Ads 468x60px

.

Thứ Ba, 27 tháng 5, 2025

Vài cảm nghĩ khi đọc cuốn tiểu thuyết "Tắt lửa lòng" của nhà văn Nguyễn Công Hoan


Chuyên mục: Lan&Điệp
Tham luận

Vài cảm nghĩ khi đọc cuốn tiểu thuyết "Tắt lửa lòng" của nhà văn Nguyễn Công Hoan

Huy Thanh


1- Vài nét về nhà văn Nguyễn Công Hoan:
Nguyễn Công Hoan sinh ngày 06/03/1903 tại làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh (nay là Hưng Yên). Năm 1928 ông tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm đi dạy học ở Hải Dương, Lào Cai, Nam Định. Ông mất ngày 06/06/1977. Tác phẩm ông gồm
1-Kiếp Hồng Nhan (Truyện ngắn 1923)
2-Người ngựa, ngựa người (Truyện ngắn 1931)
3-Tắt lửa lòng (Tiểu thuyết 1933)
4-Lá ngọc cành vàng (Truyện dài 1934)
5-Kép Tư Bền (1934)
6-Bước đường cùng (1938 )
...

Năm 1936 Tiểu Thuyết: "Tắt lửa lòng" của ông đã được soạn giả cải lương Trần Hữu Trang soạn thành vở cải lương "Chuyện tình LAN và ĐIỆP" rất nổi tiếng




2- Lược tóm chi tiết nội dung cuốn tiểu thuyết "Tắt lửa lòng":
Vì cuốn Tiểu Thuyết quá dài, lại quá nhiều tình tiết nên tôi xin phép không đăng hết nguyên văn, mà chỉ lược khảo cốt truyện, đồng thời trích dẫn chứng những điều cảm nghĩ từng đọan văn ngắn, để quý độc giả tiện việc theo dõi.

Điệp là một thanh niên học thức, anh vừa thi hỏng bằng Cao Đẳng Tiểu Học (Thành Chung tiếng Pháp gọi là Diplome), Điệp là con của ông bà Cử. Trước đây khi ông Cử còn sống, ông đã cùng người bạn thân là ông Tú hứa hẹn làm suôi gia sau nầy. Họ hẹn nhau khi Điệp công thành danh toại thành nghề thầy giáo như ước muốn thì sẽ lấy cô Lan con ông Tú làm vợ. Sau khi ông Cữ mất, gia đình Điệp sa sút dần, bà Cử phái đi bán đầu chợ sớm hôm, gia đình Điệp vướng vào cảnh nghèo khó.

Ông Tú thấy hoàn cảnh nhà bà Cử như vậy nên hết sức giúp đỡ, nhất là ông thường giúp tiền bạc cho Điệp đi ăn học một cách rất khéo léo, tế nhị mà anh không hay biết. Riêng Lan, con ông Tú, được sự giáo huấn của cha nên sống rất có đạo đức, nết na, hiền lành, chân thật. Cô không vì hoàn cảnh nghèo khó của Điệp mà phụ lòng nhân nghĩa mà trái lại cô càng thêm yêu quý, tìm cách giúp đỡ vị hôn phu của mình hơn. Hai người vẫn lén gặp nhau tâm sự, "tình trong như đã mặt ngoài còn e" nhưng hai bên vẫn giữ trong vòng lễ giáo.

Biết Điệp vừa thi hỏng, ông Tú cũng buồn nhưng ông cũng an ủi và khuyến khích Điệp rán học lại, thi khoá sau. Riêng Lan, việc Điệp thi đậu hay không cũng không liên quan gì đến tình yêu của hai người. Nhưng riêng Điệp anh rất mặc cảm vì chuyện thi hỏng, anh cho đó là mình đã phụ bạc lòng tốt của ông Tú và tình yêu của Lan nên gởi bức thư cho cô bày tỏ tấm lòng và xin từ hôn. Lan không trả lời thư nên Điệp phải tìm cách gặp riêng cô để nói chuyện dứt khóat. Lúc đó Lan mới nói rỏ lòng mình khiến Điệp rất cảm đông an tâm quyết chí học hành, thi lại ở khoá sau. Khoá thi sau Điệp suýt hỏng vì gặp vị Giám Khảo quá khó nếu không nhờ có ông quan Phủ, một bạn thân của vị Giám Khảo nói giúp nên Điệp mới thi đậu.

