Ads 468x60px

.

Thứ Hai, 18 tháng 12, 2023

Tinh thần thể dục – Tiếng cười châm biếm nhẹ nhàng trong vở diễn mới của Nhà hát Kịch Hà Nội


Tinh thần thể dục – Tiếng cười châm biếm nhẹ nhàng trong vở diễn mới của Nhà hát Kịch Hà Nội

Thanh Quy


Tiếp thu tính trào phúng, châm biếm của nhà văn Nguyễn Công Hoan, tác giả kịch bản – đạo diễn – NSND Nguyễn Trung Hiếu đã xây dựng một vở kịch ngắn với những tiếng cười dí dỏm, hài hước.

Tối ngày 09/5/2023, tại rạp Công Nhân số 42 Tràng Tiền, Nhà hát Kịch Hà Nội đã tổ chức công diễn vở mới: Tinh thần thể dục – tiếng cười châm biếm nhẹ nhàng của nhà văn Nguyễn Công Hoan với chế độ phong kiến thuộc địa trước đây. Vở diễn Tinh thần thể dục nằm trong Đề án “Sân khấu học đường” của Kịch nói Hà Nội.

Vở diễn có sự tham gia của các diễn viên trẻ của Nhà hát Kịch Hà Nội: Tố Uyên, Xuân Hồng, Trương Hoàng, Hồng Liên, Minh Nguyệt, Triều Dương, Trần Thanh, Thân Thương, Hoàng Vũ, Đặng Tùng, Quỳnh Châu, Huyền Thạch, Nguyệt Nguyễn, Công Đại, Trường Hoàng, cùng tập thể nam nữ diễn viên, nhạc công Nhà hát kịch Hà Nội tham gia biểu diễn. Chỉ đạo nghệ thuật: NSND Nguyễn Trung Hiếu – Giám đốc Nhà hát Kịch Hà Nội.

Tiếp thu tính trào phúng, châm biếm của nhà văn Nguyễn Công Hoan, tác giả kịch bản – đạo diễn – NSND Nguyễn Trung Hiếu đã xây dựng một vở kịch ngắn với những tiếng cười dí dỏm, hài hước nhưng ẩn trong từng câu, chữ và tình huống của câu chuyện lại là nét trào phúng, đả kích sâu cay chế độ thực dân phong kiến mục nát, đầy rẫy bất công, đè nén những người nông dân nghèo khổ.


Thành công của vở diễn còn ở sự phối hợp ăn ý của các diễn viên trong các vai diễn, những tình huống dở khóc dở cười và cách mặc trang phục biểu diễn… Tuy chỉ là vở kịch ngắn nhưng đã tạo ấn tượng đẹp trong lòng đông đảo khán giả đến dự xem.

Nhận xét về vở diễn, NSND Quốc Chiêm – Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội cho rằng diễn xuất và trang phục của vở diễn đều tốt; vở diễn đạt hiệu quả liên tục gây cười cho người xem… NSND Thúy Mùi, Chủ tịch Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam cho rằng vở diễn tuy thời lượng ngắn nhưng sâu sắc, mang đậm tính hài hước, gây cười và mang ý nghĩa giáo dục. NSND Thúy Mùi góp ý thêm, vở diễn nên đầu tư hơn nữa về trang phục để tăng thêm sự kệch cỡm và hài hước cho các nhân vật.

Các thành viên trong Hội đồng nghệ thuật Thành phố cùng chung đánh giá về hiệu quả của việc đưa tác phẩm văn học lên sân khấu, đem nghệ thuật đến học đường, từ đó giúp các em học sinh tiếp cận một cách nhanh chóng và hiệu quả các tác phẩm văn học.

Tinh thần thể dục sẽ là món ăn tinh thần mới cho các em học sinh và những ai yêu văn học. Buổi công diễn đã vinh dự được đón gia đình Nhà văn Nguyễn Công Hoan đến xem.

Thanh Quy

Công diễn vở mới Tinh thần thể dục


Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2023

Ngôi nhà 66 Thợ Nhuộm và kỷ niệm về một thời đạn bom


Ngôi nhà 66 Thợ Nhuộm
và kỷ niệm về một thời đạn bom

Nguyễn Ngọc Đoan


Nhà 66 phố Thợ Nhuộm (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) là một biệt thự cổ từng là nơi gia đình nhà văn Nguyễn Công Hoan và gia đình Thiếu tướng Hoàng Mai - “Chủ bút” Báo Bạn dân - sống trong nhiều năm. Đây cũng là trụ sở chính của Báo CAND từ năm 1997 đến năm 2012...

LTS: Con trai nhà văn Nguyễn Công Hoan, đồng chí Nguyễn Tài, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, là một trong những người sáng lập tờ báo Công an mới - tiền thân của Báo CAND ngày nay, xuất bản số đầu vào ngày 1/11/1946... Nhân kỷ niệm 77 năm Ngày Truyền thống Báo CAND, tòa soạn trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết của tác giả Nguyễn Ngọc Đoan, con gái đồng chí Nguyễn Tài, ghi lại những hồi ức về căn nhà lịch sử 66 Thợ Nhuộm...

Nhà văn Nguyễn Công Hoan (bìa phải) và 4 cháu nội
(từ phải qua là các anh chị: Nguyễn Thị Hòa Bình, Nguyễn Trường Đại, Nguyễn Trường Thống Nhất, Nguyễn Ngọc Đoan).
Ảnh chụp phía trước căn phòng của gia đình (ở từ 1964 đến đầu 1976) tại số 66 Thợ Nhuộm.


Từ khi hòa bình lập lại năm 1954, bố mẹ và 4 anh chị em tôi sống tại tầng 3 của một khu nhà ngay trong cơ quan Bộ Công an tại phố Trần Bình Trọng (nay thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội). Ngày 21/3/1964, bố tôi bí mật vào chiến trường miền Nam. Sau ngày đó, gia đình chúng tôi chuyển về ở tại số 66 phố Thợ Nhuộm. Đây là ngôi biệt thự từ thời Pháp, được Bộ Công an dùng làm nơi ở cho 4 gia đình cán bộ. Đầu 1965, Hà Nội bắt đầu phải đi sơ tán do Mỹ ném bom đánh phá miền Bắc. Ông bà nội tôi bán nhà ở Bưởi, về 66 Thợ Nhuộm ở cùng để giúp mẹ tôi chăm lo các cháu. Bây giờ, mỗi lần đi qua nơi này, chúng tôi vẫn hình dung được những nét xưa của ngôi nhà và nhớ lại kỷ niệm thời thơ ấu.

Nhà 66 có hai cái cổng. Cổng to thường được mở làm lối đi chung cho các gia đình. Ngay trước cổng có cây hoa sữa. Mùa hè ve ở cây kêu vang khắp phố, bọn trẻ con trong khu phố thường đến lấy nhựa ở cây để dính bắt ve. Còn cái cổng bé thì thường đóng, có cây hoa đại khá to. Trên tường rào giữa hai cái cổng có giàn hoa ti-gôn phủ kín; vào mùa hoa rộ thì từng chùm hoa màu hồng làm cho ngôi nhà thêm sắc màu nhẹ nhàng mà rất sang trọng. Trước nhà có khoảnh sân rộng nên thường được khu phố mượn làm chỗ đổi bánh mì hằng ngày. Thẳng cổng lớn vào là cái gara ô tô, kế tiếp là dãy nhà ngang, chia làm 4 gian nhỏ, được dùng làm bếp cho 4 gia đình. Giữa hai khối nhà là cái sân.

Gia đình chúng tôi ở một phòng ở tầng 1, phía tay phải, giáp nhà số 64. Cửa ra sân có bậc thềm và bệ ở hai bên mà chúng tôi thường ngồi chơi, sau này là chỗ ông nội tôi để chậu cây cảnh. Ông nội có cái giường con và bàn làm việc kê ở phía ngoài phòng chính (nhà Pháp thời xưa thì đó là chỗ để cái móc treo áo, mũ khi mới vào nhà), hai bên cửa ra vào có hai cửa sổ. Trong buồng chính kê tủ áo của ông bà, cái giường đôi, bộ phản bằng gỗ lim, bàn ăn và tủ gương được kê làm bàn thờ ở phía trên; phía sau cánh cửa thì để cái giá sách. Một buồng nhỏ ở phía trong (trước kia chắc là phòng tắm) kê tủ áo và giường đơn, có cửa đi ra phía sau. Những năm Mỹ ném bom, các cửa kính trong nhà đều được dán thêm băng giấy hình chữ X ở ô kính để tránh bị nứt vỡ.

Về ở Thợ Nhuộm, ông nội tôi đã nghỉ hưu. Ông thường hay viết bài cho Báo Văn nghệ, mục “Chữ và nghĩa”, hay “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”; viết về những kỷ niệm, những điều ông quan sát được xung quanh mình qua nhiều năm tháng. Ông bảo là ghi lại để cho thế hệ sau biết được. Ban đêm, có khi thấy ông đang nằm thì ngồi bật dậy, ra bàn bật đèn ngồi viết, một lúc rồi lại tắt đèn, đi nằm. Đấy là lúc ông chợt nghĩ ra ý gì, câu gì hay nên phải ngồi dậy ghi ngay kẻo sáng mai quên. Hồi ấy giấy bút còn thiếu thốn nên ông dùng bút mực chấm (chứ không dùng bút máy) và các tờ giấy một mặt trơn, một mặt nhám, hoặc giấy đã dùng một mặt. Ông đặt tên cuốn sách là “Nhớ gì ghi nấy”. Thời gian này, ông cũng hoàn thành và cho xuất bản cuốn “Đời viết văn của tôi”. Hồi đó, có mấy cô nhà văn, nhà nghiên cứu văn học như Lê Thị Đức Hạnh, Nguyễn Thị Ngọc Tú,... thường hay đến hỏi chuyện ông, nhờ ông dạy cách viết truyện.

Ông còn có một cái máy ghi âm, do nữ nhà văn Ba Lan tên là Monica tặng ông. Ông mừng lắm, vì có cái để ông thực hiện dự án “Hỏi chuyện các nhà văn”. Bây giờ cái máy ghi âm ấy vẫn được gia đình tôi lưu giữ cẩn thận.

Một câu chuyện cũng không thể không kể, đấy là chuyện về cái bàn làm việc của ông nội tôi. Cái bàn làm bằng gỗ lim, đã theo ông từ những năm 30 thế kỷ XX, từ Nam Định đi các nơi và đã chứng kiến sự ra đời rất nhiều tác phẩm của ông. Khi chúng tôi bắt đầu hiểu chuyện thì đã thấy cái bàn đó ở Bưởi, rồi về 66 Thợ Nhuộm, khu tập thể Trung Tự. Ông dùng cho tới khi mất thì bố tôi dùng tiếp. Khi tòa soạn Báo CAND về đóng tại 66 Thợ Nhuộm một thời gian, Tổng Biên tập là anh Hữu Ước xin cái bàn đó, đặt tại tòa soạn để làm kỷ niệm. Tới khi tòa soạn chuyển đi, anh Đặng Đình Thành, Phó Tổng Biên tập, là người làng Xuân Cầu (cùng quê với ông nội tôi) xin mang cái bàn đó về nhà ở quê. Cuối 2019, anh Thành gọi điện cho gia đình tôi, bảo là muốn giao lại cái bàn cho gia đình cụ Hoan. Mừng quá, tôi và em Đại về quê anh nhận lại ngay. Sau bao nhiêu năm “lưu lạc”, cái bàn đã được quay về đúng nơi nó cần hiện diện.

Ông thích trồng cây, hoa cảnh. Trước nhà có cái bồn, ông trồng hoa hồng, xung quanh là dãy lan báo hỷ. Sát tường rào có một rẻo đất, có xây bờ be lên. Khi cây hoa sữa bị chặt đi, ông xin về mấy cây tre đằng ngà trồng vào đấy, sau lớn thành một bụi tre có bóng mát, thành ra là giữa phố Tây mà lại có cái nhà có bụi tre rất đẹp. Năm 1975, sau khi giải phóng miền Nam, ông vào Sài Gòn để viết bài. Ông xin được mấy cây hoa như: Cây sứ Thái Lan, thu hải đường, sen cạn. Ông thích lắm. Những lúc rỗi rãi, ông hay tưới, chăm sóc cây rất kỹ. Cây sứ Thái Lan bây giờ vẫn còn, chúng tôi cắt cành mang về trồng ở mộ của ông bà.

