng nghĩ tới, nghĩ tới để làm yên tâm người đi xa, để người đi xa được yên tâm mà dùi mài kinh sử.



XI



Kỳ thi khoa Mão, Chính vào phúc hạch bị hỏng tuột. Chàng buồn lắm, và nhân cụ Cử Nho Quan tạ thế, nên chàng ở nhà, không tìm thầy nào nhập môn nữa.

Thúy đã sinh với chàng một đứa con trai. Mấy tháng đẻ xong, vì yếu sức nên nàng nghỉ chợ, nhưng nay đã được như cũ, nàng lại nghĩ đến công việc buôn bán.

Chính thấy vợ siêng năng và nhất là ăn ở cả họ được lòng, nên rất vui vẻ. Bởi vậy, nhiều lúc trông thấy vợ nhan sắc, con kháu khỉnh, hoặc khi cảm động về những cử chỉ đáng khen của nàng, thì cái việc phản bạn của Hạnh gây ra đêm tân hôn lại đến ám ảnh chàng. Nhưng chàng càng thương vợ bao nhiêu, càng muốn xua đuổi cái tư tưởng buồn phiền đi bấy nhiêu. Bởi vậy, chàng rất hài lòng là đã chịu chôn cái tâm sự xuống đáy lòng, để một mình khi nào chợt nhớ đến thì đau khổ chốc lát, rồi tìm cách quên ngay đi. Chàng đã đền vợ bằng sự im lặng đại lượng. Nếu ngày ấy, không nghĩ kỹ, chàng làm cho ra việc, thì hạnh phúc chàng không được hưởng, mà chắc chắn là mấy gia đình bị tan tành. Sự đau khổ chỉ giết nổi người yếu linh hồn, tức là vợ chàng. Chứ với chàng, nó chỉ thoảng qua, không thể hại chàng được. Rồi chàng quên đi ấy là chàng đã thắng.

Cho nên những lúc chợt nhớ đến việc ấy, chàng tìm cách xua đuổi nó đi, và càng vui vẻ sự đại lượng của mình,

Một hôm trời mưa, Thúy nghỉ chợ. Nhưng vì tính hay làm, để yên chân tay không được, nàng bèn mặc áo tơi và đội nón, định ra vườn sau nhà, cuốc đất trồng rau. Thấy vợ tham công việc, Chính can:

- Thôi, chẳng lẽ quanh năm “ăn chòng nửa bữa, ngủ chòng nửa đêm”, không được ngày nào nghỉ ngơi trọn vẹn, hôm nay nhân mưa, ở nhà với chồng với con, thì nên hưởng cho có sự thảnh thơi.

Thúy mỉm cười:

- Tôi không làm thì ông bà phải mó tay vào, cũng thế.

Tự nhiên, Chính ngượng về sự yếu ớt của con người gọi là học trò. Chàng hỏi:

- Độ này không bận việc gì, tôi cũng buồn, để mai tôi làm cho. Vận động cho khỏe người.

- Tôi cứ bận đi chợ, khi về, thổi bữa cơm chiều ăn xong là tối, thành thử chẳng giúp ông bà về sự trông nom cửa nhà được. Tôi định cuốc xong vườn thì phát bờ giậu và xem có chỗ nào không kín thì rào lại.

- Đáng lẽ những việc ấy, tôi phải nghĩ đến. Thôi được, u nó xem còn những gì nên làm thì bảo tôi, từ mai, tôi không ngồi rồi nữa. Nhàn cư vi bất thiện.

- Không, thầy nó đã có việc học rồi. Chỉ nên để tâm vào sự học, ngoài ra, đã có tôi săn sóc việc nhà.

- Nhưng từ ngày thi hỏng, tôi chán học lắm.

- Thầy nó nghỉ một dạo là phải, ba năm nữa mới lại có khoa thi, học còn kịp chán, vội gì.

Thấy câu chuyện nồng nàn, Thúy bỏ nón và cởi áo tơi ra. Chính đùa:

- Phải đấy, thế mới là xuất giá tòng phu.

Thúy mỉm cười, đi với chồng vào buồng. Nàng đỡ đứa con đương ngủ ở tay chồng, rồi nói:

- Nhà ạ. Tôi có câu chuyện cứ định nói mãi.

Chính âu yếm hỏi:

- Chuyện gì?

- Bác Lý Tư nhờ tôi nói với nhà bảo giùm thằng cháu nhà bác ấy học, kiếm dăm ba chữ.

Chính nghĩ ngợi một lát, rồi đáp:

- Cũng không mất công gì, nhưng dạy một đứa thì buồn chết, mà lại mất việc của mình.

- Rồi người ta biết, người ta xin cho con nhập môn khối.

- Phải, được độ mươi đứa thì tôi chịu khó ngồi bảo vậy, nếu không, thà để thì giờ học hành cho mình còn hơn. Nhưng thầy còn ít tuổi, biết người ta có tin không.

- Tuổi thì làm gì, cốt ở đức độ.

- Vậy nhà cứ bảo bác Lý kiếm lấy mươi đứa, tôi vỡ lòng cho, có việc để bận hàng ngày, cũng vui. Khỏi mang tiếng nằm nhà bế con hầu vợ.

Thúy lườm:

- Việc gì mang tiếng.

- Cứ nằm dài ăn nhờ vợ thì mang tiếng hẳn chứ lị.

Thúy không bằng lòng:

- Ai nói như thế thì mắng vào mặt người ta ấy. Ông bà có ruộng cấy, trâu cầy, thầy nó thì văn bài sách vở, chứ có như ai đâu mà phải nhờ ai. Chỉ có tôi nhờ ông bà với thầy nó thì có.

Chính cười:

- Là tôi nói đùa thế.

- Tôi không bằng lòng đùa thế đâu. Lỡ người ngoài nghe thấy, lại bảo tôi kể lể.

Thằng bé giật mình, thức dậy, nhăn mặt khóc. Thúy vạch vú cho con bú, hỏi:

- Mọi ngày tôi đi vắng, con khóc nhà làm thế nào?

- Đã có bà dỗ, nếu nó đói, bà mớm cơm.

Thằng bé giơ cẳng chân mũm mĩm khoèo vào mặt mẹ. Thúy nắm lấy, hôn hít và nựng nịu:

- Chứ thầy chả được việc gì, nhỉ cu nhỉ!

Thằng bé cười tít mắt, vừa bú vừa thò tay sang vú bên kia để sờ.

Chiều hôm ấy, Thúy đến nhà bác Lý. Nàng nhờ bác tìm thêm trẻ để chồng dạy học. Nàng muốn chàng bận bịu hơn là ngồi không. Chính nàng rất sợ tiếng mà người ta để cho chồng, là ăn hại vợ. Nàng tránh tiếng cho chồng, tức là nàng cũng giữ cả cho nàng. Bởi vì khi một người vợ có chồng bị mỉa mai là ăn nhờ thì người vợ ấy dễ bị người ta đổ cho là hợm. Một câu nói thường không làm sao, nhưng kẻ xấu bụng có thể giảng ra ý nghĩa thế nào cũng được.

Bởi vậy, chẳng bao lâu, nhà Chính đã có nhiều trẻ lui tới, và ngày nào tiếng học cũng ồn ào cả buổi sáng.



XII



Năm năm sau, Thân đến chơi nhà Chính. Lúc bấy giờ Chính đã là chủ gia đình rồi, vì ông bà Bát đã lần lượt quy tiên. Chàng đẻ thêm một đứa con gái năm ấy lên hai.

Khoa sau chàng có đi thi, nhưng không đỗ. Thân cũng vậy, và hiện nay ngồi bảo trẻ ở làng bên cạnh. Cho nên hai người thường có dịp gặp nhau luôn.

Thấy bạn chồng đến chơi, lần nào Thúy cũng quý hóa, và thỉnh thoảng có ra tiếp chuyện.

Thân được tiếp đãi thân mật, nên yêu cầu Chính để Thúy và các con cùng ăn một mâm cho đỡ phiền.

Bữa hôm ấy, lại thấy dọn thịt gà, nên Thân nói đùa:

- Tôi sang chơi hai bác luôn, mà lần nào cũng thịnh soạn, làm tôi nghĩ ngợi, và không dám đi lại luôn đâu.

Chính cười:

- Có gì, gặp nhau, ta nên bày vẽ ra để uống chén rượu nói chuyện cho đỡ buồn.

Thúy cười:

- Mới có lần trước với lần này, nhà không còn gì ăn, tôi mới mổ gà, bác đã kêu là thịnh soạn.

Thân đáp:

- Anh em gặp nhau, có dưa ăn đưa, có muối ăn muối, cốt câu chuyện cho vui vẻ là được rồi.

Chính cất chén mời bạn. Thân sực nghĩ ra, nói:

- À, bác ạ, tôi vừa gặp bác Hạnh.

Chính lảng:

- Rượu hôm nay ngon đấy chứ. Bác xơi đi.

Nhưng thấy bạn chồng nói đến một người xưa đã hỏi mình, nên tò mò, Thúy ngấc mắt lên:

- Bác Hạnh ngày xưa ở trọ với bác, với nhà tôi đấy nhỉ?

- Vâng.

Chính không muốn nghe chuyện Hạnh để nhớ đến việc cũ, nên lại lảng:

- Nước mắm này u nó mua ở đâu, khí cứng.

- Cũng vẫn nước mắm mọi khi.

Rồi nàng cười với Thân:

- Nhà tôi chả để ý gì đến ăn uống cả, gặp thế nào hay thế.

Thân nói:

- Tôi có đứng lại nói chuyện với bác ấy, nhưng mời vào nhà, không vào.

Chính muốn lảng nữa, song chưa nghĩ ra được câu nói, nên nhại vợ:

- Gặp thế nào hay thế!

Thúy thấy chồng không tiếp bạn, lại cứ nói với mình, nên sợ Thân phật ý, bèn nhìn Thân, cười:

- Nói trộm bóng các cháu, ngày xưa bác ấy đã hỏi tôi, nhưng bên nhà không gả.

Thân gật đầu:

- Vâng.

- Hôm cưới, bác ấy có đi phù rể với bác đấy nhỉ?

Chính như bị một phát đạn bất ngờ. Chàng muốn không ai nhắc đến Hạnh nữa, nhưng vì cảm xúc quá, không nghĩ được câu nói để đánh trống lấp. Chàng bèn đứng dậy:

- Tôi ra vườn bứt thêm mấy cái lá chanh.

Chàng cho là Thân nói về Hạnh chỉ cho chàng nghe, nhưng nay chàng không có đấy nữa, ắt Thân phải kể chuyện khác với Thúy.

Chàng đứng cạnh cây chanh rõ lâu, rồi vào, cố làm mặt vui vẻ:

- Chẳng còn lá nào ăn được.

Nhưng cả bạn lẫn vợ đều không để ý đến câu nói của chàng, vì Thúy chép miệng, thở dài, trả lời Thân:

- Vâng, thưa bác, ngày còn mồ ma ông bà nội cháu, ông bà cháu cứ bảo tôi tốt số lấy được nhà tôi.

Biết là hai người vẫn đương nói chuyện Hạnh, nhưng Chính không thể làm thế nào để khỏi nghe được, thì Thúy ngậm ngùi nét mặt, nhìn chồng:

- Này, thầy nó ạ, bác vừa nói, bác Hạnh đến đáng thương.

Chính yên lặng, uống một hớp rượu. Muốn cho Chính biết là vừa rồi mình chỉ nói về Hạnh, nên Thân gật đầu:

- Để tôi nói rõ lại hai bác cùng nghe. Tôi gặp bác Hạnh, xuýt không nhận ra, vì bác ấy gầy gò, và ăn mặc tiều tụy quá. Tôi không ngờ là bác ấy, mà bác ấy không nhìn tôi, nên đáng lẽ tôi không hỏi.

Cho là câu chuyện lý thú, Thân hút điếu thuốc, rồi kể nốt:

- Như bác hay tôi, mặt mũi không khác xưa, thì làm gì bác ấy không nhận ra. Song, tôi chắc bác ấy không hỏi trước để xem mình có hỏi bác ấy hay không. Bác ấy tưởng mình nay đã đỗ đạt, làm nên ông gì, mà bác ấy nghèo hèn, nên thử xem mình có phú dịch giao không. Vì vậy, tuy không chắc là bác ấy, mà tôi cũng cứ gọi. Không phải chẳng sao, mà nếu phải mình đỡ mang tiếng khinh bạn cũ, và lại được biết tin bạn nữa.

Thấy Chính yên lặng, Thúy nói hộ chồng:

- Bác xử thế rất chu đáo.

- Tôi gọi, bác ấy dừng lại, và có ý ngượng nghịu.

Thúy nói với chồng:

- Bác ấy đáng thương lắm kia, thầy nó ạ.

Thân gật đầu:

- Đáng thương thật. Từ khi bỏ học, anh ta về nhà làm ruộng, nhưng vì chơi bời, nên bán trác đi hết. Rồi khi gần khánh kiệt, anh ta cầm nốt cái nhà, lên vùng Hưng Hóa ở nhờ nhà người cô họ. Rồi có người rủ sang Tuyên Quang buôn bán, anh ta bị lừa một mẻ hết sạch, lại đeo thêm chứng sốt rét ngã nước nữa.