Quan Phủ là một người sống không đạo đức nhưng rất giả nhân giả nghĩa, ông giúp Điệp là để che đậy một âm mưu lợi dụng Điệp sau nầy. Ông khuyên Điệp đừng thi vào ngành Sư Phạm theo đuổi nghề dạy học mà ông sẽ giúp Điệp vào ngành lục sự (thư ký Toà) để có cơ hội thăng quan tiến chức bởi vì ông sắp được thăng chức Chánh Án trong ngành Toà Án, sẽ có nhiều cơ hội giúp cho Điệp mau thăng quan tiến chức. Vì còn non nớt mới ra đời nên Điệp sa vào bẩy của ông Phủ nên răm rắp nghe lời ông.

Một hôm, ông mời Điệp cùng "ăn tiệc mừng" ngày Điệp vào làm ngành Toà Án tại Phủ của ông.
Đêm đó, ông ép cho Điệp uống say rượu rồi cho người khiêng Điệp vào phòng ngủ của cô Thuý Liễu, con gái ông, một cô gái nhà quan đỏng đảnh, khinh người, đang có chửa hoang với một tên lính trong phủ tên là Cách tức Tư Kềnh. Điệp đã mắc bẫy của ông Phủ, vì do say quá nên anh không biết gì, anh nghĩ rằng mình đã phá hoại trinh tiết của Liễu mà không biết Liễu đã có thai trước đó. Mặt khác, anh còn bị ông Phủ hăm dọa nên đành phụ bạc tình của Lan để lấy Thúy Liễu.

Sau khi cưới nhau, Điệp mới vỡ lẽ là Thúy Liễu đã có thai hoang, cảnh gia đình Điệp không có hạnh phúc vì sự khinh khi, hà hiếp của gia đình ông Phủ và cả Thuý Liễu nữa. Anh hối hận xin ly dị Thuý Liểu và hy vọng sẽ trở về với Lan nối lại duyên tình. Riêng Lan vì quá buồn rầu cuộc tình tan vỡ nên bỏ nhà xuống tóc vào chùa Phương Thành tu sau khi đả đào hố chôn một xác con bướm (Điệp) và cánh hoa lan (Lan) ý nói cô đã chôn chặt mối duyên tình năm xưa quyết một lòng theo Phật.

Điệp đã đến chùa Phương Thanh thăm Lan nhưng Lan thấy Điệp thì né tránh, không ra, mặc dù cô rất đau lòng. Sợ Điệp giựt dây chuông làm náo loạn cửa Thiền nên Lan dùng kéo cắt đứt dây chuông. Điệp buồn rầu trở lại nhà, anh quyết tâm tìm quên nỗi buồn bằng cách tiếp tục theo đuổi việc đèn sách. Nhờ sự giúp đỡ của ông Tú cha của Lan, Điệp sang Pháp du học và trở thành Bác Sĩ, anh trở về nước mở một nhà thương riêng.

Sau đó vài năm, một hôm, có cậu bé đến tìm Điệp vì muốn truy tầm nguồn gốc cha của mình, cậu bé tên là Vũ, chính là đứa con hoang của Thuý Liễu với tên lính Cách tức Tư Kềnh mà cậu bé nghĩ rằng Điệp là cha của mình. Nguyên nhân là sau khi sinh đứa bé, Thuý Liễu đã lấy họ Vũ của Điệp để đặt tên cho con nên mới có sự hiểu lầm của cậu bé. Điệp đã lấy những giấy tờ chứng minh là mình không phải là ba ruột của Vũ. Sau cùng thì Vũ cũng tìm ra được cha ruột của mình là Tư Kềnh, một tên lính của ông quan Phũ ngày trước. Điệp đã gởi thư cho Lan tại Chùa để nói mình đã ly dị Thuý Liễu và muốn gặp lại Lan, nhưng cô tưởng rằng Điệp còn ở với Thúy Liễu nên không đọc thư.