Có lần trời mưa bão, nước ngập cao trong sân, cánh cổng nhà bị hỏng nên buổi tối không khóa lại được. Đến đêm, trộm vào, bê đi mất một ít bát đĩa, cặp lồng để ở sân và một chậu hoa của ông. Sáng ra, ông tiếc lắm nhưng tự an ủi là: “Thôi, ít ra thằng trộm nó cũng là người thích chơi hoa”.

Hồi tôi học lớp 6, lớp 7, thỉnh thoảng ông lại bảo hai chị em gái giúp ông chép mấy truyện ngắn để đưa nhà xuất bản in. Mỗi lần có tiền nhuận bút, ông lại đưa cả nhà đi ăn phở ở Lê Văn Hưu. Hồi đó, hàng ăn ít, cả Hà Nội chỉ có mấy quán phở ngon, có tiếng.

Thời bao cấp, mua cái gì cũng phải tem phiếu, xếp hàng. Ông thường nhận việc đi mua gạo, phải đi bằng xe đạp vì cửa hàng gạo ở xa và phải chở gạo về nữa. Mà mỗi lần chỉ được mua ít thôi chứ không được mua hết tiêu chuẩn trong sổ. Có lần đi mua gạo về, ông kể: Hôm nay xếp hàng dài quá, có người nhận ra ông, thế là nhường chỗ cho ông mua trước. Rồi còn việc đi mua củi, mùn cưa; sau này còn đun nấu bằng trấu, có cái lò nấu trấu (trông giống như cái bếp nấu lẩu), mỗi khi nấu cứ phải ngồi gõ cạch cạch để trấu rơi xuống.

Bà nấu nướng rất giỏi. Bà dạy cho chúng tôi cách làm bếp thế nào cho gọn gàng, nấu các món ăn đơn giản mà ngon miệng. Một bữa ăn hằng ngày không nhiều món nhưng rất hài hòa, khoa học. Còn khi nào nấu cỗ thì khỏi nói, món nào cũng chuẩn. Bà có nhiều món ăn ngon lắm, thí dụ như các món ăn với rươi: Mắm, chả, nấu canh, xào với củ niễng; rồi món cuốn tôm rang thịt luộc kèm với bỗng rượu xào chua ngọt,...

Ông bảo là ăn các món mắm thì phải đủ các vị chua, cay, mặn, chát. Không chỉ là các vị, mà còn là sự “chế” nhau của các thứ đó, sao cho ăn ngon miệng và dễ tiêu hóa. Đấy là nghệ thuật ăn uống.

Tết đến bao giờ nhà cũng gói bánh chưng. Bà gói bánh với mong mỏi biết đâu bố Tài được về ăn Tết. Thương lắm nỗi khắc khoải chờ con. Bà gói bánh đẹp lắm, ngày xưa chỉ gói bằng tay chứ không có khuôn như bây giờ. Bà dạy cách rửa lá, rọc cuống lá, đãi đậu, nấu đậu, làm nhân thịt... Ông thì nhận phần luộc bánh. Thức đêm mà luộc bánh với ông thì thích lắm, ông hay lùi vào tro mấy củ khoai lang và kể chuyện cho nghe. Rồi năm nào cũng có một vại dưa hành muối với 10 kg dưa cải Lạng Sơn nén cả cây, 10 kg hành củ. Bà bảo ra Giêng là giáp hạt rau, có vại dưa, nấu canh dưa với lạc ăn với rau diếp là ngon lắm rồi. Mà quả thật, món đó bây giờ cả nhà tôi vẫn thích. Để có vại dưa hành vàng ươm, thơm ngon, bà dùng cây mía chẻ ra, xếp thành nan, rồi chặn hòn đá lên trên. Sợ nhất là trời rét mà phải ngồi rửa dưa, rửa lá gói bánh, đãi đậu, nhưng bù lại là học được ở bà những điều mà nó theo tôi suốt cuộc đời.

Thấy mấy mẹ con làm mứt tết, ông hỏi đùa: “Cứ trộn các thứ với đường thì làm thành mứt chứ gì? Vậy, bây giờ tôi làm “mứt rơm” có được không?”.

Tính ông hay đùa. Thỉnh thoảng ông uống rượu là bà lại cằn nhằn, không thích. Có lần đến giờ ăn trưa, ông dọn bàn ra, gọi mấy đứa cháu trai vào ngồi và rót cho mấy ông cháu mỗi người một ly “rượu” từ cái chai “rượu trắng” để bên cạnh. Bà từ dưới bếp lên, thấy thế liền kêu: “Ông lại uống rượu nữa rồi. Mà sao lại cho bọn trẻ con uống rượu thế kia?”. Ông làm mặt hầm hầm, đứng dậy, cầm chai “rượu” ra cửa sổ, dốc ngược, đổ tồng tộc. Bà lại kêu lên tiếc rẻ: “Sao ông lại đổ rượu đi thế?”. (Ngày xưa cái gì cũng phải mua bằng tem phiếu, cả rượu cũng không ngoại lệ). Mấy anh chị em cười phá lên, ông cũng tủm tỉm. Hóa ra, đấy là nước trắng mà ông dùng giả làm rượu để trêu bà.

Cũng với tính dí dỏm ấy mà ông đã từng làm cho “nhà chức trách” phải “khó nghĩ”. Chả là, có một lần cảnh sát khu vực đến nhà gặp ông để làm kê khai về hộ khẩu. Đến mục “Trình độ văn hóa”, ông khai là “đọc thông viết thạo”. Anh cảnh sát khu vực tần ngần: “Bác có nói nhầm không ạ? Bác là nhà văn lớn mà sao lại chỉ có đọc thông viết thạo?”. Ông cười: "Tôi nói đúng đấy. Hồi trước tôi học theo văn bằng của Pháp thì chỉ tương đương hết phổ thông bây giờ. Tôi chỉ là thầy giáo tiểu học. Theo anh, tôi nên khai như thế nào?". Anh cảnh sát khu vực vẫn băn khoăn: “Cháu mà ghi như thế thì lãnh đạo của cháu không nghe đâu”, nhưng biết làm thế nào được.

Thỉnh thoảng bà cũng đi xem hát ở rạp và cho mấy chị em đi xem, khi thì vở cải lương “Nhị Độ Mai”, khi thì vở chèo “Quan Âm Thị Kính”, “Thị Màu lên chùa”... Còn bé nên chúng tôi không hiểu mấy, thế là bà lại giảng giải cho nghe.

Ở phía tường rào, ông làm cho chúng tôi cái giàn để trồng mướp. Những năm Mỹ đánh phá miền Bắc, cơ quan Bộ làm cho các gia đình cái hầm trú ẩn kiểu cuốn tò vò ở cái ngách giữa tường nhà 64 và nhà tôi, trên đổ đầy đất. Đấy cũng là một chỗ để lũ trẻ con chơi trốn tìm. Trẻ con trong khu nhà ấy có 8 đứa, thường hay theo chị Thành (con ông bà Minh già) để nghe chị kể chuyện ma. Cả lũ phải chui vào chỗ chân cầu thang lên gác 2, tắt hết đèn đi thì chị ấy mới kể. Rồi còn nhiều trò nghịch ngợm tinh quái khác. Cả khu nhà có một cái bể to để chứa nước, đậy ở trên là tấm tôn rất to. Mùa hè, bọn con trai rủ nhau buổi tối nhảy vào bể nước để bơi, nghịch; hôm sau các nhà lại dùng nước ấy để giặt giũ, rửa rau vo gạo. Nhà số 64 có cây sấu rất to, chĩa cành sang bên này, chúng tôi thường lên nhà bác Hoàng Mai ở tầng trên, hái lá sấu non, quấn vào mấy hạt muối giả làm trầu không rồi nhai bỏm bẻm. Còn nhà số 68 thì có giàn nhót rất sai quả, chìa sang sân nhà; cái sân to phía trước nhà thường là chỗ cho các bạn của chúng tôi đến tập văn nghệ, tập tành thì ít mà công kênh nhau lên hái nhót thì nhiều.

Năm 1968, khi Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, các trường bắt đầu về lại Hà Nội, mấy chị em tôi đều đi học ở các trường gần nhà như cấp 2 Trưng Vương, cấp 3 Lý Thường Kiệt. Vì thế, chúng tôi đi bộ đến trường.

Từ nơi sơ tán về, ông bà mang theo cái chõng tre. Chúng tôi cùng bạn bè thường ngồi chơi hoặc học bài trên cái chõng ấy. Ngồi ở sân nên nhiều khi cũng có những trò nghịch ngợm tinh quái, đấy là trêu người đi đường. Có lần thấy có một chị đi ngang qua, thế là một đứa nói to: “Chính “trị” này”, làm chị ấy giật mình nhìn vào, thế là lại đọc tiếp: “Toán này, sinh vật này...”, hóa ra là hắn đọc thời khóa biểu...

Những năm này, mẹ tôi phải đi công tác xa nhà. Khi thì phụ trách trại trẻ sơ tán gồm con các cán bộ của Bộ, khi thì đi học đại học, rồi lại về dạy ở trường C500. Đến tận cuối năm 1973, mẹ tôi mới được về cơ quan Bộ nhưng cũng hay phải đi công tác các tỉnh. Lúc này, chị em tôi đã lớn, cơ quan Bộ đã cho sửa chữa lại cái gara ô tô và phân thêm cho gia đình tôi làm chỗ ở. Sau khi bố tôi ở miền Nam về, bố mẹ ở tại đó cho đến khi gia đình tôi chuyển đi.

Ở nhà với ông bà, mấy chị em phân công nhau giúp bà lo đi chợ, cơm nước hằng ngày. Khi thì đi mua thực phẩm theo tiêu chuẩn tem phiếu ở cửa hàng phố Nhà Thờ, khi thì mua thức ăn ở “chợ cóc” ngay trước cửa nhà.

Từ cuối năm 1970, ở nhà không nhận được thư bố từ miền Nam nên rất lo lắng. Tháng 3/1973, bà vào gặp Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn để hỏi thì mới biết là bố bị địch bắt; ông bà và mẹ buồn lắm nhưng vẫn phải giữ kín. Bà theo đạo Phật. Những năm này, bà thường hay đi chùa, ăn chay vào những ngày mùng 1 và ngày rằm âm lịch. Ông cho là bà mê tín dị đoan nên bảo bà là không được đi chùa. Bà không cãi gì, chỉ nói một câu: “Khi nào Cụ Hồ bảo không được đi chùa thì tôi không đi nữa”. Thế là ông phải chịu. Có lẽ đi chùa đọc kinh, niệm Phật cũng là một cách làm cho bà thấy thư thái trong lòng, vơi bớt nỗi lo âu vì bặt tin bố.

Ông bà càng thương các cháu hơn. Hồi chị Hòa Bình hết cấp 3, được đi học nước ngoài, ông cũng lên Bộ Đại học xin cho chị đi học ở Liên Xô, vì thường hay có người quen đi về, có thể gửi thư, quà, thuốc men cho chị được. Anh Thống Nhất học hết cấp 3 thì đi nghĩa vụ quân sự, sau đó được quân đội chọn đi học ở Liên Xô, ông rất mừng.

Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn được giải phóng. 9 giờ tối ngày 4/5/1975, ở nhà nhận được tin bố còn sống, ông đi bộ ngay trong buổi tối ấy sang nhà cô Minh, là em ruột bố tôi, nhà ở số 72 Lý Thường Kiệt. Đến nơi, ông không vào nhà, chỉ đứng ở cửa nói với cô Minh: “Anh Tài sống rồi”. Rồi ông quay gót, xuống cầu thang đi về luôn. Bao nhiêu buồn lo được trút bỏ, ông bà mong ngày được gặp mặt con trai để thỏa lòng thương nhớ xen lẫn cảm xúc tự hào. Công việc của thành phố mới giải phóng vô cùng bộn bề, bố chưa về gặp gia đình ngay được. Một lần nữa, ông bà lại nén tình cảm riêng vì việc lớn của đất nước, nỗi lo vẫn còn đó.

