Ads 468x60px

.

Thứ Tư, 16 tháng 7, 2025

Tác phẩm “Tắt Lửa Lòng” và soạn phẩm “Lan và Điệp” - Ngành Mai


Chuyên mục: Lan&Điệp
Loạt bài của Ngành Mai:
1. Tác phẩm “Tắt Lửa Lòng” và soạn phẩm “Lan và Điệp”
2. Tuồng ‘Lan và Điệp’ và dĩa hát ‘Hoa Rơi Cửa Phật’
3. Tuồng ‘Lan và Điệp’ hát cùng khắp, nhưng tiền bản quyền chẳng được bao nhiêu
4. Tân nhạc thân tình chào đón ‘Lan và Điệp’
5. Kỳ nữ Kim Cương đưa ‘Lan và Điệp’ vào thoại kịch
6. Cuốn phim ‘Lan và Điệp’ với đạo diễn Lê Dân
7. Tuồng ‘Lan và Điệp’ phóng tác theo tiểu thuyết ‘Tắt Lửa Lòng’
8. Dĩa hát ‘Hoa Rơi Cửa Phật’



Tác phẩm “Tắt Lửa Lòng”
và soạn phẩm “Lan và Điệp

Ngành Mai,
thông tín viên RFA




Soạn giả Trần Hữu Trang.
Thập niên 1940, soạn giả Tư Trang, tức Trần Hữu Trang đã dựa theo cuốn “Tắt Lửa Lòng” của Nguyễn Công Hoan để soạn thành vở ca kịch “Lan và Điệp”, đưa lên sân khấu, do cô đào Năm Phỉ đóng vai Lan, kép Tư Út đóng vai Điệp. Đôi nghệ sĩ tiền phong thượng thặng này đã mở đầu cho 2 nhân vật chính “Lan – Điệp” trở thành bất tử với thời gian.

Vậy sau khi được đưa lên sân khấu rồi, Lan và Điệp còn bước sang bao nhiêu lãnh vực nghệ thuật khác nữa? Tôi xin trình bày sau đây, mời quí vị theo dõi...

Ăn khách
Nhận thấy tuồng “Lan và Điệp” quá ăn khách với nhiều đêm hát đông nghẹt khán giả, do đó đã làm động lực cho hãng dĩa hát Asia tìm đến soạn giả Tư Trang để thương lượng thu thanh dĩa hát. Đồng thời hãng cũng yêu cầu soạn giả viết ngắn lại, làm sao cho tuồng thu ít dĩa càng tốt. Bởi trước đó các bộ dĩa “San Hậu” và “Quan Âm Thị Kính”, bộ nào cũng trên 10 dĩa nên tiêu thụ chậm, khó bán.

Để đáp ứng yêu cầu của hãng dĩa, Tư Trang đã rút gọn tình tiết vở tuồng, bỏ bớt phần đầu nên Lan và Điệp chỉ thu thanh gọn trong 4 dĩa và đặt tên tựa là “Hoa Rơi Cửa Phật”.
Với bộ dĩa nầy soạn giả chỉ lấy đoạn sau, từ cảnh Lan vào chùa tu – Điệp tìm đến chùa giựt chuông – Lan ra mở cổng thấy Điệp, nàng không mở cổng.
Điệp kêu:
Lan mở cổng cho anh vào.

Không được! Anh về đi, đã hết rồi!
Nói dứt câu, Lan đi ngược trở vô chùa – Điệp tiếp tục giựt chuông liên hồi và Lan cắt đứt dây chuông.
Điệp thẩn thờ đành quay gót trở về.
Cảnh này Tư Trang đã xử dụng bản ca “Chuồn Chuồn” cho Năm Nghĩa ca với lối vô đầu giống như vọng cổ (Năm Nghĩa là dưỡng phụ của nữ nghệ sĩ Thanh Nga).

Lan cắt dứt dây chuông, nàng ngất xỉu và phát bệnh luôn. Bệnh mỗi ngày một nặng thêm, thuốc thang đều vô phương cứu chữa. Cho đến một ngày kia Lan biết mình không còn sống được bao lâu nữa, nên nàng mới xin vị hòa thượng trụ trì chứng minh cho nàng trao gởi nỗi niềm tâm sự, có nghĩa là nói hết sự thật do đâu mà nàng đi tu. Đồng thời cũng nói cho vị hòa thượng biết rằng mình là gái tên thật là Nguyễn Thị Lan, đã giả trai và mượn tên Điệp để được nhận vào chùa.

Về phần vị hòa thượng thì nghĩ rằng, ông đã đi tu hơn 30 năm rồi, không còn muốn vương vấn, dính dáng gì đến chuyện thế gian, nên buộc lòng ông từ chối.

Nhưng đến lúc thấy bịnh tình của Lan trầm trọng, và lúc mê sảng thường kêu gọi ba tiếng Vũ Khắc Điệp luôn. Nhớ lại sự việc trước đây Điệp đến chùa và Lan cắt dứt dây chuông, thì vị hòa thượng đã tìm ra giải pháp: Cho người đi mời Điệp đến thay thế ông đóng vai sư cụ, bằng cách cho Điệp mượn chiếc áo cà sa, giả làm hòa thượng vào hậu liêu chứng minh cho chú tiểu Huệ Minh trao gởi nỗi niềm tâm sự (Huệ Minh là pháp danh của Lan).

Khi chú tiểu Huệ Thông đưa hòa thượng, do Điệp giả dạng với chiếc áo cà sa mượn mặc vào. Huệ Thông nói:
Sư cụ đã nhận lời cầu xin của huynh Huệ Minh rồi. Vậy muốn trao gởi gì thì cứ nói.

Thế là Lan nói sự thật như trên đã nói, và cảnh nầy soạn giả Tư Trang đã xử dụng bản Nam Ai, nổi tiếng là bản ca diễn tả lúc buồn. Qua bản Nam Ai với lời ca, Lan kể sự thật xong thì hấp hối. Điệp vội vàng cởi chiếc áo cà sa ra rồi chạy tới ôm Lan:
Em Lan! Anh là Điệp đây!

Lan mệt nhọc nói tiếng còn tiếng mất:

Anh... Điệp. Kiếp nầy không hiệp... hẹn cùng anh theo kịp... em chờ!

Em Lan! Lan!
Lan thở hơi cuối cùng trên tay Điệp.

Đây là cảnh chót, cảnh xúc động nhứt, hàng vạn các bà, các cô đã rơi lệ ở cảnh nầy.

Kịch bản Lan và Điệp, soạn giả Tư Trang trao cho nghệ sĩ Năm Châu lúc gánh Việt Kịch Năm Châu còn hoạt động.
Đầu thập niên 1960 Tư Trang vào mật khu, người ta không biết kịch bản này nằm ở đâu, và cũng không thấy Năm Châu dàn dựng trở lại vở hát này, bởi lúc ấy Ban Năm Châu chỉ lo việc chuyển âm phim.



Thêm thắt
Lúc bấy giờ hầu hết các gánh hát bầu tèo, tức các gánh hát nhỏ ở miền quê, do không có kịch bản chính nên đã lấy bài ca và lời đối thoại trong dĩa Hoa Rơi Cửa Phật làm nền chính, và thêm thắt vào để hát tuồng Lan và Điệp. Tuy vậy tuồng vẫn hay, khán giả vẫn đi coi.
Có điều là đoạn đầu thì mấy gánh hát bầu tèo tùy tiện, viết sao cũng được, miễn là có cảnh Lan tiễn Điệp đi học – Điệp thi đỗ đạt bị gọi đến nhà quan Huyện, bị phục rượu say mèm và đem bỏ vô phòng Thúy Liễu – Cảnh Thúy Liễu hành tội mẹ chồng.

Các cảnh nầy, mấy gánh hát bầu tèo muốn xử dụng bản ca nào, câu đối thoại nào thì tự viết vào rồi cho nghệ sĩ tập tuồng. Xong cho hát, bởi có ai khiếu nại gì đâu.

Lại có cả bầu gánh ngang nhiên sửa đổi tình tiết câu chuyện mới thiệt là đáng trách hơn hết!

Vào khoảng 1962 có gánh hát bầu tèo (không nhớ gánh tên gì) hát ở Suối Cụt, Trảng Bàng, Tây Ninh. Thay vì đoạn cuối Lan chết, thì gánh này lại cho cô Lan sống, và được vị hòa thương cho rời chùa trở lại thế gian, về sống với Điệp và vãn hát.

Do thấy tuồng đã không đúng với sự hiểu biết của mình, nên sau khi vãn hát, một số khán giả đi ra hậu trường chất vấn ông bầu:
- Ai cũng biết tuồng Lan và Điệp kết cuộc cô Lan chết, sao bữa nay cô Lan không chết mà lại về sống với Điệp, nghĩa là sao chớ?
Ông bầu đang ăn cháo lòng, nhậu rượu ba xi đế, đã trả lời:

- Bộ mấy ông bà muốn cô Lan chết phải hôn?

- Nhưng mà tuồng nó như vậy, tôi coi tuồng Lan và Điệp cả chục lần rồi, chỉ có lần nầy cô Lan sống mà thôi.

- Được rồi! Ngày mai đi coi, tôi cho cô Lan chết...

Tóm lại có những vấn đề trên là do soạn giả đã không có mặt, bầu gánh muốn hát sao thì hát. Cải lương mà!

Dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành được bán khắp cùng từ Nam chí Bắc, bán cả bên Miên, trên Lèo và cả bên Pháp.

Vài tháng sau khi dĩa hát được phát hành phổ biến khắp nơi rồi, thì cuốn bài ca “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được ra đời đem bán các chợ lớn, nhỏ từ thành thị đến thôn quê. Chính nhờ những cuốn bài ca này mà ca sĩ tài tử đâu đâu cũng thấy, tạo thành một sinh hoạt đờn ca tài tử độc đáo ở miền Nam Việt Nam.

Chương trình hôm nay đến đây xin tạm ngưng, hẹn với quý vị kỳ tới. Tôi là Ngành Mai xin kính chào tất cả quý thính giả Đài Á Châu Tự Do.



Ngành Mai










Tuồng ‘Lan và Điệp’ và dĩa hát ‘Hoa Rơi Cửa Phật’

Ngành Mai




Kỳ 1:

Tuồng ‘Lan và Điệp’ và
dĩa hát ‘Hoa Rơi Cửa Phật’

Ngành Mai

Đầu thập niên 1940, kể từ ngày vở hát “Lan và Điệp” của soạn giả Trần Hữu Trang, tức Tư Trang được trình diễn trên sân khấu Năm Phỉ thì phần lớn khán giả cải lương sành điệu, đã biết qua tình tiết lớp lang câu chuyện diễn tiến từ đầu tới cuối.

Buổi trình diễn khi vở hát mới ra đời ấy, do cô đào Năm Phỉ đóng vai Lan, kép Tư Út đóng vai Điệp, đôi nghệ sĩ tiền phong thượng thặng này đã mở đầu cho hai nhân vật chính Lan-Điệp trở thành bất tử với thời gian (nữ nghệ sĩ tài danh Năm Phỉ từng được huy chương của chính phủ Pháp, của Vua Miên, Quốc Vương Lào, và Hoàng Đế Bảo Đại).

Trong lịch sử nghệ thuật sân khấu chưa có vở hát nào được giới mộ điệu ưa thích, đến đỗi càng về sau câu chuyện càng mở rộng xâm lấn sang các lãnh vực văn nghệ khác.

Trước tiên, “Lan và Điệp” được hãng dĩa hát Asia thâu thanh với tên tựa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành cùng khắp từ Nam chí Bắc.
Dĩa hát cũng được bán qua Miên, và theo theo như nhà phát hành lúc ấy cho biết, thì kiều bào xứ Chùa Tháp tiêu thụ dĩa hát này nhiều gấp 3, 4 lần đại lý dĩa hát ở Cần Thơ. Do ở đất Miên dễ làm ăn, người ta dám mua sắm, vả lại số người sang đây lập nghiệp đại đa số là người Nam Kỳ Lục Tỉnh, mà cổ nhạc cải lương đã gắn liền với đời sống tinh thần của họ.

Dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được đưa sang Lào và cả ở bên trời Tây, do vậy mà kiều ở Pháp vẫn còn những người lưu giữ các dĩa hát xưa ấy. Song song đó cuốn bài ca “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được ra đời bán ở các chợ miền quê, chợ nhỏ, lớn nào cũng có người bán.

Rồi cũng từ đó các gánh hát bầu tèo (gánh hát nhỏ) ở thôn quê đã sao chép lời ca, lời đối thoại, rồi thêm thắt vào dựng lên tuồng cải lương “Lan và Điệp” phục vụ bà con ở thôn quê và cũng được hoan nghinh.

Sau đó khi Tư Út rời gánh Năm Phỉ thì kép Thanh Tao nhảy vào đóng vai Điệp, cho đến khi cô Năm Phỉ qua đời thì kỳ nữ Kim Cương mới thay dì mình mà đóng vai Lan cùng với kép Sơn Minh thủ vai Điệp.

Vợ chồng nghệ sĩ Văn Chung, Thanh Hương cũng đã có lần hát. Thành Được và Thanh Nga hát hai vai chánh này được mấy lần trong các buổi tổng hợp tài danh.

Riêng bộ dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành năm 1947, và cuốn bài ca cũng đến tay người mộ điệu cùng thời điểm này.

Dưới đây là đoạn đầu bộ dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật,” lúc Lan giả trai lấy tên Điệp vào chùa tu, được hòa thượng trụ trì đặt tên là Huệ Minh. (Xem tiếp bên dưới)

Ngành Mai





Kỳ 2:

Tuồng ‘Lan và Điệp’ hát cùng khắp,
nhưng tiền bản quyền chẳng được bao nhiêu

Ngành Mai

Sân khấu cải lương miền Nam từ thập niên 1940 trở về sau, tuồng “Lan và Điệp” của soạn giả Trần Hữu Trang, tức Tư Trang được trình diễn trên nhiều sân khấu, và hầu như thời bấy giờ gánh hát lớn, nhỏ nào cũng đều có hát qua vở tuồng này.