Chính gật gù, vì thấy Hạnh đã đáng những hình phạt ấy.

- Ấy, trong năm sáu năm nhỉ!

Rồi chàng tiếp:

- Giá hắn không thôi học, biết đâu không đỗ đạt, sung sướng, danh giá hơn bọn ta nhiều.

Là vì chàng đã nghĩ đến sự bỏ học của Hạnh là do Hạnh không dám giáp mặt người bạn hắn phản, tức là chàng. Thân tiếp:

- Anh ta gầy gò, mặt mũi bủng beo.

Thúy phàn nàn:

- Dại quá, tự nhiên thôi học, đến nỗi đem cái khổ vào thân.

Chính hỏi:

- Thế lúc ấy anh ta đi đâu?

- Anh ta bảo về quê bán đứt nhà rồi lại lên Tuyên Quang kiếm chỗ dạy học.

Thúy động lòng:

- Dạy học ở nhà, thiếu gì người đón. Sao bác ấy nghĩ quẩn thế nhỉ. Tuyên Quang nước độc.

Thằng bé lớn ngẩn mặt nghe chuyện, hỏi mẹ:

- Đâu nước độc, hở u?

Thúy đùa:

- Tuyên Quang, mày có lên Tuyên Quang thì lên.

Thằng bé thật thà, đáp:

- U có lên thì lên, con không lên.

Thúy cười sằng sặc:

- Có! Tao lên để bụng to bằng cái thúng.

Ý Thúy muốn tả người bị ngã nước, nhưng Chính lại nghĩ đến một người có mang. Chàng cau mặt và tặc lưỡi. Thân hút xong điếu thuốc nữa, nói:

- Anh ta có hỏi thăm bác đấy.

Chính cười lạt. Thân tiếp:

- Tôi mời anh ta về chơi nhà, định lưu lại rồi dắt sang chơi với bác, nhưng anh ta hết sức từ chối.

Thúy gật đầu:

- Kể bác ta sang chơi được cũng hay.

Chính cau mặt nhìn vợ, nhưng nàng không trông thấy.

Thân đáp:

- Vâng, lâu ngày không gặp, ôn lại chuyện cũ, còn gì bằng. Nhưng anh ta bảo không thể ở được, vì trót hẹn với vài người cùng đi một chuyến thuyền. Anh ta lúc ấy đương bị cơn sốt.

Thúy chép miệng, thở dài:

- Khốn nạn!

Chính lườm vợ, cố nén cơn giận. Mỗi lúc, chàng lại thấy Thúy như thể tỏ cảm tình riêng với người đã phản chàng, nên máu nóng trong người sôi lên sùng sục. Mấy lời nói đầu tiên của Thúy đêm hôm cưới lại như văng vắng bên tai chàng:

“Chết chửa lại vào...”

Lòng nghi ngờ vợ lại nổi dậy. Chàng ngờ chàng ngốc dại đến nỗi tin cái tiếng tốt của con gái ông Đồ Phương Bá mà quá đại lượng với nàng chăng.

Chàng run lên, rót đầy một chén rượu, rồi uống cả. Thân bật cười:

- Bác đã uống được nhiều nhỉ.

Để khỏi phẫn uất, Chính tặc lưỡi:

- Uống nhiều để quên đời, quên mình, quên hết mọi sự.

Thân đáp:

- Phải, say rồi, thế là thần tiên.

Thúy ăn xong bữa, quệt đũa vào môi và đứng dậy:

- Thôi, thầy nó mời bác xơi cơm đi, đừng uống quá mà say.

Chính trừng mắt:

- Kệ chúng tôi!

Thấy chồng khác ý, Thúy làm lành ngay. Nàng mỉm cười, nói với Thân:

- Nhà tôi động say, là tôi đến sợ.

Chính căm hờn, đay:

- Sợ, nếu sợ đã chả thế!

Nói đoạn, chàng lại rót chén nữa, và uống hết ngay. Thấy tự nhiên chồng gây chuyện với mình, Thúy lảng xuống nhà dưới. Thân xới cơm vào bát hộ Chính, trách khẽ bạn:

- Bác gái đức hạnh hiếm có, sao bác lại nỡ thế.

Chính quắc mắt nhìn Thân:

- Đức hạnh! Tôi ngậm đắng nuốt cay đã bao nhiêu lâu nay, bác có biết đâu.

Thấy câu chuyện gay go. Thân cười:

- Bác say rồi. Say quá hóa mất cả khôn.

- Tôi không say, tôi không mất khôn.

Thân ôn tồn:

- Này tôi khuyên bác, có chuyện gì thì trước mặt tôi đây, bác đừng làm bác gái ngượng.

- Nó mà biết ngượng à!

Rồi mắt đỏ ngầu, chàng nghiến răng, đập tay xuống phản:

- Đồ đĩ!

Đoạn chàng ôm mặt, hu hu khóc.



XIII



Thấy câu chuyện không đâu vào đâu mà bạn gây sự cãi nhau với vợ, nên Thân giận, bỏ về. Chính nằm khóc, không đi tiễn. Thúy vừa tủi thẹn, vừa uất ức, vừa thương chồng, nên cũng sụt sịt khóc. Nàng không rõ đã bị chồng phật ý từ lúc nào, và tại sao lại bị giếc móc bằng tiếng quá tàn nhẫn là đồ đĩ. Nhưng nàng không dám can ngăn chồng, vì biết chàng say, và đương tức với nàng, nên nếu nghe tiếng nàng, ắt chàng như lửa thêm dầu.

Muốn êm ả, nàng lau nước mắt, lẳng lặng dọn mâm bát xuống bếp.

Nàng muốn chàng ngủ đi. Nàng sẽ lấy vôi bôi vào gan bàn chân, cho chóng giã rượu. Rồi khi trở dậy, hết say rồi, chàng sẽ nghĩ lại và hiểu rằng đã lỗi với bạn và quá với vợ.

Nàng gọi con, bảo chúng nó đưa nhau ra chỗ xa mà đùa, cho Chính ngủ được.

Nhưng bỗng bà lang Minh vào, thấy Chính nằm một mình trên phản, thì ngạc nhiên hỏi:

- Ứ, ngỡ bên này có khách.

Thúy vội vàng chạy lên, xua tay, nói:

- Nhà cháu say, bà xuống nhà chơi để cho nhà cháu ngủ.

Bà Lang chép miệng:

- Liền ông chỉ đoảng, rượu say thì đi ngủ, để mặc vợ hầu.

Bất đồ có một tiếng như rên rỉ:

- Bà Lang ơi!

Và Chính đã lồm cồm bò dậy. Bà Lang quay lại:

- Gì thế anh?

Thấy chồng vẫn có sắc mặt giận, Thúy nói thầm:

- Nhà cháu vừa gây sự với cháu. Bà liệu mà can nhé.

Nhưng Chính đã nghe thấy. Chàng hung hăng:

- Tao không gây sự. Tao định hỏi tội mày!

Bà Lang chắng hiểu đầu đuôi ra sao, trách Chính:

- Gì mà mày với tao thế nào!

Nhưng Chính không đáp, trỏ vào mặt vợ, nghiến răng hỏi:

- Mày thương thằng Hạnh lắm, phải không?

Bây giờ Thúy mới biết chồng đã ghen một cách vô lý. Nàng không tức sao được. Nàng cãi:

- Tôi thương gì thằng Hạnh?

Rồi uất ức, nàng òa lên khóc nức nở.

Bà Lang vẫn chưa hiểu chuyện, ôn tồn với Chính:

- Có gì thì vợ chồng khẽ bảo nhau, kẻo người ta cười.

Chính gầm lên:

- Người ta cười thì mặc người ta. Tôi chịu nhịn năm sáu năm nay rồi.

Thúy lau nước mắt, nhìn chồng:

- Tôi làm gì mà thầy nó bảo nhịn năm sáu năm nay?

- Mày định hỏi tao à? Mày tai quái vừa chứ. Mày hỏi mày thì biết!

Thúy cãi:

- Hỏi cái gì?

Bà Lang can:

- Gớm, chị Cả, có im đi không. Anh ấy say, mặc cho anh ấy nói.

- Nhưng tức lắm, bà ạ?

Chính điên ruột:

- Hỏi gì à? Hỏi xem cái đêm cưới, mày với thằng Hạnh làm những gì.

Thúy đỏ mặt tía tai, sấn sổ vào chồng:

- Làm gì?

Nhưng bà Lang nói át đi:

- Anh Cả, có im đi không nào! Say rượu chỉ ăn nói càn, không biết nốc bao nhiêu mà khổ thế.

Rồi bà kéo Thúy ra ngõ:

- Thôi, không dây với nó nữa.



XIV



Thúy về nhà bà Lang, vừa đi vừa nức nở. Người làng gặp, họ không hiểu chuyện gì, song đồ là hai vợ chồng cãi nhau.

Và chính Thúy cũng không hiểu hơn gì họ. Nàng cho là chàng say rượu, nói liều. Nhưng nói liều gì còn có thể tha thứ, chứ nói để phạm đến danh dự một người đàn bà, mà người đàn bà ấy lại là vợ chàng, thì thật là đáng giận. Câu chuyện đã không có, bỗng chàng tự dưng nói xưng xưng lên. Vả lâu nay nàng đã là một người đàn bà, ăn ở với chồng được hai mụn con. Việc cưới xin kể như chuyện đã cũ kỹ. Vậy mà chàng đặt điều để kể tội nàng đêm tân hôn. Nàng xấu hổ với bà Lang. Nên về đến nhà, nàng bưng mặt, khóc:

- Đấy bà xem, nhà cháu ăn nói thế mà nghe được.

Bà Lang can:

- Thôi, nghĩ ngợi làm gì. Người ta chấp trách những người khôn ngoan chứ ai chấp trách hạng say rượu nói càn.

- Nhưng cũng tùy từng câu hãy nói.

- Gớm, mà không biết làm gì lại uống lắm vào thế.

- Tại nhà cháu có khách.

- Thế khách đâu?

- Bác ấy giận, bỏ về rồi.

- Ừ, ai chả giận.

- Một câu chuyện bịa, nói là từ ngày cưới, thế sao mấy năm nay, vợ chồng ăn ở với nhau không có điều tiếng gì.

- Ừ, ai tin được.

- Thật thế, nói trộm bóng các cháu, nhà cháu thật hiền lành, thế mà không biết bị ám ảnh ra sao, hôm nay giở chứng ra thế được.

- Những người lành vẫn hay cục.

- Cháu có tròng ghẹo gì mà cục.

Bà Lang đã têm xong hai miếng trầu, để ở mặt nắp ang đồng, chọn một miếng ngon đưa Thúy, nói:

- Thôi, này, chồng giận thì vợ làm lành, nghĩ làm gì cho thêm bực.

Thúy nhổ quết trầu vào góc sân, nói:

- Cháu cứ ở đây với bà, để xem vắng cháu, mấy bố con xoay xở ra sao đêm nay.

Bà Lang dỗ:

- Anh ấy thì đáng giận lắm, nhưng tôi tưởng chị chả nên thế.

- Bà tính nhà cháu đổ tiếng xấu cho cháu, cháu mặt mũi nào mà về nữa.

Nói xong, nàng lại lau nước mắt. Bà Lang ái ngại, chép miệng:

- Vợ chồng xô xát là thường. Ông Lang nhà tôi ngày trước còn khó chiều bằng vạn ấy.

- Không phải cháu không biết chiều chồng thương con, nhưng cháu về thì xấu hổ với làng xóm.

Bà Lang cau mặt, làm như gắt:

- Can gì mà xấu hổ. Anh ấy xấu hổ thì có.

Thúy lấy thêm vôi, nói:

- Bà cứ mặc cháu. Vả cháu về, biết nhà cháu có chứa nữa không, hay cho cháu là đồ hư.

- Chà!

Bỗng bác Đám Tửu đứng ở ngõ, gọi:

- Bà coi chó cho tôi với.

Thấy bác Đám có vẻ tò mò, định theo hỏi biết chuyện để kể cho làng nước nghe, bà Lang bảo khẽ Thúy:

- Vào trong nhà mà đi nằm. Để tôi với bác ấy.

Bác Đám đến sân, hỏi:

- Cả nhà đi vắng à, hở bà?

- Phải, chả biết chúng nó chạy đâu cả ấy.

- Gớm, người ta đồn đại vợ chồng bác cả Chính đánh nhau tán loạn mà tôi thấy rác cả tai, tôi phải đến hỏi bà xem sao.

Bà Lang cười:

- Chỉ tại vợ chiều chồng, cho chồng uống rượu, nên mới cãi nhau, mới mắng cho một chập, kéo vợ về đây.

- Thế bác gái đâu?

Bà Lang nhìn vào trong nhà, hất hàm, đáp:

- Nằm kia.

Bác Đám gọi:

- Ra đây nói chuyện, bác! Sao thế?

Nhưng Thúy vờ ngủ, không đáp. Bác Đám ghé tai bà Lang:

- Thấy bảo ngoại tình thế nào, lôi thôi lắm kia mà.