Thư của bà ngày 8/5/1975:
“Con ơi, hơn mười một năm rồi bao nỗi lo sợ, nhớ mong, nay được tin con còn sống, mừng rỡ vô cùng,... Hôm giải phóng Sài Gòn càng mừng lại hồi hộp mong tin con,..., đến 12 giờ trưa hôm 5,... điện của ông bộ trưởng gửi về, nói là sức khỏe anh Tài tốt, hơi gầy, cần ở lại công tác, xin cho chị Bắc vào ngay gặp anh Tài. Tin ấy rõ quá, thấy con được tiếp tục công tác thì bố mẹ mừng lắm, nếu vì nhẽ gì mà con không tiếp tục được công tác thì cũng đáng tiếc. Mẹ cũng hiểu như thế, nhưng sao lòng nó vẫn bàng hoàng như chiêm bao vì vẫn chưa trông thấy con; giá được gặp con mà ôm con cho hả dạ....”.
Ông thì viết:
“Điện của con, đến chiều ngày 9 mới tới... Thế là nhà biết đích xác con bị bắt ngày nào, được ra ngày nào và ở đâu. Lại cũng biết sơ sơ các ngày con ở trong tù,... và cũng có thể tưởng tượng được sức chịu đựng gian khổ và tinh thần bất khuất của con... Cậu cũng biết là Đảng hết sức cứu con và có theo dõi những chỗ ở... Nghe con nói nó bắt ngồi thức liền 14 đêm ngày thì thấy nó ghê thật, mà con đã thắng được nó, thì ai cũng phải khâm phục...”.
Ngày 29/6/1975, tại nhà 66 Thợ Nhuộm, ông bà và chúng tôi vui mừng đón bố tôi trở về sau hơn 11 năm xa cách, nhớ mong. Chỉ khi ông bà được tận mắt nhìn thấy con, tận tay ôm con vào lòng, niềm vui mới được trọn vẹn.

Đến ngày 25/1/1976, tức là 25 tháng Chạp năm Ất Mão, sau hơn 11 năm sống tại nhà 66 Thợ Nhuộm, cả gia đình tôi chuyển xuống nhà B4 khu tập thể Trung Tự, đón Tết Bính Thìn ở nhà mới.

Thời thơ ấu của chúng tôi gắn liền với ngôi nhà 66 Thợ Nhuộm với biết bao kỷ niệm không thể kể hết. Đến nay, nhà 66 Thợ Nhuộm đã được sửa chữa lại nhiều và được dùng làm nơi làm việc của một đơn vị thuộc Bộ Công an.


Nguyễn Ngọc Đoan








Bàn làm việc cùng những vật dụng của nhà văn Nguyễn Công Hoan và con trai, Anh hùng LLVTND Nguyễn Tài.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan chăm sóc cây hoa sứ.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan và cháu gái Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Ngọc Đoan (tháng 7/1971), sau lưng là bụi tre đằng ngà.

Ảnh vợ con chụp mùng 2 Tết Mậu Thân 1968 để gửi cho đồng chí Nguyễn Tài ở chiến trường miền Nam.

Vợ chồng Nhà văn Nguyễn Công Hoan và 2 cháu trai Nguyễn Trường Thống Nhất (bìa trái), Nguyễn Trường Đại, năm 1973.

Vợ chồng Nhà văn Nguyễn Công Hoan và con trai Nguyễn Tài mới ở miền Nam trở về sau hơn 11 năm xa cách (29/6/1975).

Thứ Năm, 14 tháng 12, 2023

Phát hiện Chế phong của vua Bảo Đại ban khen nhà văn Nguyễn Công Hoan


Phát hiện Chế phong của vua Bảo Đại
ban khen nhà văn Nguyễn Công Hoan

Duy Hiển – Viết Phùng


CAND Trong chế phong ban khen nhà văn Nguyễn Công Hoan, vua Bảo Đại viết:
Nghĩ khanh, giáo học Nguyễn Công Hoan, có tài năng văn học, tài khí đáng trọng, có tác dụng bồi dưỡng danh giá, tiếp tục tiến lên, làm quan thận trọng, trong sạch chuyên cần, không lúc nào quên. Thật đáng khen khanh ở triều đình...
Gia đình nhà văn trân trọng đón nhận phiên bản chế phong của vua Bảo Đại ban khen giáo học Nguyễn Công Hoan.


Trao đổi với PV chiều 28/10, chị Nguyễn Ngọc Đoan, cháu nội của nhà văn Nguyễn Công Hoan cho biết: Trong số các hiện vật gia đình còn lưu giữ được về nhà văn Nguyễn Công Hoan, có một bức Chế phong do vua Bảo Đại ban cho giáo học Nguyễn Công Hoan vào ngày 2/5/1944 (năm Bảo Đại thứ 19).

Trước cách mạng Tháng Tám, nhà văn Nguyễn Công Hoan làm nghề dạy học ở một số tỉnh phía Bắc và viết văn. Ông sớm nổi tiếng trên văn đàn và để lại di sản hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài, nhiều tiểu luận văn học; trong đó có những tác phẩm tiêu biểu như “Bước đường cùng”, “Kép Tư Bền”, “Người ngựa, ngựa người”, “Lá ngọc cành vàng”, “Tắt lửa lòng”…

Theo chị Ngọc Đoan cho biết, vào dịp gia đình tổ chức kỷ niệm 120 năm ngày sinh của nhà văn Nguyễn Công Hoan (6/3/1903 - 6/3/2023), một người em họ là PGS.TS Vũ Hùng Cường, Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học xã hội, tìm thấy trong kho tư liệu của Viện bản sắc phong của vua Bảo Đại ban cho giáo học Nguyễn Công Hoan. PGS.TS Vũ Hùng Cường đã scan và in lại theo kích thước thật (140 x 70) và mang tặng gia đình.
Báo CAND trân trọng giới thiệu nội dung Chế phong vua Bảo Đại ban cho giáo học Nguyễn Công Hoan:
“Nhận mệnh trời, vận số hưng thịnh Chế của Hoàng đế, rằng: Trẫm lập nền chính trị, dùng người theo chế độ luận công, xét tài mà đặt chức vị khiến công việc phù hợp với năng lực.

Nghĩ khanh, giáo học Nguyễn Công Hoan, có tài năng văn học, tài khí đáng trọng, có tác dụng bồi dưỡng danh giá, tiếp tục tiến lên, làm quan thận trọng, trong sạch chuyên cần, không lúc nào quên. Thật đáng khen khanh ở triều đình.

Nay thăng (cho khanh làm) chức Phụng nghị Đại phu, Hàn lâm viện thị độc, ban cho chế này. Mong khanh xứng đáng là bậc mô phạm, giáo dục người, làm nòng cốt cho đất nước để xứng đáng với sự trọng văn (của trẫm).

Kính thay!”

Cuối chế có đóng dấu “Sắc mệnh chi bảo”, tức dấu báu ban sắc của mệnh vua.





Bức tượng đồng bán thân nhà văn Nguyễn Công Hoan tại nhà lưu niệm ở Hà Nội.

Thứ Bảy, 18 tháng 11, 2023

Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan


Nghệ thuật tự sự trong
truyện ngắn Nguyễn Công Hoan



HÀ MỸ HẠNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
Người hướng dẫn: PGS.TS Hà Văn Đức

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ NỘI - 2009




Thứ Năm, 9 tháng 11, 2023

Nghệ thuật xây dựng tình huống trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan


Nghệ thuật xây dựng tình huống trào phúng
trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Nguyễn Thị Thanh Hương
ThS. Giảng viên Khoa Khoa học xã hội,
trường Đại học Hồng Đức.



Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2023

“MÀY “ TRONG TIẾNG VIỆT


“MÀY “ TRONG TIẾNG VIỆT

Lê Kiều




MÀY không chỉ đơn thuần là một đại từ cho ngôi thứ Hai thông thường hoặc xưng hô tình bạn thân mật, mà cách sử dụng còn rất biến hoá.
*MÀY (trong truyện ngắn “Mua lợn, 1939“ của Nhà văn Nguyễn công Hoan), Ông dùng chữ MÀY hay lắm, miêu tả sinh động tính cách rởm: LỐ LĂNG, LỐ BỊCH, HỖN LÁO của một “BÀ LỚN“ (Đại diện cho không ít trưởng giả học làm sang):
…Bà lớn đi hết dãy hàng Lợn môt lượt rồi quay lại, hỏi:
”Con lợn này MÀY xin bao nhiêu?”
Anh Mân đứng dậy, gãi tai, đáp:
“Lạy bà lớn ban cho con sáu đồng“ Bà lớn bĩu môi, không đáp, rồi đi thẳng. Anh Mân trông theo, ngẫm nghĩ mà nực cười tiếng “xin“ của bà lớn và tiếng “ban“ của anh.
Bà lớn đi vài bước, đứng trước một ông lão râu tóc bạc phơ. Anh Mâu nghe rõ ràng tiếng hỏi:
”Con lợn này MÀY xin bao nhiêu?“
Anh Mâu bật cười về tiếng “MÀY“của một người trẻ tuổi gọi một người khác già bằng hạng bố đẻ. Hàng bố cu mẹ đĩ như hạng anh còn nói năng lễ phép tử tế hơn.
Bỗng bà lớn đi trở lại, đến chỗ anh Mân. Bà dừng chân ngắm kỹ con lợn ban nãy, rồi hỏi:
“Vừa rồi MÀY xin bao nhiêu?”
Anh Mân khoanh tay trả lời:
”Lạy bà lớn, sáu đồng ạ“
…..

MÀY TRONG CÂU CHỬI
Sinh thời, Mẹ tôi kể một câu chuyện hay và buồn cười:
Ở làng BĂT (Vân đình) có hai người đàn bà chửi nhau suốt ngày đêm, xóm làng khó chịu quá mới nhờ Lý trưởng can thiệp. Ông này đến quan sát một lúc rồi gọi hai người đàn bà hỏi: “Chúng mày còn muốn chửi nữa không?“. Cả hai đều lồng lộn xắn váy quai cồng, hăng máu kêu: “Thưa ông Lý, tôi muốn đào mả cha nhà nó lên ấy chứ, chửi đến khi nào bật cả mồ mả tổ tiên, ông bà nhà nó lên mới thôi“.
Lý trưởng biết không ngăn được nên nghĩ ra mẹo: “Được rồi, ông cho hai đứa tha hồ chửi nhau, nhưng khi chửi không được nói đụng chạm đến Tổ tiên, ông bà, bố mẹ, anh em…”
Hai mụ tưởng bở, định chửi nhưng cứ há mồm ra lại không chửi được (vì trong câu chửi không được có Tổ tiên, ông bà…), cho nên chỉ có thể chửi: “Chém MÀY, giết MÀY, trời chu đât diệt MÀY…”, và cuộc chiến lại bất phân thắng bại.

Việc đến tai lý trưởng, ông ta lại đến, vẫn bằng lòng cho hai người tiếp tục “chiến đấu“, nhưng ra mệnh lệnh mới: “Bây giờ chửi nhưng không được có chữ MÀY. Đứa nào vi phạm, làng sẽ bắt vạ, nghe không?“
Hai mụ tưởng bở, định “quyêt chiến cho đến thắng lợi cuối cùng“, nhưng không sao chửi được, vì định chửi thì y như “Hà miệng mắc quai“ bởi chữ MÀY, đành chịu “Giảng HUỀ“.

Khen thay cho ông Lý trưởng đã không dùng uy quyền cấm đoán, mà rất tinh khôn xử trí, bắt “Tâm phục khẩu phục“.


Và tiếng MÀY, dùng để Mắng trong giai thoại sau:
Có một vị tướng nước ta đến một nước nọ. Họ có “thiện chí“ mời ông đến ngôi đền có tượng thờ một nhân vật, với ý đồ xấu). Ông thừa hiểu lòng dạ tiểu nhân. Với khẩu khí Tướng quân của dân tộc Việt nam, ông đã ung dung “nhã nhặn“ đọc hai câu thơ sảng khoái đầy khí phách để đáp lại cái “Xỏ lá“

“Trăm năm mới có một ngày
Ngàn năm mới thấy mặt MÀY ở đây!”

Ông kiêu hãnh Mắng kẻ thù là MÀY, tỏ vẻ khinh bỉ, Họ biết, bầm gan tím ruột nhưng không làm gì được, vì ông đã khéo léo đặt chữ MÀY (đại từ) ở sau chữ MẶT, lồng ghép thành Danh từ (Lời mắng rất nặng, nghe vẫn thanh thoát, và… lịch sự!).