Sau đó Lan vì quá buồn rầu thân phận, tình duyên trắc trở nên mang bệnh nặng. Điệp được tin của Xuân, em gái Lan báo nên lập tức cùng Xuân đến Chuà chở Lan vào bệnh viện của mình. Bệnh Lan đã quá nặng nên Điệp phải nhờ nhiều bác sĩ bạn bè khác tiếp tay nhưng cũng không khỏi, Điệp cũng viện trợ ngành Đông Y chữa trị nhưng tất cả cũng đều bó tay mặc dù đã tìm hết cách cứu chữa, nhưng Lan cũng không thuyên giảm, sau đó thì Lan qua đời để lại cho Điệp một mối hận lòng khôn nguôi.





Bình luận
Nếu tôi là một độc gỉa đọc cuốn tiểu thuyết nầy vào năm 1933, thời tác giả đang sống thì phải công nhận rắng "Tắt lửa lòng" là một quyển sách hay. Hay từ hình thức đến nội dung, nhất là cốt truyện vô cùng cảm động trong cái môtíp cổ điển. Nhưng ở thế kỷ nầy, phải thành thật mà nói khi đọc lại nó tôi không còn cảm xúc như những ngày trước nữa, bởi vì cốt truyện đã trở nên quá quen thuộc, cảm tính gần như không còn bởi môtíp viét truyện bây giờ đã khác nhiều. Có những tác phẩm khai sinh cùng thời đó như Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, Nửa Chùng Xuân của Khái Hưng v..v.. bây giờ khi đọc lại tôi vẫn còn những hoài cảm chênh vênh. Sự đồng cảm đó như còn đọng lại dù rất ít có lẽ do văn phong của tác giả, do cách viết văn của hai nhà văn lớn nầy diễn tả sâu hơn vào tâm lý nhân vật nên tạo ra sự gần gũi đồng cảm, nhiều ấn tường để lại trong người đọc. Tiểu thuyết là một phương tiện dể dàn trải nổi lòng nhất, dễ gần gủi nhất với người đọc nhất. Nhưng đọc "Tắt lửa lòng" của nhà văn Nguyễn Công Hoan, theo tôi (không biết có đúng không) hình như cách viết văn của ông không phải là lối văn viết tiểu thuyết, lãng mạn mà là lối văn tự sự, nặng phần miêu tả. Nói cách khác gần như là kể truyện với nhiều lời đối thoại rất bình dân. Thường lối văn tiểu thuyết, nhất là viết những truyện tình cảm, các nhà văn thường lồng tâm lý nhân vật vào những ngoại cảnh xung quanh, đào sâu những suy nghĩ của họ, tạo ra những bối cảnh đồng sắc, đồng điệu, tạo những ấn tượng cảm xúc. Những ấn tượng đó ăn sâu vào tâm hốn ngưới đọc như một vết thương không thể tránh khỏi, không thể quên. Chính những cách viết đó nó làm cho cốt truyện sinh động nhiều mầu sắc hơn, có cái hồn hơn.

Ở đây, hình như nhà văn Nguyễn Công Hoan, cốt viết cho cốt truyện được nhiều tình tiết éo le mà quên hẳn văn phong của viết tiểu thuyêt là tâm lý nhân vật, tâm lý của họ đối với ngoại cảnh và người. Ông viết cho mau kết thúc cốt truyện, theo sự chờ đợi của độc giả là sự tò mò, đợi chờ để biết một kết thúc ra sao chứ không phải thưởng thức cái xác, (văn phong) cái hồn (tâm lý nhân vật) của một tác phẩm nghệ thuật.

Vì quá chú trọng cốt truyện, nên trong "Tắt lửa lòng" rất nhiều đoạn đối thoại không cần thiết, nên ông chia ra rất nhiều những phân đoạn chỉ có vai trò cầu nối, nhưng tác gỉa đã tách ra thành một số phân đoạn chính yếu làm cho cuốn tiểu thuyết quá dài trong khi nội dung thì quá ngắn (tất cả 19 phân đọan).

Theo tôi những đoạn có vai trò cầu nối như phân đọan 14 "Mẩu Chuyện Cũ" phân đoạn 16 "Cha Thằng Vũ", tác gỉả nên gom lại, viết vắn tắt thành một phân đọan chung.