Bà Lang cười:

- Sao mà họ hớt lẻo nhanh thế. Tôi có mặt từ đầu chí đuôi, nào có chuyện gì.

- Gớm, thế mà họ bịa ra những câu nghe đến khiếp.

Bà Lang gạt đi:

- Nghe làm quái gì!

- Cháu tức lắm kia, bà ạ.

Bà Lang khó chịu:

- Đứa nào nói láo, sao bác không tát vào mặt nó mấy cái?

Bác Đám bẽ, têm lấy miếng trầu bỏ vào miệng:

- Cho nên cháu muốn biết thực hư. Cháu vào trong bác Cả, thì bác giai ngủ.

Bà Lang cười:

- Rõ khéo quá, say rồi ngủ.

Bác Đám biết là ngồi thêm vô ích, bèn đứng dậy phủi đũng quần:

- Thôi, cháu vô phép bà nhé, cháu bận đi đằng này.

Bà Lang giấu sự vui vẻ, vờ giữ lại:

- Hãy ngồi chơi một tí để nó về nó đem chén nước nóng đã nào.

- Thôi, cháu bận. Bà coi chó cho cháu.

Bà Lang tiễn bác Đám ra cổng, rồi nhìn theo.

Trời đã xẩm tối. Nhưng ngoài đường, vẫn còn tụm năm tụm ba. Bà biết là họ đương bàn tán việc vợ chồng Chính. Bà thở dài, quay vào.

Thúy ngồi dậy, vấn lại đầu, nói:

- Thôi, cháu đi ngủ đây. Các cô, các chú chưa về, hở bà?

- Ngủ đây thì ngủ, nhưng tôi bảo chị nghĩ kỹ lại.

- Cháu nghĩ kỹ rồi. Người ta đổ tiếng oan cho cháu, mà cháu lại về, thì nhục quá!

Bà Lang bực mình:

- Tôi kệ chị. Muốn hay thì được hay, muốn dở thì được dở.

Thúy thở dài:

- Cháu cũng đành!

Trời tối mịt. Các con bà Lang về dần. Rồi cổng đóng lại. Ai nấy biết chuyện, đều ái ngại cho Thúy. Người bảo Thúy nên đại lượng mà về với con. Người bảo Thúy không nên về, cho Chính biết hối, bận sau chừa rượu chè, ăn nói càn rỡ.

Nhưng giữa trống canh một, đã có tiếng Chính gọi ngoài ngõ. Bà Lang đang nằm, vội vàng trở dậy thắp đèn, và bảo con ra mở cổng. Bà nói đùa:

- Nào xem phen này ai phải lụy ai nào!

Chính bước lên thềm nhà, mặt mũi hiền lành như thường:

- Nhà cháu có đây không, bà?

Bà Lang làm mặt giận:

- Anh lại còn vờ phải không, anh không biết ngay từ ngoài ngõ thì anh vào đây làm gì? Anh đi đâu đấy?

Chính cười lạt:

- Cháu đón nhà cháu về.

Lúc ấy, cả nhà bà Lang đều ngồi dậy, duy Thúy vẫn nằm, quay mặt vào vách. Bà Lang càng giận:

- Anh đón chị ấy về. Này, cả làng người ta đang chửi cho đây kia kìa!

Chính vẫn cười:

- Tại cháu say quá, cháu nói gì, cháu cũng chả nhớ.

Thúy nhổm dậy:

- Đấy, bà xem.

Là vì nàng hả dạ. Một câu vừa rồi rửa được tiếng oan cho nàng. Chính nhìn vợ:

- Thôi, tôi đã nói với bà, đi về với cái Đĩ, kẻo nó cứ nhắc nhỏm.

Thúy nguẩy một cái:

- Tôi không về!

Bà Lang khuyên giải:

- Thôi, anh ấy đã làm lành, chị nên về là phải.

Thúy cảm động quá, ôm mặt khóc. Bà Lang nói:

- Anh trông đấy, nốc cho lắm vào, đã sướng chưa!

- Cháu chịu hết lỗi, bà bảo nhà cháu hộ.

Bà Lang nhìn Thúy, ngọt ngào, dỗ:

- Chị Cả ạ, dù chị giận anh ấy đến đâu, nhưng thấy anh ấy đi đón, cũng nên hết giận. Vả chị phải nể tôi.

Thúy vấn lại khăn:

- Nể bà thì cháu về, chứ cháu định mặc mấy bố con đêm nay.

Bà Lang nở một nụ cười sung sướng:

- Thế là phải.

Thúy đứng xuống đất, hằn học nhìn Chính. Chính chào:

- Thôi, bà nghỉ, cháu về.

Rồi nhìn vợ, dịu dàng nói:

- Đi.

Thúy gắt:

- Cứ đi trước đi.

Bà Lang cười:

- Giời tối thì cùng đi có được không. Đi đôi sợ người ta chế là hai vợ chồng hẳn.

Chính và Thúy ra về. Không ai nói với ai một lời. Chính còn bẽ lắm. Và Thúy còn giận lắm.

Đến nhà, Thúy rửa chân, rồi quạt màn đi nằm liền. Chính cũng lẳng lặng nằm bên cạnh. Hai người vẫn không nói chuyện với nhau. Chỉ thỉnh thoảng có những tiếng thở dài buồn rười rượi.

Bỗng Chính gọi:

- U nó còn thức hay ngủ?

Thúy không đáp, quay mặt vào trong. Biết là vợ chưa ngủ. Chính nói:

- Chắc u nó giận tôi lắm nhỉ!

Thúy thút thít khóc. Chính tiếp:

- Chấp làm gì người say!

Thúy nói giọng đầy nước mắt:

- Phải, một câu nói giết người, lại bảo đừng chấp.

Chính thở dài:

- Thôi.

- Làm tôi đeo nhục suốt đời.

- Đàn bà cứ hay nghĩ ngợi hão huyền.

- Sao lại hão huyền, thế người ta đổ cho đi ăn cướp, giết người, có chịu được không?

Chính nói cùng:

- Được.

- Được! Nhưng tôi không chịu được tiếng bất chính.

Chính nắm tay vợ, làm lành:

- Thôi, tôi xin là hết. Tôi điên rồ. Tôi hối hận lắm.

Thúy lại nức nở. Nàng đã đổi lòng giận ra thương:

- Mấy năm giời ăn ở với nhau, thế mà chỉ vì mấy chén rượu, mất cả cái hắn hoi đi.

- Thôi, tôi xin u nó. U nó còn giận tôi thì tôi cũng khóc bây giờ.

Thúy lau nước mắt. Chính tiếp:

- Vợ chồng nên tha thứ cho nhau để vợ chồng được hòa. Tôi thề rằng từ nay không uống rượu nữa.

Thúy đã dịu, đáp:

- Năm thì mười họa mới uống, thì cũng nên, nhưng đừng uống như hôm nay nữa.

- Tôi xin hứa thế.

Thúy hết giận. Nàng ngồi dậy, vơ tráp trầu, ăn một miếng. Chính cũng ngồi dậy, lấy một miếng bỏ vào miệng. Chàng cười:

- Người ta lỡ lời, thế mà bỏ đi được.

- Chứ không à. Tôi định mặc cho bố con loay hoay bữa cơm mai, không khéo thì nhịn đói.

Chính vui vẻ đáp:

- Thật đấy.

- Thằng Cu đâu?

- Nó ngủ rồi, tôi mới đi.

- Giá tôi không nóng ruột hai đứa ở nhà một mình, tôi chưa về đâu.

- Tôi đã dọn dẹp, cho chúng nó ngủ, rồi mới đi đón u nó.

- Để cho thầy nó biết là sểnh vợ ra thì khổ.

Chính gật đầu:

- Biết rồi.

Thúy mỉm cười:

- Thế thì từ nay ăn có nhai, nói có nghĩ nhé.

- Để rồi tôi nói cho họ hiểu.

Thúy thở dài, lắc đầu, nhìn chồng. Nàng đã tươi tỉnh như cũ, bèn hỏi:

- Nhưng tại sao thầy nó lại ngờ tôi với thằng Hạnh đêm hôm cưới?

- Tôi có ngờ đâu!

- Rõ ràng nói thế mà lại.

_ Chính vờ:

- Thật à?

- Không thật, sao có chuyện, nếu không có bà Lang thì lôi thôi to. Chắc người làng cho là tôi nhân tình nhân ngãi với thằng Hạnh.

Chính yên lặng. Thúy đùa cho chồng khỏi bẽ:

- Hay lại đổ cho tôi phải lòng bác Thân, bị nhà bắt được quả tang.

Chính cười:

- Có!

- Khốn nhưng tự nhiên bác ấy lại bỏ về.

Chính thở dài:

- Say rượu, mất cả bạn lẫn vợ.

Thúy nghĩ ngợi một lát, rồi hỏi:

- Sao nhà lại nói có vẻ ghen tuông hằn học thế?

- Tại tôi say thì mắt đỏ, chứ làm gì mà ghen.

Thúy trầm ngâm, lại hỏi:

- Có, ghen thật, ghen từ lúc chưa say kia. Bây giờ tôi mới nhớ ra.

Chính thở dài, không đáp. Chàng nằm xuống, vắt tay lên trán, lại thở dài. Thúy nằm bên cạnh, hỏi:

- Thầy nó nghĩ gì thế?

Vẫn không đáp, Chính chỉ thở dài. Thúy biết chồng có tâm sự riêng, bèn lay cánh tay Chính, không cho đặt lên trán nữa:

- Hở, thầy nó, cứ nói cho tôi nghe.

Chính đáp bằng giọng chán nản:

- Thôi, ngủ đi.

Biết rằng chồng muốn giấu giếm điều gì, nên nàng càng muốn rõ:

- Vợ chồng ăn ở với nhau từng ấy năm giời, tôi có điều gì giấu thầy nó đâu, mà hình như thầy nó có sự gì uất ức trong bụng, lại không cho tôi biết.

Chính lại thở dài, và ứa nước mắt.

Thúy dỗ:

- Cứ nói đi, chỉ có thầy nó với tôi thôi mà.

Chính vẫn thở dài:

- Nhưng biết không có ích gì.

- Sao lại không có ích. Biết để khuyên giải nhau, thế nào là tình nghĩa vợ chồng.

- Biết chỉ có hại.

- Dù có hại, tôi cũng hài lòng, vì đỡ cho thầy nó được mối nghĩ ngợi.

Bỗng Chính lắc đầu:

- Thôi, tôi không muốn nói.

- Vậy thì thầy nó không coi tôi là vợ.

- Nếu tôi không coi là vợ, sao có ngày nay.

- Thế thì nói đi.

- Thôi, chuyện cũ, lâu lắm rồi.

- Lâu cũng được, người chưa biết vẫn còn là mới.

Chính từ từ ngồi dậy. Thúy cũng ngồi theo. Chính âu yếm nhìn vợ:

- Nhưng sống để bụng, chết đem đi nhé.

- Được.

Rồi nắm tay nàng, chàng xích lại gần, đắn đo:

- Tôi thì tôi không có bụng nào ngờ u nó đâu.

Thúy giật mình:

- Ngờ gì?

Chính gật đầu:

- Phải bình tĩnh mà nghe mới được. Thằng Hạnh với tôi là kẻ thù không đội giời chung.

- Sao?

- Tại tối hôm cưới, nó vào với u nó trước tôi.

Thúy rú lên một tiếng:

- Ối!

Nhưng Chính bịt miệng vợ lại:

- Chớ!

Nàng nằm xuống, mềm nhũn cả tay chân. Chính tiếp:

- Tôi đã bảo bình tĩnh kia mà.

Thúy rên rỉ:

- Sao thầy nó biết?

Chính vẫn ôn tồn:

- Tại mấy câu u nó bảo: “Chết chửa, lại vào”. Rồi u nó hỏi tôi cái nốt cơm, và những tiếng của nó hay nói, tiếng “nọ kia”. Nó sợ tôi, phải bỏ học. Vì vậy, nên mỗi lần tôi thấy u nó hỏi săn đón nó, tôi rất bực mình, máu ghen lại nổi lên.

Thúy nghẹn ngào, chắp tay lạy chồng. Nhưng Chính đỡ lấy:

- U nó không có lỗi gì cả.

Thúy thổn thức, gục vào gối:

- Tôi không ngờ, sao bây giờ thầy nó mới cho tôi biết?

Chính cười lạt:

- U nó không có lỗi gì cả. Tôi cốt để chúng ta vui vẻ ở với nhau.

- Nhưng sao thầy nó để yên thằng Hạnh?

- Đã có giời trừng phạt nó. Bây giờ nó khổ sở, là nó chịu ở tội ác của nó rồi.

Thúy rên rỉ.

- Tôi không ngờ thầy nó gan thế.

Đoạn, nàng ôm lấy chồng, khóc sướt mướt.