Kịch bản chánh hát trên những đoàn lớn như Mộng Vân, Năm Châu, Phụng Hảo và nghe nói soạn giả Tư Trang cũng được trả cho một ít tiền sau mỗi xuất hát, nếu như hôm đó bầu gánh có lời hoặc có người mua giàn. Còn như không lời thì kể như huề, tiền cà phê cũng không có (có lẽ căn cứ vào số khán giả chớ làm sao biết được lời hay không).

Riêng các gánh nhỏ ở xa vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định thì họ chẳng hề trả cho Tư Trang đồng nào, bởi các gánh bầu tèo này không có kịch bản chánh, mà chỉ rút lời văn đối thoại và bài ca từ dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật” rồi thêm thắt cho thành tuồng để hát.

Biết vậy, nhưng Tư Trang chẳng đòi hỏi, thưa gởi gì cả, bởi vì nếu đi thưa kiện thì chỉ tốn tiền giấy tờ, tiền mướn trạng sư mà thôi, vì phần lớn gánh hát bầu tèo vừa nghèo vừa mắc nợ, thành thử ra lúc bấy giờ người trong giới thấy Tư Trang quá hiền và đã gọi ông là “Đường Tăng Tam Tạng.”

Đến đầu thập niên 1960 soạn giả Trần Hữu Trang vào mật khu theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, thì tuồng “Lan và Điệp” hầu như tự do hát, chẳng một ai thắc mắc, đâu có ai dám lên tiếng đòi bản quyền, dù rằng con cái của Tư Trang vẫn còn sống trong vùng Quốc Gia.

Khoảng thời gian 1956-1957 và dài cho đến 1962 ở miền Nam Việt Nam có rất nhiều gánh hát dạo đi bán thuốc, giống như các gánh hát Sơn Đông mãi võ của người Tàu.
Nói là gánh hát chớ thật sự chỉ một nhóm sáu, bảy người là nhiều, có gánh chừng năm người tính luôn người nhạc sĩ đờn.

Họ lãnh thuốc thành phẩm, loại cao đơn hoàn tán vô chai, vô hộp của mấy nhà sản xuất thuốc Tàu ở Chợ Lớn, rồi chia nhau đi về nông thôn, cứ trời vừa tối là bắt đầu dọn thuốc, đồ hát ra đánh trống để quy tụ thiên hạ, rồi bán thuốc trước.

Người coi đứng bao quanh thành vòng tròn, và họ vừa đi bán thuốc vừa ca bài bản cổ nhạc, nội dung bài ca nói về sự hữu hiệu của loại thuốc mà họ đang rao bán. Khi xong phần bán thuốc rồi, thì bắt đầu hát cải lương, mà thông thường thì hát tuồng “Lan và Điệp”, lấy bài ca và đối thoại trong dĩa hát “Hoa Rơi cửa Phật.”

Mấy gánh hát bán thuốc này đi đến tận xã ấp xa xôi hẻo lánh ở nông thôn, và lại hát miễn phí, chỉ nhờ bán thuốc (có nhiều bữa chẳng bán được chai thuốc nào nên cả nhóm than trời). Do đó thiên hạ ở nông thôn rất dễ dàng đi coi, dĩ nhiên là rất đông đảo khán giả. Chính những gánh hát dạo bán thuốc này lại là “cơ sở” truyền bá “Lan và Điệp” nhiều nhất.

Đến khoảng 1962 thì không ai thấy các gánh hát này nữa, do chiến tranh nổi lên ở nông thôn. Tóm lại các gánh hát bỏ túi này, chỉ hoạt động trong thời gian năm, sáu năm gì đó trong thời bình, rồi âm thầm biến mất khi có chiến tranh.

Dưới đây là đoạn kế tiếp dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật” (kỳ 2). (Xem tiếp bên dưới)



Ngành Mai





Kỳ 3:

Tân nhạc thân tình chào đón ‘Lan và Điệp

Ngành Mai


Từ khi vở hát “Lan và Điệp” ra đời, hiện diện trên sân khấu suốt hai thập niên, hầu như không ai nghĩ đến chuyện sẽ có ngày “Lan và Điệp” lại có thể chen chân vào lãnh vực tân nhạc.

Bởi vì tân nhạc có một lối sinh hoạt khác xa với cải lương, có người còn nói tân nhạc và cổ nhạc hình như không thích nhau, thậm chí còn chê bai nhạo báng lẫn nhau.

Thế mà đến giữa thập niên 1960 tân nhạc đã mở rộng cánh cửa thân tình, chào đón “Lan và Điệp,” đó là năm 1965 người ta bất ngờ nghe xướng ngôn viên Đài Phát Thanh Sài Gòn giới thiệu nhạc bản “Chuyện Tình Lan và Điệp” của Mạc Phong Linh và Mai Thiết Lĩnh.

Bản nhạc có lời ca điệu nhạc truyền cảm ấy được thính giả lúc bấy giờ ưa thích, gởi thư yêu cầu nhiều nên Đài Phát Thanh Sài Gòn và Đài Ba Xuyên đã cho phát đi phát lại bản nhạc này nhiều lần, đến đỗi có người nghe riết rồi thuộc lòng và hát luôn.

Có điều lạ là đa số thính giả yêu cầu đài phát bản “Chuyện Tình Lan và Điệp” lại là thính giả thường nghe chương trình cổ nhạc cải lương, và họ cũng nói phải chi bản nhạc này mà có Út Bạch Lan, Thanh Nga, Thành Được ca thêm vài câu vọng cổ thì hay biết mấy.

Thế là hãng dĩa hát Hồng Hoa đã “bắt mạch” được,
họ thương lượng với tác giả bản nhạc mua bản quyền và “đặt hàng” cho soạn giả Viễn Châu viết thêm lời ca vào, gọi là vọng cổ pha tân nhạc. Đồng thời chọn các ca sĩ tân cổ nhạc đang nổi tiếng lúc bấy giờ là Thanh Tuyền, Hồng Phúc, Thanh Nga, Thành Được, Tấn Tài.

Còn đệm tân nhạc thì hãng chọn ban nhạc Huỳnh Anh, về cổ nhạc thì nhạc sĩ Năm Cơ đờn kìm, Bảy Bá đờn tranh và lục huyền cầm, Tư Huyện đờn vĩ cầm. Với thanh phần ca nhạc sĩ khá hùng hậu này mà hãng chỉ thu thanh có một dĩa nhựa 45 tua, thì phải nói rằng hãng dĩa Hồng Hoa đã chịu bỏ tiền đầu tư một số vốn khá lớn, và dĩ nhiên hãng thu lại gấp bội khi dĩa vọng cổ pha tân nhạc này có mặt cùng khắp miền Tây miền Đông.

Thật ra nếu như nói đây là bài vọng cổ có pha tân nhạc thì không đúng lắm, vì nguồn gốc của bài ca là bản tân nhạc được soạn giả cải lương dựa theo tình tiết nội dung lời nhạc để viết thêm phần cổ nhạc vào. Như vậy cổ nhạc chỉ là phụ thôi, mà căn bản của nó là bản tân nhạc đã có sẵn. Thế mà thiên hạ, người nghe vẫn luôn cho rằng là bài vọng cổ pha tân nhạc, cái trái ngược mâu thuẫn trong vấn đề là vậy.

Dưới đây là đoạn kế tiếp dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật” (kỳ 3). (Xem tiếp bên dưới)


(Ngành Mai)







Kỳ 4:

Kỳ nữ Kim Cương đưa ‘Lan và Điệp
vào thoại kịch

Ngành Mai


Sau khi chen chân vào làng tân nhạc được đón nhận nồng nhiệt, “Lan và Điệp” không dừng lại tại đây mà lấn sang địa hạt thoại kịch, và cũng được khán giả hoan nghinh không kém gì “Lan và Điệp” sân khấu cải lương.

Năm 1970, kỳ nữ Kim Cương viết thành thoại kịch do chính kỳ nữ đóng vai Lan đưa lên truyền hình. Và do câu chuyện khá dài nên đài truyền hình Việt Nam lúc bấy giờ phải chia ra phát làm hai kỳ mới hết vở kịch. Đây là vở kịch được khán giả chờ đón xem chẳng khác chi những buổi chờ coi cải lương vậy.

Vở kịch hay là do bởi tình tiết câu chuyện đã ăn sâu vào lòng khán giả, mà người đóng vai Lan lại là kỳ nữ Kim Cương, thành thử ra được khán giả đi xem đông đảo. Nói về diễn kịch thì hầu như đại đa số khán giả đều có nhận định rằng, khó có nữ kịch sĩ nào sánh được với kỳ nữ Kim Cương.

Nếu như ngược thời gian trở về đầu thập niên 1950 thì người ta biết rằng, Kim Cương xuất thân từ cải lương, rồi về sau mới chuyển sang đóng kịch. Khoảng 1952, chính nghệ sĩ tiền phong Bảy Nam (mẹ của Kim Cương) đã soạn vở tuồng “Phấn Hậu Cung” để Kim Cương hát trên sân khấu Phụng Hảo. Và kế đó thì kịch sĩ Duy Lân (cha nuôi của Kim Cương) cũng soạn vở cải lương “Giai Nhân và Ác Quỷ” cho Kim Cương đóng vai giai nhân.

Thế nhưng, dù sinh ra trong gia đình cải lương, nhưng Kim Cương không thể sáng chói trong lãnh vực này, bởi vì kỳ nữ không ca được vọng cổ,

mà cải lương thì phải có làn hơi ca vọng cổ thu hút người nghe thì mới đảm trách vai trò quan trọng của tuồng.

Khoảng 1972, một hãng dĩa nọ đã thu thanh Kim Cương trong vở hát “Đắc Kỷ Thọ Hình.” Ai cũng nhìn nhận cái giọng nhõng nhẽo của kỳ nữ thì tuyệt diệu. Nhưng tới hồi mà Kim Cương phải ca vọng cổ: Rằng là… nó làm cho thiếp thần phải đau khổ ờ ơ… hờ hơ… thì nghe sao mà giống giọng hát ru em của mấy chị nhà quê vừa biết hát quá chừng!

Người ta nói hình như tổ nghiệp sân khấu chỉ cho Kim Cương thành công ở địa hạt thoại kịch mà thôi, còn cải lương thì để cho người khác chớ, chiếm hết một mình hay sao? Do đó mới khiến cho kỳ nữ nhà ta không ca được vọng cổ.

Tuy nhiên về thoại kịch thì khó có ai đóng vai Lan bằng Kim Cương, bởi vì vai Lan trong vở kịch này đã cho người ta thấy lúc đầu thì cô Lan quê mùa hết cỡ, chỉ nội cái mở gói lấy tiền ra cho Điệp với nhiều lớp giấy gói lại cũng khiến khán giả cười rần lên. Cũng như câu dặn dò Điệp rằng: “Đi xa nhớ gởi chứng chỉ về cho em (thay vì gởi địa chỉ).”

Đó là đoạn đầu, còn đoạn cuối từ lúc Lan vào chùa cho đến khi chết, thì không một khán giả nào mà không cảm thương Lan. Kim Cương quả đúng là đào thương số một của ngành kịch vậy.

Dưới đây là đoạn kế tiếp dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật” (kỳ 4). (Xem tiếp bên dưới)

(Ngành Mai)





Kỳ 5:

Cuốn phim ‘Lan và Điệp’ với đạo diễn Lê Dân

Ngành Mai


Đến năm 1972 thì “Lan và Điệp” lại bước thêm một bước thật dài, được đưa lên màn bạc, tức được quay thành phim. Năm ấy ông Bầu Xuân, giám đốc đoàn Dạ Lý Hương, quyết định quay cuốn phim “Lan và Điệp”, giao cho đạo diễn Lê Dân đảm trách.

Thời điểm này cải lương ế ẩm, khán giả thưa thớt, đại đa số gánh hát rã gánh, số còn lại mỗi tuần mở màn 1, 2 xuất hát vẫn không bao nhiêu người đi coi. Một phần do một số lớn đào kép tên tuổi đã nhảy sang điện ảnh đóng phim, mà phim có nghệ sĩ cải lương thì lại ăn khách lúc đó, chẳng hạn như phim “Loan Mắt Nhung” với Thanh Nga đóng vai chánh và phim “Chiều Kỷ Niệm” với kép Thanh Tú vai chánh, các phim này nghe nói lời cả chục triệu.

Trước tình hình cải lương sống dở chết dở đó, mà làm phim lại lời nhiều, nên ông Bầu Xuân đã cho đoàn Dạ Lý Hương đình chỉ hoạt động, để tập trung vào thực hiện cuốn phim “Lan và Điệp”.

Tuy là làm phim, nhưng về khai thác thương mại thì ông Bầu Xuân lại không nhắm vào khán giả xi nê, mà đặt nặng vào số khán giả cải lương.
Do đó mà ông có kế hoạch chọn toàn đào kép cải lương đảm nhận các vai trò nòng cốt như Thanh Nga vai Lan, Thanh Tú vai Điệp, Bạch Tuyết vai Thúy Liễu. Và về phần nhạc đệm cho phim thì ông dùng cổ nhạc, thay vì tân nhạc như hầu hết những phim đã có từ trước.

Một điểm đặc biệt khác là theo đề nghị của đạo diễn Lê Dân, ông Bầu Xuân đã thuê mướn trực thăng quay toàn cảnh một ngôi chùa ở Biên Hòa (ngôi chùa Lan đi tu).

Lúc bấy giờ có người hỏi rằng đoàn Dạ Lý Hương đang hoạt động, rồi bỗng dưng đình lại thì đào kép công nhân sống làm sao đây? Ông Bầu Xuân rất điệu nghệ và có tình có nghĩa, hằng ngày ông cho xe đưa tất cả đào kép nhân viên đến địa điểm quay phim, có việc gì làm việc nấy, phụ giúp công cuộc quay phim, và trả cho mỗi người một ngàn đồng một ngày, so với đồng lương công chức công nhựt thì gấp đôi. Khó có bầu gánh nào mà có hành động tốt đẹp như ông Bầu Xuân trong vấn đề này vậy.