Theo ý riêng của tôi, tác giả nên xoay mạnh vào tâm lý của Lan và Điệp khi mới yêu nhau, lúc dang dở (đọan cao trào), đến khi họ xa nhau ngàn thu vĩnh biệt. Những thảm kịch của gia đình Điệp, sau khi cưới Thúy Liễu như đoạn Điệp gây gổ với ông Phủ và Thuý Liễu, đoạn Thuý Liễu khinh bỉ mẹ chồng là bà Cử là những đọan tác giả muốn nói lên cái cốt cách của nhân vật nhưng thiết nghĩ không nên viét quá dài. Hay đoạn viết đời riêng cuả Vũ (con hoang của Thúy Liễu và Tư Kềnh) đi tìm cha, mẩu đối thoại của Vũ và cha ruột của mình là Tư Kềnh không nên kéo dài quá, vì nó sẽ làm hỏng những cảm động của độc giả còn đọng lại, chưa thật sâu lắng, khi độc giả đã quá mệt mỏi đi theo nhân vật phụ mà quên đi nhân vật chính.

Chỉ có đọan cuối, khi Điệp gặp lại Lan trong khi cô bệnh nặng nửa mê nửa tỉnh và sự chăm sóc của Điệp và Xuân là đoạn văn viết rất thành công nhất của tác giả khiến người đọc khó ngăn dòng nước mắt:

"Bệnh Lan mỗi lúc một trầm trọng đến nỗi Điệp không những không có hy vọng chữa khỏi mà cũng không mong hằng ngày nửa, được giờ nào hay giờ ấy mà thôi. Điệp hết sức chữa cho Lan tỉnh trong một lúc để được nói chuyện trước khi vĩnh quyết, nhưng khó quá, lúc nào Lan cũng li bì, mà ba bốn bận ngất đi. Bỗng nhiên Lan thở mạnh một cái, rồi hai con mắt mở to có vẻ có tinh thần. Điệp mừng quá nhưng là cái mừng trong sự tuyệt vọng, vì biết rằng đó là phút cuối cùng của đời Lan. Lan giương mắt nhìn Điệp và Xuân. Điệp ghé đầu lại gần gọi:
- Cô Lan
Xuân rơm rớm nước mắt:
- Chị ơi
Điêp hỏi:
- Cô Lan, cô có biết tôi là ai không?
Lan lim dim hai mắt gật đầu
Điệp bảo:
- Cô thử nói tên xem có đúng không?
Lan giương đôi mắt chòng chọc nhìn vào mặt Điệp khẽ cất tiếng
- Điệp
Lan ú ớ nói líu lưỡi:
- Thầy mạnh chứ?
- Thầy mất sáu năm nay rồi chị không biết à?
Lan gật, rồi cố dùng hết sức hỏi Điệp bằng giọng khàn khàn khó nghe:
- Mấy con?
Điệp trố mắt ngạc nhiên hỏi:
- Cô tỉnh hay mê cô Lan?
- Tỉnh
- Thế cô có nhận được ba cái thư tôi gởi vào Chùa không?
Lan gật đầu
- Sao cô lại hỏi thế?
Lan lắc đầu đáp:
- Tôi không đọc
Một hồi trồng ngực làm cho Điệp bồi hồi. Điệp nhăn nhó hỏi dồn:
- Sao lại không đọc?
Lan lắc, lả ngoẹo đầu thở dài:
- Thế cô có biết tôi bỏ Thúy Liễu ngay sau mấy tháng sau khi cưới không?
Lan lắc đầu, Xuân nhìn Điệp nói:
- Hay la chị vẫn tưởng Thuý Liễu vẫn ở với anh mà không muốn đứng giữa làm rối cuộc hoà hơp của gia đình anh nên mới thế?
Lan gật đầu. Điệp nói:
- Tôi không lấy ai cả, ngày đó tôi bị bắt buộc cưới Thúy Liễu chứ không nhận Thúy Liễu là vợ. Lan gật đầu
- Ngày tôi bỏ Thúy Liễu tôi có đến Chuà định thăm cô, nhưng không vào vì tôi quyết lập thân trước, rồi mới nghĩ đến cuộc nhân duyên sau.
Một nụ cười héo hắt nở trên cặp môi khô đét của Lan
- Sao cô lại đày đọa thân cô quá thế. Cô làm gì nên tội để thiệt một đời?
Lan nhăn mặt, lắc đầu cố nói:
- Tôi tưởng...
Rồi rú lên mà ho, ho xong hai mắt đờ ra, lim dim thở
Điệp hỏi:
- Thế ba cái thư tôi gởi giờ ở đâu?
Lan lim dim mắt:
- Hòm (rương)
Điệp vò đầu bứt tai:
- Khổ quá, tôi thương cô quá.