***


Nếu dùng tiếng Pháp (Vous, Tu), tiếng Anh (You), đều có nghĩa Ông, bà anh chị …nhưng không khẳng định được hàm ý chữ MÀY theo ba ý trên đây. Ngôn ngữ Việt nam minh tinh tế, phong phú và hay biết bao nhiêu. Dân ta hạnh phúc vì sở hữu chữ viết theo ký tự La tinh, có lẽ (tôi nói có lẽ) đã may mắn hơn rất nhiều dân tộc khác như Nhật bản, Trung quốc, Hàn quốc … vẫn phải sử dụng chữ tượng hình. Chúng ta hãy loại bỏ những rác rưởi vẫn còn đâu đó trên các trang viết để tiếng Việt ngày một thêm trong sáng.


Lê Kiều



Giọng điệu trần thuật - Dấu ấn chuyên biệt trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan


Giọng điệu trần thuật - Dấu ấn chuyên biệt trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Nguyễn Thị Huệ
Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp Quận Hoàng Mai - Hà Nội


Tóm tắt: Bài viết vận dụng lý thuyết ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật để phân tích, so sánh, đánh giá sự độc đáo, hấp dẫn trong phát huy khả năng diễn đạt của tiếng nói dân tộc như một nét duyên tạo nên phong cách truyện ngắn Nguyễn Công Hoan nói riêng, truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 nói chung. Nghiên cứu giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là vấn đề có ý nghĩa lí luận - lịch sử cấp thiết nhằm làm nổi bật những đóng góp quan trọng của nhà văn không chỉ cho nền văn học nước nhà giai đoạn 30-45 mà còn khẳng định những đóng góp quan trọng của dòng văn học hiện thực phê phán giai đoạn này.
Từ khoá: Ngôn ngữ, trần thuật, giọng điệu

Nhận bài ngày 22.1.2019; gửi phản biện, chỉnh sửa, duyệt đăng ngày 21.2.2019
Liên hệ tác giả: Nguyễn Thị Huệ; Email: huehue1167@gmail.com





1. MỞ ĐẦU

Trong “Đời viết văn của tôi”, Nguyễn Công Hoan từng bộc bạch:
“Tôi đặt nhiều công phu vào việc viết truyện ngắn, chứ không phải vào việc viết truyện dài. Tôi chỉ viết truyện dài khi nào tôi lười đi tìm đề tài để viết truyện ngắn”.
Ngay lập tức, văn đàn đã coi đó là lời tuyên ngôn của Nguyễn Công Hoan và tập trung sự chú ý nhiều hơn vào các truyện ngắn của ông. Và cũng ngay tại thời điểm những năm 1930-1945, Nguyễn Công Hoan đã là một trong năm cây bút có tên tuổi nhất, vững vàng nhất góp phần định hình dòng văn học hiện thực phê phán. Gần 70 năm đã trôi qua, nhiều công trình nghiên cứu về cuộc đời,
sự nghiệp văn chương của Nguyễn Công Hoan đã được thực hiện, công bố rộng rãi, nhưng chưa có một công trình nghiên cứu riêng nào về giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn của nhà văn. Có thể nói giọng điệu trần thuật được nhà văn sử dụng như một lưỡi dao sắc bén nhằm vạch trần những hỉ, nộ, ái, ố của chế độ thực dân nửa phong kiến thối nát đương thời, xen lẫn trong đó là tiếng thở dài, đồng cam cộng khổ với tầng lớp dân nghèo và mong muốn, khích lệ họ đứng lên đấu tranh đòi quyền sống. Đây không chỉ là những viên gạch được nung nóng, làm thức dậy chủ nghĩa yêu nước trong văn học, mà còn cho thấy sự nhập cuộc - “nhận đường” của nhà văn trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc sau này.






2. NỘI DUNG
2.1. Giọng điệu tác giả - người trần thuật

Giọng điệu là “thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả trong lời văn, quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu, tình cảm, cách cảm thụ xa, gần, thân, sơ, thành kính hay suồng sã, ca ngợi hay châm biếm ...(...). Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mĩ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc” [1; tr.134].

Giọng điệu thể hiện phong cách, cá tính sáng tạo của nhà văn trong sáng tác. Giọng điệu gắn với tư tưởng, cảm hứng nghệ thuật chủ đạo của nhà văn, chi phối giọng điệu trần thuật của tác giả và hệ thống nhân vật. Tư tưởng, cảm hứng nghệ thuật của nhà văn càng phong phú thì giọng điệu trong tác phẩm càng đa dạng. Giọng điệu thể hiện thái độ tình cảm, tư thế của người nói, do đó có tác dụng rất lớn trong việc tạo dựng hình tượng tác giả trong nghệ thuật. Có giọng điệu nhiệt huyết hùng hồn; có giọng điệu thâm trầm tinh tế, có giọng điệu giễu nhại, châm biếm sâu cay Giọng điệu thường thể hiện ở cách xưng hô, ở cách dùng từ ngữ, ở cấu tạo câu văn dài ngắn, có ít hay nhiều mệnh đề phụ, có ít nhiều lớp từ, cách cấu trúc câu. Theo nhà văn Nga Tuốcghênhép thì cái quan trọng trong tài năng nhà văn và trong bất kỳ tài năng nào chính là việc họ có tạo ra được “tiếng nói của mình” hay không?

Các nhà văn, nhà thơ thuộc các trào lưu, trường phái khác nhau cũng có giọng điệu khác nhau. Giọng điệu của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo trong nhóm “Tự lực văn đoàn” hoàn toàn khác các nhà văn hiện thực như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng Thế giới quan và các nguyên tắc sáng tạo của các trào lưu, trường phái là yếu tố chính, song bản thân tài năng, phong cách của các nhà văn cũng tạo nên sự đa dạng, khác biệt này. Cùng là nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 30-45, cùng sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết, cùng hướng vào việc miêu tả hiện thực đời sống, song mỗi nhà văn, trong đó có Nguyễn Công Hoan, đều có sự mới lạ, độc đáo riêng.

Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đánh dấu một bước cách tân quan trọng, nó đã đạt được sự phức điệu hóa. Ông thường kể theo nhiều quan điểm và giọng điệu khác nhau: giọng điệu của tác giả - người trần thuật; giọng điệu của nhân vật; giọng điệu nước đôi nửa tác giả nửa nhân vật Song dù là giọng điệu nào thì cũng đều thể hiện nét giễu cợt, châm biếm, hài hước kiểu Nguyễn Công Hoan. Dưới đây chúng tôi chỉ xin điểm qua về giọng điệu tác giả - người trần thuật và giọng điệu của các nhân vật.

Nổi bật nhất trong giọng điệu tác giả - người trần thuật là giọng giễu nhại. Với quan niệm “Đời là một sân khấu hài kịch”, “Đời đã hóa ra con mụ chửa hoang đẻ bậy, sinh non ra toàn những hạng hoặc mất dạy hoặc đói cơm” (Một tấm gương sáng), Nguyễn Công Hoan đã tạo nên trong tác phẩm của mình một thứ ngôn ngữ đậm chất trào phúng với hai giọng điệu chủ yếu là giễu nhại và hài hước. Giễu nhại theo quan điểm của M.Bakhtin, là “Nói bằng giọng của kẻ khác” nhưng “đưa vào lời nói đó một khuynh hướng nghĩa đối lập hẳn với khuynh hướng của lời người đó. Giọng thứ hai sau khi chuyển vào trong lời nói của người khác thì xung đột thù địch với chủ nhân vốn có của nó và buộc nó phục vụ trực tiếp cho các mục đích đối lập của mình. Lời nói trở thành vũ đài vật lộn của hai giọng” [3]. Với giọng giễu nhại này, mỗi truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan thường là một màn kịch, nhân vật là kẻ làm trò, nghĩa là đóng những vai hề. Vì thế, lối trần thuật luôn có giọng giễu nhại. Bằng biện pháp giễu nhại, tác giả có thể hạ bệ, đánh đổ tất cả những gì gọi là trang nghiêm, lột cái lớp sơn hào nhoáng để chỉ ra cái giả tạo, cái bộ mặt thật, cái lố bịch đáng cười nhất. Giễu nhại là một trong những thủ pháp quan trọng trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan để tạo ra một “thế giới lộn ngược”.

Bằng giọng giễu nhại, Nguyễn Công Hoan đã biến tất cả những gì có vẻ trang nghiêm, đóng vai trang nghiêm, tỏ ra đạo mạo thành trò cười bằng cách mô phỏng một cách hài hước lời nói, giọng điệu của một nhân vật, một loại người hoặc phong cách ngôn ngữ của một tầng lớp xã hội nào đấy. Nguyễn Công Hoan giễu nhại tất cả mọi thứ, mà theo quan niệm của ông, là “sản phẩm” xấu xa hư hỏng của xã hội thực dân phong kiến. Có truyện nhại ngay từ tiêu đề: “Vui vẻ trẻ trung” là nhại phong trào mà Tự lực văn đoàn ra sức cổ động, “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay” là nhại một câu trong Truyện Kiều. Có những truyện nhại phong cách, nhại văn hành chính công vụ (Tinh thần thể dục, Chính sách thân dân), có truyện nhại giọng cải luơng (Anh Xẩm), nhại giọng hát tuồng (Đào kép mới), nhại văn biền ngẫu (Thế là mợ nó đi Tây), có khi nhại cả văn cáo phó (Báo hiếu, Trả nghĩa mẹ), nhại văn trinh thám (Cái lò gạch bí mật) Nhà văn nhại đủ loại các phong cách, giọng điệu của đời sống, ví như giễu nhại ngôn ngữ phường tuồng trong Đào kép mới:
“Dạ, thậm cấp, thậm cấp, chí nguy, chí nguy! Quân nước Phiên đã kéo đến Lâm Truy, cách kinh kỳ có ba kilomet”.
Giễu nhại ngôn ngữ của giới thượng lưu trí thức thời Tây trong “Cái ví ấy của ai”:
“Chớ khinh lui, lui nhảy không sai nhịp, mà lại đưa cavalière nhẹ nhàng mà sinh lắng. Moi vẫn chịu lui cái lối vừa nhảy vừa trò chuyện tự nhiên. Rồi toi nhận mà xem, vai lui rất thẳng, không động đậy, tay cũng vậy, chân đi khép, êm ái mà không bao giờ đụng chân vào cavalière”,
nhại giọng nhõng nhẽo của những tiểu thư nhà giàu (Nỗi lòng ai tỏ); nhại ngôn ngữ nhà giáo (Thầy cáu)

Đôi khi yếu tố nhại ấy lại được người trần thuật ghi lại bằng chính giọng mình, bằng cách xưng “tôi”:
“Trong khi đi đường tai ông không lúc nào ngớt nghe ca tụng và luôn luôn ông đắc chí, vì ông Sứ đã vô tình làm bữa cỗ cho ông xơi” (Phúc tinh).
Trong những trường hợp như trên, lời văn giễu nhại trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đã kéo những gì nghiêm túc, cao cả xuống thành cái tầm thường, bóc trần cái lớp son phấn bên ngoài hào nhoáng, phơi bày ra những cái giả dối, lố bịch thật đáng cười.

Ngoài giễu nhại, Nguyễn Công Hoan còn sử dụng có hiệu quả giọng hài hước mỉa mai. Tác giả mỉa mai một cô gái “mới” đua đòi ăn diện:
“Kếu là nghĩa thế nào? Nghĩ bao nhiêu, cô lại oán cha trách mẹ, không đặt cho cô cái tên mỹ miều. Mà chữ Nho, mà thiếu gì tiếng hay, sao cô chịu mang mãi cái tên nôm na xấu xí ấy mãi. Nhất là khi đi ngoài phố, hay ở chỗ đông người, mà mẹ cô gọi: Kếu ơi! Thì cô đỏ mặt tía tai, hậm hực lấy làm ngượng quá!... Cái tên đã là “Ka êu sắc”, mà ăn mặc lại lối cổ! Ấy thế mà cũng mang tiếng là con gái Hàng Đào!...” (Cô Kếu, gái tân thời).
Mở đầu truyện ngắn “Đồng hào có ma”, tác giả bộc lộ rõ cái giọng hài hước pha với châm biếm. Ngay khi vào truyện, Nguyễn Công Hoan vừa miêu tả ngoại hình, vừa bình luận, vừa “hồn nhiên” phơi bày, tố cáo bản chất tham lam, độc ác, thói ti tiện, hống hách, ngang ngược của tên tri huyện:
“Tôi cực lực công kích sách vệ sinh đã dạy ta ăn uống phải sạch sẽ, nếu ta muốn được khỏe mạnh, béo tốt. Thuyết ấy sai. Trăm lần sai! Nghìn lần sai! Vì tôi thấy sự thực, ở đời này, bao nhiêu anh béo, khỏe, đều là những anh thích ăn bẩn cả? Thì đấy, các ngài cứ nhìn ông huyện Hinh, hẳn cái ngài phải chịu ngay rằng tôi không nói đùa.