Dưới đây là đoạn kế tiếp dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật” (kỳ 5). (Xem tiếp bên dưới)


(Ngành Mai)





Kỳ 6:

Tuồng ‘Lan và Điệp’ phóng tác theo tiểu thuyết
‘Tắt Lửa Lòng’

Ngành Mai


Soạn giả Trần Hữu Trang cùng hai người con: Soạn giả Việt Thường và bà Thanh Đạm. (Hình: Ngành Mai sưu tập)


Cuốn tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của nhà văn Nguyễn Công Hoan xuất bản ở Hà Nội thời tiền chiến, và theo như bố cục câu chuyện thì cô Lan là người miền Bắc, cô buồn vì tình duyên trắc trở nên đi tu ở một ngôi ngôi chùa gần đường xe lửa đi Việt Trì, Phú Thọ, Yên Bái; và cậu Điệp, một nam sinh từ tỉnh ra Hà Nội học. Câu chuyện diễn tiến với những tình tiết gay cấn, cảm động.

Ngày nọ, khoảng đầu thập niên 1940, tác phẩm vô tình đến tay soạn giả Trần Hữu Trang (Tư Trang). Nhận thấy tác phẩm mang nhiều kịch tính, nếu được phóng tác thành vở ca kịch thì sẽ thu hút mạnh mẽ người đi coi hát cải lương. Và Tư Trang quyết định viết thơ ra Bắc xin phép nhà văn Nguyễn Công Hoan cho ông được phóng tác theo tiểu thuyết “Tắt lửa lòng”.

Họ Nguyễn bằng lòng với điều kiện là khi nào vở hát ấy được mang ra Bắc trình diễn thì ông phải được xem trước khi ra mắt quần chúng đông đảo. Dĩ nhiên là họ Trần tuân ý. Cho nên khi đoàn Năm Phỉ ra Bắc, Trần Hữu Trang căn dặn kỹ cô Năm Phỉ rằng, đến Hà Nội hát vở gì trước thì hát, còn vở “Lan và Điệp” thì phải đợi sự có mặt của ông cái đã.

Vì một lời hứa với tác giả “Tắt lửa lòng”, ông phải giữ đúng! Và khi đoàn Năm Phỉ dọn ra hát ở Hà Nội thì Trần Hữu Trang khăn gói đi xe lửa ra Bắc, ăn vận áo dài khăn đóng chỉnh chạc đi mời cho được Nguyễn Công Hoan tới nhà hát lớn coi diễn phúc khảo một buổi. Dĩ nhiên là họ Nguyễn có mời nhiều văn nhân, ký giả Hà Nội tới xem với ông. Xem xong, tất cả đều lấy làm hài lòng và hết tình ca ngợi cô Lan Năm Phỉ và cậu Điệp Tư Út.

Tối hôm đó Tư Trang đã phải vay nợ cô Năm Phỉ 10 đồng bạc tiền Đông Dương để đưa Nguyễn Công Hoan cùng với anh em văn nhân ký giả Hà Nội đi chè chén và hát cô đầu. Vui vẻ cả làng với nhau và chẳng có việc đòi hỏi chia chác tiền bản quyền gì ráo.

Có lẽ cũng do người sáng tác câu chuyện “Tắt lửa lòng” đã không nói đến vấn đề bản quyền, thành ra sau này các gánh hát trong Nam diễn tuồng Lan và Điệp, soạn giả Trần Hữu Trang cũng không đòi hỏi gì tiền bản quyền, ai muốn trả bao nhiêu thì trả, mà không trả cũng chẳng sao.

Dưới đây là đoạn kế tiếp dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật” (kỳ 6, cuối). (Xem tiếp bên dưới)

(Ngành Mai)





D ĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật”
[...]
Năm 1936, soạn giả Trần Hữu Trang đã viết chuyển thể từ nguyên tác (tiểu thuyết Tắt lửa lòng của nhà văn Nguyễn Công Hoan) thành kịch bản cho vở cải lương "Lan và Điệp".
[...]
Năm 1948, Trung tâm ASIA đã cho thu âm vở cải lương này (Lan và Điệp) vào 4 đĩa nhựa với tựa đề "Hoa rơi cửa Phật", với sự tham gia của các danh ca Tư Sạng (Lan), Năm Nghĩa (Điệp), Tám Thưa (Hòa thượng), Hồng Châu (Tiểu Huệ Thông). [...]
Thanh Hương xin giới thiệu một vở cải lương cổ, nằm trong danh sách ba tuồng cải lương để đời của soạn giả Trần Hữu Trang, đó là: Đời Cô Lựu, Hoa rơi Cửa Phật và Tô Ánh Nguyệt.
Thành phần phân vai của các bật tiền bối:
Cô Tư Sạng vai Nguyễn Thị Lan
Tám Thưa vai Khắc Điệp
Năm Nghĩa vai Bạch Thầy
Hồng Châu vai Chú Tiểu
Vở tuồng mang nhiều nổi xúc động, đem đến những nổi cảm xúc. Quả thật vở này rất hay, được hãng ASIA thu âm năm 1936, trước cả hai vở kia. Vở này Sáu Tửng đờn kiềm - mùi. Sau này, ekip Thanh Kim Huệ - Chí Tâm có dàn dựng lại một cách hoàn chĩnh hơn, đặc sắc và rõ ràng hơn. Nhưng vở này vẫn là cái ra đời đầu tiên để lại ấn tượng khó quên hơn. Nhưng vở này không để lại nhiều nét đẹp của cô Tư Sạng bằng Cô Năm Phỉ. Khi nhắc đến:
Lan là ta nhớ đến cô Năm Phỉ
Lựu là ta nhớ đến cô Phùng Há
Nguyệt thì ta mới nhắc đến cô Tư Sạng

Vở này Hương sẽ đăng phần đầu sau, do cô Tư Bé vào vai Thúy Liểu rất ấn tượng. Những thể điệu Nam Ai, Tứ Đại Oán, Chuồn Chuồn, Văn Thiên Tường nghe rất não lòng. Các điệu vui như Khóc Hoàng Thiên, Kim Tiền Bản, Xàng Xê nghe làm lòng bớt sầu hơn. Chúc các bạn nghe vui vẻ nhé.
Soạn giả: Trần Hữu Trang, tức Tư Trang.
Các nghệ sĩ:
1 - Cô Tư Sạng: Lan (Huệ Minh), Năm Nghĩa, Tám Thưa, Hồng Châu.
2 - Tư Tao, Tư Bé...

Lan và Điệp - Cải lương (Hoa Rơi Cửa Phật - Tư Sạng, Năm Nghĩa)


... Đoạn đầu bộ dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật,” lúc Lan giả trai lấy tên Điệp vào chùa tu, được hòa thượng trụ trì đặt tên là Huệ Minh.

Huệ Minh nói:
Than ôi, cánh hoa rụng tả tơi vì gió dập,
xác bướm khô ôm ấp bởi tình yêu.
Như tôi đây nhìn hoa lan mà ruột quặn thắt trăm chiều,
trông hồ điệp lệ sầu tuông mấy lượt.
Kìa những kẻ không cầu sao lại được,
tủi phận mình mong mỏi vậy mà sai,
kể từ đây chốn am mây chôn lấp mạch cảm hoài,
nghe kinh kệ phôi pha cơn khổ não.

      (Ca Nam Ai:)
Hoa lan xác bướm mảnh tơ lòng,
Đành vùi chôn,
Kiếp bướm hoa lỡ làng rồi, Nhưng còn một vật đổi trao nhau,
Càng thấy càng thêm nỗi khổ đau,
Phải chăng con dao này,
Nó đã dứt tình cùng ta,
Bấy lâu đeo giữ mãi bên mình,
Nay đành chôn giữa mả bướm hoa,
Ngăn đôi gian hà,
Cho nhẹ nhàng lòng ta.
Có lẽ khi trời xui phải chịu vậy,
Trần ai còn chi đâu mơ màng,
Trót đã ăn mặc nâu sòng,
Vui kinh kệ là xong.

Huệ Thông nói:
Đó thấy không, huynh Huệ Minh phạm giới sát sanh, để tôi vào bạch tôn sư, cho huynh coi nghé.

Huệ Minh nói:
Không, không phải đâu huynh Huệ Thông, vừa rồi tôi thấy con bướm nó chết khô cho nên tôi tội nghiệp bỏ vào hộp đem chôn vậy mà huynh.

Huệ Thông nói:
Huynh nói dối, hôm trước tôi thấy con bướm ấy nó đậu trên chậu hoa lan đẹp lắm, huynh rình bắt rồi ép khô ở trong cuốn kinh, bây giờ huynh đem chôn, tại huynh bắt nó mới chết, tôi phải vào bạch lại với thầy.

Huệ Minh nói:
Huynh, huynh Huệ Thông.

Huệ Thông nói:
Thế nào tôi cũng vô tôi bạch.

Huệ Thường nói:
Ôi, tu là cội phúc, tình là dây oan, nhưng tình chưa trọn thì tu làm sao cho thành. Đã đem thân nương chốn thiền môn, trót ba mươi năm có lẻ, một khoảng thời gian đăng đẳng, tấm lòng ta tưởng đâu đã nguội lạnh như mớ tro tàn, sự đời gác bỏ ngoài tai, trần ai không hệ lụy.
Bất ngờ vừa rồi nghe mấy lời của tiểu Huệ Minh than thở, mà xúc động mối từ tâm, trông cử chỉ hành vi khiến cho ta phải bàng hoàng ngơ ngẩn.
Đây, đây là nơi chôn chặt nỗi niềm tâm sự, nhưng vết thương lòng e khó nổi phôi pha. Như ta ba mươi năm mà hận cũ vẫn chưa nguôi, thì tiểu Điệp ngày nay dẫu không tròn luật pháp nhà tu, ta cũng rộng lượng thứ tha mà tìm phương an ủi.


Kỳ 2:

Huệ Thông nói:
Bạch hóa tôn sư, huynh Huệ Minh phạm giới sát sanh.

Huệ Thượng nói:
Sao đệ tử biết được?

Huệ Thông nói:
Mô Phật, vừa rồi huynh Huệ Minh bắt được con bướm ép khô rồi bỏ vào hộp đem chôn, lại còn khóc lóc khấn vái than thở làm nhiều chuyện lạ lùng lắm, con theo ghẹo phá hoài là huynh Huệ Minh cũng không chịu bỏ, nên con phải vào bạch với thầy.

Huệ Thượng nói:
Thế là đệ tử có tội.

Huệ Thông nói:
Bạch tôn sư Huệ Minh sát sanh chớ nào phải con phạm giới.

Huệ Thượng nói:
Đệ tử nên biết, khấn vái khóc than đó là giờ phút thiêng liêng người ta tưởng niệm những điều đau khổ, trước cảnh thương tâm ấy, đáng lẽ đệ tử phải lặng lẽ cúi đầu sao lại dám theo ghẹo phá, Huệ Minh phạm giới sát sanh, để rồi thầy sẽ nghiêm trị. Còn đệ tử từ nay nếu còn khuấy rối Huệ Minh, thầy sẽ phạt quỳ hương một tháng.

Huệ Thông nói:
Mô Phật.

Huệ Thượng nói:
Đệ tử vào gọi Huệ Minh ra đây cho thầy dạy việc.

Huệ Thông nói:
Mô Phật.


Huệ Minh nói:
Bạch hóa tôn sư cho gọi con, có điều chi dạy bảo.

Huệ Thượng nói:
Vừa rồi tiểu Huệ Thông thấy con bắt một con bướm bỏ vào hộp và đem chôn. Tại sao lại có những hành vi lạ lùng như thế?
Đã đem thân nương dựa cửa thiền mà lòng trần chưa đoạn tuyệt, thất tình còn vướng, nghiệp chướng còn mang, thầy xem đệ tử sắc diện võ vàng tiều tụy lắm, vậy thầy xin khuyên đệ tử.

      (Ca Xàng Xê:)
Công phu hai buổi sớm chiều, phải tự mình tìm phương giải thoát.
Từ nay chuyện thế gian tua dẹp lại,
Chốn Phật đài tưởng niệm sắc không,
Cái tâm nếu chẳng tạo ra nguyên nhơn,
Thì kết quả phải khỏi trở về với không,
Cõi hư vô có ngày được thảnh thơi.

Huệ Minh ca:
Con cúi xin vàng lời ân sư chỉ dạy,
Bao nhiêu nỗi niềm thắc mắc,
Bao nhiêu khổ sầu ôm ấp bấy lâu,
Kể từ đây con quyết tâm đoạn tuyệt,
Vùi chôn vết thương trong tâm hồn,
Mùi tục lụy chẳng còn vương mang,
Tiếng khóc than đổi thay câu tụng niệm,
Nhờ thời gian sẽ phôi pha sẽ nhạt phai dần.

Huệ Thượng nói:
Nếu được vậy thì tốt lắm, thôi đệ tử hãy theo thầy vào trước Phật đài, thầy sẽ cầu nguyện giúp cho.

      Khai kinh:
Nam mô Như Lai ứng cúng, chánh biến tri, minh hạnh phúc, thiên thê thế gian giải vô thượng sĩ điều ngự thượng phu, thiên nhơn sư, Phật Thế Tôn.

Huệ Thượng:
Nam mô, phổ quan Phật.

Huệ Minh:
Nam mô, phổ quan Phật.

Huệ Thượng:
Nam mô, phổ minh Phật.

Huệ Minh:
Nam mô, phổ minh Phật.

Huệ Thượng:
Nam mô, phổ tịnh Phật.

Huệ Minh:
Nam mô, phổ tịnh Phật.


Kỳ 3:

Điệp nói:
Dạ xin chào ông đạo.

Huệ Thông nói:
Mô Phật, nơi đây là chùa Phật, thầy tới đây có chuyện chi?

Điệp nói:
Ông đạo làm ơn cho tôi hỏi thăm.

Huệ Thông nói:
Thầy muốn hỏi thăm điều chi?

Điệp nói:
Chẳng biết trong chùa nầy có ni cô nào tên Lan không?

Huệ Thông nói:
Chùa này không có ni cô.

Điệp nói:
Vậy từ Tháng Hai năm ngoái tới nay, có người nào đến quy y không?

Huệ Thông nói:
Có nhưng không phải tên Lan.

Điệp nói:
Người ấy ra làm sao?

Huệ Thông nói:
Người ấy tướng tá không cao không thấp, hình vóc không ốm không mập, gương mặt không tròn không dài, tiếng nói thiệt trong như chuông ngân, mà cặp mắt lúc nào cũng như đầy nước mắt.