Điệp nức nở lên mấy tiếng, Xuân cũng thổn thức, Quanh mắt Lan bấy giờ cũng lóng lánh một quầng lệ. Rồi Lan rên, ú ớ như gọi, nhưng không còn ra tiếng gì nữa. Đứng trước cái phút cuối cùng của Lan, Điệp cảm động quá không thể khóc được, cố giương mắt nhìn Lan để được in sâu trong óc người đã hy sinh một đời cho mình được sung sướng. Rồi giật mạnh một cái, hai bàn tay lạnh như đồng, Lan chòang tay ra nắm chặt lấy cổ tay Điệp và Xuân, thì một tiếng nấc, ngực Lan không thoi thóp nữa, hai mắt lờ đờ trắng phết vẫn cố mở nguyên để nhìn vào phía Điệp đứng.

Cũng có những đoạn tác giả viết tả tâm lý nhân vật, ngoại cảnh, nhưng lại quá ngắn như là nét phác họa chưa đủ sức hút tâm lý nhạy cảm của người đọc. Chỉ đến cuối cùng, khi sắp kết thúc cốt truyện, tác giả mới viết một đọan cuối rất hay sau đây:

"Năm giờ chiều hôm sau ở chợ Gỏi, người ta đã thấy phường kèn trống, bát âm, và phu đòn, sắp sẳn nhà táng linh xa ngồi chờ ở gốc đa để đón đám ma. Cảnh xuân mà ảm đạm. Mặt trời chìm về Tây hắt cái bóng uá tận lên những đám mây bạc mờ, tạo ra các mầu óng ánh như khảm. Cây khô chưa nẩy lộc đứng lom khom bên cạnh đường. Khóm tre kẽo kẹt, làm tơi tả chiếc lá vàng xum xoe bay, rồi nằm mắc trên bui tầm xuân dại."

Đến đọan đám tang Lan ông viết rất cảm động:

"Tiếng kêu nổi lên theo gió đưa đi nhưng giọng rền rĩ sầu thảm, khói hương phảng phất bay lên. đám ma thong thả theo lối rẻ vào làng Văn Ngoại, rồi đi qua rặng tre bên bờ sông, người đưa mỗi lúc một đông... Trời đã về chiều đã tăng cái vẻ sầu thãm, trời về chiều lại bày thêm cảnh đám ma có giọng khóc nỉ non ai oán. Tạo hoá như khéo vẽ lên bức tranh đoạn trườn. Trống vẫn thúc, kèn vẫn rên. Hồn và xác Lan trong chiếc nhà táng nghênh ngang theo sau tiếng bát âm ẻo lả, lượn vùng quanh lũy, qua mấy thửa ruộng trồng mã đề thì hạ xuống, cạnh cái gò chính Điệp và Lan đã ngồi nói chuyện hôm mười sáu tháng năm khoãng mười lăm năm trước.
Trời thấp dần. Núi non xa dần. Cảnh vật xung quanh đã nhuộm một mầu sẫm buồn rười rượi như sắp chết. Bức màn sương, trên rũ xuống. Xa đưa lại cũng dần dà trùm khuất mọi nơi rải rác vè u ám thê lương vào buổi chiều hôm hiu hắt. Rồi sau, cây lẫn với núi, núi lẫn với trời, ánh sáng lờ mờ chỉ còn thu lại có một khỏang xung quanh gò đất nhô lên giữa cánh đồng không mông quanh"

Và rồi như say sưa, nhập tâm theo cái hồn của cốt truyện, ông viết kết thúc:

"Chim lạc đàn bay về tổ đã hết, người đưa đám ma đi về nhà đã thưa. Thấy sự vắng vẻ mỗi lúc một buồn tênh như cảnh chợ buổi chiều hôm thưa lác đác. Điệp xúc động đến cái nổi đời lẻ tẻ kẻ còn người khuất, tử biệt sinh ly. Rồi đây chàng cũng ít khi về thăm cái gò nầy, mà Lan sẽ một mình chôn chặt khối tình, chờ trăng, đón gió để ôn lại những ngày thơ ngây. Trời thấp dần, xung quanh không có một tiếng động. Núi non cảnh vật đều nhuộm một mầu đen bi đát như để tang. Giữa khoãng vũ trụ cao thâm man mác, trên đỉnh gò còn trơ hai cái bóng người đen đen nhỏ xíu đứng sững gục đầu lặng lẻ trước nấm mồ mới đắp".

Có lẽ, sau khi đã say sưa viềt về cốt truyện, đến phút chót nhà văn Nguyễn Công Hoan mới thấy mình còn thiếu những đoạn tả cảnh, tả tình người trong mối tương quan giữa tâm lý nhân vật và ngoại cảnh, cái quy luật cốt lỏi cuả cách viết tiểu thuyết tình cảm lãng mạn nên vội cứu chữa bằng một đoạn cuối rất dài, thật hay như dọn lên một mâm cơm ngon mời thực khách là độc gỉả đang đói để tạ lỗi với người thưởng ngoạn.

Huy Thanh






Tân nhạc: Nhạc truyện TẮT LỬA LÒNG - Nhạc Ngô Càn Chiếu - Tb Quốc Duy & Hồng Nhiên


Chuyên mục: Lan&Điệp

Nhạc truyện “TẮT LỬA LÒNG”

♫ ♩♬ Sáng tác: Ngô Càn Chiếu
🎤 Song ca: Quốc Duy & Hồng Nhiên




Tác phẩm “TẮT LỬA LÒNG” của Nguyễn Công Hoan đã được chuyển thể thành kịch, cải lương và được hàng triệu khán giả yêu thích qua những câu hát ngọt ngào trong bài hát "Chuyện Tình Lan và Điệp".
Mình viết nhạc truyện này dựa trên tác phẩm của Nguyễn Công Hoan vào đầu năm 2025, kể lại mối tình buồn của đôi nam nữ cho vở nhạc kịch Đờn Ca Tài Tử "Tắt Lửa Lòng" do Trúc Tiên dàn dựng.

Nhạc truyện “TẮT LỬA LÒNG”
Nhạc và lời: Ngô Càn Chiếu
Viết theo truyện “Tắt Lửa Lòng” của Nguyễn Công Hoan
Song ca: Quốc Duy & Hồng Nhiên

PK1
Thuở ấy bên nhau
lời yêu dịu dàng
Ngàn nỗi ước mơ
ngày mai rực sáng
Ngày tháng êm trôi nuôi tình ta thắm thiết
Cùng đổi trao nhau muôn lời yêu mải miết
Trong giấc mơ hoa
Ngọt ngào yêu thương

PK2
Thuở ấy bên nhau
tình yêu đầu đời
Nguyện giữ trong tim
Tình dài không vơi
Hẹn ước bên nhau trong bầu trời bình yên
Giữa chốn thiên nhiên nghe nhịp đập đôi tim
Tha thiết trao nhau
Một mối thâm tình

ĐK
Anh đi lạc nơi dòng đời nghiệt ngã
Bao lọc lừa, và mưu mô gian trá
Gió cuốn bay xa vùng kỷ niệm
Xóa hết bao nhiêu câu thề nguyền
Thời gian dần trôi, lặng lẽ trôi

PK3
Chiều gió buông lơi
vọng vang âm buồn
Một giấc cô đơn
Chuyện xưa còn đâu
Người đã đi xa, phai nhạt mùi hương xưa
Niềm cũ chưa nguôi trong lời ru đong đưa
Cho trái tim non
Đau xót âm thừa

PK4
Ngày tháng phôi pha
Buồn dâng ngập lòng
Ngàn nỗi ngóng trông
tan vào hư không
Nàng khoác áo nâu khép lòng vùng thiền môn
Mượn tiếng chuông ngân dứt tình yêu đầu tiên
Cạn mối lương duyên
Tan hết ưu phiền