XV



Sáng hôm sau, mắt Thúy thâm quầng hẳn lại. Chính rất ái ngại. Chàng biết đã vô lý mà ghen tuông với vợ, lại vô lý nữa là lỡ miệng, nói thực câu chuyện ghen tuông cho vợ nghe. Một sự đau đớn có thể chịu đựng một mình trong ngần ấy năm trời, nay bỗng dưng chàng để vợ biết, thực vô tình chàng đã giết nàng. Nàng đoan chính, đức hạnh, ai mà không biết. Nếu nay người ngoài rõ chuyện, người ta chỉ chê cười chàng mà thôi.

Chàng nhìn Thúy, buồn rười rượi, đương vạch vú cho con bú. Nàng ngắm nét mặt ngây thơ của thằng bé. Chàng không muốn trong đầu óc nàng có ý nghĩ vẩn vơ, bèn hỏi:

- Hôm nay, u nó có đi chợ không?

Thúy uể oải, lắc đầu:

- Tôi thấy váng vất trong người, nên nghỉ buổi nay.

Chính khẽ thở dài, nhìn nàng, âu yếm nói bằng giọng đầy hối hận:

- Chỉ tại tôi.

Thúy vờ như không hiểu:

- Tại gì?

- Tại tôi cho u nó nghe câu chuyện không đáng nghe.

Thúy mỉm miệng cười:

- Sao lại không đáng. Thầy nó giấu tôi là không phải.

- Nói ra để u nó buồn, mất làm ăn.

Thúy vẫn cười, cố làm ra tươi tỉnh:

- Buồn thì cố nhiên, ai có thể mần ngơ được trước cái tội to lớn nhất của đời người con gái. Song, thầy nó đã đại lượng, thì tôi không nghĩ ngợi gì đâu.

Chính lắc đầu:

- U nó giấu tôi. U nó đã thức suốt đêm qua, mắt trũng thâm lại.

Thúy càng làm tươi, để chồng tin lời nói mình:

- Thức thì có thức, song không thức suốt đêm. Người ta dù ngu dốt đến đâu mà nghe một sự phạm đến mình lại không đau đớn được. Cho nên tôi nghĩ ngợi đã đành. Còn mắt thâm trũng, có lẽ tại ít lâu nay tôi không được mạnh.

- Nhưng tại sao nghỉ buổi chợ?

- Nghỉ để ở nhà cả ngày với chồng với con.

Nói đoạn, nàng hôn con bé con và nhìn chồng bằng đôi mắt rất tình tứ. Chính biết nàng gượng gạo, chỉ thở dài.

Chàng hết sức vui vẻ và chiều chuộng vợ để nàng khuây. Nàng cũng vậy, chỉ lúc nào vắng chồng, ngồi một mình, mới dám buồn rầu, nghĩ ngợi, và thở dài mạnh. Lúc có mặt chồng, nàng lại phải làm ra dáng vui vẻ, siêng năng công việc làm ăn.

Sự thực, nàng đã nuôi một mối thù ở trong lòng. Nàng thù Hạnh, một người hèn nhát, đã lừa bạn, lừa người con gái hắn không hỏi được làm vợ, nhất là người con gái ấy lại kết hôn với bạn hắn. Nàng muốn tìm ngay cho được quân khuyển lang để hỏi dò cho biết sự thực và băm vầm mổ xẻ nó ra.

Nhưng nàng làm thế nào được? Nàng là đàn bà, yếu đuối.

Nàng đã thao thức nhiều đêm. Ban ngày, nàng gượng vui, cười nói với chồng như thường, nhưng thực ra, trong tâm can, nàng giấu một mối hờn không ai có thể biết được.

Chính nhận thấy nàng gầy đi, và lại hay thở dài.



XVI



Một buổi chiều, sau ngày kỵ ông Bát, thấy Thúy về chợ muộn hơn mọi ngày, Chính rất nóng ruột. Chàng cho vú già đi đón, và sắp sẵn gạo nước để vú về thổi cơm cho đỡ muộn. Nhưng chàng không yên tâm, nhất là các bếp nhà hàng xóm, khói đã lên nghi ngút, và tiếng mẹ nựng con, vợ vui vẻ với chồng, càng làm cho chàng mong Thúy.

Thằng bé con chàng thừ mặt ngồi ở bậc cửa. Nó cũng mong mẹ nó. Giờ này là giờ mọi khi nó đã được mẹ nó hôn hít và cho quà. Bỗng nó nhăn nhó, nói:

- U mãi chả về, đói quá.

Chính nhìn nó, thương hại, dỗ:

- U về bây giờ mà.

Rồi chàng âu yếm, nắm lấy tay con:

- Đứng dậy, thầy dắt đi chơi.

- Em không đi chơi, u mãi không về.

- Thì đi đón u vậy.

Thằng bé vẫn phụng phịu, theo Chính ra cổng.

Mặt trời đã lặn hẳn. Những thân cây tre theo gió, nghiến vào nhau ken két, trút lá xuống rào rào.

Chính thơ thẩn đưa con đi. Người qua đường chào chàng:

- Chào bác, dắt cháu đi đâu thế?

Nhưng chàng không dám nói thực là mình đi đón vợ, bèn trả lời ấp úng:

- Vâng, tôi đi đằng này.

Đến đầu làng, chàng nhìn hút ra phía đường ở chợ về. Người đã thưa vắng. Vú già cũng không thấy. Bỗng chàng chột dạ. Chàng nghĩ ngay đến chuyện xô xát độ nọ, và những buổi nàng thờ thẫn, thở dài. Chàng đợi một việc không hay xảy ra cho gia đình chàng. Nhưng chàng mỉm cười ngay:

"Nghĩ khôn chẳng nghĩ, lại cứ nghĩ dại".

Song Chính không thể tự an ủi được lâu. Đường sá vắng tanh không ngăn chàng đừng lo được. Chàng thở dài ra tiếng, bảo con:

- Về!

- U mãi không về nhỉ!

Chính cúi xuống nó, nói:

- Đừng nhắc, u nóng ruột. Chắc u bận gì, nên về muộn. Tí nữa u về.

- Tí nữa là đến bao giờ, hở thầy?

Thấy con mong mỏi quá, chàng không đáp, nên bảo:

- Về, lại đằng bà Rồng hỏi xem thì biết.

Chính cùng con đi. Chàng rất lo ngại. Chàng mong nàng hiện giờ đã ở nhà, và sở dĩ ban nãy chàng không gặp, là vì nàng cùng vú già đã la cà vào chơi nhà ai trong xóm.

Đến nhà bà Rồng, Chính vừa gặp bà này ra ngõ. Chàng hỏi:

- Bà về chợ bao giờ thế?

- Tôi về đã lâu.

- U cháu còn ở lại làm gì thế, bà?

Bà Rồng ngơ ngác:

- Kìa, bà ấy về trước tôi kia mà!

Chính tái mét mặt:

- Tôi chưa thấy đến nhà, bà ạ.

- Hay là còn rẽ vào đâu đòi nợ?

- Nhưng đến bây giờ chưa về, bà ạ.

Nói đoạn, muốn giấu vẻ băn khoăn, chàng chào bà Rồng, rồi về.

Trời đã tối sẫm. Màu tro ảm đạm bao phủ cảnh vật, cũng đặt vào chàng những tư tưởng đen tối.

Chàng cùng con rảo cẳng về nhà. Gần đến ngõ, chàng lắng tai nghe. Nhưng trong nhà vẫn im phăng phắc. Chàng lắc đầu, thở dài. Chàng thất vọng hẳn. Chàng thẫn thờ, bảo con:

- Con coi nhà, thầy xuống bếp thổi cơm cho.

- U mãi không về nhỉ.

- Ừ, nhưng đừng nhắc nhiều, u nóng ruột, mà thầy cũng nóng ruột.

Chính thổi lửa để dóm bếp. Bỗng vú già ở ngõ vào. Thằng bé con reo:

- A, u đã về!

Chính mừng quýnh, đứng đậy, quay ra:

- Thật à?

Vú già buồn thiu:

- Chả thấy mợ đâu cả, cậu ạ.

Chính trợn tròn hai mắt. Vú già nói:

- Tôi đã đến tận chợ.

Chính hỏi dồn:

- Thế mợ đâu?

- Tôi không biết.

- Vú tìm những đâu?

- Tôi đến chợ, lúc ấy đã hết người. Không gặp mợ, tôi đã hỏi thăm khắp, nhưng không ai biết.

Chính lạnh toát, run run:

- Vú thổi cơm đi. Em đói rồi.

- Vâng, chắc em đói lắm.

Chính lên nhà vào giường nằm, vắt tay lên trán, thở dài.

Bỗng, ngồi phắt dậy, chàng lại xô cửa, với cái gậy, rồi xuống bếp, nói khẽ với vú già:

- Chín cơm, vú với em ăn đi, đừng đợi tôi, tôi đi tìm mợ.

Vú già nhìn chàng, ái ngại:

- Vâng.

Rồi vú nói:

- Khổ, không biết mợ tôi đi đâu thế!

Chính lên nhà, dặn con:

- Con xuống bếp với vú, thầy phải lại đằng này, ở nhà ngoan nhé.

- Vâng, thầy tìm u à?

- Ừ.

Chính ra cổng. Chàng quên cả đói.

Trời đã tối mịt. Ánh trăng vàng lấp lánh trên các lá cây. Chàng ra phía đầu làng, rỗi đứng sững lại. Nghĩ ngợi. Chàng nên đi đâu? Cả một khoảng đồng làng mênh mông làm chàng ghê sợ. Chàng biết nàng ở chỗ nào mà tìm? Nàng chưa về nhà, hay không về nữa? Mà nếu không về nữa, thì hiện nay nàng ở chỗ nào trong khoảng mênh mông này? Ở trong nhà, hay dưới đáy nước, hay lủng lắng trên cành cây? Nghĩ vậy, chàng rưng rưng nước mắt.

Chàng rảo cẳng, bước liều về phía chợ. Chàng cố nhìn xem ở nẻo xa có cái bóng đen đen nào tiến lại gần không. Đến một cái cây um tùm, chàng ngẩng lên nhìn từng cành.

Phẫn thân, nàng có thể thắt cổ. Đến một cái chuôm bên cạnh đường, chàng chọc gậy xuống nước để tìm. Nàng cũng có thể trẫm mình. Nếu nàng chết, chàng hối hận biết ngần nào. Chàng oán bữa rượu ác nghiệt đã làm chàng quá say mất cả khôn, mà đi ghen bóng ghen gió, đến nỗi trong gia đình xảy ra sự bất hoà, rồi mới có ngày nay.

Chàng đã tìm tòi hết sức, nhưng không thấy gì.

Trăng mọc đã cao, chiếu một thứ ánh sáng bàng bạc và mơ hồ.

Qua bãi tha ma, chàng thấy những con đom đóm vẽ những gạch lửa xanh trong bóng tối, hoặc lập lòe trong bụi cây, tự nhiên chàng rùng rợn. Chàng không thể quên được cái tin tưởng là vợ chàng hiện giờ này đã là người thiên cổ.

Tìm đến bao giờ? Bỗng chàng đứng sững lại, thở dài. Chàng muốn quay về. Quay về để khỏi làm một việc vô ích. Chàng cho là vô ích, vì nếu Thúy đã định lìa gia đình, dù bằng cách nào cũng vậy, thì đêm hôm, một mình chàng cũng không thể tìm nổi. Chàng về, để sáng hôm sau đi nói chuyện cho họ hàng biết, nhờ người nọ người kia bàn bạc hoặc giúp sức, để xem nên tìm tòi hoặc trình báo ra sao.



XVII



Nhưng Thúy không tự tử. Nàng không tự hoại tấm thân một cách vô ích. Nàng phải sống để đối phó với Hạnh. Đã nhiều lần, trước kia, nàng toan liều với chiếc dây lưng hoặc với chén thuốc độc. Nhưng nghĩ kỹ, nàng chỉ thiệt thân, và làm thiệt chồng, thiệt con. Vả như vậy, nàng chỉ một mình đem mối hận xuống suối vàng, và để lại trên dương thế một mối dư luận phân vân. Người quen kẻ thuộc không hiểu nguyên nhân sự quyên sinh của nàng, sẽ bàn tán, làm tủi vong linh nàng, và làm khổ nhục cho chồng nàng. Thà nàng thỏa được chí thì có chết cũng cam lòng.

Nàng quả quyết sống.

Ý đã định sẵn, nên đi buổi chợ hôm ấy, nàng không cốt bán hàng. Nàng nhờ người trông hộ, để đi đòi nợ và trả nợ. Nhiều người thấy nàng có vẻ hấp tấp, cũng lấy làm ngạc nhiên, song vì nàng vẫn cười nói vui vẻ như thường, nên không chú ý.

Rồi thấy nàng xếp hàng sớm để về, người ta hỏi, thì nàng cười ranh mãnh, đáp:

- Nhớ thầy cháu thì về sớm.

Đến nỗi người ta bật cười:

- Khỉ, làm như vợ chồng mới không bằng!

Nhưng người ta có nhận thấy đâu những nét buồn nó hiện lờ mờ trên mặt quả quyết của nàng.

Nàng gánh hàng lên vai, chào mọi người, rồi đi.

Nàng cũng về phía đường mọi khi, nhưng đến ngã ba cách chợ xa thì rẽ.