Chà! Chà! Béo ơi là béo! Béo đến nỗi giá có thằng dân nào vô ý, buột mồm ra nói một câu sáo rằng: “Nhờ bóng quan lớn”, là ông tưởng ngay nó nói xỏ ông. Tức thì, mặt bàn là một, mặt nó là hai, bị vả đôm đốp. Mà rồi thằng khốn nạn ấy, ông truy cho đến cùng, không còn có thể làm ăn mở mày mở mặt ra được. Bởi vì ông có sẵn trong tay hàng mớ pháp luật, thì ông ngại gì không khép thằng bảo quan béo vào tội “làm rối cuộc trị an”. Thế là việc công việc tư, ông đều được trọn vẹn. Vì không những ông được hả giận, lại còn được tiếng mẫn cán là khác nữa”.
Chính cái giọng hài hước, mỉa mai châm biếm này đã góp phần phơi bày “chân tướng” của huyện Hinh mà không cần dùng đến nhiều chi tiết cụ thể miêu tả ngoại hình hay những hành động thị uy, tiểu nhân thâm độc, hại người của hắn.

Một trong những giọng điệu được cho là riêng, mới lạ của Nguyễn Công Hoan so với các nhà văn hiện thực phê phán cùng thời là giọng suồng sã bông lơn. Theo M.Bakhtin:
“Tất cả những cái gì nực cười đều gần gũi Tiếng cười có sức mạnh tuyệt vời kéo đối tượng lại gần, tiếng cười lôi cuốn đối tượng vào khu vực tiếp xúc thân mật đến thô bạo, ở đó có thể suồng sã, sờ mó nó từ khắp phía”.
Giọng điệu suồng sã của Nguyễn Công Hoan, xét đến cùng, bắt nguồn từ quan niệm về nhân sinh và nghệ thuật của ông. Cũng như nhà văn Pháp H.de.Balzac, ông quan niệm xã hội chỉ là một tấn trò đời, với những tấn kịch, trò hề, nhơ bẩn đểu cáng xỏ xiên, cần gì đến thứ văn chương đạo mạo, lễ nghĩa, sang trọng, bóng bẩy. Đối với ông, trong xã hội đương thời không có sự phân biệt cao cả, thấp hèn, trang trọng, thông tục. Văn ông muốn lột trần tất cả để thấy ai cũng như ai. Do đó mà nhiều từ Hán Việt, nhiều cách nói, diễn tả, thể hiện văn vẻ, cầu kì vốn chỉ để diễn tả sự vật hiện tượng với sắc thái trang trọng trong văn ông lại dùng để gây cười. Trong truyện “Thầy cáu”, tác giả viết:
“Lắm đứa sợ thầy đánh, hoặc vô ý không biết, cứ đưa cả vào lớp cho thầy và bạn hưởng chung cái tác phẩm của nhà soạn nhạc ẩn danh”.
“Tác phẩm” của “nhà soạn nhạc ẩn danh” là cái gì? “Tác phẩm” thực chất là mùi thối đã làm náo loạn lớp đồng ấu của “nhà soạn nhạc ẩn danh” tức là ông thầy. Nếu nói theo kiểu thông tục: “Lắm đứa sợ thầy đánh hoặc sơ ý không biết, cứ đưa cả vào lớp cho thầy và bạn hưởng chung cái mùi thối”, thì đâu còn là suồng sã bông lơn, đâu còn là Nguyễn Công Hoan?!

Với giọng suồng sã, bông lơn ấy, trong “Thịt người chết”, nhà văn viết:
“Thì lúc ấy, trên bờ đồng, quan huyện tư pháp là một, cụ lục sự là hai, cậu lính lệ là ba, cùng trịnh trọng làm việc và cùng trịnh trọng khạc nhổ”.
Từ “trịnh trọng” (Hán Việt) và từ “khạc nhổ” (thuần Việt) đi cạnh nhau không hợp nhau về ngữ nghĩa. Vì “khạc nhổ” chẳng có gì là “trịnh trọng” cả. Sự đối lập về sắc thái ý nghĩa này không chỉ làm bật lên tiếng cười hài hước, bông phèng mà còn là sự mỉa mai về cách “làm việc” của vị “quan huyện tư pháp”.
Theo tác giả Nguyễn Thái Hoà, trong các giọng điệu thường thấy ở truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, thì:
“Giọng hài hước là chủ đạo, giọng hài hước là bất biến ngay cả khi không có gì đáng cười, thậm chỉ là cả khi mọi người cho là nghiêm túc nhất”.

Tất nhiên ở đây hài hước chỉ là trên bề mặt, còn dư vị đằng sau là nước mắt. Tiếng cười hài hước bông lơn không đối lập hay tách biệt với chất châm biếm sâu cay, nên đôi khi ngay cả lúc cười cợt vui vẻ, tiếng cười của Nguyễn Công Hoan cũng thấm đẫm ở tầng sâu những lớp nền móng nhân sinh và nỗi đau đời thấm thía. Chẳng hạn trong “Cái Tết của những nhà đại văn hào”, Nguyễn Công Hoan viết:
“Cái nghèo của nhà văn là cái nghèo thanh cao, cái nghèo đáng trọng, cái nghèo phải ghi vào lịch sử văn học thế giới. Chúng ta nghèo, vì có bao nhiêu ở trong tim óc, chúng ta trút cả ra hết để làm giàu cho tim óc thiên hạ”.
Khi đùa cợt “Cái Tết của những nhà đại văn hào”, Nguyễn Công Hoan đã ngầm chế giễu, phê phán xã hội kim tiền náo loạn, coi thường tài năng nhân cách con người, lưu đầy thân phận người nghệ sĩ vào kiếp “áo cơm ghì sát đất”. Càng cố tự huyễn hoặc cảnh nghèo của mình bằng việc ta đây đang gánh vác một sứ mệnh cao cả, càng cố tỏ ra “khinh mạn” những cái tầm thường bao nhiêu, thực cảnh của các “nhà đại văn hào” càng thê thảm bấy nhiêu.

Ta có thể thấy nhiều ví dụ tương tự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan. Tuy vậy, xét ở khía cạnh tự trào thì giọng suồng sã bông lơn vẫn có cái “vô tư” của nó. Nó là tiếng cười sảng khoái, thoải mái nhất trong “thoáng chốc” của con người giữa cái hỗn độn, trong đục đảo điên đầy dữ dội, phức tạp của thời cuộc, cuộc đời. Cái “thoáng chốc” này góp phần xoa dịu những nỗi đau nhân thế hoặc khiến người ta có một “điểm dừng”, “khoảng lặng” cần thiết đủ để thấm thía hơn và điềm tĩnh, thăng bằng hơn khi đối mặt với những nỗi đau đó. Ngô Tất Tố, Nam Cao trong các truyện ngắn cũng có giọng điệu này, song có thể nói ở Nguyễn Công Hoan, nó rõ rệt hơn cả.



2.2. Giọng điệu nhân vật

Cũng như các nhà văn hiện thực phê phán khác đương thời, Nguyễn Công Hoan am hiểu khá thấu đáo, tường tận các mâu thuẫn, xung đột xã hội, đặc biệt đời sống lầm than, khổ cực của tầng lớp bình dân, những người yếu thế, bị chà đạp áp bức. Mỗi truyện ngắn của ông là một lát cắt của cuộc sống, chứa đựng những số phận, những cảnh đời trớ trêu, hẩm hiu, cả đáng thương, đáng trách, đáng cười.

Nhiều truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đều xoay quanh sự đối chọi giữa kẻ giàu và người nghèo. Một loại người “ăn trên ngồi trốc” hống hách quyền uy và loại người kia đói khổ bần hàn, suốt đời vất vả lam lũ.
Theo quan niệm của nhà văn, xã hội chỉ có một sự phân biệt duy nhất là “giàu” và “nghèo”, kẻ áp bức bóc lột và người bị áp bức bóc lột. Tất cả các nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan tựu trung, có thể phân thành hai loại như trên. Giàu có đủ các mặt xấu xa “vi phú bất nhân”. Nghèo do sự rút rỉa, bóc lột của bọn nhà giàu nên phải chịu số phận hẩm hiu cơ cực. Kẻ giàu sang, có quyền thế thì hống hách vô lương; người nghèo hèn thấp cổ bé họng thì không dám ăn dám nói. Diện mạo và mối quan hệ đối lập ấy được thể hiện qua giọng điệu, hành vi của các nhân vật nhà văn miêu tả như một chủ ý khắc họa tính cách.



2.2.1. Giọng điệu của những kẻ giàu có, quyền thế

Giọng điệu của những kẻ giàu, quyền thế thường hách dịch, thô tục, trắng trợn, đúng như bản chất tham lam, bất lương của chúng. Đây là giọng quát nạt của viên tri huyện, mắng thuộc hạ khi tên này không có tiền lễ tết quan:
“Mày kêu mày túng? Mày túng thì ông cách cổ mày đi cho thằng khác làm. Đồ ba que!”.
Ở một truyện ngắn khác, giọng điệu quát nạt mắng mỏ này lại chuyển sang dỗ dành ngọt nhạt, giả ân giả nghĩa khi thấy đĩa tiền ở góc bàn:
“Đấy, các thầy chỉ được cái nghề nói dối quan là tài. Từ nay không nên thế. Thôi được, có lòng thành, ta cảm ơn” (Gánh khoai lang).
Còn đây là khẩu khí của viên lý trưởng thúc giục đám dân làng Ngũ Vọng đi xem bóng đá:
“Hễ đứa nào láo, cứ đánh sặc tiết chúng nó ra, tội vạ ông chịu. Mẹ bố chúng nó! Việc quan thế này có chết cha người ta không. Chúng bay gô cổ cả, giải cho được ra đây cho ông!... Chín mươi tư thằng ở đây xếp hàng năm lại, đi cho đều bước. Tuần chúng bay phải kèm chúng quanh giúp tao. Đứa nào bỏ trốn về thì ông bảo Mẹ bố chúng nó, cho đi xem bóng đá chứ ai giết chết mà phải trốn như trốn giặc!” (Tinh thần thể dục).
Nói là vận động, nhưng thực chất là cuộc bắt người, truy lùng ráo riết để có đủ số người đi xem. Giọng điệu ấy, ngôn từ và hành động ấy chẳng khác nào kẻ cục súc, vô học, lỗ mãng, nhưng lại phát ra từ “miệng quan”, mà người xưa thì đã nói “miệng quan trôn trẻ”.

Trong truyện “Hé! Hé! Hé!”, giọng điệu ngọt xớt, đon đả của bà lớn Tuần khi giả lả với vợ chánh tổng Đồng Quân thật điêu trá, đáng sợ:
“Chỗ chị em, chả nên giấu diếm nhau. Tôi vừa có dăm nghìn, lại tậu cái đất trên Hà Nội để làm nhà cho khách chạy loạn thuê mất rồi. Bây giờ chỉ còn dăm chục để ăn từ nay đến cuối tháng.
Bà chị cho đong chịu hãy nhận lời, tôi nhận đong thóc của bà chị một nghìn đồng bạc thóc, nhưng tôi hãy cứ gửi bà chị ở nhà đấy”.
Kế sách của bà lớn là đong thóc chịu, lại để ngay tại nhà chủ, chờ giá thóc lên cao lại nhờ bán và mang tiền đưa cho mình. Vậy là không mất công, không mất sức mà vẫn lãi lớn, “một vốn bốn lời”. Tuy nhiên, đây không chỉ là câu chuyện làm ăn, buôn bán của những kẻ lắm tiền nhiều của, sống dựa vào sự bóc lột, bòn rút xương máu của những người lao động, mà còn là câu chuyện về vị thế, uy quyền của những kẻ bậc trên. Nhà chánh tổng Đồng Quân biết thừa kế sách đó, rất căm tức, nhưng cũng phải “ngậm bồ hòn làm ngọt”, nén chịu thua thiệt. Như thế, chỉ qua giọng điệu của nhân vật, người đọc cũng đủ hình dung được sự tham lam, giả trá của bọn người quyền thế trong cái xã hội nhiễu nhương, hỗn loạn, mục ruỗng, “cá lớn nuốt cá bé” ngấm ngầm đương thời.