ĐK2
Anh đi về trong phòng đêm u tối
Em chìm vào nơi vực sâu không lối
Ánh mắt đau thương lời tử biệt
Xót đắng bên đôi vầng nhật nguyệt
Vĩnh biệt tình nhau trong nỗi đau

PK5
Đời gió mưa qua
Mây xám giăng đầy
Mộng vỡ trên tay
cùng muôn tàn phai
Cuộc sống qua mau cuốn chìm bao câu nói
Mộng cũ phôi pha tan thành mây thành khóiv Đời mãi vô tâm
dập
Tắt Lửa Lòng




Ngô Càn Chiếu
05-01-2025




Thứ Hai, 5 tháng 5, 2025

Nhạc kịch Tắt Lửa Lòng, Trúc Tiên chuyển thể tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan


Chuyên mục: Lan&Điệp

Nhạc kịch Tắt Lửa Lòng, Trúc Tiên chuyển thể tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan

Trúc Tiên






Tắt lửa lòng là một tiểu thuyết tình cảm lãng mạn của nhà văn Nguyễn Công Hoan, ra đời năm 1933. Truyện kể một chuyện tình giữa chàng học trò nghèo tên Điệp và cô gái cùng quê tên Lan.
Tác phẩm đã được chuyển thể sang nhiều lĩnh vực, và đều được sự đón nhận nồng nhiệt của công chúng. Có cả sân khấu bao gồm kịch và cải lương, phim trắng đen lẫn phim màu, cùng nhiều nhạc phẩm tân nhạc và các bài vọng cổ.
Cải lương:
Trong đó, vở cải lương Lan và Điệp được biên kịch và chuyển thể của soạn giả Trần Hữu Trang vào năm 1936, thậm chí còn nổi tiếng hơn cả tiểu thuyết, trở thành huyền thoại của làng cải lương Việt Nam.
Đến năm 1948, vở cải lương này được thu âm với tên gọi “Hoa rơi cửa Phật” với sự tham gia của nhiều danh ca như Nghệ sĩ Tư Sạng, Năm Nghĩa, Tám Thưa, Hồng Châu. Những đĩa nhạc này nhanh chóng phổ biến không chỉ trong nước mà còn lan sang Campuchia và Lào, đến mức người ta chỉ còn nhớ Chuyện tình Lan và Điệp mà quên mất nguyên tác (Tắt Lửa Lòng).
Kịch:
Vào thập niên 70, khi phong trào kịch nói trở nên lớn mạnh, Lan và Điệp cũng được chuyển thể thành vở kịch nói với vai Lan do nghệ sĩ Kim Cương thủ vai. Vở kịch này cũng nhanh chóng thu hút khán giả không kém gì so với cải lương và được phát đi phát lại trên truyền hình.
Phim:
Bộ phim trắng đen “Tình Lan và Điệp” khởi quay năm 1972 với nhiều diễn viên, nghệ sĩ nổi tiếng thời bấy giờ cũng rất thành công, nhờ sức hút từ các thể loại trước đó. Cuối thập niên 80, bộ phim màu về Lan và Điệp được khởi chiếu cũng được phát trên truyền trong một thời gian dài.
Âm nhạc:
Bên cạnh các vở cải lương thì bài vọng cổ được lấy tựa đề “Hoa rơi cửa Phật” của soạn giả-NSND Viễn Châu cũng rất thành công và ra mắt rất sớm ngay từ đầu những thập niên 1940.
Năm 1965, các nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng cùng phối hợp nhau sáng tác 3 bài tân nhạc Chuyện tình Lan và Điệp, ký tên là Mạc Phong Linh và Mai Thiết Lĩnh. Các bài tân nhạc này cũng nhanh chóng được nhiều người thuộc lòng, đặc biệt với bài số 1, Chuyện tình Lan – Điệp đã trở thành một trong những bài hát được biết đến nhiều nhất tại miền Nam Việt Nam thời ấy. “Tôi kể người nghe đời Lan và Điệp, một chuyện tình cay đắng. Lúc tuổi còn thơ tôi vẫn thường mộng mơ đem viết thành bài ca…”
Tuy nhiên, sau 1975, số phận của tác phẩm khá ảm đạm, do chính quyền xếp vào loại ủy mị và bị cấm trong mọi thể loại trong thời gian dài. Mãi đến cuối thập niên 1980, cùng với sự xuất hiện của sách in, cải lương và kịch nói, bộ phim màu "Lan và Điệp" lại được khởi quay và trình chiếu vào năm 1990.
Ngay từ lúc ban đầu, soạn giả Trần Hữu Trang chỉ trích một đoạn trong truyện Tắt Lửa Lòng của Nguyễn Công Hoan, và viết lên một cuộc tình bi ai đầy nước mắt khi kết thúc cuộc đời Lan trong chùa không quá một năm sau khi Điệp phụ tình Lan đi lập gia đình với Liễu, con ông Phủ.
Có lý nào yêu nhau là phải chết vì nhau như Roméo & Juliette mới thôi? Hồi nhỏ Trúc Tiên cứ ấm ức mãi cô Lan sao «ngu quá», chẳng lẽ ai bị phụ tình cũng đi tu, hay đi tu vì bị phụ tình! Tu phải có căn tu, tâm tịnh chứ?
Thế nên, chưa 10 tuổi Trúc Tiên đã lén gia đình đọc Tắt Lửa Lòng rồi cứ tức tối một mình không thể hiểu vì sao các ông soạn giả bắt Lan đến chết vẫn không thanh thản vì nghĩ Điệp phụ tình mình.
Ngày nay, thành ngữ "Chuyện tình Lan và Điệp" thường được dùng để chỉ một mối tình khắng khít nhưng éo le của một đôi nam nữ, là một chuyện tình cay đắng. Đã là thành ngữ rồi thì khó mà thay đổi.