Nàng về làng Phương Canh, nhà một người chị họ, nói dối là giận nhau với chồng, nhờ ngủ một đêm.

Người chị ái ngại, khuyên can nàng nên về nhà trông nom con, thì nàng nói hôm sau còn muốn ra Hà Nội.

Sáng hôm sau, nàng ra Hà Nội, cũng vào ở một nhà quen, bán hàng tấm. Nàng để lại cho bạn cả gánh hàng với một giả rất rẻ. Vì người này vốn ích kỷ và tham lợi, nên cũng chẳng hỏi xem vì lẽ gì nàng lại hành động lạ lùng làm vậy.

Nàng đã qua những đêm nẫu ruột.

Nàng đã khóc thầm vì thương nhớ chồng con. Nàng tưởng tượng đến buổi chiều hôm đầu tiên bỏ nhà ra đi, Chính ngơ ngác tìm nàng, và con nàng mếu máo nhớ nàng. Những tiếng thở dài thất vọng, những tiếng gào thét thất thanh, tuy nàng không được nghe, nhưng mỗi lúc thanh vắng, nàng như văng vẳng rõ được cả.

Chính đêm nay, nàng thấy quạnh hiu nhất. Nàng đã trút được gánh hàng, tuy nhẹ mình, song những tư tưởng buồn phiền nó làm óc nàng nặng trĩu. Nhiều lúc nàng gần hóa ra nhu nhược, muốn quay gót trở về.

Chính là người đại lượng. Chàng đã biết khi nàng thuộc về chàng thì tấm thân nàng đã dơ bẩn, vậy mà chàng vẫn thương yêu. Vì sự dơ bẩn ấy, nàng không phải là thủ phạm. Chàng còn kín đáo đến nỗi không hề than thở với ai, khiến cho trong gia đình vẫn giữ được sự hòa hợp. Thì ra chàng đã khóc thầm trong ngần ấy năm trời. Và trong ngần ấy năm chàng khóc thầm, để cho nàng được sung sướng. Chàng đã hy sinh quá. Và nàng đã vô tình mà ích kỷ. Nay tự nhiên câu chuyện vỡ lở, có lẽ nào nàng giữ được thản nhiên cho đến tuổi già. Nàng không thể tha thứ người từ trước đã làm chàng khóc thầm giận vợ, và từ nay đã làm nàng khóc thầm giận chồng.

Nàng không hiểu vì lẽ gì Chính có thể để yên Hạnh, và chỉ bực mình tí chút khi nghe thấy nàng hỏi săn đón về Hạnh. Chắc chỉ vì nàng, vì danh tiết nàng. Vậy ra chồng nàng đã quý nàng quá, đến nỗi đại lượng cả với kẻ thù.

Thế thì nàng không thể phụ bụng chàng. Nàng cũng phải hy sinh. Nàng đi phen này để chuốc lấy khổ, nhưng dù khổ nàng cũng cam lòng, và dù việc làm của nàng không đạt tới mục đích, nàng cũng lấy làm hả dạ, vì đã hy sinh để trả nghĩa vợ chồng. Có rằng chàng hy sinh thì riêng chàng buồn bã, và tìm được sự vui thú trong tình nghĩa vợ chồng mà thỉnh thoảng vụt quên được sự buồn bã đi. Nàng hy sinh lần này, không những riêng mình khổ, mà chồng nàng, con nàng lại bị thêm một vết thương không thể hàn gắn. Ai ngờ đâu duyên của nàng có đến đây là đứt. Phải, nàng mong gì có ngày gặp chồng con. Một người đàn bà bước chân ra khỏi nhà chồng một cách đột ngột, đã là một lỗi. Dù chồng con có hiểu chăng nữa, dư luận cũng không tha thứ. Huống hồ nàng đi phen này để làm một việc quá sức mình.

Những tư tưởng ấy làm cho gan ruột nàng đã nẫu càng thêm nẫu. Và nàng lại lo lắng, sợ sệt nữa. Nàng đã phải sống lẩn lút mấy hôm nay, vì sợ gặp chồng. Ban ngày, nàng không dám đi đâu, mà động đặt mình xuống, nếu không nghĩ ngợi để khóc, thì bên tai lại văng vẳng nghe tiếng chồng con than vãn, hoặc có thiếp ngủ được, cũng lại mộng mị đến những cảnh thương tâm hoặc rùng rợn.

Ở Hà Nội hai hôm, sau khi đã sửa soạn xong các đồ dùng ăn đường và hỏi thăm đích xác lối đi, nàng theo thuyền bán bát của một người làng Trà Cổ, ngược lên Tuyên Quang.



XVIII



Từ ngày lừa Thúy, Hạnh rất sợ sự gặp mặt Chính. Bởi vậy, chàng vội vàng thôi học, và xa lánh Chính ngay. Chàng lên Tuyên Quang, vì ngày trước cha chàng đã làm việc trên ấy, và hiện nay bác ruột chàng cũng ngồi dạy học ở đó. Chàng nói với cha mẹ là theo học bác, để đến khoa thi sắp tới, bác có học trò đi thi, may mà chàng đỗ, thì làm danh giá cho bác. Tuyên Quang vốn không phải nơi xa lạ, nên cha mẹ chàng bằng lòng ngay. Vả bác chàng không có con trai, vẫn xin cha mẹ chàng cho chàng làm con nuôi, để sau này trăm tuổi có người hương khói phụng thờ, nên sự chàng xin lên ở Tuyên Quang không có gì là trái ngược. Bởi vậy, chàng được cha mẹ theo ngay ý muốn.

Hạnh ở Tuyên Quang được vài tháng thì ốm. Chàng bị ngã nước. Vì vậy, chàng thôi học. Bác chàng muốn chàng về quê, nhưng chàng nhất định không nghe. Bác chàng tưởng chàng trung hậu với mình, nên cảm động lắm, và càng yêu quý chàng.

Hạnh ốm nửa năm, gầy gò và xanh xao như tầu lá. Khi khỏi, và đã bình phục, bác chàng mới định dạm vợ cho chàng, đám nào chàng cũng từ chối.

Nguyên là được bác chiều chuộng, chàng muốn gì được nấy, vả lại bác có của, nên chàng đã bị chúng bạn rủ rê, đâm ra chơi bời, mang tai mang tiếng. Cả tỉnh, ai cũng biết hạnh kiểm chàng. Chàng chỉ giấu một mình bác, nên bác chàng vẫn tưởng chàng hiền lành, ngoan ngoãn như ngày còn ít tuổi. Và bởi biết tỉnh Tuyên chật hẹp, không nhà nào có con gái là không rõ chàng, thì chắc không ai gả con cho chàng, nên thà từ chối bác trước, để làm cao, còn hơn bị người ta từ chối, mất tín nhiệm với bác.

Ở Tuyên Quang được ba năm, bác chàng tạ thế. Chàng làm chủ cái gia tài tuy không lớn, nhưng có một nếp nhà gạch ở phố Tam Cờ, và vốn liếng kha khá.

Từ đó, chàng tha hồ tự do ăn chơi, không ai kiềm thúc. Sự trác táng lại làm chàng ốm một trận tưởng chết. Chàng đã gầy lại thêm gầy, đã xanh lại thêm xanh. Chưa đầy ba mươi tuổi đầu, mà má đã hóp, mắt đã trũng, cử động chân tay một lát đã thở như ông cụ.

Chàng về thăm quê một vài lần, nhưng không ở lâu. Cha mẹ chàng thương con, cố giữ ở nhà, định không cho lên chỗ nước độc nữa, nhưng chàng không nghe. Chàng vẫn tránh Chính, song không dám nói ra. Chàng viện những lẽ rất chính đáng về luân lý, về bổn phận đối với bác, nên cha mẹ chàng phải dẹp nỗi niềm riêng, không dám giữ chàng. Cái lần cuối cùng về quê, chàng đã làm cha mẹ họ hàng rất thương hại, vì chàng hốc hác, gày gò quá. Nhưng chàng nói dối là vì quá thương bác, nên lại được mọi người ngợi khen. Có ai khuyên chàng nên dọn về quê ở, thì càng hoan nghênh ngay ý kiến hay, nhưng hẹn chờ xong ba năm vun việc, lo xong cất mộ, đem bác được về làng, bấy giờ mới tính đến sự lìa cái tỉnh mà chàng không dây mơ rễ má gì. Ai cũng cho là chàng phải, nên không ai giữ chàng.

Một tối, có người đến nhà chàng, và hỏi một cách ngạc nhiên:

- Kìa, tôi tưởng cậu có người ở dưới quê lên chơi?

Hạnh cũng ngạc nhiên:

- Không, ai bảo anh thế?

- Tại tôi thấy có người hỏi thăm nhà cậu, nói là người ở dưới quê mới lên.

Hạnh cau mặt, lẩm bẩm:

- Quái nhỉ! Rồi chàng hỏi bạn:

- Hay là hỏi Hạnh nào?

- Ở tỉnh này còn mấy Hạnh nữa.

- Nhưng sao biết là người dưới quê?

- Thì người ta bảo thế. Tôi trỏ nhà, tưởng người ấy đến đây rồi.

Nói đoạn, người bạn mỉm cười, cái mỉm cười ranh mãnh:

- Hay là cậu giấu giếm người ấy ở trong nhà, có gì thì khai thực ra.

Hạnh trố mắt nhìn:

- Không, ai nói dối làm gì.

Người bạn lại cười mỉa:

- Nói dối để lấy lợi một mình.

- Lợi gì?

- Vì người ấy chỉ là người quen với cậu. Người quen gì mà lại là đàn bà, đàn bà đẹp, ở tận dưới quê lên đây tìm nhau.

Hạnh sửng sốt:

- Thật à?

- Ai thế?

Hạnh nghĩ ngợi:

- Lạ thực. Tôi không biết.

- Không biết, sao người ta hỏi thăm. Thật là “yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, thất bát giang cũng lội, tam thập lục đèo cũng trèo qua" mà! Cậu là người sung sướng nhất trần đời. Hẳn ngày nọ về quê, đã có người đèo bòng với cậu.

Hạnh càng nghĩ ngợi:

- Quả không. Mặt mũi người ấy ra sao?

Trạc tuổi cậu. Đi có một mình. Lại là đàn bà, hay con gái, tôi không rõ, nhưng biết đích là đi có một mình, vai khoác tay nải. Người ấy xinh lắm...

Hạnh cười, lắc đầu, bán tín bán nghi:

- Thế thì tôi chịu, không sao đoán là ai được. Nhưng có một điều tôi nghĩ ra, và chắc chắn là đúng, là anh nói dối tôi.

- Tôi không nói dối, tôi có thể thề với cậu được.

- Lạ thật!

- Một người ở tỉnh khác đến đây, ai cũng phải biết ngay. Vì vậy, cô này đi ngoài đường, không ai không để mắt đến. Tỉnh Tuyên đâu có người xinh xắn như thế.

- Anh làm tôi khó chịu hết sức. Hay một người nào nhận vờ là ở dưới quê tôi.

- Không, đúng người dưới quê, nghe tiếng nói đủ biết.

- Thế thì tức nhỉ. Tôi lại tìm cho ra bây giờ.

- Tìm thì biết người ta ở đâu?

- Nếu phải người vùng quê tôi, cố nhiên ở tỉnh này không quen ai cả. Vậy tất phải ở trọ các hàng cơm. Vào những chỗ ấy hỏi thăm, thế nào không ra.

Người bạn gật đầu:

- Phải đấy, hay là cậu với tôi đi tìm.

- Nhưng tối quá, tôi ngại.

- Các hiệu còn mở cửa cả. Ngoài đường còn nhiều người qua lại, đã khuya đâu.

Hạnh ngần ngừ. Người bạn lại chỗ mắc áo, lấy cho Hạnh chiếc khăn và cái áo thâm:

- Thôi, đi đi, chịu khó một tí.

Nhưng Hạnh vẫn ngờ vực:

- Anh chỉ lừa tôi thôi, anh định rủ tôi đi đâu đây chứ gì. Thôi được, tôi chiều anh cũng không hại gì.

Hai người ra phố. Đến hàng cơm nào, Hạnh cũng vào tận nơi hỏi thăm, và xông xáo soi đèn khắp các phản, các buồng, nhưng không thấy ai quen cả.

Người bạn cau mặt:

- Thế này thì lạ quá, chả lẽ người ấy biến đi đâu. Có họa là ma!

Hạnh cũng bực mình:

- Thôi, từ nay anh đừng nói dối tôi điều gì nữa. Tôi đương mệt, thà để tôi ở nhà, được một giấc ngon lành.

Nói đoạn, Hạnh về nhà, lòng chán chường.



XIX



Sáng hôm sau, bà Ba bên láng giềng sang hỏi Hạnh:

- Cậu có bà con gì với một người đàn bà tên là Thúy hay không?

Hạnh lăm đăm nghĩ ngợi, rồi sực nhớ ra, chàng sáng quắc đôi mắt, đáp:

- Có, bà hỏi tôi để làm gì?

Bà Ba mỉm cười:

- Tại tôi thấy cô ta hỏi thăm cậu.