Những kẻ giàu có, quyền thế đương thời thường độc ác, nhẫn tâm, thậm chí còn bất nhân bất nghĩa với chính cha mẹ đẻ của mình. Trong truyện “Báo hiếu, trả nghĩa cha”, gã tư sản giàu có còn đuổi mẹ, cấm không cho mẹ ra cửa:
“Tôi đã cấm bà không được ra đây kia mà. Đã một lần trước rồi, mà không chừa! Bà không biết để sĩ diện cho tôi! Đây này, bà cầm lấy! Bà về đi! Mặc kệ bà! Bà về ngay bây giờ! Mới có hơn bảy giờ, còn sớm!”.
Trong truyện “Răng con chó nhà tư sản”, gã nhà giàu nọ coi con vật còn hơn mạng sống của con người. Người ăn mày chẳng may đánh gẫy răng con chó của hắn, mà hắn sẵn sàng “kẹp cho mày chết tươi. Ông đền mạng, bất quá ba chục bạc là cùng!”. Có thể nói, chỉ qua một số ngôn từ, giọng điệu, khẩu khí trên, người đọc đã thấy được bản chất phi nhân tính của những gã tư sản rởm đời, và cho thấy giá trị và số phận bi thảm của những người nghèo trong xã hội đồng tiền.




2.2.2. Giọng điệu của những kẻ nghèo hèn

Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan hết sức phong phú, đa dạng, gồm đủ mặt các loại người, với đủ các nghề nghiệp khác nhau: Nông dân, địa chủ, lí dịch, cường hào, nghị thiện, quan lại Tất cả họp lại một bức tranh đời khá nhiều màu sắc, một tấn trò đời với nhiều cung bậc khác nhau của tình cảm. Trong truyện “Người ngựa và ngựa người”, giọng điệu khẩn khoản của anh phu xe rách rưới khi chào mời khách lên xe ban đầu rất thật:
“Thưa bà, xe ngày tết vẫn thế, vả lại, bây giờ còn ai mà kén nữa, bà mà trả rẻ thế. Con kéo một chuyến, rồi cũng đi trả xe, về ăn tết đây!”.

Nhưng đến khi khách không có tiền trả thì giọng điệu của anh đã thay đổi, thay vào lời thưa gửi nhỏ nhẹ, anh đã gay gắt và nói trống không:
“không có tiền, cũng leo lên xe mà ngồi, chỉ sĩ diện hão thôi, lại còn tí tách hạt dưa, với phì phèo thuốc lá mà không biết ngượng!”.

Còn đây là lời đáp lại của cô gái giang hồ, khi gọi xe thì lên giọng bà chủ:
“Hai hào là đắt rồi, ngày dưng chỉ có hào rưỡi một giờ thôi”.
Cho đến lúc không có tiền, bị ép vào thế đường cùng, không có tiền trả thì giọng điệu của cô gái chua xót, khốn khó:
“Anh đừng nói thế, ai muốn thế này làm gì”.
Cả hai đều nhẫn nhịn, cam chịu vì muốn kiếm thêm để nuôi thân, đúng hơn là để tồn tại, bất chấp gian khổ, dối lừa nghiệt ngã; cả hai trong tình cảnh này đều rất đỗi đáng thương. Chỉ một vài lời đối đáp ngắn mà cái nỗi ê chề, bẽ bàng của cô gái buộc phải làm cái nghề mạt hạng đáng khinh bỉ và cả một kiếp “người ngựa và ngựa người” đã được phơi bày.

Giọng điệu tự ve vuốt, đánh lừa bản thân của mấy anh văn sĩ kiết xác khi chế giễu bọn nhà giầu:
“còn hơn những thằng nhà giầu. Bọn mình có ai thèm làm bạn với đâu, mày phải tự kiêu ở chữ nghèo. Cái nghèo của nhà văn là cái nghèo thanh cao, cái nghèo đáng trọng. cái nghèo phải đi vào lịch sử văn học thế giới. Chúng ta nghèo, vì có bao nhiêu ở trong tim, trong óc, chúng ta trút cả ra để làm giàu cho tim óc thiên hạ”
trong “Cái Tết của những nhà đại văn hào” nghe thật thảm hại. Độc giả có thể cười khi đọc những dòng này, nhưng sau tiếng cười ngắn là những ngẫm nghĩ thật sâu, thật lâu.






3. KẾT LUẬN

Ngoài sử dụng những lợi thế của ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan còn có lối chơi chữ vô cùng đặc sắc. Ông chơi chữ trong cách đặt tên truyện và chơi chữ ngay cả trong lời văn trần thuật. Với ngòi bút hiện thực giàu tính nhân đạo, hình ảnh những người dân nghèo từ thành thị đến nông thôn, từ những người trí thức đến những cô gái bán thân đều được Nguyễn Công Hoan trân trọng, trân trọng trong cách kể chuyện, trong từng lời văn
thấm đẫm những triết lý sống và lung linh những giá trị văn hoá, khiến người đọc, càng đọc càng bị lôi cuốn, càng đọc càng say. Nguyễn Công Hoan đã biết chọn cho mình một lối ngôn ngữ rất riêng, rất độc đáo - đó chính là ngôn ngữ đời sống, đã được ông trau dồi, mài dũa để chuyển tải những lớp lang trong cuộc sống hàng ngày bằng những câu chuyện với ngôn từ giản dị, trong sáng, mượt mà nhưng sâu lắng, đằm thắm và thấm đượm tình người.





TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng Chủ biên) (2011), Từ điển thuật ngữ văn học (tái bản lần thứ ba), - Nxb Giáo dục.
2. M.B. Khrapchenco (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, - Nxb Tác phẩm mới.
3. M. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đốtxtôiepxki, (Người dịch: Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn), - Nxb Giáo dục.
4. Nguyễn Thái Hoà (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, - Nxb Giáo dục.
5. Nguyễn Công Hoan (2004), Đời viết văn của tôi, - Nxb Thanh niên.
6. Nguyễn Công Hoan (2013), Truyện ngắn chọn lọc, - Nxb Văn học.




THE NARRATIVE TONE – SPECIAL CHARACTERISTIC IN NGUYEN CONG HOAN’S SHORT STORIES


Abstract: The article applies the methodological manipulations of the language and narrative tone theory to analyze, compare and evaluate the uniqueness and attraction in developing the ability to express the voice of the nation, as a charm to create the style of Nguyen Cong Hoan’s short stories in particular, Viet Nam short stories in the period from 1930 to 1945 in general. Researching the narrative tone in Nguyen Cong Hoan's short stories set in an objective historical context is an issue of (practical) urgent theoretical - historical significance. It highlights the important contributions of Nguyen Cong Hoan is not only for the nation in the period from 1930 to 1945 but also for the critical realism literature in the movement against the domination of colonial feudalism in the period from 1930 to 1945. Keywords: Language, narrative, tone.

Thứ Tư, 20 tháng 9, 2023

Thứ Sáu, 1 tháng 9, 2023

Phong cách truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan


Phong cách truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan

Giáo án bài giảng Ngữ văn (CĐ-ĐH)



Thứ Sáu, 11 tháng 8, 2023

Phía sau trang sách: Sách gặp bà kiểm duyệt


Phía sau trang sách:
Sách gặp bà kiểm duyệt

Trần Đình Ba


Xuất bản, phát hành sách trước 1945 , các sách yên ổn để phát hành khi nội dung không đụng chạm tới chính quyền thực dân.



Nhưng một số sách đấu tranh, hoặc bị quy chụp từ Sở Kiểm duyệt của thực dân sẽ bị thu hồi, cấm phát hành.


Ghê gớm thay “bà kiểm duyệt”
Để cấm tàng trữ, lưu hành sách báo mà nhà cầm quyền cho rằng tổn hại đến chính trị, sẽ có những nghị định được ban ra, như trường hợp ở Trung Kỳ. Năm 1929, chính quyền Trung Kỳ in tập tài liệu 16 trang “Nghị định cấm các thứ Sách và các thứ Báo, Chí không được truyền bá, phát mại và tàng trữ trong hạt Trung Kỳ”. Thống kê có 104 đầu sách bị cấm, hoặc do nội dung bị thẩm định là có tính chống đối, tuyên truyền, hoặc liên đới đến chính tác giả với những tên tuổi “vào tù ra khám” bị chính quyền theo dõi chặt chẽ như: Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Trần Huy Liệu, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm...

Phần nhiều trong số những sách bị cấm là những sách lịch sử, tư tưởng, hồi ký với những tên sách làm chính quyền lăn tăn như: Tuyên cáo quốc dân (Phan Bội Châu),
Một bầu tâm sự (Trần Huy Liệu),
Từ thành Ba-lê đến Khám Lớn Sài Gòn (Phan Văn Gia),
Ngồi tù Khám Lớn (Phan Văn Hùm)...
Thậm chí cả tiểu thuyết Tàu như cuốn Vợ ai? của Từ Trẩm Á do Nguyễn Tử Siêu dịch cũng bị cấm. Trần Huy Liệu chia sẻ Cường học thư xã ở Sài Gòn do mình làm chủ nhiệm, có tới 23 cuốn bị cấm, mà Một bầu tâm sự, Ngục trung ký sự, Câu chuyện chung là 3/23 cuốn được đề cập.


Nghị định cấm sách báo ở Trung Kỳ - TƯ LIỆU CỦA ĐÌNH BA



Chẳng những cấm sách liên quan trực tiếp tới Việt Nam, có đầu sách dịch cũng bị cấm theo kiểu phòng xa để “bưng tai, bịt mắt” độc giả, không cho tiếp cận thời sự thế giới, mà Gương cách mạng nước Thổ Nhi [Nhĩ] Kỳ (Ngọc Sơn, Đoàn Hiệt dịch, Duy Tân thơ xã xuất bản),
Câu chuyện nhựt trình trong hồi cách mạng nước Pháp (Hoàng Tích Chu, Nhà in Xưa Nay),
Dân sinh chủ nghĩa (Tôn Dật Tiên; Nhượng Tống dịch, Nhà in Quốc Hoa) là những minh họa.

Rất bất ngờ là trong số 104 đầu sách ấy, có những đầu sách ngỡ nội dung an toàn không phương hại, nhưng vẫn bị đưa vào tầm ngắm. Trong đó phải kể đến cuốn Sách xem Tết Nam Kỳ của Tân Dân thư quán bị cấm bởi Nghị định số 687, ngày 4.3.1929, sách Vần quốc ngữ của Nguyễn Mạnh Bổng bị cấm bởi Nghị định số 2349, ngày 24.9.1927.


Ở tù vì sách
Tiểu thuyết Bước đường cùng xuất hiện trên Phổ thông bán nguyệt san số 23, ngày 1.10.1938. Tác phẩm sau bị cấm lưu hành. Khi Bước đường cùng xuất bản, để thực dân Pháp không chú ý, Nguyễn Công Hoan dặn nhà Tân Dân không quảng cáo. Nhưng rồi báo Tin tức viết bài khen, tác phẩm được chuyển thể sang kịch. Thống sứ Bắc Kỳ ra lệnh cấm lưu hành, tàng trữ sách này tại Bắc Kỳ, rồi Khâm sứ Trung Kỳ, Thống đốc Nam Kỳ, và ở Cao Miên, Ai Lao lần lượt cấm.

Để đối phó, khi sách bị cấm ở Bắc Kỳ, nhà Tân Dân gửi vào Trung Kỳ bán. Trung Kỳ cấm thì gửi vào Nam Kỳ. Rốt cuộc, 5.000 bản Bước đường cùng được bán hết. Sau lần Bước đường cùng… cùng đường, các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan bị Sở Kiểm duyệt cấm lưu hành để “treo giò”, trong đó có sách Cái thủ lợn, Phải gió... và khi viết bài cho báo, phải ký tên là Ngọc Oanh để lọt lưới kiểm duyệt.