Điệp nói:
Vậy ông làm ơn vào nói với người ấy, có tôi, tên là Điệp tới thăm.

Huệ Thông nói:
Không được đâu thầy, chú ấy không tiếp ai hết, trước kia có một vài lần người ta đến hỏi thăm, nhưng chú không chịu ra bảo nói dối rằng không có chú ở đây.

Điệp nói:
Nhưng ông cứ vào nói có một người tên Điệp thì chú ấy ra lập tức mà.

Huệ Thông nói:
Sao lạ vậy, chú ấy tên là Điệp mà thầy cũng là Điệp nữa.

Điệp nói:
Phải rồi, chú ấy giận cha mẹ họ hàng, nên mới mượn tên tôi mà đi tu, bây giờ chú ấy chỉ biết có một mình tôi thôi.

Huệ Thông nói:
Vừa rồi chú ấy và tôi mới bị hòa thượng quở phạt, chú đang buồn chẳng tiếp ai đâu.

Điệp nói:
Chú ấy làm gì mà bị quở phạt.

Huệ Thông nói:
Kìa thầy không không trông thấy à.

      (Ca Khóc Hoàng Thiên:)
Chính giữa một cái mả cao hai mả thấp,
Chú ấy đem chôn lấp, xác bướm với cành lan,
Bướm khô lan đã tàn,
Con dao tây chận ngăn đôi đàng,
Thật rõ ràng nào sai,
Khóc than lâm râm khấn lạy,
Vì thấy chú ấy sát sanh,
Sợ lây tội tình,
Luật ở chùa giới nghiêm,
Thế nên tôi lên bạch thầy,
Mới bị rầy cả hai.


Kỳ 4:

Điệp nói:
Ông đạo ôi!

Huệ Thông nói:
Mô Phật.

Điệp nói:
Tôi từ xa tìm tới đây là mong mỏi cùng người quen được gặp xin ông niệm chút từ tâm.

Huệ Thông nói:
Không phải tôi muốn làm khó thầy, song vừa rồi tôn sư mới ra lịnh nghiêm nhặt, nếu tôi còn nói chuyện gì lôi thôi với chú ấy, lỡ tôn sư gặp tôi phải quỳ hương tới một tháng lận thầy.

Điệp nói:
Vậy bây giờ ông không còn cách nào giúp tôi được sao? Thế là tôi phải về.

Huệ Thông nói:
Thiệt thấy tình cảnh của thầy, tôi muốn giúp giùm nhưng biết làm thế nào? À, hay là chỉ có cách này.

Điệp nói:
Cách nào ông?

Huệ Thông nói:
Thầy bước tới lại đây tôi chỉ cho thầy xem, đây sợi dây này là để cho khách thập phương, mỗi khi tới chùa, giựt chuông cho chúng tăng ra mở cổng, bây giờ tới chiều, phiên chú ấy gác chuông để tôi đi tránh vào trong rồi thầy cứ giựt chuông cho chú ấy ra mở cổng, chừng gặp nhau thì thầy muốn nói gì thì nói.

Điệp nói:
Tôi hết sức cám ơn ông.

Huệ Thông nói:
Mô Phật, thôi tôi vào. Kìa chú ấy đương ngồi tưởng niệm và lần chuỗi bồ đề dưới gốc cổ thụ, kia đó, đây, phía bên này đây.

Điệp nói:
Ôi! Chưa đầy hai năm, mà một vẻ đẹp thùy mị kín đáo trước kia, bây giờ đã hóa ra hình dạng một nạn nhơn khốn khổ.

      (Ca Chuồn Chuồn:)
Em Lan ôi! Tội tình chi mà em phải đọa đày,
Cho khổ sở kiếp hồng nhan,
Hỡi này em Lan,
Nay anh đã dứt rồi nghiệp oan,
Anh tìm đến đây cùng em tạ tội, đặng rước em trở về.
Mối duyên xưa cùng nhau ta nối lại,
Để đền bù những lúc khổ đau,
Ôi tiếng chuông rung chắc trái tim em phập phồng,
Em không ngờ anh đã tới đây,
Nỗi mừng vui nào hơn được lúc này.



Kỳ 5:

Huệ Minh nói:
Anh Điệp!

Điệp nói:
Em Lan, anh đã ly dị với Thúy Liễu, anh lên đây để rước em về.

Huệ Minh nói:
Không thể được, hết rồi.

Điệp nói:
Mở cổng cho anh vào.

Huệ Minh nói:
Không thể được, anh phải đi về đi, đã hết rồi.

Điệp nói:
Lan đành cắt đứt dây chuông.

Khai Chuông:
U minh vỉ mãng vô thượng tấn tốc,
Ngưỡng lao đại chúng an tọa tịnh chung.
Văn chung thinh nhứt tâm thế niệm A Di Đà Phật.

Huệ Thông nói:
Bạch thầy có Vũ Khắc Điệp đến.

Hòa Thượng nói:
Mời người vào.

Huệ Thông nói:
Mô Phật.

Điệp nói:
Mô Phật bạch hòa thượng.

Hòa Thượng nói:
Mô Phật, bần tăng xin chào ngài. Ngài có phải là Vũ Khắc Điệp mà cách đây mấy tháng, ngài có đến chùa này một lần.

Điệp nói:
Bạch hòa thượng phải.

Hòa Thượng nói:
Ngài vừa tới cổng giựt chuông để gọi chúng tăng ra mở cửa, thì có một chú tiểu vội cắt đứt dây chuông, rồi ngất xỉu, lúc ấy ngài đi luôn không vào chùa, và từ đó tới nay cũng không khi nào ngài trở lại.

Điệp nói:
Bạch hòa thượng, trong lúc cắt đứt dây chuông tôi vì cảm xúc quá nên cũng té gục trên cổng, chừng tỉnh lại nhìn vào chùa thấy bốn bề vắng ngắt nên ngậm ngùi lặng lẽ ra về.

Hòa Thượng nói:
Ngài có biết đâu, sau khi ngài đi rồi, chú tiểu ấy phát bịnh nặng, những lúc mê sảng thường kêu gọi ba tiếng Vũ Khắc Điệp luôn, đến nay thuốc thang đà vô phương cứu chữa, nên bần tăng mới cho người đi tầm ngài tới đây, bần tăng cũng vẫn biết sống chết là một lẽ đương nhiên, song có điều làm cho bần tăng không yên lòng, là chú ấy cứ nài nỉ khẩn cầu xin bần tăng chứng minh cho chú ấy trao gởi nỗi niềm tâm sự, điều ấy bần tăng khó thể nhận lời, ngài cũng đủ biết giùm cho bần tăng ngày nay.

      (Ca Vọng Cổ:)
1- Đã ngơ lấp chuyện hồng trần, lòng thanh thản hồn nhiên trước cửa từ bi, bao nỗi thị phi, tai chẳng buồn nghe, mắt cũng không buồn trông thấy nữa.

2- Không sắc đã thay cho danh lợi tự giác nhi giác tha, Lục tự di đà vô biệt niệm trót ba mươi năm mà công quả vẫn chưa tròn.

3- Ngày nay cũng bởi tiểu Huệ Minh, trần lụy đa mang, nghiệp oan chưa dứt, kiếp duyên còn nặng nợ, lòng bận bịu nơi sóng mê bể khổ, nên bịnh căn trầm trọng mỏi mòn.

4- Đã ba hôm rồi yêu cầu bần đạo chứng minh cho người, gởi chút niềm riêng nhưng bần đạo đã xả thân khổ hạnh, thì luật tu hành không thể nhận, chớ có phải đâu sắt đá là loại vô tri, cỏ cây là loài vô cảm mà chẳng thương tâm trước cảnh mất còn.



Kỳ 6, cuối:

Huệ ca:
5- Hòa thượng ôi, người đương hoằn hoại là một nạn nhơn, còn chính tôi đây là một tội nhơn, ấy cũng vì nghịch cảnh xui nên xin hòa thượng hãy rộng lượng xót thương cho kẻ đã bao lâu nay cùng chung đau khổ một tâm hồn.

6- Mới đem thân nương chốn thiền môn đặng tìm phương giải thoát, những tưởng nước cành dương rưới tan niềm oan khổ, nào ngờ đâu không hàn gắn vết thương lòng, hạnh phúc con người ta là quên, nhưng bởi không thể quên nên thành ra khổ thân.

Hòa thượng ca:
7- Hiện thời bịnh thế rất ngặt nghèo, thần sắc xem đã biến thiên, hình thể đã tiêu hao, e không qua khỏi đêm nay, trước cảnh nguy vong bần tăng cũng muốn chứng cho xong, để cho yên lòng người trong cơn hấp hối.

8- Bởi vậy bao nhiêu phép tắc ở chùa, bao nhiêu luật trai giới nghiêm minh, chấp kinh có khi cũng phải tùng quyền, giờ phút này mở rộng lòng bác ái, bao nhiêu trách nhiệm dầu ai có khép tội lỗi gì đều để hết cho bần tăng.

9- Vậy đây mảnh áo ca sa, ngài choàng vào đi, Huệ Thông (mô Phật) Huệ Trí (mô Phật), đệ tử hãy đốt đèn lên rồi đưa ngài giả dạng bần tăng để cho tiểu Huệ Minh trao gởi nỗi niềm tâm sự.

Huệ ca:
10- Ân sư ôi, ơn của ân sư dám sánh tợ biển trời, đức của ân sư đã gội nhuần vạn vật, đạo của ân sư đã độ khắp chúng sanh, ân sư ôi một lạy này đệ tử gọi là chút lòng thành để đền đáp dạ từ bi.

Hòa thượng ca:
11- Ngài ôi, ngài chớ quá nhọc tâm, mà bần tăng thêm tổn đức, ngài hãy bình tâm đi, để lạy này, ngài lạy Phật thì phải hơn, tâm sự đôi bên bần tăng chưa hiểu hết, nhưng chẳng may đạo Huệ Minh tánh mạng khó bảo toàn.
12- Thì bấy lâu nay tiếng kệ câu kinh, tiểu Huệ Minh đã dày công sám hối, dòng hệ lụy dầu chưa có rũ sạch, nhưng căn đã khiến cho gần chốn Phật đài, mà duyên đã tạo nhiều công quả, có lẽ rồi đây cõi Tây phương người sẽ được hưởng phước thanh nhàn.


Nói: Ngài cứ yên lòng, Huệ Thông (mô Phật) Huệ Trí (mô Phật) hãy y lời thầy dặn.

Huệ Thông nói:
Huynh Huệ Minh, hòa thượng đã y lời cầu xin của huynh, nên vào đây, huynh muốn tỏ điều gì thì cứ bạch với tôn sư đi.

Huệ Minh nói:
Huynh Huệ Thông.

Huệ Thông nói:
Mô Phật.

Huệ Minh nói:
Bây giờ là chừng nào rồi.

Huệ Thông nói:
Hết canh tư bước sang canh năm.

Huệ Minh nói:
Ôi tai lắng mõ chuông chớ tấm thân đã nhẹ nhàng tục lụy,
nhưng mắt nhìn cảnh vật, cõi lòng chưa có giải thoát hồng trần,
trong khói hương mà chạnh chốn tử phần,
nỗi đau khổ lạy cha già xin lượng thứ,
tủi duyên phận tôi mới tìm nơi Phật tự,
thân bọt bèo nhờ sư phụ rộng dung tình,
ân sư ôi, đáp ơn dày đành đợi kiếp lai sinh,
số mạng bạc tới đây cam liểu kết,
nghiệp oan dầu hết, mà phúc quả chưa tròn,
như tôi đây dám vì tình lỗi đạo làm con,
thì tội bất hiếu kiếp nào chuộc được.

      (Ca Nam Ai:) (lớp mái)
Ân sư ôi, cúi xin thương tha thứ tội tình,
Thật tôi là họ Nguyễn tên Lan,
Trắc trở cuộc tình duyên,
Bởi quá thống khổ,
Mượn tên Điệp này,
Đặng có nhập thiền môn,
Tôi dẫu chết đã yên phận rồi,
Tội nghiệp cho người kiếp sống không nguôi,
Thương nhau đã lỡ rồi, ôi hỡi đất trời,
Tại vì đâu xui ly biệt đôi nơi,
Từ ngày đành cắt đứt dây chuông,
Ôi anh Điệp anh có rõ cho chăng,
Em chỉ sợ vì em, mà anh phải khổ,
Thôi để một mình thân em chịu là xong,
Nay cái chết không dung em rồi,
Anh hãy yên lòng, vui cảnh vợ con,
Kiếp này không hiệp, hẹn cùng anh theo kịp em chờ.

Huệ nói:
Em Lan.

Lan nói:
Anh Điệp ôi em đã mệt lắm rồi.

Huệ nói:
Trời ôi! Lan, em Lan đã tắt nghỉ rồi.


Tham khảo Soạn giả Trần Hữu Trang: Sân khấu và dĩa hát - Báo Bạc Liêu, 15/06/2012
ĐIỂM DANH NHỮNG GIỌNG CA VÀNG TỪ NĂM 1940 ĐẾN NĂM 2000 - Soạn giả Nguyễn Phương, Cải Lương Việt Nam, 22/04/2016
Đêm hè nhớ lại Những giọng ca vàng ngày xưa - Nguyễn Phương, Cải lương Số, 2012
Tiểu Sử Cô Tư Sạng - Kho tàng Vọng cổ Việt Nam, 07/08/2021

Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2025

Nhà văn Nguyễn Công Hoan kết hợp báo chí và văn học trào phúng


Văn hóa
100 năm báo chí cách mạng Việt Nam: Những nhà văn khai phá nền báo chí và văn học hiện đại

Nhà văn Nguyễn Công Hoan
kết hợp báo chí và văn học trào phúng

Nguyễn Việt Chiến


Nhà văn Nguyễn Công Hoan sinh năm 1903 tại Văn Giang, Hưng Yên, trong một gia đình quan lại xuất thân Nho học. Từ nhỏ, ông đã được nghe và thuộc rất nhiều câu thơ, câu đối, những giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm, đả kích tầng lớp quan lại. Điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách văn chương của ông sau này.