Hạnh cảm động, cắn môi dưới, ra ý nghĩ ngợi:

- Vâng, hôm qua cũng có người bảo cho tôi biết tin này.

- Vậy ra cô ấy vẫn chưa gặp cậu?

- Chưa.

Và Hạnh có vẻ lúng túng. Vì chàng ân hận tối hôm qua đã không tất lực tìm cho được Thúy. Chàng hỏi:

- Tôi không hiểu cô ta hiện nay ở đâu.

- Cứ như cô ấy nói chuyện, thì tối qua còn ở dưới thuyền, cô ấy chả ngược bằng thuyền mà.

Hạnh vỗ tay xuống bàn:

- Ừ nhỉ, còn những chỗ ấy tôi chưa nghĩ ra.

Bà Ba không hiểu, nên nói tiếp:

- Nhưng hôm nay cô ấy không ở thuyền nữa. Mà quái, hỏi thăm nhà cậu, tôi đã trỏ sang bên này, sao cô ấy không vào?

Hạnh cũng đương nghĩ ngợi về điều đó. Cả cái hình ảnh Thúy khi còn là con gái xâm chiếm lấy óc chàng. Chàng thốt nên một tiếng thở dài. Chàng không rõ Thúy tìm chàng làm gì. Và không rõ vì cớ gì nàng lại tìm chàng. Người ấy lấy chồng đã mấy năm nay, được yên vui với cảnh gia đình nhỏ, với chồng hiền lành, với con ngoan ngoãn. Nay bỗng lặn lội lên tận Tuyên Quang, là nơi đường xa dặm thẳm, sơn lâm chướng khí, làm gì? Hay nàng đã gặp một sự thất ý gì làm nàng đau đớn, chán cảnh chồng con, đến nỗi thèm muốn người nàng đã từ hôn? Chàng nghĩ đến cái đêm tân hôn của Thúy, chàng đã thầm vụng đóng vai chồng nàng. Hay nàng biết rõ người đã ân ái với nàng đêm tân hôn là chàng, nên nay nàng tìm đến, trong lúc tâm hồn bị trống trải chăng? Nhưng sao nàng đã tìm đến nhà chàng, lại không vào?

Chàng đặt mồi thuốc lào, hút một hơi thực dài, để giúp sức nghĩ ngợi. Bỗng bà Ba đứng dậy, nói:

- Thôi, cậu ngồi chơi nhé, tôi đi về đây. Cậu đã bâng khuâng rồi.

Hạnh cười gượng:

- Mời bà hãy ngồi chơi, cho tôi hỏi một vài điều.

- Thì hỏi đi.

- Hiện nay cô ta ở đâu, bà có biết không?

- Không.

- Cô ta nói chuyện lên Tuyên này làm gì?

- Tôi không hỏi, nhưng cô ấy nói định lên đây làm ăn.

Làm ăn ở Tuyên Quang! Hạnh chắc Thứy nói dối. Nàng từ thuở bé đi các chợ ở nhà quê, có nhiều khách quen, buôn may bán đắt. Thì bỗng dưng, sao bỏ nơi chôn rau cắt rốn mà lên đây. Lên đây để làm ăn, Hạnh càng không hiểu.

Chàng quả quyết phải gặp Thúy. Lạ hơn nữa, sao hỏi thăm đến nhà chàng, nàng lại không vào? Hay nàng ngượng vì chàng ở có một mình? Hay hỏi dò, nàng biết chàng chơi bời lêu lổng, nên không muốn giáp mặt? Nhưng thể nào chàng cũng phải tìm nàng. Gặp nàng, chàng sẽ được vui vầy trong những ngày hiện tại, tâm hồn đương quạnh hiu. Tâm hồn nàng hẳn cũng quạnh hiu chẳng kém. Thì đóa hoa vắng chủ sẽ trong tay chàng, tha hồ chàng hưởng. Một trai chưa vợ, một gái xa chồng, nếu không nghĩ đến nhau, bỗng không tìm đến nhau làm gì!

Nàng trọ ở thuyền. Sự gặp gỡ không tốn công phu. Nhưng chàng không thể chậm trễ mà không đi hỏi thăm ngay được. Thuyền trên sông, nay đây mai đó, chàng có thể theo thuyền xuôi về, hoặc nhổ sào chở đến bến khác.

Chàng đã rắp tâm định tán tỉnh cho nàng ở đây, đi chợ Tam Cờ. Chàng phải nói tỉnh này dễ làm ăn buôn bán. Và nếu nàng chưa quen khách, chàng sẽ giúp trong những buổi đầu. Nghĩa là chàng phải hết sức khéo léo để lưu nàng ở Tuyên Quang lâu. Trước mặt người lạ, chàng phải nhận với nàng là họ hàng, là anh em chẳng hạn. Chàng chỉ cốt cho nàng ở với chàng mà không ngượng với người ngoài.

Rồi một khi may ra, nàng buôn bán lãi lờ, ắt nàng không rời tỉnh Tuyên Quang này nữa. Và dù nàng lên đây chỉ là định dọn đường để đem chồng con lên sau, thì chàng cũng được thoả mãn với con người ngọc. Nhưng nếu nàng không có ý ấy, thì biết đâu đóa hoa ấy lại không vĩnh viễn về tay chàng.



XX



Hôm nay, Hạnh gặp Thúy.

Nàng ở thuyền thực, đương ăn cơm với bọn lái đò.

Thấy nàng luống cuống, ra ý thẹn thò, Hạnh cảm động, nhìn xuống mâm cơm. Đồ ăn, chỉ có rau luộc và tép rang. Chàng lại thấy Thúy gầy và già đi, nên chàng vụt nghĩ ngay đến tối tân hôn, chàng đã lừa Chính, và vào với một người đẹp mà chàng ước muốn. Chàng lấy làm hãnh diện khi nghĩ đến Thúy không lấy được mình đến nỗi phải khổ sở.

Thúy và vội và vàng cho hết bát, rồi đứng dậy.

Hạnh mạnh bạo hỏi:

- Bác lên đây từ bao giờ, sao không hỏi thăm đến nhà vợ chồng tôi?

Chàng cho câu nói là kín đáo và đứng đắn. Nó kín đáo vì đã gọi Thúy bằng bác. Nó đứng đắn, vì chàng đã thêm được tiếng vợ. Làm như chàng đã có vợ, chỉ là trách người chị mà thôi. Bọn lái đò, ắt hẳn không phải là họ hàng với Thúy, sẽ không ngờ vực gì. Và dù có là họ hàng với Thúy, họ sẽ tưởng chàng là họ hàng nhà chồng nàng. Mà nếu là họ hàng với chồng nàng, họ vẫn có thể tưởng chàng là họ hàng với nàng.

Thúy hiểu ngay, đáp:

- Thưa chú, tôi...

Thấy Thúy ấp úng, chàng vội vàng đỡ:

- Vậy tôi về bảo nhà tôi đến đây mời bác về đằng nhà.

Chàng sung sướng, vì thấy Thúy cũng gọi mình là chú, nghĩa là cùng một lòng gian giảo để che mắt người khác. Thúy đáp:

- Tôi cũng muốn hỏi thăm lại đằng chú thím, nhưng sợ không ai biết.

Một người chân sào già hỏi Thúy:

- Là cái ông mà bà vẫn nói chuyện đấy à?

Thúy gật:

- Phải.

Hạnh càng vui vẻ:

- Bác chưa hỏi đến người biết, thì sợ không đến được nhà tôi, chứ tôi ở tỉnh này, ai còn lạ.

Thúy, đôi mắt nhìn xuống, không đáp. Hạnh nói:

- Hay là tiện đây, mời bác về đằng nhà. Chị em, chứ nào phải người xa lạ. À, thưa bác, bác giai và các cháu vẫn bình yên?

Thúy động tâm, nhưng cố giữ vẻ tự nhiên, lấy xã giao để đáp:

- Cảm ơn chú.

- Nào, mời bác sắm sửa đi.

- Vâng, kể lại đằng chú thím thật tiện, chả hơn trọ dưới thuyền này. Vả đến nơi xa lạ, có họ hàng vẫn là hơn.

Người chân sào già vừa xỉa răng, vừa nói:

- Nhất là bà định đến đây buôn bán?

Rồi hắn chép miệng:

- Tôi như bà, hơi đâu lên đây cho xa xôi.

Thúy ngậm ngùi, đáp:

- Nhưng ở nhà quanh năm chẳng đủ ăn, ông ạ.

Nói đoạn, nàng đưa chàng chén nước vối, mỉm cười, mời:

- Chú xơi tạm với tôi chén nước. Ở đây nhà chả phải, cửa thì không, đồ dùng thiếu thốn cả.

Hạnh giơ tay đỡ chiếc chén, lòng thổn thức. Nhưng người chân sào già pha trò:

- Phải, nhà chả phải, cửa thì không, vì nó là chiếc thuyền.

Mọi người ồ lên cười, khiến Hạnh lại giữ được vẻ tự nhiên:

- Nhà tôi mà được gặp bác, thì vui thích lắm đấy. Dễ đến bảy tám năm chưa gặp đấy nhỉ. Nào, bác mang theo những gì?

Thấy Hạnh giục, Thúy quay mặt vào trong để sửa soạn tay nải. Kỳ thực, nàng giấu mặt căm hờn, có đôi mắt rưng rưng những lệ. Nàng nghĩ đến gia đình tan nát vì quân khuyển lang hiện đang đứng trước mặt nàng đây, mà nàng phải cố làm ra dịu dàng.

Hạnh nhìn Thúy lúi húi, lại giục:

- Bác còn hành lý nhiều nữa không?

- Thưa không.

Sợ Thúy ngượng, Hạnh chữa:

- Phải, đi xa, đem hành lý nhiều lềnh kềnh, chỉ tổ phải mang xách nặng.

Thúy không đáp, thắt lại miệng tay nải, rồi đứng dậy, xỉa tiền cơm trả người chân sào già:

- Tôi quấy quả ông mấy hôm, không dám gọi là giả tiền, ông nhận cho thế này, để mua quà cho cháu.

Người chân sào mỉm cười:

- Tôi chẳng qua là giúp bà, không nhận, bà cho là vô lý, mà nhận, sợ là tham. Nhưng, thôi được, bà đã cho, tôi xin tạ ơn bà.

- Không dám.

Hạnh rất nóng ruột với những sự trùng trình. Chàng vội vàng nói:

- Ông lái thật tử tế với bác cháu. Rồi rỗi, ông lên chơi tôi. Thôi, mời bác đi.

Thúy xách hành lý, chào mọi người theo Hạnh lên bờ.

Nỗi căm hờn lại làm nàng nóng rực người. Nhưng nàng nén tâm ngay, khen Hạnh:

- Bác khéo quá.

Hạnh cười, quay lại, nói đùa:

- Bây giờ mới biết à?

Song, Thúy đứng dừng lại, hỏi:

- Đi thế này, biết có tiện không? Hay thôi.

Hạnh vội vàng đáp bằng giọng nằn nì:

- Sao lại không tiện. Ở đây, ai biết cô là ai!

Thúy lườm:

- Đã hạ xuống là cô rồi.

- Ấy, gọi thế cho tiện. Vả quen mồm gọi là cô Thúy từ thuở bé mất rồi.

Thúy làm bộ thẹn thò:

- Nhà bác có những ai?

- Chả có ai cả.

- Thế bác gái với các cháu đâu?

- Nào đã có ai là bác gái. Tôi chán đời, chả muốn lấy ai.

Chàng chắc Thúy cảm động về câu tâm tình ấy lắm, nên tiếp:

- Nếu không chán đời, tôi lánh lên đây làm gì!

Thúy thở dài.

Nhưng Hạnh hiểu cái nghĩa tiếng thở dài ấy theo ý mình, nên sung sướng:

- Cô đã đến đây, nếu định buôn bán, thì nên bỏ cả sự nghĩ ngợi đi. Nghĩ ngợi về chồng con, hay nghĩ ngợi về chuyện cũ cũng vậy.

Thúy không đáp, Hạnh tiếp:

- Đất này là đất làm ăn dễ dàng. Vả lại, có tôi quen thuộc nhiều giúp đỡ cho, cô đừng ngại

Thúy khẽ nói:

- Vâng, cảm ơn bác.

Hạnh mỉm cười, nhìn Thúy bằng đôi mắt đắm đuối. Chàng tưởng tượng đến những sự khoái lạc chàng sẽ được hưởng với người ngọc. Trong óc chàng, phần phật diễn ra những cảnh ngày xưa, những ngày chàng còn tập văn cụ Cử Nho Quan, thỉnh thoảng ra chợ sắm giấy bút, qua hàng Thúy. Chàng nhớ đến những câu đùa bỡn của các bạn, rồi đến tối tân hôn của nàng mà chàng liều giả làm Chính... Rồi đến ngày nay, nàng hiện lại ở trong tay chàng.

Chàng cho số nàng là vợ chàng, nhưng ông Tơ đã chót xe lầm với Chính. Chàng cảm ơn trời có mắt, nay đem trả nàng cho chàng.



XXI



Tôi chỉ sợ ở đây không tiện. Bác chưa có vợ, tôi lại là đàn bà đi có một mình.