Nói về kiểm duyệt, sau một thời gian dài tồn tại, Pháp bỏ kiểm duyệt từ ngày 1.1.1937. Nhưng Thế chiến thứ hai bùng nổ tháng 9.1939, Pháp lập lại Sở Kiểm duyệt. Theo Nguyễn Văn Noãn trong bài “Kiểm duyệt báo chí ở Việt Nam”, Báo chí tập san số 2, bộ I, 1968 thì sự trở lại của chế độ kiểm duyệt được thực hiện bởi Sắc lệnh ngày 24.8.1939 ấn định quy chế kiểm soát báo chí và các ấn loát phẩm khác; và Sắc lệnh ngày 27.8.1939 ấn định thể lệ kiểm soát trước khi phổ biến các ấn phẩm, họa phẩm, các chương trình phát thanh và phim chiếu bóng.

Những sách báo có khuynh hướng cộng sản bị cấm tàng trữ, nếu bị mật thám, nhà cầm quyền phát hiện sẽ bị gây khó dễ hoặc khép tội. Vũ Ngọc Phan dạo ở ấp Thái Hà, Hà Nội, trong nhà có sách Manifeste du Parti communiste (Tuyên ngôn của Đảng cộng sản), Résume du Capital (Tóm tắt tư bản luận). Khi nhà bị mật thám, quan Tây khám, những sách ấy được gói vào bọc để trên nóc tủ nên không bị phát hiện, nếu không thì nhà phê bình văn học Việt cũng phải đến Sở Mật thám hầu chuyện. Đào Duy Anh ghi nhận thực tế sau biến động 1930 khiến thực dân Pháp vất vả đàn áp những nhà yêu nước, chúng quyết liệt ngăn cấm sách báo tiến bộ, “những sách báo tiến bộ, nhất là những sách nói về chủ nghĩa Mác bằng chữ Pháp hay bằng chữ Trung Quốc đều bị cấm lưu hành”.
Sách Thơ ái quốc Chiêu hồn nước cùng chân dung Phạm Tất Đắc trên bìa 1, in tháng 7/1945

Thậm chí vì tác phẩm, tác giả còn bị ở tù, như trường hợp Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc. Tháng 3.1927, 1.000 quyển thơ Chiêu hồn nước được in tại nhà in Thanh niên, Hà Nội, phát hành rộng rãi, khuấy động lòng yêu nước, gây tiếng vang lớn trong công luận. Sở Cẩm nhận định “sách này là sách xui làm rối loạn, phản đối chính phủ”. Tác giả dù mới 17 tuổi cùng chủ nhà in Lê Cương Đồng bị bắt. Hà thành ngọ báo số 76, ngày 2.8.1927 cho hay tòa Thượng thẩm tuyên án, Đắc bị giam ở nhà trừng giới cho đến năm 21 tuổi, còn Đồng bị án 6 tháng tù.
Trần Đình Ba



Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2023

Nghệ thuật khắc họa nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan


Nghệ thuật khắc họa nhân vật
trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Thành Đức Bảo Thắng


Từ khi xuất hiện trên văn đàn tới nay, truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan vẫn khẳng định được vị thế vững chắc trong mạch nguồn văn học dân tộc, qua sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian. Truyện ngắn trào phúng của ông được tái bản nhiều lần, tiếng cười khỏe khoắn, bộc trực, đượm tình người của ông vẫn luôn vang lên trong những thời khắc có ý nghĩa của cuộc sống qua sự dàn dựng và biểu diễn của các nghệ sĩ sân khấu nổi tiếng. Sức hấp dẫn đặc biệt có được bởi ý nghĩa xã hội, giá trị nhân văn được chuyển tải qua tác phẩm và thế giới nhân vật độc đáo, sinh động của ông.

Hàng trăm nhân vật với hàng trăm tính cách trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan luôn tạo được ấn tượng riêng, không lẫn, và cũng luôn thể hiện được bản chất xã hội. Quan lại cường hào với đủ các bộ dạng, đủ cách ăn chặn, ăn cắp, ăn cướp… cứ lần lượt hiện lên như là minh chứng hùng hồn của xã hội đồng tiền. Thói hư tật xấu của con người trong xã hội cũ cũng được ông liệt kê đầy đủ với các biến thể khác nhau… Số phận bất hạnh của người lao động cũng lắm cảnh nhiều dạng, không ai giống ai… Làm nên sức hấp dẫn đặc biệt này phải kể đến nhiều biệt tài như: năng khiếu hài hước, sự quan sát tinh tế…, đặc biệt là nghệ thuật khắc họa nhân vật trong truyện ngắn trào phúng của ông.

Xuất phát từ cái nhìn cuộc đời là sân khấu hài kịch và con người chỉ là những kẻ diễn trò, đã xây dựng các nhân vật trong truyện ngắn trào phúng với mục đích nhằm lật tẩy, lột trái, phơi bày bộ mặt thật của xã hội đương thời. Nhân vật của ông trước hết là nhân vật của sân khấu hài kịch. Vì vậy, ông đặc biệt hướng ngòi bút của mình vào việc khắc họa diện mạo, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, chứ không tập trung vào việc khám phá, phân tích tâm lý bên trong của nhân vật.

Đọc truyện của Nguyễn Công Hoan, ta bắt gặp một thế giới nhân vật đông đúc, đa dạng và đặc sắc. Tác giả Phong Lê đã điểm danh họ: “những phu phen, thợ thuyền, dân quê, những địa chủ, lý dịch, cường hào; những nghị viên, dân biểu, quan lại (huyện, phủ, bố, án, tuần…); những ký, lục, phán, tham; những con buôn, tư sản, chủ thầu; những giáo chức, nghệ nhân, viết văn, làm báo; những me tây, cô đầu, kép hát, những gái điếm, con sen, thằng nhỏ, những “ván cách”, lính cơ, thầy quyền, những bồi bếp, tây trắng, tây đen…”[1][1] Phong Lê, Nguyễn Công Hoan, một đời văn lực lưỡng, (nhiều tác giả), Phê bình, bình luận văn học, Nxb Văn nghệ, TP.HCM, 1999. . Nguyễn Công Hoan đã dày công khắc họa thế giới nhân vật đông đúc, đa dạng ấy khiến cho họ trở nên đặc sắc, sinh động, đầy sức sống.




1. Khắc họa diện mạo
Nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trước hết là nhân vật của sân khấu hài kịch. Để làm nổi bật tính chất hài hước, ông sử dụng triệt để và tài tình biện pháp phóng đại. Dường như dưới ngòi bút của Nguyễn Công Hoan, những kẻ mà ông cho là ăn bẩn, thích ăn bẩn đều hiện lên với những hình thức đặc thù. Đó là cái béo hùng vĩ, ít ai có thể tưởng tượng được. Người đọc phải phì cười trước diện mạo của huyện Hinh:
“Chà! Chà! Béo ơi là béo! Béo đến nỗi giá như có thằng dân nào vô ý buột mồm nói ra một câu sáo rỗng nhờ bóng quan lớn là ông tưởng ngay nó nói xỏ ông… Nguyên cái da mặt ông nhỏ, mà có lẽ vì ông béo quá nên lỗ chân lông căng ra, căng thẳng quá đến râu không có chỗ nào lách ra ngoài được”. Và trên cái bộ mặt béo đến quái thai ấy là hai hàng lông tơ “đứng ở hai bên miệng ông, nó hình thành hai cái dấu chua nghĩa”[*][*] (dấu ngoắc đơn). (Đồng hào có ma).
Béo đến dị hình dị dạng là hình thức đặc thù của bọn có quyền, có tiền, tham lam, thích ăn bẩn. Nguyễn Công Hoan đã công thức hóa khi khắc họa diện mạo, hình thức bọn này. Nhưng cái tài của ông chính là ở chỗ kết hợp biện pháp phóng đại với lối so sánh độc đáo tạo nên được những nét rất riêng, đáng buồn cười trong từng nhân vật.

Ta gặp trong Đàn bà là giống yếu hình ảnh một bà phủ với khuôn mặt long trọng như “chiếc bánh dầy đám cưới”, hoặc hình ảnh một bà chủ mà chỉ thoạt trông thì phải bảo là “một đống hai ba cái chăn bông cuộn lại với nhau, sắp đem cất đi” nếu “chưa nom rõ cái mặt phị, cái cổ rụt, cái thân nung núc, và bốn chân tay ngắn chùn chụt” (Phành phạch). Với bà phán Tuyên (Cho tròn bổn phận) thì là hình ảnh một cây thịt tuy hơi cổ thụ nhưng chưa có vẻ gì cằn cỗi. Mỗi nhân vật ở dạng này đều có điểm chung được tạo thành từ nguyên nhân thích ăn bẩn. Nhưng giũa chúng cũng có những nét rất riêng qua lối so sánh đặc sắc, độc đáo của Nguyễn Công Hoan. Người đọc không thể không cười một cách khoái trá khi bắt gặp những hình ảnh như vậy.

Với Nguyễn Công Hoan, không chỉ giới quan lại, tư sản… được miêu tả chân dung bằng ngòi bút trào phúng mà mọi nhân vật trong tác phẩm đều mang diện mạo, bộ dạng sân khấu hài kịch.
Đó là kẻ ăn mày mà cái đói, cái rét đã làm biến dạng nhân hình với
“cái nón toạc tung cả cạp, đã đóng khố lại mặc cái áo rách cụt cả tay, thành ra bốn chân tay khẳng khiu, đen thui thủi, dài ngoằng ngoẵng”
(Răng con chó nhà tư sản).
Đó là diện mạo của thằng ăn cắp trông giống như một con khỉ ghẻ đáng sợ:
“Hai mắt trắng dã, lấm la lấm lét. Tóc thì bồng lên như tổ quạ. Da đen thui thủi, mặt rạn như men lọ cổ. Hai tay thọc vào túi cái áo tây tang, xơ xác như tổ đỉa…” (Thằng ăn cắp).
Nhân vật luôn được Nguyễn Công Hoan chú ý khắc họa dưới nhiều góc độ khác nhau. Khi viết về bản chất tham lam, thích ăn bẩn của giới quan lại, địa chủ, tư sản thì nhân vật hiện lên với hình dạng hài hước, châm biếm qua sự béo đến biến dạng. Nhưng dưới góc độ chính trị, ông miêu tả lũ người đó với vẻ mặt, hình dáng của chính những vai hề trên sân khấu hài kịch
(Đào kép mới).

Bằng nghệ thuật phóng đại, cường điệu, ngòi bút của ông như muốn vật hóa, đồ vật hóa nhân vật của mình. Về điểm này, tác giả Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng:
“Nghệ thuật phóng đại của Nguyễn Công Hoan đã tạo nên được biết bao trận cười đậm đà, khoái trá – một phong cách trào phúng bộc trực, bạo, khỏe rất gần với nghệ thuật dân gian”[2][2] Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn tư tưởng và phong cách, Nxb Tác phẩm mới, 1979. .
Người đọc phì cười khi tác giả tả cái bụng của Nguyệt:
“Cái bụng Nguyệt vài tháng nữa thì tròn bằng cái thúng”
(Oằn tà oằn),
hoặc khi tác giả miêu tả “cũng môi đỏ, cũng đít cong” về cô vợ của Samandji. Người đọc cũng bắt gặp nghệ thuật khắc họa diện mạo nhân vật theo hướng vật hóa trong Chí Phèo của Nam Cao, nhưng không tuân theo mô hình kiểu Nguyễn Công Hoan.

Có thể nói, những nhân vật của Nguyễn Công Hoan mang diện mạo sân khấu – diện mạo phù hợp với tính cách. Nghệ thuật khắc họa diện mạo nhân vật trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan thật đặc sắc và độc đáo, phù hợp với quan niệm nhân sinh của ông về cuộc đời và con người.



2. Nghệ thuật khắc họa hành động nhân vật
Nếu như, diện mạo nhân vật của Nguyễn Công Hoan phù hợp với tính cách, bản chất thì hành động, cử chỉ của nhân vật làm lộn trái, phơi bày bản chất nhân vật. Mỗi nhân vật của ông đều phơi bày những hành động thể hiện xung đột thảm hại có tính chất phổ biến giữa bản chất, tính cách với địa vị, thân phận xã hội của con người. Đó là những hành động giàu kịch tính, luôn tạo được sự bất ngờ – một yếu tố quan trọng trong cách xây dựng truyện trào phúng. Để tạo được cái hồn trong tác phẩm, Nguyễn Công Hoan sử dụng biện pháp tương phản và tăng cấp trong việc miêu tả hành động của nhân vật.