Năm 1926, Nguyễn Công Hoan tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, làm nghề dạy học ở nhiều nơi (Hải Dương, Lào Cai, Nam Định...) cho đến khi Cách mạng tháng Tám thành công. Ông viết văn từ sớm, tác phẩm đầu tay Kiếp hồng nhan (viết năm 1920, được Tản Đà thư điếm xuất bản năm 1923) là một đóng góp cho nền văn xuôi VN bằng chữ Quốc ngữ. Trước năm 1945, ông đã là một cây bút báo chí sắc sảo, không ngừng đăng tải các truyện ngắn mang màu sắc thời sự xã hội trên những tờ báo nổi tiếng như: Phong Hóa, Ngày Nay (Tự Lực Văn Đoàn); Tiểu thuyết thứ bảy, Trung Bắc Chủ Nhật, Bạn dân; Ích Hữu, Hà Thành ngọ báo, Đông Tây

Nguyễn Công Hoan là người kể chuyện để phơi bày hiện thực xã hội, và nhiều truyện ngắn của ông mang tính báo chí cao, bởi chúng nói thẳng vào vấn đề đương thời, phản ánh thực trạng xã hội một cách nhanh gọn, gây cười mà đau. Có thể điểm qua một số truyện ngắn nổi tiếng của ông như Kép Tư Bền (Phong Hóa, 1935) miêu tả một anh kép tuồng phải "cười" trên sân khấu trong khi mẹ anh đang hấp hối dưới gầm nhà hát. Tác phẩm phê phán xã hội thờ ơ, phi nhân tính, biến nghệ sĩ thành công cụ giải trí bất chấp nỗi đau riêng. Là một truyện ngắn đăng báo nhưng mang tính thời sự xã hội rất rõ khi đời sống văn nghệ sĩ bị rẻ rúng, nghề nghiệp bị thương mại hóa và bóp méo.

Trong truyện ngắn Một tấm lòng (Ngày Nay, 1937?), bằng giọng văn châm biếm lạnh lùng, Nguyễn Công Hoan kể về một người lính đánh chết vợ vì "yêu thương quá mức". Tác phẩm phản ánh tư duy phong kiến sai lệch và sự bạo hành được ngụy trang bằng danh nghĩa đạo đức. Đây là một dạng "bài báo thời sự bằng truyện ngắn" vừa mang tính phản ánh thực tế xã hội, vừa gợi nên sự phẫn nộ lặng lẽ nơi người đọc.

Với giọng văn bi hài, truyện ngắn Tinh thần thể dục (Tiểu thuyết thứ bảy, 1939) kể chuyện cả làng bị ép buộc "rèn luyện thể dục" theo phong trào hình thức. Những người yếu, người bệnh, thậm chí sắp chết, cũng bị bắt ra tập để làm "thành tích". Tác phẩm phơi bày sự hình thức hóa, máy móc, và hài hước đến phi lý trong bộ máy cai trị thời Pháp thuộc. Ngòi bút vừa bi hài vừa hiện thực của ông phản ánh một xã hội đang "diễn" thay vì sống. Đặc trưng ngôn ngữ báo chí của Nguyễn Công Hoan là nụ cười trào phúng sắc lẻm với lối viết sắc sảo, đơn giản, giàu tính kịch. Ông không dùng văn hoa, mà dùng văn đời ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, nhưng đầy kịch tính. Các tình huống trong truyện báo chí của ông thường được dẫn dắt rất nhanh, đưa người đọc vào ngay "mâu thuẫn xã hội" chỉ trong vài dòng. Cách này rất gần với lối viết tường thuật báo chí hiện đại là chú trọng sự mở đầu gây ấn tượng và nhanh chóng vào chủ đề.

Với giọng điệu trào phúng, châm biếm nhưng nhân đạo, Nguyễn Công Hoan có biệt tài châm biếm mà không độc ác. Giọng văn của ông như một cái gương phóng đại, làm bật lên sự nực cười của cái sai, cái giả, cái vô lý, để độc giả tự bật cười mà nhận ra vấn đề. Văn phong châm biếm không nhằm bêu xấu cá nhân, mà lật mặt hệ thống suy đồi từ quan lại, pháp luật, y tế đến giáo dục...

Các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan cho thấy viết báo phải đánh trúng vào sự phi lý và giả tạo. Ông dạy rằng, viết báo không chỉ phản ánh "chuyện có thật" mà phải bóc trần "sự thật bên dưới", đặc biệt là những giá trị đảo điên, sự hình thức, và thói giả nhân giả nghĩa trong xã hội. Muốn như vậy, người làm báo cần quan sát sâu sắc và có con mắt hài hước đầy tỉnh táo. Ông thường dùng tiếng cười để lay động, không cần dùng ngôn ngữ giật gân, để tình huống tự nói lên tiếng cười mỉa mai. Đây là một bài học cho người viết báo bằng ngôn ngữ báo chí không cần ồn ào, chỉ cần đúng chỗ và đúng lúc là đủ sức thuyết phục.

Một đặc trưng nữa, phong văn báo chí cũng cần tới nghệ thuật kể chuyện, và Nguyễn Công Hoan đã kết hợp tài tình giữa báo chí với văn học và sân khấu, khiến mỗi truyện đăng báo giống như một tiểu phẩm kịch phản ánh đời sống xã hội.

Nguyễn Công Hoan là cây bút báo chí trào phúng hiện thực bậc thầy, dùng truyện ngắn làm phương tiện phê phán xã hội, chống lại sự vô lý và tha hóa bằng tiếng cười thông minh. Ngôn ngữ báo chí của ông không màu mè, không sáo rỗng, vừa sắc sảo vừa có chất nhân văn, luôn đứng về phía người dân thấp cổ bé họng.

Trong bối cảnh báo chí hôm nay đôi khi sa vào sự hời hợt, thì bài học báo chí từ nhà văn Nguyễn Công Hoan như một lời nhắc: một câu chuyện đời thường, nếu viết đúng và viết thật, có thể trở thành bản cáo trạng hùng hồn nhất đối với bất công xã hội. (còn tiếp)


Nhà văn Nguyễn Công Hoan là đảng viên Đảng Lao động VN từ năm 1948. Năm 1951, ông làm việc ở Trại tu thư của ngành giáo dục, biên soạn sách giáo khoa và sách Sử Việt Nam hiện đại từ Pháp thuộc đến năm 1950 dùng cho lớp 7 hệ chín năm. Từ sau năm 1954, ông trở lại nghề văn với cương vị Chủ tịch Hội Nhà văn VN (khóa đầu tiên 1957 - 1958), Ủy viên Ban Thường vụ trong Ban chấp hành Hội Nhà văn VN các khóa sau đó. Ông cũng là Ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật VN, chủ nhiệm tuần báo Văn (tiền thân của báo Văn Nghệ). Nguyễn Công Hoan mất năm 1977 tại Hà Nội. Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 năm 1996.


Nguyễn Việt Chiến



Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2025

Chuyện tình Lan và Điệp từ cải lương bước sang tân nhạc - Ngành Mai, thông tín viên RFA


Chuyên mục: Lan&Điệp

Chuyện tình Lan và Điệp
từ cải lương bước sang tân nhạc

Ngành Mai,
thông tín viên RFA


P1
Hình ảnh Thành Được và Thanh Nga trong vở Lan và Điệp.


Bất tử với thời gian
Từ hơn bảy thập niên qua, kể từ ngày vở hát Lan và Điệp của soạn giả Trần Hữu Trang, tức Tư Trang được trình diễn trên sân khấu Năm Phỉ thì phần lớn khán giả cải lương sành điệu, đã biết qua tình tiết lớp lang câu chuyện diễn tiến từ đầu tới cuối.

Buổi trình diễn khi vở hát mới ra đời ấy, do cô đào Năm Phỉ đóng vai Lan, kép Tư Út đóng vai Điệp, đôi nghệ sĩ tiền phong thượng thặng này đã mở đầu cho hai nhân vật chính Lan – Điệp trở thành bất tử với thời gian. Bởi trong lịch sử nghệ thuật sân khấu chưa có vở hát nào được giới mộ điệu ưa thích, đến đỗi càng về sau câu chuyện càng mở rộng xâm lấn sang các lãnh vực văn nghệ khác.

Trước tiên Lan và Điệp được hãng dĩa hát Asia thâu thanh với tên tựa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành cùng khắp từ Nam chí Bắc.

Dĩa hát cũng được bán qua Miên, và theo theo như nhà phát hành lúc ấy cho biết, thì kiều báo xứ Chùa Tháp họ tiêu thụ dĩa hát này nhiều gấp 3, 4 lần đại lý dĩa hát ở Cần Thơ. Do ở đất Miên dễ làm ăn, người ta dám mua sắm, vả lại số người sang đây lập nghiệp đại đa số là người Nam Kỳ Lục Tỉnh, mà cổ nhạc cải lương đã gắn liền với đời sống tinh thần của họ.

Dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được đưa sang Lèo và cả ở bên trời Tây, do vậy mà kiều ở Pháp vẫn còn những người lưu giữ các dĩa hát xưa ấy. Song song đó cuốn bài ca “Hoa Rơi Cửa Phật cũng được ra đời bán ở các chợ miền quê, chợ nhỏ, lớn nào cũng có người bán. Rồi cũng từ đó các gánh hát bầu tèo (gánh hát nhỏ) ở thôn quê đã sao chép lời ca, lời đối thoại, rồi thêm thắt vào dựng lên tuồng cải lương Lan và Điệp phục vụ bà con ở thôn quê và cũng được hoan nghinh.



Tân nhạc chào đón Lan và Điệp
Từ khi vở hát Lan và Điệp ra đời hiện diện trên sân khấu suốt hai thập niên, hầu như không ai nghĩ đến chuyện sẽ có ngày Lan và Điệp lại có thể chen chân vào lãnh vực tân nhạc. Bởi tân nhạc có một lối sinh hoạt khác xa với cải lương, có người còn nói tân nhạc và cổ nhạc hình như không thích nhau. Thế mà đến giữa thập niên 1960 tân nhạc đã mở rộng cánh cửa thân tình, chào đón Lan và Điệp, đo là năm 1965 người ta bất ngờ nghe xướng ngôn viên Đài phát thanh Sài Gòn giới thiệu nhạc bản “Chuyện Tình Lan và Điệp” của Mạc Phong Linh và Mai Thiết Lỉnh.

Bản nhạc có lời ca điệu nhạc truyền cảm ấy được thính giả lúc bấy giờ ưa thích, gởi thơ yêu cầu nhiều nên Đài phát thanh Sài Gòn và đài Ba Xuyên đã cho phát đi phát lại bản nhạc này nhiều lần, đen đỗi có người nghe riết rồi thuộc lòng và hát luôn.

Có điều lạ là đa số thính giả yêu cầu đài phát bản “Chuyện Tình Lan và Điệp” lại là thính giả thường nghe chương trình cổ nhạc cải lương, và họ cũng nói phải chi bản nhạc này mà có Út Bạch Lan, Thanh Nga, Thành Được ca thêm vài câu vọng cổ thì hay biết mấy.

Thế là hãng dĩa hát Hồng Hoa đã “bắt mạch” được, họ thương lượng với tác giả bản nhạc mua bản quyền và “đặt hàng” cho soạn giả Viễn Châu viết thêm lời ca vào, đồng thời chọn các ca sĩ tân cổ nhạc đang nổi tiếng lúc bấy giờ là Thanh Tuyền, Hồng Phúc, Thanh Nga, Thành Được, Tấn Tài. Còn đệm tân nhạc thì hãng chọn ban nhạc Huỳnh Anh, về cổ nhạc thì nhạc sĩ Năm Cơ đờn kìm, Bảy Bá đờn tranh và lục huyền cầm, Tư Huyện đờn vĩ cầm. Với thanh phần ca nhạc sĩ khá hùng hậu này mà hãng chỉ thu thanh có một dĩa nhựa 45 tua, thì phải nói rằng hãng dĩa Hồng Hoa đã chịu bỏ tiền đầu tư một số vốn khá lớn vậy.








P2
Bìa đĩa hát cải lương Chuyện tình Lan và Điệp.


Vọng cổ có pha tân nhạc
Dĩa hát tân cổ giao duyên “Truyện Tình Lan và Điệp” phát hành đã bán khá chạy, bởi đa số những người có máy hát dĩa thời đó đã không bỏ qua dĩa hát trữ tình này. Đồng thời đã không ít những người yêu thích tân nhạc họ cũng khen hay, do đó là động lực cho hãng dĩa Hồng Hoa tiếp tục cho phát hành dĩa vọng cổ có pha tân nhạc, với những bản nhạc đang được ưa chuộng.

Tiếp theo đó thì lại thêm những hãng dĩa khác ra đời, xuất hiện với nhiều nhãn hiệu mới, mà hầu như hãng nào cũng nhắm vào khai thác bài tân cổ giao duyên.

Lúc bấy giờ do vấn đề thương mại, các hãng dĩa đã không còn sản xuất dĩa hát rặc ròng 6 câu vọng cổ nữa, mà hầu hết đã tìm các bản nhạc từng nổi tiếng nhiều năm trước, để biến thành bài tân cổ giao duyên.

Theo lập luận của hãng dĩa, tức những người làm thương mại họ tính toán khá kỷ, thì tuy rằng bài tân cổ giao duyên có làm “trái tai” với một số người vốn bảo thủ bài vọng cổ thuần túy, nhưng nó lại thích hợp với một số đông đảo hơn, với những người thưởng thức cổ nhạc thời ấy. Do vậy mà số thính giả bảo thủ dù muốn dù không cũng “bị” nghe tân nhạc xen vô vọng cổ.



Bài vọng cổ chỉ còn 4 câu
Người ta nhớ lại từ đầu thập niên 1950 cho đến năm 1965, soạn giả viết bài ca luôn đầy đủ 6 câu vọng cổ, mà thông thường nói lối xong xuống hò vô câu 1. Khi dứt câu 3 nói lối trở lại và xuống hò vô vọng cổ câu 4.

Thời đó các soạn giả viết bài ca vọng cổ đã theo quy luật này, và những bài vọng cổ đủ 6 câu cũng thịnh hành một thời như. Xâu Gùi Bến Cát, Đội Gạo Đường Xa, Mồ Em Phượng, Tình Anh Bán Chiếu, Gánh Nước Đêm Trăng, Lòng Dạ Đàn Bà, Tu Là Cội Phúc, Tiếng Đàn Trên Bắc Mỹ Thuận, Bá Nha Tử Kỳ...