Hạnh cười:

- Có gì là không tiện!

- Là tôi nói không tiện cho bác. Bác ở đây hàng năm hàng đời, còn mong có vợ con, sinh cơ lập nghiệp ở đất này, nên cần phải giữ tiếng tăm. Tôi chẳng qua chỉ là tạm bợ, làm ăn khá thì ở lâu, chả khá lại kiếm nơi khác. Vậy mà bác chứa tôi ở nhà, ai hiểu đâu bụng tốt của bác, ai hay đâu bác với tôi tiếng chưa quen nhưng cũng là biết nhau từ lâu. Người ta lại dị nghị, đặt ra điều nọ tiếng kia, rồi bác có phải một mình suốt đời, tôi lại ân hận.

Thấy Thúy nói có lý, và ra vẻ đứng đắn, Hạnh ngượng nghịu:

- Cô thật chí lý. Nhưng mà...

- Trước kia, tôi tưởng đằng này bác còn có kẻ nọ người kia, chả hóa ra bác ở có một mình.

Hạnh mỉm cười:

- Chả một mình còn mấy mình. Tôi không định lấy vợ. Nếu tôi định lấy vợ, thì nay có lẽ tôi cũng có con bồng con mang, và chắc chắn tôi không gặp cô ngày hôm nay.

Thúy làm ra cảm động, thở dài thật não nuột:

- Tôi xin bác chớ nói đến những sự ấy. Bác buồn đã đành, tôi có vui đâu!

Hạnh sung sướng:

- Tôi cũng đoán ra thế. Mỗi lần về quê, tôi đều hỏi thăm cô, thấy cô làm ăn khá giá, tôi có bụng mừng.

- Vậy thì bác đã mừng ai ấy, chứ nếu tôi khá, tôi đã chả phải như thế này.

Nói đoạn, Thúy thở dài. Hạnh ngậm ngùi:

- Nếu từ trước đến giờ cô làm ăn chưa khá, thì từ nay trở đi cô làm ăn khá, vì vận đến.

- Cảm ơn bác.

Hạnh thở dài:

- Tôi cho người ta thế nào là do có số định sẵn cả.

Thấy Hạnh kháy chuyện cũ, Thúy vờ gạt đi, nói lảng:

- Tỉnh này có dễ thuê nhà không nhỉ? Tôi nhờ bác tìm hộ tôi một chỗ gần chợ cho tiện.

- Vâng, nhưng dù dễ hay khó, sự thuê nhà cũng không phải nội nhật ngày hôm nay làm xong. Nhưng tôi tưởng cô cứ ở tạm đây, xem sự buôn bán có kết quả hay không, lúc ấy thuê nhà cũng chưa muộn.

Thúy nghĩ ngợi một lát, rồi đáp:

- Tôi đến nơi xa lạ, đành trông nhờ ở bác.

Hạnh gật đầu:

- Cái đó cố nhiên, và tôi xin hết lòng. À, từ nãy quên, tôi không hỏi việc nhà.

- Việc nhà ai?

- Nhà cô.

Thúy nhăn mặt:

- Việc nhà tôi thì buồn lắm. Tôi không muốn nói, chỉ gợi thêm mối đau lòng. Chẳng thà bác chỉ nên biết tôi từ hôm nay về sau.

Hạnh gật gù:

- Và cố nhiên là từ ngày cô còn con gái đến hôm vui chữ vu quy.

Thúy đay:

- Vui!

- Nghe bấy nhiêu lời, dù cô chả nói, tôi cũng hiểu cảnh cô. Thôi thì ta an ủi lẫn nhau là hơn.

Thúy bưng mặt khóc. Hạnh cảm động, xích lại gần, lay vai, gọi:

- Cô Thúy!

Thúy ngoan ngoãn, ngẩng đầu lên, nhìn Hạnh bằng đôi mắt đỏ hoe:

- Dạ.

Tiếng dạ dịu dàng, đầy tình tứ, Hạnh rạo rực, toan ôm ngay người ngọc. Nhưng sợ Thúy cự tuyệt, nên tự ngăn được cái cử chỉ sỗ sàng. Bởi vì chàng nghĩ nàng đã đến đây, đã ở đây, thì chóng hay chầy, nàng cũng thuộc về chàng, vì nàng đã ở trong tay chàng. Chàng có thể bước dài, nhưng sợ vấp. Hiện nay, có lẽ nàng còn hoang mang vì nhớ chồng nhớ con, hoặc tủi về thân phận, nhưng chỉ mai, ngày kia, là nàng khuây, nàng sẽ lại vui vẻ như cũ, lúc ấy mới là lúc thuận tiện cho sự yêu đương. Chứ bắt người ta còn đương vơ vẩn, là một cách xử sự rất vụng.

Cho nên tối hôm ấy, Hạnh nhường Thúy nằm ở giường mình, và chàng đi chơi đến tận khuya, khi về thì ngủ ở nhà ngoài.

Thúy đêm ấy có chợp mắt đâu. Nàng đã nhìn rõ Hạnh với bao sự giả hình của con người khốn nạn ấy. Nàng đã tốn rất nhiều nước mắt, khi nghĩ đến một đêm, có lẽ là đêm mai, Hạnh nằm cạnh nàng và kể tâm sự cùng nàng. Nàng sẽ bắt buộc phải nghe, và sẽ khéo léo mà làm chàng mê mệt. Tấm thân đã nhơ nhuốc một lần, dù có nhơ nhuốc đến lần nữa để đạt được ý định, nàng không kỳ quản. Cốt tâm hồn trong sạch mà thôi.

Nàng còn nhớ đến chồng và con. Chồng nàng có lẽ từ nọ đến nay đã thất vọng, vì tưởng nàng đã ra người thiên cổ. Và chàng sẽ ân hận vì vô cớ xô xát về sự ghen tuông không đáng ấy. Biết đâu việc nàng bỏ nhà đi lại không làm chàng ốm, ốm vì phải nghĩ, phải đau lòng. Mà dù chẳng ốm, thì cũng mất ăn mất ngủ, thân hình gầy xọp. Giá chàng biết nàng đi, mục đích chỉ vì danh tiết của một người đàn bà, nàng đi là vì chàng, ắt chàng sung sướng lắm. Nhưng nàng không dám nói trước sự sung sướng này. Chàng sẽ can ngăn và nàng còn phải đau đớn suốt đời, mỗi khi sực nhớ đến tối tân hôn lừa dối. Chàng chả vẫn sẵn lòng quên việc ấy, và lấy lòng đại lượng ăn ở với nàng, với kẻ thù là gì. Nàng bỏ nhà ra đi, không nói gì với chàng, nàng cho là một tội. Nhưng tội ấy sẽ được tha thứ, khi chàng được biết kết quả của công việc nàng làm vì chàng. Nếu chàng đã giận nàng, chàng sẽ thương nàng bội phần. Nếu chàng đã ghét nàng, chàng sẽ yêu nàng bội phần. Nhưng nàng thở dài, rưng rưng nước mắt. Sự thương yêu ấy quá muộn mằn, chàng chỉ thương yêu một cái bóng, một vết đã qua...



XXII



Thúy đã cho Hạnh bộc bạch nỗi lòng để lấn bước sang tình trường. Nàng thấy con người ấy si ngốc một cách rất đáng thương hại. Vì vậy, nàng càng làm chàng phải thèm muốn.

Thấy Thúy giữ gìn một cách vô lý, đã một lần Hạnh dỗ dành:

- Cô đã ở với tôi mấy ngày, dù ai muốn cãi cho cô là trinh tiết với chồng cũng không được.

- Đành vậy, nhưng người ta sống, nếu không có trời phật, nếu không có lương tâm chứng giám cho thì...

Hạnh cướp lời:

- Cô nói làm gì trời phật với lương tâm. Những cái ấy là người đời bịa ra để dậm dọa kẻ yếu linh hồn. Nhưng với người đã yêu, thì chỉ có chữ tình mới là sức mạnh. Chữ tình là trời phật, là lương tâm của kẻ biết yêu.

- Nhưng bác nói đến chữ yêu sớm quá.

Hạnh lắc đầu:

- Không sớm chút nào. Trái lại, nó quá muộn. Thế cô không biết tôi nặng lòng với cô từ năm tôi còn đi học cụ Cử Nho Quan hay sao?

Thúy thở dài:

- Nào ai biết được!

- Không nặng lòng sao tôi hỏi cô làm vợ.

Thúy liếc Hạnh và nhếch mép tủm tỉm cười. Hạnh tiếp:

- Mà, tôi nói thật câu này nhé.

Thúy làm ra thân mật:

- Gì?

- Nhưng đừng giận kia!

- Không.

- Này, Thúy ạ... thôi, chả nói nữa.

Thúy hiểu ngay Hạnh sắp nói gì. Hẳn chàng kể lại việc xảy ra trong tối tân hôn. Nên nàng nằn nì:

- Gì mà kín đáo thế?

Rồi nàng làm mặt giận dữ:

- Tôi chúa ghét ai cứ nửa úp nửa mở. Đã không nói thì thôi, chứ thế này thì tức tức là!

Nói đoạn, nàng vùng vằng đứng dậy. Hạnh vội vàng kéo tay nàng ngồi xuống. Làn da mát rượi làm chàng ngây ngất. Nàng rút tay ra, nũng nịu:

- Thế thì nói đi.

- Nhưng tôi cứ sợ Thúy giận.

- Không nói tôi mới giận.

- Tôi nói nhé. Thúy giữ gìn với tôi không có ích gì đâu mà.

- Tôi vẫn biết không có ích, nhưng gái chính chuyên thì một đời chồng, bác ạ.

Hạnh cười tít mắt:

- Thế thì cô không phải là gái chính chuyên, vì trước khi cô biết Chính, cô đã biết một người khác.

Thúy ửng hồng hai má:

- Bác nói điêu, không sợ ông ù à!

Rồi nàng cười sằng sặc. Hạnh cũng cười theo:

- Tôi không sợ, vì chính tôi biết.

Thúy nói đùa để cố gợi cho Hạnh thú thật:

- Dễ tôi đã ăn ở với bác chắc!

Hạnh cười bò ra:

- Chính thế. Mà tôi không nói bịa đâu. Cho nên tôi bảo cô giữ gìn với tôi không có ích. Tôi biết cô trước Chính kia.

Thúy bĩu môi, Hạnh nghiêm nét mặt:

- Thực đấy. Thế tôi nói rõ nhé.

- Ừ.

- Cô có nhớ tối hôm cưới, ai vào với cô khoảng canh tư không?

- Nhà tôi chứ ai? Rõ khéo!

- Lại không phải nhà cô mới khéo chứ!

- Thế dễ bác?

- Đúng!

Thúy vờ sửng sốt:

- Bác thật khéo điêu!

- Không điêu chút nào. Đây này, nghe nhé. Tôi lừa cho Chính cầm bài, bị giam hãm vào đám tổ tôm, rỗi đánh liều vào với cô. Buồng cô có bày cái giường ở chỗ này, cái bàn ở đây, trên có ngọn đèn, ấm nước. Tôi vào, thổi đèn đi, rồi lên giường nằm. Cô tưởng tôi là chồng, cô quay mặt vào trong, tôi lay ba lượt nhưng vẫn vờ ngủ. Tôi mới ghé môi vào má và ôm thế này.

Thúy lánh xa, dơm dớm nước mắt:

- Thôi chết rồi!

Hạnh sung sướng, hất hàm, hỏi:

- Thế là thật hay tôi điêu?

- Thôi chết rồi, phải gió cái nhà bác này!

Rồi nàng nức nở khóc. Nàng thương cảnh ngộ nàng hiện tại. Nàng sở dĩ phải như thế này, là vì cái đêm tai hại ấy. Hạnh đã nói rõ quá, khiến cho nàng xúc động. Trái lại, Hạnh lại cho nước mắt của nàng có một ý nghĩa yêu đương, nên chàng nói:

- ... Phải, cô không ngờ tôi vì tình yêu mà liều như thế.

Thúy lau nước mắt, thở dài, ngồi thờ thẫn. Hạnh nói:

- Cho nên chúng ta có phải là không biết nhau đâu. Bởi thế, tôi mới dám nói là cô giữ gìn với tôi cũng vô ích.

Thấy Thúy bần thần, Hạnh hỏi:

- Cô giận tôi đấy à?

Thúy mỉm cười, lắc đầu:

- Không. Tôi cảm động, vì không ngờ.

- Không ngờ tôi đã yêu cô quá và được ân ái với cô, phải không?

Thúy không đáp, Hạnh tiếp:

- Cho nên bây giờ cô ở với tôi, có gì là lạ. Có lẽ thế mới là duyên số.

Thúy thở dài. Hạnh xích lại gần, nắm lấy tay Thúy. Thúy không cự tuyệt. Hạnh làm ra vẻ đứng đắn, lắc đầu, than thở:

- Mới đẻ có hai lần, mà cổ tay đã gầy thế này.

Thúy tình tứ nhìn Hạnh, rồi vờ thẹn thò:

- Tôi không ngờ bác ranh mãnh nhường này. Thế mà ngày xưa, ai cũng khen là đứng đắn.