Cô Nguyệt lẳng lơ, dâm đãng với những lời thề bồi đầy danh dự:
“Tuy tôi chưa là vợ anh, nhưng cũng như là cô vợ nên tôi dốc một lòng chung thủy thì chữ trinh tôi giữ nguyên cho anh. Nếu anh ngờ tôi loan chung phượng chạ thì đây này, tôi sẽ chết như thế này này!” (Oằn tà oằn).
Một bà tham, bà phán bày tỏ sự biết ơn với công lao, sự khó khăn vất vả của người chồng bằng cách bỏ chồng, bỏ con vì cuộc sống mới giàu sang (Thế là mợ nó đi Tây). Một gái làm tiền (Ngựa người và người ngựa) với cách ăn mặc sang trọng mà phải nhảy tọt xuống đất khi anh phu xe đòi hai hào rưỡi. Và khi lộ rõ chân tướng đã phải lừa anh phu xe trốn mất để lại sự choáng váng, thất vọng của con “ngựa người” đó. Mỗi một nhân vật đều tự bộc lộ mình bằng hành động. Ta thấy xót thương cho sự bất hạnh của người phu xe đã bị lừa mất tiền công và hai hào bởi con “người ngựa”, nhưng cũng thấy được sự ranh ma, khôn lỏi trong con “ngựa người” đó qua hành động chỉ chạy “dưỡng lão” thôi, đít nhổm mạnh mà chân bước ngắn.

Nhân vật của Nguyễn Công Hoan thể hiện những hành động hết sức lôgic, hợp với bản chất của nó. Với ông, đã là quan lại, địa chủ, bọn giàu có trong xã hội thì đích thị là những kẻ thích ăn bẩn và toàn là hành động đê tiện, bẩn thỉu. Nguyễn Công Hoan thật tài tình khi tả hành động này của huyện Hinh một cách bất ngờ và thú vị:
“…tự nhiên như không, ông cúi xuống thò tay nhặt đồng hào đôi sáng loáng, thổi những hạt cát nhỏ ở giầy bám vào, rồi bỏ tọt vào túi”.
Đó là hành động ăn cắp của kẻ có trình độ ăn cắp đạt tới mức nghệ thuật. Thật vậy, trình độ ăn cắp, ăn cướp của quan lại quả là cao.

Ăn cướp một cách trắng trợn mà vẫn không mang tiếng xấu trước dư luận. Ngay những kẻ ăn cướp cũng phải phục vì cướp trên tay tài sản cướp được của thằng ăn cướp một cách đàng hoàng (Thằng ăn cướp).

Sự vô liêm sỉ đến mức tàn nhẫn của bọn giàu có vượt ra khỏi lẽ tự nhiên ở đời qua hành động. Chúng mượn ngày giỗ bố (Báo hiếu, trả nghĩa cha) để khoe khoang, phô trương thanh thế, trong khi chúng nhẫn tâm đuổi người mẹ đẻ ra khỏi nhà vì sợ bị xấu mặt. Cũng thật là bỉ ổi và nhơ nhuốc khi một kẻ muốn tiến thân đã dùng đạo “xuất giá tòng phu” để bắt vợ cống cho quan trên (Xuất giá tòng phu) hay lấy bốn chữ “tiết hạnh khả phong’’ bằng cách hiến thân. Trong cái xã hội thượng lưu đó đầy rẫy sự xấu xa, bỉ ổi và đê tiện. Một ông tham quan tự “ăn cắp” ví của mình rồi “tôi vờ thế, chứ ví đây này, có mất đếch đâu!” vì sợ tốn kém (Mất cái ví). Không chỉ có vậy, giữa những kẻ tự cho mình thuộc tầng lớp thượng lưu cũng ăn cắp của nhau, lừa bịp lẫn nhau (Cái ví ấy của ai, Phúc tinh)…

Sau mỗi một hành động của nhân vật, tiếng cười bật lên với nhiều cung bậc khác nhau. Đó là tiếng cười khoái trá, sảng khoái. Đó cũng là tiếng cười mỉa mai, châm biếm, đả kích, đầy chua xót. Đó còn là tiếng cười căm phẫn xã hội đồng tiền đưa đẩy con người vào những hoàn cảnh trớ trêu mà cái bi, cái hài xen lẫn hòa trộn. Đọc Kép Tư Bền, người đọc cảm nhận được đằng sau tiếng cười là hoàn cảnh thương tâm, đầy nước mắt. Người kép hát tài hoa phải diễn trò mua vui trong hoàn cảnh bố lâm bệnh nguy kịch. Tâm trạng đau khổ nhưng Tư Bền vẫn phải diễn trò. Màn một, màn hai, màn ba, anh đều phải “hò, hét, ngâm, cười, múa, nhẩy để mua gượng lấy những tràng vỗ tay”. Cùng với những tràng vỗ tay hưởng ứng, ngợi khen của khán giả ở từng màn là tâm trạng đau đớn, khổ tâm của anh trước sự ngày càng nguy kịch của cha mình. Và đến khi buổi diễn kết thúc sau những tiếng vỗ tay thì cũng là lúc Tư Bền không bao giờ gặp lại cha. Thật là một vở diễn bi hài kịch. Nguyễn Công Hoan đã đặt các nhân vật trong các tình huống mâu thuẫn hài hước khác nhau để từ đó bộc lộ bản chất bằng chính hành động tạo nên tiếng cười hài hước. Đó là những hành động làm nổi bật lên mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức, giữa tự nhiên và cái trái tự nhiên (Cái vốn để sinh nhai), giữa khả năng và ý đồ (Đào kép mới)… để từ đó mỉa mai, châm biếm, đả kích bộ mặt thật của xã hội đương thời.



3. Ngôn ngữ đối thoại
Nguyễn Công Hoan đặc biệt chú trọng miêu tả diện mạo, hành động cử chỉ của nhân vật bằng ngôn ngữ đối thoại đặc sắc. Qua ngôn ngữ đối thoại, ông đã bắt các nhân vật tự bộc bạch bản chất, phơi bày được hiện thực xã hội.

Ngôn ngữ đối thoại đa dạng và phong phú
Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan có ba kiểu chủ yếu: người kể chuyện đối thoại với nhân vật, người kể chuyện đối thoại với độc giả và nhân vật đối thoại với nhân vật.

Khi phân tích truyện ngắn Lập-Gioòng qua đoạn đối thoại giữa người kể chuyện với nhân vật:
“Nghe câu chuyện chú quyền Ván Cách nói, ta cũng hiểu là tại làm sao chú phải phạt rồi. Vì lỗi của chú đi quá lâu, đến nỗi thầy quản đồn một mình không giữ nổi cái con mẹ khôn ngoan mạnh khỏe kia, để nó sổng mất. Nhưng tưởng thầy quản đồn cũng lực lưỡng nhanh trí lắm đất chứ. Tại sao lại để cho con đàn bà nó đánh tháo được cả người lẫn tang vật? Nhà tiểu thuyết chẳng muốn để chỗ thủng ấy vừa chỗ cho độc giả đánh dấu hỏi. Vậy xin kể cái miếng võ nó rình đánh vào thầy quản, và mưu mẹo nó lừa ra sao”.
Người đọc thấy được sự gắn kết giữa kết quả và nguyên nhân của hiện tượng Lập-Gioòng, qua đó có thể thấy được nội dung của câu chuyện.

Mở đầu truyện Đồng hào có ma, chỉ bằng lời đối thoại với độc giảông đã phơi bày bản chất thích ăn bẩn của huyện Hinh và giải thích cái béo đến dị dạng dị hình của hắn:
“Tôi cực lực công kích sách vệ sinh đã dạy ta ăn uống phải sạch sẽ, nếu ta muốn được khỏe mạnh béo tốt. Thuyết ấy sai, trăm lần sai, nghìn lần sai! Vì tôi thấy sự thực ở đời này bao nhiêu những anh béo, khỏe đều là những anh thích ăn bẩn cả. Thì đấy, các ngài hãy nhìn ông huyện Hinh, hẳn các ngài phải chịu ngay rằng tôi không nói đùa!”.
Đây là cách giải thích rất Nguyễn Công Hoan (chữ dùng của tác giả Nguyễn Đăng Mạnh).

Đọc truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan, ta bắt gặp nhiều kiểu đối thoại, đa dạng, phong phú. Ở mỗi truyện ngắn có thể có nhiều kiểu đối thoại được vận dụng một cách linh hoạt tạo ra sự sinh động của những màn hài kịch, phơi bày tính chất giả dối bất lương, lừa bịp của hiện thực đương thời.

Với Oằn tà oằn, Nguyễn Công Hoan đã để nhân vật đối thoại với nhân vật nhằm mục đích bắt nhân vật nói lên điều không muốn nói.

Tiếng cười hài hước của độc giả hướng vào Nguyệt khi phải chứng kiến cuộc đối thoại giữa bà đỡ và Nguyệt về chuyện đẻ con so hay con rạ.

Vận dụng sáng tạo và linh hoạt ngôn ngữ đối thoại, Nguyễn Công Hoan đã tạo mạch nối giữa tiếng cười dân gian và tiếng cười hiện đại. Đoạn đối thoại giữa cô Bống (Đàn bà là giống yếu) với chồng (quan phủ) một mặt bộc lộ trọn vẹn bản chất dâm đãng, tham lam tới mức trơ trẽn của bà phủ: ngủ với trai khi chồng đi vắng, thế nhưng vẫn lớn tiếng đe dọa khi bị bắt quả tang, mặt khác gợi người đọc trở về với khái quát đậm màu triết lí của dân gian: gái đĩ già mồm.

Ngôn ngữ đối thoại giàu kịch tính
Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan hướng tới phơi bày bản chất của con người, của xã hội bằng tiếng cười trào phúng giàu kịch tính. Đó là thứ ngôn ngữ chứa đựng yếu tố hấp dẫn, tạo được sự bất ngờ, lột trái hiện tượng, phơi bày mâu thuẫn hài hước. Người đọc phải phì cười khi hiện tượng kẻ ăn cắp bị bắt, bị đánh nhừ tử chỉ vì: “Nó ăn của tôi …hai xu …bún riêu… rồi… nó quịt… nó chạy!” (Thằng ăn cắp). Câu nói kết thúc truyện diễn ra trong sự mệt mỏi với hơi thở hổn hển của bà hàng rong đã lột trái mâu thuẫn hài hước giữa hiện tượng ăn cắp to tát với sự thật nhỏ con. Giá trị hài hước của câu chuyện chỉ được bộc lộ bởi yếu tố đầy bất ngờ này.

Trong Nỗi lòng ai tỏ, kết quả thật đáng sợ lại được giải thích bằng nguyên nhân hết sức đơn giản khiến người đọc cảm thấy ngỡ ngàng:
“Từ lúc ăn xong bữa cơm sáng đến giờ chẳng ai hiểu vì lẽ gì, cô Tuyết cứ thở ngắn than dài. Rồi chờ cho mẹ đi chơi, cô lên giường đắp chăn thút thít khóc mãi”.
Rồi cả ngày hôm đó, cô Tuyết còn buồn lắm, cô trằn trọc và thở dài chỉ vì một nguyên nhân giản đơn được thể hiện trong một câu ngắn gọn:
“Cô đặt báo xuống, rên rỉ: Vân chết! Trời ơi!”[3][3] Các trích dẫn đều từ Nguyễn Công Hoan, Truyện ngắn tuyển chọn, tập 1, 2, Nxb Văn học, Hà Nội, 1996. .
Ngôn ngữ giàu kịch tính xuất hiện nhiều trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan. Khi kết hợp với thủ pháp tăng cấp, tác giả đưa người đọc từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác và bật cười khi hiểu rõ câu chuyện.

Bằng tài năng bậc thày, bằng cảm quan trào phúng độc đáo, Nguyễn Công Hoan đã sáng tạo một thế giới nhân vật hấp dẫn, sống động. Thế giới nhân vật độc đáo và đặc sắc của ông đã làm nên tiếng cười trào phúng khỏe khoắn, giòn giã, sảng khoái…



Thành Đức Bảo Thắng
_