Cũng có trường hợp soạn giả đã thay thế nói lối bằng mấy câu thơ lục bát. Soạn giả Kiên Giang vốn là thi sĩ nên bài vọng cổ của ông ngoàiviệc cho thơ thay thế nói lối, mà còn đem thơ vào luôn câu ca vọng cổ, thường là 8 nhịp dứt câu. Nhưng dù cho thơ vào, thì bài vọng cổ vẫn đủ 6 câu chớ không cắt bớt.

Thời điểm ấy đờn ca tài tử khi nhập cuộc thì ca đủ 6 câu vọng cổ, kể cả các bài vọng cổ hài hước do Hề Minh và Hề Văn Hường ca. Thế nhưng, từ ngày bài tân cổ giao duyên “Truyện Tình Lan và Điệp” ra đời đã dẫn theo hàng loạt bài tân cổ giao duyên khác, do vậy mà bài vọng cổ chỉ còn 4 câu.

Câu thứ 4 bị mất trước tiên, rồi thì câu 3 cũng bị bỏ đi, cho dù cắt bỏ câu nào cũng được, riêng câu 6 thì giữ nguyên phần xuống “xê” và 8 nhịp chấm dứt bài ca.

Do yêu cầu của nhà sản xuất dĩa hát, nên soạn giả bắt buộc phải bỏ bớt 2 câu để xen tân nhạc vào cho hợp với kỹ thuật thu dĩa, mỗi bài tân cổ giao duyên vô một mặt dĩa, không thể dư được.

Lúc bấy giờ có người thắc mắc với soạn giả Viễn Châu, rằng tại sao không viết trọn bài vọng cổ 6 câu, mà viết toàn vọng cổ pha tân nhạc, làm vọng cổ mất đi 2 câu, như vậy dân đờn ca tài tử đâu có ca được. Soạn giả Viễn Châu đã trả lời: Nếu viết cho đủ 6 câu, tức là không có chen tân nhạc thì ai trả tiền? Hãng dĩa chỉ mướn mình viết vọng cổ dựa theo bài tân nhạc, chớ còn viết đủ 6 câu thì phải đi chào hàng khó ăn hơn nhiều, mà chắc gì hãng dĩa chịu mua. Thôi thì viết bài ca được “đặt hàng” đôi khi còn nhận tiền trước.

Do vậy mà từ khi tân cổ giao duyên ra đời, dân đờn ca tài tử chỉ ca các bài bản cũ 1965 trở về trước, mà bài được ca nhiều nhứt phải nói là bài “Tình Anh Bán Chiếu ” của soạn giả Viễn Châu.



Ngành Mai

Đĩa hát cải lương Chuyện tình Lan và Điệp.



Thứ Tư, 18 tháng 6, 2025

Suy nghĩ về sự tiếp nhận hình ảnh Tỳ kheo ni Việt - Nguyễn Thành Trung


Chuyên mục: Lan&Điệp

Suy nghĩ về sự tiếp nhận hình ảnh Tỳ kheo ni Việt

Nguyễn Thành Trung



Trong bài viết Vai trò của Ni giới Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, Thích Nữ Phúc Thuận đã nhìn Bát kỉnh pháp của Phật giáo nguyên thủy trong hoàn cảnh Ấn Độ cổ đại, xã hội quy định vai trò thấp kém của người phụ nữ Ấn Độ (ramani). Trước thời Phật, phụ nữ bị cho là nguồn gốc rắc rối, là ngọn đèn chiếu đường xuống địa ngục… từ đó khẳng định ủng hộ vì
Bát kỉnh pháp (Attha garudhamma) là cánh cửa phương tiện (paccaaya) để cho nữ giới đi vào. Đức Phật đã khéo léo vận dụng phương tiện (paccaya) thiện xảo này nhằm tránh né sự chống đối của xã hội và Tăng già với mục đích xã hội hóa tính hợp pháp cho nữ giới về quyền xuất gia tu hành
(Thích Nữ Phúc Thuận).

Hình ảnh Tỳ kheo ni trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Xưa, Jesus Christ thường hay dùng ngụ ngôn để giảng dạy môn đồ, Khổng Tử hay kể chuyện để giáo huấn học trò, Phật Thích Ca tùy đệ tử mà kể chuyện, đặt câu hỏi, qua đó giảng pháp. Bắt đầu bài nói chuyện bằng điểm chung chia sẻ với thính giả là con đường của diễn giả thành công, đưa người học đi từ cái biết đến cái chưa biết là cách thức của người thầy lớn. Tiếp nhận là phương pháp quan tâm đến người nghe, người đọc trong giao tiếp nhằm phát huy những kênh tương đồng, những mã tương hợp giữa người phát và người nhận.

Hầu hết người Việt Nam đều biết ca khúc của Mạc Phong Linh và Mai Thiết Lĩnh: “Chuyện tình Lan và Điệp”, Lan và Điệp trở thành hình mẫu để nói mối tình lứa đôi lãng mạn. Nguyên tác câu chuyện này là tiểu thuyết Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan, xuất bản vào năm 1933,

kể về chuyện tình của chàng trai tên Điệp và cô gái tên Lan ở một làng quê nọ, vốn hai nhà có đính ước từ xưa, hai người cũng “tình trong như đã mặt ngoài còn e”; Điệp khi lên tỉnh thi thì mắc lừa quan phủ phải cưới con gái ông là Thúy Liễu, cuộc sống gia đình không hạnh phúc; Điệp bỏ đi, học y sau mở phòng mạch riêng. Riêng Lan, vì đau buồn chuyện tình tan vỡ nên lên chùa Phương Thành, giả trai lấy tên Điệp, chôn xác bướm và hoa lan, khóc thương đau buồn trọng bệnh; Điệp mang về cứu chữa nhưng không kịp, Lan qua đời trên tay Điệp. Type truyện này ngày càng phổ biến, được chuyển thể cải lương, phổ nhạc, dựng phim, diễn kịch… tạo nên một hiện tượng lý thú trong nền văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX và đặc biệt là in sâu vào lòng công chúng những cảm thức, quan điểm thẩm mỹ nhất định. Có thể tóm lược hành trình phổ biến type truyện này thông qua bảng sau:


Bảng 1. Hành trình type truyện Lan và Điệp
STTTên tác phẩmNăm ra đờiTác giả/ đạo diễnMô tả: thể loại, diễn viên/ ca/ nghệ sĩ
1Tắt lửa lòng1933Nguyễn Công HoanTiểu thuyết, cốt truyện gốc
2Lan và Điệp1936Trần Hữu TrangCải lương: Năm Phỉ, Thanh Nga
3Hoa rơi cửa Phật1948 Cải lương đĩa nhựa ASIA: Tư Sạng, Năm Nghĩa… Viễn Châu viết lời vọng cổ: Mộng Tuyền,
Út Bạch Lan
4Chuyện tình
Lan và Điệp
1965Mạc Phong Linh, Mai Thiết Lĩnh (Lê Dinh, Minh Kỳ, Anh Bằng)Tân nhạc: 3 ca khúc Viễn Châu viết tân cổ giao duyên: Lệ Thủy
5Lan và Điệp1970Ban kịch Kim CươngKịch nói: Kim Cương
6Chuyện tình
 Lan và Điệp
1970Loan Thảo, Thế ChâuCải lương: Chí Tâm,
Thanh Kim Huệ
7Chuyện tình Lan và Điệp1972Lê DânPhim nhựa: Thanh Nga,
Thanh Tú
8Lan và Điệp2008Minh ThuậnCa vũ cải lương:
Đàm Vĩnh Hưng, Thanh Thảo


Theo diễn biến này, type truyện Lan và Điệp thể hiện ba đặc điểm, đồng thời cũng gắn kết thành một tiến trình nhân quả gồm: thay đổi chủ đề, bổ sung/chuyển đổi chi tiết, khắc họa đậm nét nhân vật Lan trong chùa.

Thứ nhất, type truyện gốc được viết trong cảm thức hiện thực phê phán, vạch trần bộ mặt xã hội thuộc địa thực dân nửa phong kiến Việt Nam dưới sức nặng đồng tiền dần chuyển sang khuynh hướng lãng mạn với đề tài tình yêu đôi lứa tan vỡ. Đến những năm 1930, thực dân Pháp hoàn thành công cuộc ổn định và bắt đầu khai thác thuộc địa, khủng hoảng kinh tế thế giới ập đến, người dân bị áp bức bóc lột đến cực điểm đã liên kết, tổ chức nhiều cuộc khởi nghĩa; xã hội rối ren, con người trở thành trò rối cho thế cục; lòng người bạc ác, hạnh phúc hóa ra hư ảo mong manh. Bản thân Nguyễn Công Hoan là nhà văn hiện thực phê phán, ông có nhiều tác phẩm nổi tiếng khắc họa bức tranh đen tối của xã hội đương thời như: Đồng hào có ma, Kép Tư Bền, Bước đường cùngTắt lửa lòng phản ánh sâu sắc thực trạng đó thông qua việc xây dựng mối tình thơ mộng của hai nhân vật chính phải kết thúc trong chùa; cửa thiền trở thành lựa chọn bất đắc dĩ và nghiệt ngã.

Thứ hai, từ Tắt lửa lòng đến “(Chuyện tình) Lan và Điệp” dưới sự tác động của sức mạnh tiếp nhận, không chỉ thay đổi khuynh hướng tư tưởng mà còn được bổ sung, chuyển đổi thêm nhiều chi tiết. Trước hết là dấu ấn văn hóa, từ tiểu thuyết đến cải lương, type truyện này có một hành trình Nam tiến rõ nét. Về mặt ngôn ngữ, đẻ đã thành má, hỏng thành rớt; kịch bản cải lương bỏ chi tiết xin đỗ ở chương 1- Thôi còn chi nữa mà mong, và báo tin đậu cuối chương 4 Khoa. Nhưng quan trọng hơn là gia giảm chi tiết nhằm phục vụ cho chuyện tình của hai nhân vật chính. Đơn cử, bản cải lương không quan tâm Vũ (con Điệp) và cuộc sống về sau của Thúy Liễu mà khắc họa rõ hơn hoàn cảnh trong chùa của Lan với cái chết bi thương. Khâu thắt nút được đẩy lên cao hơn khi các soạn giả biến việc Điệp hỏi ý kiến cha con Lan (về chuyện cưới vợ) thành Lan trộm nghe, ứng với chi tiết đan cài từ trước, Lan nói: Nếu có chuyện gì chắc tui chết quá à, chắc tui đi tu quá à. Vì lẽ đó, trường đoạn Điệp đến chùa, Lan cắt đứt dây chuông được thêm vào, 15 năm xa cách được rút ngắn lại, chi tiết Điệp đem Lan về phòng mạch được thay bằng Điệp lên chùa, mặc áo sư ông vào gặp Lan.

Thứ ba, kết quả của những thay đổi trên là chùa trở thành mảng không gian quan trọng trong kết cấu nghệ thuật (Chuông đổ chùa xa – Lan và Điệp 1), tiểu Lan – tức Lan trong vai trò người tu hành Phật giáo tại chùa – xuất hiện trực tiếp và mang đến nhiều tác động thanh lọc thẩm mỹ (carthasis – chữ Aristotle) song cũng đồng thời đặt ra vấn đề về hình ảnh tỳ kheo ni Lan đối với công chúng. Từ góc độ này nhìn nhận, động cơ Lan lên chùa là để vùi lấp (không phải xả bỏ) chuyện tình duyên (nếu duyên không thành Điệp ơi! Lan cắt tóc quên đời vì anh – Lan và Điệp 1), lên chùa Lan lại giả trai đi tu tức nói dối (không giữ được ngay cả Ngũ giới dành cho cư sĩ), hậu quả là không quên được duyên xưa, chôn hoa lan và cánh bướm, buồn đau sinh bệnh mà chết (chấp ái dục – gốc của sinh tử)


(Lan
náu thân cửa từ bi
bởi
vướng vào sầu đau
Nàng sống mà tim như đã chết
Riêng bóng cô đơn, đôi môi xin phai tàn

– Lan và Điệp 1;
Lan gói niềm riêng tìm quên lãng ngày đêm bên mái chùa
Sớm chuông chiều kinh mặc thời gian dần trôi trong tái tê
Nàng không sao xóa tình yêu xưa cũ dẫu cho con thuyền neo bến đường tu
– Lan và Điệp 2);
chuông chùa hỗ trợ chánh niệm trở thành nỗi ám ảnh sâu sắc
(tiếng chuông đêm dài như tiếng thở than như đem tin buồn, như gieo hoang tàn đến cho đời nàng
– Lan và Điệp 2.
Từng hồi chuông ngao ngán ngân dài như khóc than, tiễn một linh hồn
– Lan và Điệp 3);
chùa trở thành nhà tù giam giữ con tim tình yêu
(Khi tiếng mõ công phu nện đều trên chánh điện thì suối lệ đầy vơi cũng thấm đượm áo nâu sòng… Gia trung Điệp đã về rồi. Đêm đêm quỳ trước Phật đài một mình Lan...
– Lan và Điệp (vọng cổ)…
Có thể nói, con đường tu của Lan thất bại hoàn toàn, tình yêu của Lan gây phiền lụy đến nhà chùa và hình ảnh của Lan không có tác dụng tích cực trong tiếp nhận của công chúng về Phật giáo.