- Ranh mãnh hay đứng đắn cũng phải tùy lúc chứ, những lúc này mà đứng đắn thì chỉ thiệt mà thôi.

Nói đoạn, chàng sấn lại gần, ôm lấy lưng Thúy. Thúy đứng dậy để tránh. Nhưng Hạnh như con hổ đói thấy mồi ngon, nên hết sức hăng hái, đến nỗi Thúy phải giãy giụa, và hẹn:

- Để đến mai. Hôm nay tôi khó ở.



XXIII



Hôm sau là một tối có trăng. Chị Hằng trong như chiếc mâm bạc từ từ tự ngọn núi nhô lên, tỏa một thứ ánh sáng mơ hồ.

Giữa sân nhà Hạnh, bắc chiếc bàn với hai chiếc ghế, trên bàn bày rượu và thức ăn.

Chính Thúy xuống bếp, tự tay nấu nướng. Bởi vì nàng đã hẹn ăn ở với chàng bắt đầu từ hôm nay. Và nàng đã yêu cầu chàng phải làm mâm cơm cúng. Và sau khi cáo gia tiên, thấy trăng đẹp, chàng muốn thưởng bữa rượu cùng người yêu dưới nét cười của Hằng Nga, chàng bèn chờ cho thật tối, mới ăn.

Thúy vui vẻ lạ, lúc nào nàng cũng tươi cười, khiến Hạnh sung sướng quá. Chàng ngồi xuống ghế, nói:

- Rượu ngon uống với người yêu dưới một cảnh đẹp, đời người dễ mấy lần được hưởng!

Thúy nhếch mép:

- Nhưng người yêu lại không biết uống rượu.

- Không, thế nào mình cũng phải uống với tôi cho đến lúc say.

- Em thì một hớp cũng đủ choáng váng.

- Thì một hớp vậy.

Nói đoạn, chàng rót rượu ra hai cốc. Thúy gắp đồ ăn cho chàng, và mời ăn. Hạnh tê mê, uống từng cốc một:

- Mình phải uống, uống cho thật say đi.

- Nhưng em say thì không thể dọn dẹp được nữa.

- Cần gì, mai đọn, say rồi đi ngủ. Thần tiên cũng chỉ thế mà thôi.

Thúy rót cho Hạnh đầy cốc:

- Uống đi, mình.

- Tôi vốn không uống được nhiều, nhưng rượu này cũng được mươi cốc mới say.

- Thế thì tốt lắm. Nam vô tửu như kỳ vô phong.

Nàng chọn những miếng ngon gắp vào bát cho chàng. Thấy sự chiều chuộng dịu dàng, Hạnh càng như được khuyến khích, chàng đã bừng bừng nóng mặt, nên nốc hết cốc rượu và nói:

- Cho tôi uống nhiều vào.

- Thúy lại rót. Và Hạnh cứ uống. Hết cốc này đến cốc khác, chẳng mấy chốc Hạnh đã thấy mắt mờ và lưỡi líu:

- Người ta nhiều lúc cần quên mình, quên sự thực ở đời. Muốn quên, phi rượu không có gì nữa. Cổ nhân lúc cao hứng thì uống rượu để làm thơ, nhưng tôi chữ nghĩa kém, nếu được như người ta, những lúc này, ít ra cũng được một bài. Cảnh tình này, đầy thi vị.

Thúy nhìn Hạnh, hơi có vẻ thương hại. Chàng lại giơ cốc ra cho nàng rót.

Nàng nói:

- Mình uống nhiều, say quá. Không nên.

- Cốt vậy, uống rượu mà không được say, thà đừng uống. Đàn bà biết đâu cái thú uống rượu mà nói vào. Tôi muốn say mềm.

Thúy hỏi:

- Người say rượu hay hung hăng, đánh đập vợ con. Tôi chúa sợ.

- Không phải tất cả những người say rượu đều có tính ấy. Người trầm tĩnh, càng say càng chín. Người nông nổi, càng say càng ầm ĩ. Ai thô bỉ, ai thanh cao, ai vui, ai buồn, tóm lại, ai tính tình thế nào, đến lúc say lộ ra cả nguyên hình, dù lúc thường giả dối che đậy kỹ càng. Tôi đây có như cái nhà anh Chính đâu, mượn chén để cà khịa với vợ.

Thúy giấu sự căm hờn, khẽ gật đầu:

- Cho nên tôi bị một lần, phải nhớ đến già, bây giờ đâm ra ngờ vực tất cả đàn ông say rượu. Bởi vậy, tôi không muốn cho mình uống nhiều.

Hạnh gật đầu:

- Đành vậy, nhưng nếu tôi uống luôn, mình hãy nên can ngăn, không cho tôi uống nhiều. Nhưng năm thì mười họa tôi mới uống, thì dù uống nhiều cũng vô hại. Và thỉnh thoảng mới uống, nên uống nhiều cho say. Đã là vợ chồng, mình khuyên tôi là phải, nhưng tôi lại nên giảng mình nghe như thế.

Nhưng bỗng Hạnh thấy đau nhoi nhói ở thái dương.

Chàng nhăn mặt:

- Quái, uống rượu, nhức đầu được à!

Thúy tái mặt, phải vờ đứng dậy:

- Tôi xin vô phép.

- Mình ăn nhanh thế? Ngồi lại với tôi cho vui.

Thúy xích nghiêng cho ánh trăng khỏi chiếu rõ vào mặt. Hạnh ôm đầu:

- Nhức lắm. Khó chịu lắm.

- Tại mình uống nhiều.

- Không phải, mọi khi tôi có thấy thế này đâu!

- Nếu có say, đừng uống thêm nữa.

Vừa nói, nàng vừa giữ lấy chai rượu. Nhưng Hạnh lắc đầu, chìa cốc ra:

- Không, tôi cứ uống, tôi đã bảo đừng ngăn tôi tối nay.

Chàng giật lấy chai; nàng gắp thêm đồ ăn cho chàng:

- Ăn cái này giã rượu.

Hạnh cầm bát đã run tay. Và hai mắt chàng đã thiếu hẳn tinh thần. Chàng kêu:

- Quái, tôi thấy thế nào ấy. Có lẽ tôi sắp mê chắc.

Chàng thử uống rượu, nhưng thấy chân tay nặng nề. Chàng tựa vào thành bàn, nhìn nàng một cách ngây dại:

- Ồ, quái, thế nào ấy thật.

Thúy vội vàng đến gần:

- Thế nào?

- Mình đâu, tôi chả trông thấy gì cả.

Chàng quờ tay ra, run rẩy. Nàng đáp:

- Tôi đây. Mình làm sao thế?

- Khó chịu lắm. Mình cho tôi vào trong nhà. Tôi buồn nôn lắm.

Rồi chàng gục xuống, oẹ khan. Thúy sợ hãi. Hạnh gọi:

- Mình ơi, cho tôi vào trong nhà.

Chàng giơ hai cánh tay, quờ cào, nhưng Thúy không dám gần. Hạnh cố đứng dậy, nhưng vừa nhổm khỏi mặt ghế, chàng đã ngã xuống, và vì ghế đổ, chàng đồng kềnh ra mặt đất.

Thúy cuống queo. Không ngờ liều thuốc độc nàng cho chàng ăn lại công hiệu chóng thế. Nàng nhìn qua hàng rào xem hàng xóm có ai biết không.

Hạnh nằm vật, bất tỉnh nhân sự. Mắt vẫn mở, nhưng trợn ngược lên, và ở miệng phì phì ra một thứ bọt hăng những mùi rượu.

Nhìn kỹ thế, Thúy cố trấn tĩnh để giữ hết can đảm. Nàng lấy hết sức, nắm hai cánh tay Hạnh, và lôi sềnh sệch, như lôi chiếc bồ hàng. Hạnh không biết gì, vẫn hừ hừ rên, vẫn nhăn nhó mặt, và vẫn thỉnh thoảng cố oẹ để nôn ra những chất nó làm chàng khó chịu.

Thúy đã lôi Hạnh được vào trong. Nàng không vực lên giường, cứ để kệ nằm ở đất. Nàng lẳng lặng dọn dẹp hết đồ đạc ở sân vào, rồi đóng chặt cửa lại. Nàng thắp đèn, để nhìn Hạnh cho rõ. Lúc ấy chàng vẫn còn rên rỉ, sùi nhiều bọt mép, và thỉnh thoảng giãy những cơn kinh hồn.

Không hề sợ hãi, Thúy lấy chân lay lưng chàng. Hạnh chỉ còn là cây thịt, mềm nhũn. Nàng lấy ở trong túi ra gói bột bồ kếp, rắc vào lỗ mũi Hạnh, nhưng chàng không giãy giụa và cũng không hắt hơi.

Thúy yên tâm, vào buồng, lấy ở bọc quần áo ra một lưỡi dao thật sắc. Nàng đã sắm thứ khí giới này từ lâu. Nàng rắp tâm một ngày kia, lưỡi dao này nó cứa cổ Hạnh cho nàng được hả lòng.

Thì hôm nay, nàng được toại nguyện. Rất mau lẹ, và không chút sợ hãi, nàng quỳ hai gối xuống đất, tay cầm lưỡi thép sắc sáng nhoáng. Nàng nghiến răng, nhắm mắt, cứa mạnh vào cuống họng Hạnh một nhát thật sâu. Chàng rú lên một tiếng phều phào. Bất đồ nàng rùng mình, cũng loạng choạng ngã. Nàng không dám mở mắt để nhìn thảm trạng. Nàng hẩy tay cho đổ chiếc đèn, trong nhà tối um.

Rồi nàng run run, bò dậy, mặt và áo nàng có nước, có lẽ là máu.

Lúc ấy, nàng mới thấy sợ. Nàng khẽ mở cửa ngoài, rồi lui lủi đi, lần dưới mái hiên. Nàng đã phạm tội giết người. Nàng sợ hết thẩy cả mọi người. Nàng tưởng chừng như ai cũng biết rõ nàng là kẻ sát nhân, và rình bắt nàng.

Nhưng chẳng mấy chốc, nàng đã ra đến ngoài tỉnh. Nàng ngồi nghỉ, thở hổn hển. Nàng nhìn lên mặt trăng. Nàng nghĩ đến Chính và hai con. Không hiểu giờ này, chồng nàng có động tâm không. Nàng bưng mặt khóc. Nàng không thể về với Chính, để nói cho chàng biết là nàng đã rửa được mối thù rồi.

Nhưng rồi sau, sao chàng chẳng biết; Tin Hạnh bị giết ở thành Tuyên chỉ nay mai là đến tai Chính. Và chàng sẽ tha hồ khóc nàng hết nước mắt.

Nàng chỉ nghĩ ngợi có bấy nhiêu điều. Giờ này, nàng không thể ngồi ở đây lâu, để chờ sự trả thù cho Hạnh. Nghĩa là nàng không chịu cho người ta bắt nàng, đem đến pháp luật. Dù sao, nàng cũng là một người giết người. Pháp luật có bênh nàng chăng nữa, cũng không thể bảo nàng là vô tội, và thế nào cũng khép án nàng. Nhưng dù có bị hình phạt nhẹ, nàng cũng không muốn. Nàng muốn không ai được coi việc nàng giết Hạnh là một tội.

Bởi suy tính thế, nên nàng đã quyết định công việc từ lâu.

Nàng đứng dậy, thản nhiên, lách bụi lau, ra phía bờ sông. Nàng ngồi xổm xuống một ghềnh đá, và ngắm nghía. Làn nước trong xanh cuồn cuộn chảy róc rách. Thấy chỗ rất tốt, nàng hết sức rướn một cái, nhảy xuống sông.

Một tiếng ùm. Nước bắn lên. Bọt đùn trắng ngầu ngầu. Quầng sóng vàng óng ánh lan rộng ra. Nhưng chỉ một phút sau, mặt nước trong xanh lại róc rách chảy để phủ kín một cách vô tình cái tâm sự của con người mệnh bạc.




-HẾT-





Mời Đọc/Lấy về Bản chụp dạng PDF
NXB Đời Mới, 1944 - 230 trang.
Mời xem và lấy về bản PDF





Danh tiết

Nguyễn Công Hoan

Có trong: Tiểu Thuyết Nguyễn Công Hoan -
(NXB Thanh Niên 2004 - Nguyễn Công Hoan - 623 Trang)



Nguyễn Công Hoan là nhà văn tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam. Trong suốt cuộc đời của mình, Nguyễn Công Hoan đã để lại một di sản nghệ thuật với hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung tiểu thuyết "danh tiết" nổi tiếng qua phần 2 cuốn sách.



Mời Đọc/Lấy về Bản chụp dạng PDF
PDF



Mời xem và lấy về PDF (Trang 457-)







Tham khảo: Các bài viết liên quan
Về tiểu thuyết "Danh tiết" của Nguyễn Công Hoan

0 comments:

Đăng nhận xét

[im]your image url..[/im]
[youtube]your video url..[/youtube]
[si="10"]your text[/si]
[co="red"]your text[/co]
〈div style=""〉 TEXT〈/div〉