Mặt khác, một điều lý thú ít được quan tâm là trước đó không lâu cũng vào năm 1933, tác phẩm “Hồn bướm mơ tiên” của Khái Hưng ra đời cũng kể lại câu chuyện yêu đương dưới mái chùa Long Giáng của chàng trai Ngọc và chú tiểu Lan (gái giả trai). Ngọc là chàng trai Hà Nội lên thăm chùa để ý tiểu Lan nước da trắng mát, tiếng nói dịu dàng trong trẻo như tiếng con gái… Qua mấy lần tiếp xúc, đụng chạm, Ngọc để tâm điều tra, đến khi biết Lan là gái, vì bị mẹ cha ép gả nên vào chùa tu, thì anh cũng nhận ra mình đã yêu cô. Cuối cùng, Lan nhẹ nhàng từ chối tình cảm, Ngọc xin giữ mãi mối tình ấy và nguyện ngày ngày lên chùa gặp Lan. Cốt truyện không quá phức tạp, phần vì tâm lý độc giả; cái hay của tác phẩm là những biến chuyển tâm lý sâu kín, tinh vi của các nhân vật. “Hồn bướm mơ tiên” đã bổ sung một góc khác của Lan khi sống trong môi trường tự viện. Tuy không dằn vặt, đau khổ như “Tắt lửa lòng” nhưng cuộc chiến nội tâm của Lan trong “Hồn bướm mơ tiên” không hề nhẹ nhàng, đặc biệt là qua các lần tiếp xúc với Ngọc, nhận ra tình cảm nẩy nở và khao khát yêu đương trỗi dậy. Đánh giá về Lan trong tác phẩm này, cảm thông và chỉ trích đều có. Tam Ích, sau 30 năm tác phẩm ra đời, đã phê phán bản thân Lan không hiểu được cái vui của tu hành, sư cụ thì huyền bí hóa Phật pháp, Lan và Ngọc nhầm lẫn ý nghĩa tình yêu của Phật đà; tóm lại tác phẩm của Khái Hưng có hại cho Phật giáo. 50 năm sau, Hoàng Như Mai chỉ ra nét đẹp trong không gian chùa, những sinh hoạt lễ nghi truyền thống; lý luận Lan mới đi tu được hai năm sao khỏi vướng lòng trần, tuy vậy mỗi khi xao xuyến cô đều niệm Phật để tĩnh tâm; ít nhất Lan và Ngọc vẫn giữ được mối quan hệ trong sáng khỏi vũng bùn tình dục…

Nguyễn Thành Trung

(Còn tiếp)



Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2025

Từ hình tượng văn học, nghĩ về Tỳ kheo ni Việt Nam - Nguyễn Thành Trung


Chuyên mục: Lan&Điệp

Từ hình tượng văn học,
nghĩ về Tỳ kheo ni Việt Nam

Nguyễn Thành Trung



Bài viết này không nhằm tôn vinh cũng không phê phán mà hướng đến lý giải nguyên nhân để nhìn nhận không chỉ hình tượng Lan (tác phẩm Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan) riêng lẻ mà giải quyết nhiều vấn đề khác, cụ thể hơn, thời đại hơn. Về nhân vật Lan, trước hết đây là hình ảnh tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam: vừa yếu đuối mong manh nhưng cũng vừa kiên tâm mạnh mẽ; họ yêu say đắm để rồi đau khổ vì yêu. Lan là sự nối tiếp hình tượng người phụ nữ trong truyền thống nhân đạo của văn học dân tộc Việt Nam: không tìm được giải pháp trong cuộc đời, gửi thân vào cửa chùa để quên đi đau khổ. Với tính chất là nơi nương tựa cuối cùng, hiếm khi nhà chùa từ chối họ; ở đây Phật giáo thể hiện tinh thần nhập thế, tùy duyên hóa độ hết thảy, đậm tính dân gian của Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên, có những thứ ta có thể quên nhưng riêng tình cảm càng cố quên lại càng đau khổ, dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng… Việc Lan chẳng thể quên tình xưa hay không ngăn được con tim vọng động cũng là lẽ gì rất thực, rất tự nhiên; kết thúc đau khổ cũng là kết quả tất yếu; khác chăng là với một nhà văn hiện thực như Nguyễn Công Hoan thì Lan phải chết, còn với nhà văn lãng mạn Khái Hưng thì Lan (tác phẩm Hồn bướm mơ tiên) vẫn ở chùa tu nhưng chắc chắn chẳng thể nào an nhiên hạnh phúc như xưa. Quyết tìm đến Phật đạo nhưng trong hành trình chuyển hóa đầy gian nan, con người vẫn luôn chịu nhiều dằn vặt và không phải ai đi tu cũng thành công; gánh nặng vật chất dễ dàng rũ đi nhưng mối dây tình duyên cứ hoài cột chặt, đặc biệt đối tượng lại là nữ giới, dù là tỳ kheo ni. Bên cạnh đó, hai tác giả lại là trí thức Tây học, họ quen thuộc với bình diện dân gian của Phật giáo, họ vận dụng Phật giáo như một thể nghiệm, một phương kế có thể thành công hoặc thất bại; bởi từ trong bản chất, chùa, Phật, tiểu Lan hay bất kỳ một hình tượng nào xuất hiện trong tiểu thuyết cũng là phương tiện nghệ thuật – một chỉnh thể có đời sống và quy luật riêng của nó. Điều có thể rút ra từ hình tượng tiểu Lan và câu chuyện này là quy luật biến đổi, là lẽ vô thường, là tâm không chấp trước, là trí dung thông; nghĩa là hiểu được sự thay đổi về chủ đề, cốt truyện là tất yếu bởi hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tác giả… mà đặc biệt là người xem, người tiếp nhận. Với cái nhìn này thì hình tượng tiểu Lan (lẽ ra là tỳ kheo ni Lan) là phương tiện có ảnh hưởng lớn đến người đọc trong gần 100 năm nay; việc đối tượng này đúng đến đâu theo tinh thần Phật giáo không quan trọng bằng việc Phật giáo hiểu và vận dụng nó như thế nào cho hợp lý và đạt hiệu quả.

***

Hình tượng Lan là tiêu điểm đồng thời kết quả của truyền thống Phật giáo Việt Nam. Trong suốt tiến trình ngàn năm ấy, nhiều ni sư lỗi lạc đã góp phần to lớn trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước và đạo pháp, như Ni sư Diệu Nhân (1041-1113), ni trưởng Đàm Soạn, Đàm Hữu, Đàm Tín… Lịch sử Phật giáo Việt Nam và danh tính các ni sư lớn đã được đề cập đến trong nhiều công trình, bài viết; thông qua đó, cơ bản có thể rút ra vài đặc điểm của Phật giáo Việt Nam bao gồm tính tính lịch sử, tính dân tộc và tính linh động.

Thứ nhất, tính lịch sử của Phật giáo Việt cũng như Phật giáo các dân tộc khác là thăng trầm cùng sự biến thiên của các cộng đồng bản địa. Lẽ tất nhiên, Phật giáo ra đời và vận hành giữa thế gian, chính sách kinh tế, hoàn cảnh chính trị, điều kiện xã hội của mỗi đất nước sẽ liên tục tác động và định hình Phật sử quốc gia đó. Nhiều cột mốc lịch sử trùng khớp, hình thành các giai đoạn Phật sử. Lê Mạnh Thát trong bộ Lịch sử Phật giáo Việt Nam đã phân tiến trình này thành 5 thời kỳ bao gồm:

1. Thời kỳ Phật Giáo Quyền Năng (- 544).
2. Thời kỳ Phật Giáo Vận Động Độc Lập (544 - 1069), cần lưu ý là năm 544 Lý Bôn khởi nghĩa xưng đế.
3. Thời kỳ Phật Giáo Thế Sự (1069- 1306), Lý Thánh Tông sát nhập Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính vào Đại Việt năm 1069.
4. Thời kỳ Phật Giáo Cư Trần Lạc Đạo (1306 - 1698), năm 1306 Trần Nhân Tông sát nhập châu Ô, châu Lý vào lãnh thổ nước ta.
5. Thời kỳ Phật Giáo Quần Chúng (1698 - ), năm 1698 chúa Nguyễn Phúc Chu sai phái Nguyễn Hữu Cảnh vào Gia Định.


Không bàn đến tính chính xác, hợp lý của tên gọi và tính chất từng thời kỳ, tính tương hợp về mặt lịch sử khẳng định lịch sử tính của Phật giáo Việt, trong đó, đương nhiên có dòng ni giới. Lịch sử này chứng kiến hành trình Nam tiến gắn liền với khuynh hướng đơn giản, bình dân hóa Phật giáo của người Việt.

Thứ hai, vì gắn liền với lịch sử quốc gia, Phật sử tất nhiên thấm đượm tính dân tộc. Với Phật sử Việt, tính dân tộc thể hiện ở tinh thần nhập thế chủ động, tích cực vì lợi ích chung của đất nước và nhân dân. Ngay trong kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất, hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Trưng, vượt qua chấp giới sát sinh, nhiều sư cô nổi tiếng như Thiều Hoa, Phương Dung, Thục Nương, nàng Quốc đã cầm quân chống nhà Hán. Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, nhà Hán ra sức đồng hóa đất Việt, Phật giáo Việt Nam vì thế bản địa hóa giáo lý, bản địa hóa tư tưởng, gởi gắm một số yếu tố Việt Nam vào kinh điển Phật giáo (Lê Mạnh Thát, 151). Phật giáo Lý - Trần đã đưa Đại Việt vào một thời kỳ thịnh vượng vững mạnh và lâu dài, đặt nền móng văn hóa, đánh bại quân Nguyên - Mông, tạo hào khí Đông A… Nhờ tính dân tộc mà Phật giáo Việt Nam Việt hóa truyền thuyết Quan Âm Diệu Thiện, thắp ngọn lửa Thích Quảng Đức thiêu rụi cường quyền và đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước.

Thứ ba, Phật giáo Việt Nam thể hiện tính linh động cao độ. Ngay thời kỳ đầu du nhập vào đất Việt, Phật giáo đã mở cửa chùa để hệ thống thần tượng nông nghiệp lúa nước Vân Vũ Lôi Điện trở thành Tứ Pháp, Mẫu được phối thờ nhắc nhở nguồn gốc lâu đời của dân ta. Căn cơ và tạng chất người Việt lại phóng khoáng dung hòa ba tông phái là Thiền, Tịnh và Mật của Phật giáo thành những hệ thống gắn bó, tương chiếu tương liên. Rộng hơn, tính linh hoạt của Phật giáo còn tạo điều kiện cho sự xuất hiện của tư tưởng tam giáo đồng nguyên: Nho - Phật - Lão cùng phát huy hết những khả năng của con người thời Trung đại. Tại miền Nam, thế kỷ XX, để phổ biến tư tưởng đến đại đa số quần chúng nhân dân ít chữ, Phật giáo được Đoàn Văn Huyên đơn giản hóa thành Bửu Sơn Kỳ Hương, kinh sách được Huỳnh Phú Sổ phổ thơ ngâm giảng, hệ phái Khất sĩ tổng hợp kinh sách Nam - Bắc tông thành Kinh Chơn Lý…

Thông qua lịch sử Phật giáo Việt Nam và hình tượng tỳ kheo ni Lan trong tiểu thuyết, tính linh động, lịch sử, dân tộc hiện lên như những giá trị và quy luật quan trọng nhất chi phối, vận hành thế giới quan và nhân sinh quan người Việt. Đương nhiên, quá trình này không phải luôn thuận lợi mà vẫn có những nghịch duyên, đơn cử như sự khắt khe với phụ nữ – kết quả của truyền thống Nho giáo phần nào kiềm hãm sự phát triển ni giới, ni bộ chậm hình thành, có thể vì vậy mà các nhân vật Lan đều phải giả trai để vào chùa tu. Góc nhìn lịch sử cụ thể, linh động biến dịch và đậm bản sắc dân tộc có thể được vận dụng để giải quyết vấn đề Bát kỉnh pháp, ít nhất là với trường hợp ni giới Việt Nam.

Trước hết, với cái nhìn mang tính dân tộc, Bát kỉnh pháp là kết quả của nền văn hóa cổ đại Ấn Độ, một xã hội phân biệt giai cấp sâu sắc, địa vị người phụ nữ thấp kém cùng cực. Cũng như khi giảng pháp, luật Phật cũng tùy hoàn cảnh mà được chế ra cho phù hợp. Lật đổ một chính quyền bằng bạo lực cách mạng đã khó, lật đổ thiết chế tư tưởng ngàn năm thâm căn bền rễ trong lòng người càng khó hơn. Về nguyên tắc điểm ưu trội của giáo thuyết Phật Thích Ca là xóa bỏ đẳng cấp, mang đến cho người phụ nữ những quyền lợi to lớn về đời sống cũng như tâm linh.Vì vậy, những khắt khe, nếu có nhìn dưới cặp mắt hiện đại, cũng là phương tiện phù hợp hoàn cảnh xã hội, theo chiến lược tuần tự, tránh xung đột đối kháng trực tiếp về mặt xã hội, dân tộc, văn hóa. Ví dụ, thời Đức Phật, người phụ nữ Ấn không được tự ý ra ngoài khi không có người đi cùng, định chế xã hội lẫn sự kỳ thị biến thành tấn công bạo lực luôn là những nguy cơ chực chờ đối tượng này; đến nay, sau hơn ngàn năm, hiện tượng đó vẫn chưa hẳn biến mất, pháp thứ 7 trong Bát kỉnh pháp vì thế mà được chế nên.

Thứ đến, dưới góc nhìn lịch sử cụ thể, Bát kỉnh pháp được chế ra như chuẩn tắc để nữ giới mà cụ thể là Mahà Pajàpati Gotami và 500 nữ quý tộc khác bước vào Tăng đoàn. Bát kỉnh pháp được vận hành dựa trên nguyên tắc tiếp nhận, Đức Phật căn cứ vào tính chất của người nhận mà ra quy định; ba pháp đầu yêu cầu kính trọng tuyệt đối tăng bao hàm những người vốn xuất thân bần hàn chính là đánh vào cái tôi của quý tộc Bà la môn. Bên cạnh đó, Bát kỉnh pháp không trực tiếp bàn về các nguyên lý Phật pháp mà thực ra nghiêng về mặt tổ chức, quản lý tăng đoàn; điều này phải căn cứ hoàn cảnh cụ thể. Lúc ấy, tăng bộ đã ổn định, dùng tăng bộ làm xương sống tăng đoàn là quyết định tất yếu; theo nghĩa đó, Bát kỉnh pháp hàm ý giao nhiệm vụ lớn hỗ trợ ni bộ cho tăng bộ đồng thời quy định này hỗ trợ nhiều hơn cho ni giới trong quá trình tu tập được hưởng các quyền lợi như được học tập, được bảo vệ. Ngoài ra, việc phân nhiệm này thể hiện mong muốn duy trì một giáo hội thống nhất, tránh sự phân chia bộ phái theo giới tính có nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến Tăng đoàn.

Sau cùng, vận dụng tính linh hoạt, mềm dẻo của Phật giáo Việt Nam vào Phật Luật nói chung có thể tránh phương hại và bồi đắp vững vàng Bát kỉnh pháp. Như đã bàn, tuy có mối quan hệ chặt chẽ với Kinh nhưng Luật hướng đến các vấn đề xã hội hơn; về bản chất Luật là do Phật chế để giải quyết các trường hợp cụ thể.

Bát kỉnh pháp là trường hợp tiêu biểu của điều Luật xuất hiện trong Kinh (Tăng Chi), hiện tượng mở rộng tính quản lý xã hội trong Kinh thể hiện sự lớn mạnh của tăng đoàn;
hoàn cảnh yêu cầu ngoài Kinh phải có hỗ trợ, quy định về mặt xã hội cho tăng ni thuận lợi tiếp nhận giáo pháp trong một tổ chức quy củ thống nhất. Nói rộng ra, Pháp Luật là một thành tựu văn minh của nhân loại nhằm giải quyết mối quan hệ đa dạng phức tạp trong đời sống; luật phải bao quát tránh thiên tư phiến diện nhưng phải cụ thể hiệu quả trong áp dụng, sức mạnh của luật ở đây nhưng vấn đề cũng ở đó. Luật khái quát trừu tượng phổ quát thì chỉ có bộ phận nhỏ tri thức bậc cao vận dụng và giải thích có lợi cho mình (Bà la môn), nhưng luật cụ thể, rõ ràng thì lại hạn chế trong từng trường hợp nhất định, nghĩa là khi xuất hiện vấn đề mới, luật phải bị xóa bỏ hoặc thay đổi. Đây là một hiện tượng phổ biến trong nhiều tôn giáo lớn (vươn đến tầm quản lý xã hội) trên thế giới: Trong kinh Koran, nhiều điều luật của Mohamed viết được chính ông chỉnh sửa về sau để giải quyết vấn đề chặt chẽ hơn; Tin Lành ra đời trên cơ sở yêu cầu xóa bỏ nhiều điều luật Thiên Chúa giáo. Ở Phật Luật, hiện tượng này không thiếu: Trong 348 giới điều Tỳ kheo ni, nhóm 2- 17 pháp Tăng tàn, pháp thứ 4 cấm tăng ni thưa kiện người nhưng sau đó được Phật chế lại cho phép nếu tòa mời hay có việc chính đáng thì Tỳ kheo được phép đến cửa quan. Điều đó thể hiện tính linh hoạt, tùy thời tùy hoàn cảnh mà điều chỉnh luật miễn không trái Pháp. Không chỉ là luật, nhiều văn bản không do Phật thuyết nhưng làm sáng rõ giáo nghĩa và để tuyên dương chính pháp vẫn được gọi là Kinh. Từ đó, giả thuyết rằng có thể trong giai đoạn nào đó của Phật giáo cần phải đặt vấn đề như Bát kỉnh pháp để bảo vệ tăng đoàn, vì cái chung nên những tiêu chí khác phải bị hy sinh như tính hợp lý lịch sử (Điều 2, 3, 4, 5 Bát kỉnh pháp liên hệ đến nội dung của những khái niệm 10 năm sau khi Thích Ca thành đạo trong khi Bát kỉnh pháp ra đời năm thứ 6, tiêu biểu như Bát kỉnh pháp ra đời trước khái niệm an cư, về mặt logic không thể có quy định an cư trong Bát kỉnh pháp…) cũng hoàn toàn được chấp nhận trong tinh thần linh hoạt, linh hoạt có nghĩa là không cần phải giải bỏ Bát kỉnh pháp mà quan trọng là hiểu và vận dụng thế nào cho phù hợp. Hoặc linh hoạt đến mức ni giới Đài Loan vận động bãi bỏ Bát kỉnh pháp vì hoàn cảnh thực tế lịch sử Phật giáo Đài Loan cũng không thành vấn đề; bởi không chỉ Luật mà cả Pháp Phật đều là con thuyền qua sông, tùy căn cơ mà chọn thuyền lớn nhỏ, thích ngồi ưng đứng tùy ý, thậm chí đội thuyền bơi qua hay bỏ thuyền lại bên kia tự mình vượt sông thì đều không quan trọng, quan trọng là có thể qua sông. Trong tinh thần này, không phải bản thân Bát kỉnh pháp mà là những tranh cãi về Bát kỉnh pháp có thể được giải bỏ.



Hình tượng và con đường của Tỳ kheo ni Việt, suy nghĩ từ góc độ tiếp nhận

Bàn luận hình tượng Lan và Bát kỉnh pháp từ góc độ tiếp nhận, thiết nghĩ con đường phát triển của Tỳ kheo ni Việt cũng có thể vận dụng mỹ học tiếp nhận để soi chiếu. Mỹ học tiếp nhận (rezeptionsästhetik) là một trường phái lý luận văn học ở Đức vào đầu thế kỷ XX quan tâm đến lĩnh vực tiếp nhận tức mối quan hệ nhà văn – tác phẩm – người đọc, đặc biệt là điều kiện, phương thức, quá trình của tiếp nhận ảnh hưởng đến văn học và đời sống.

Hans Robert Jauss với bài phát biểu nổi tiếng của mình đã khẳng định Lịch sử văn học phải là lịch sử tiếp nhận bởi không có cái khách quan lịch sử trong nghiên cứu văn học. Khái niệm này cần phải thay đổi bằng “Tầm đón đợi” với vai trò của tiếp nhận. Theo đó, mỗi giai tầng khác nhau sẽ có thị hiếu thẩm mỹ khác biệt khi tiếp nhận và lý giải tác phẩm; tác phẩm nhờ được nhiều quan điểm soi chiếu nên phong phú hơn; chính đối tượng tiếp nhận làm sống lại những vấn đề cũ, nhìn bản thân văn chương đa trị đa nghĩa, phát hiện cái được biểu đạt thông qua cái biểu đạt, giải mã hệ thống mã hóa. Điều này có nghĩa là khi tầm đón đợi thay đổi thì ý nghĩa tác phẩm cũng đổi. Tồn tại hai kiểu tiếp nhận: Dọc – đọc một tác phẩm theo chiều dọc lịch sử; Ngang – đặt tác phẩm vào một thời đại nhất định với nhiều dạng người đọc.

Những luận điểm của Jauss giúp hình tượng nhân vật Lanvà vai trò tỳ kheo ny được nhìn rõ hơn từ nhiều phía. Trước hết, hành trình nam tiến thực sự đưa cốt truyện này từ giới trí thức Tây học đến đông đảo quần chúng nhân dân thông qua sân khấu cải lương và ca khúc tân nhạc, bài bản vọng cổ; bài học vận dụng phương tiện trong hoằng pháp thể hiện ở đây. Quần chúng hóa giúp Phật giáo dễ lan truyền nhưng phải chấp nhận một thực tế là bình dân hóa Phật học, lu mờ vai trò ni giới, những nhập nhằng cần làm sáng tỏ tồn tại rất nhiều. Ví dụ ở miền bắc, quần chúng không phân biệt tăng ni mà gọi chung là thầy: trong Chùa Đàn, Nguyễn Tuân gọi cô Tơ (Tuệ Không) là sư thầy, Nguyễn Khải trong truyện ngắn Ngôi chùa các chị cũng gọi sư nữ chùa Cốc là thầy. Type truyện Lan và Điệp ban đầu vốn rất đậm tính Phật giáo về tư tưởng nhưng bị trần tục hóa theo type chuyện tình tan vỡ nên dù hình thức, câu chữ có bổ sung không gian, ngôn từ Phật giáo mà ý nghĩa Phật học lại mất mát rất nhiều. Nguyễn Công Hoan đặt tên tiểu thuyết là “Tắt lửa lòng” do lấy lại câu nói của Kiều, sau 15 năm lưu lạc, đang mặc áo ni cô được mọi người gá duyên Kim Trọng,

“Nàng rằng: Chút phận hoa rơi,
Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay.
Tính rằng mặt nước chân mây,
Lòng nào còn tưởng có rày nữa không?
Được rày tái thế tương phùng.
Khát khao đã thỏa tấm lòng lâu nay!
Đã đem mình bỏ am mây,
Tuổi này gởi với cỏ cây cũng vừa,
Mùi thiền đã bén muối dưa,
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng.
Sự đời đã tắt lửa lòng,
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!
Dở dang nào có hay gì,
Đã tu tu trót quá thì thì thôi!”
.

Tắt lửa lòng” nhấn mạnh cái ngộ sau cùng của tiểu Lan hơn là quyến luyến tình duyên thuở “Lan và Điệp”. Đặt vào trục lịch sử, chi tiết buồn đau chuyện gia đình mà vào chùa tu vẫn không thoát nghiệp duyên đến tận khi hấp hối của Lan chính là vận dụng lại cùng motif trong truyện cổ/chèo cổ Quan Âm Thị Kính; huyền tích chùa Long Giáng (Hồn bướm mơ tiên) cũng hấp thụ truyện cổ Phật giáo Quan Âm Diệu Thiện. Lan là tên gọi phổ biến của người Việt đặt cho con gái, với ước mơ như bông hoa có hương có sắc, người mang tên Lan có dung mạo xinh đẹp, tâm hồn thanh cao, tính tình dịu dàng… Nhân vật Lan trong cả hai tiểu thuyết đều nằm trong khuôn khổ mẫu chuẩn tâm thức người Việt; ý thức điều này thì bi kịch của Lan càng gây đau xót và vai trò Phật pháp càng thể hiện rõ, dù là Phật pháp bình dân. Câu chuyện của Lan vận dụng vào hoằng pháp chắc chắn khai thông nhiều bài học thú vị, chư tăng thuyết giảng đề tài này đã hay, chư ni đăng đàn dùng hình tượng Lan như phương tiện giảng pháp càng hứa hẹn nhiều viễn cảnh đặc sắc bởi khả năng ưu trội khi bàn về nữ giới, tỳ kheo ni và Bát kỉnh pháp.

Bên cạnh Jauss thì mỹ học tiếp nhận còn được phát triển bởi Wolfgang Iser. Ảnh hưởng triết học Husserl quan niệm rằng đằng sau hiện tượng không có một bản chất nào mà bản chất chính là hiện tượng hiện ra trong ý thức người quan sát, Iser cho rằng các văn bản phải có kết cấu vẫy gọi để kích thích người đọc; muốn vậy, tác phẩm phải chứa đựng những điểm trắng, chưa xác định, không rõ, gián đoạn. Ngoài ra, để tăng tính kích thích, văn bản phải có mưu cầu phủ định khi khiêu khích các quan điểm chính trị, triết học, đạo đức đương thời. Ở giác độ này, thực sự Bát kỉnh pháp ngay từ khi mới ra đời đã gây chấn động não trạng thời đại và xã hội Ấn Độ cổ, tính khiêu khích ấy kéo dài tận hơn ngàn năm để lại thu hút những bàn luận xung quanh việc giữ hay giải trong hoàn cảnh kinh tế văn hóa chính trị xã hội thay đổi. Những mâu thuẫn về mặt lịch sử trong Bát kỉnh pháp có thể ví như những khoảng trắng, gián đoạn luôn chờ được được lấp đầy thông qua tiếp nhận, tức quá trình mà Iser gọi là hành động đọc. Hành động đọc tiếp nhận dựa trên một tầm đón đợi được xây dựng quan hệ giữa hiện tại quá khứ và tương lai, đọc đồng thời là quá trình hoàn hình, theo nghĩa người tiếp nhận không ngừng sắp xếp các mảng ý nghĩa, chi tiết, thành tố bằng cả lý trí lẫn tâm linh để hình thành một chỉnh thể. Kết thúc quá trình này mang đến kết quả không phải ở người truyền, thông điệp mà là chủ thể nhận/đọc với bản thân theo nghĩa họ tự nâng cao mình, tự phát hiện ra thế giới bên trong. Những luận điểm này đề xuất tăng ni trong quá trình hoằng pháp phải đặc biệt quan tâm đến yếu tố thính chúng, cần nắm bắt quá trình hoàn hình và nâng cao bản thân người nghe; tất cả những thứ khác chỉ là phương tiện (hình tượng Lan, Bát kỉnh pháp), sự vượt trội của tâm linh mới là quan trọng. Quá trình tiếp nhận này lần lượt biến tăng ni và thính chúng thành đối tượng, để liên tục kết hợp chiều ngang và dọc, không gian và thời gian khi tiếp cận Phật pháp.

Tóm lại, bài viết này hướng đến vận dụng hình tượng văn học (nhân vật Lan) để tìm kiếm nguyên tắc, truyền thống của lịch sử Phật giáo và ni giới Việt. Trên tiến trình ấy, con đường tiếp nhận được lựa chọn như thông lộ kết nối, giải trừ những mâu thuẫn xoay quanh Bát kỉnh pháp đồng thời định hướng phát triển ni giới. Tuy nhiên, những mục đích to lớn ấy vẫn còn bị giới hạn trong nhiều chiều kích, bản thân mỹ học tiếp nhận khi cố khẳng định vị trí độc tôn của mình đã là một cực đoan, nỗ lực xóa bỏ những “cái khác” luôn là cạm bẫy hấp dẫn hành trình tư duy, khoa học, đạo pháp và cuộc sống. Trước hoàn cảnh ấy, giải pháp tổng hòa tuy dễ bị mang hơi hướng chiết trung nhưng vẫn là một chiều kích đáng quan tâm để nhìn nhận, lý giải vấn đề từ nhiều phía bởi trong tâm thức phát triển chung thì hòa bình để phát triển vẫn tốt hơn phát triển nhờ đấu tranh. Bài học này mang đến giá trị cho cả văn học, Phật giáo nói chung và hình tượng Lan, ni giới Việt Nam nói riêng.



Nguyễn Thành Trung



Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2025

Giới thiệu tiểu thuyết Tắt Lửa Lòng (Chuyện tình Lan và Điệp) | Nguyễn Công Hoan - Anh Kiệt Đọc Sách


Chuyên mục: Lan&Điệp

Toàn bộ tiểu thuyết Tắt Lửa Lòng (Chuyện tình Lan và Điệp) | Nguyễn Công Hoan

Anh Kiệt Đọc Sách