Nhưng Trúc Tiên vẫn mong kể lại Chuyện tình Lan và Điệp theo cảm nhận của mình theo nguyên tác Tắt Lửa Lòng.
Kính mời quý khán giả xem chuyện tình Lan và Điệp qua Tắt Lửa Lòng của Nguyễn Công Hoan kể về một chuyện tình buồn của hai kẻ yêu nhau. Buồn vì định mệnh trớ trêu khiến hai người yêu nhau vì một hoàn cảnh, số phận nào đó mà không đến được với nhau. Buồn thật nhưng không đau thương bi đát. Buồn nhưng là một chuyện tình đẹp. Đẹp vì họ yêu nhau, hiểu nhau, hy sinh cho nhau. Lan không trách cứ Điệp như kẻ bội tình khi Lan nói với Điệp: «Tôi hiểu cái bụng của người ta lắm». Lan không chết trong chùa mà gặp lại Điệp 13 năm sau.

Nhạc kịch Tắt Lửa Lòng, Trúc Tiên chuyển thể tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan,

diễn ngày 9/03/2025

tại nhà hát Jacques-Higelin (MPAA Saint-Germain)
4 rue Félibien Paris 6

Métro 10. Mabillon ou 4. Odéon ;
RER B,C Saint-Michel Notre-Dame
Parking public à proximité ouvert 24/24 & 7/7
Saint-Germain-des-Prés – Citadines (400m) 4 rue des Grands Augustins 75006 Paris
Parking Marché Saint Germain: Face au 1 Rue Lobineau Paris 6

PAF : 40€ - Ghế có số
Liên lạc đặt vé: Cội nguồn 06 77 69 46 11; Email: coinguon.asso@orange.fr





Tắt Lửa Lòng (Eteindre les flammes du cœur) est un roman romantique de l’auteur Nguyễn Công Hoan (1903-1977), publié en 1933.
Le récit suit une romance tragique entre Điệp et Lan, dont les familles avaient arrangé leur mariage alors qu'ils étaient enfants. Cependant, Điệp est piégé dans un mariage avec Thúy Liễu, une jeune femme enceinte d'un autre homme. Le jour du mariage de Điệp, Lan se retire dans un monastère, portant en elle l’espoir silencieux que Điệp puisse trouver le bonheur au sein de sa nouvelle famille. À plusieurs reprises, lorsque Điệp tente de la retrouver, Lan refuse de le voir, émmurée dans son chagrin. Treize ans plus tard, devenu médecin, Điệp se retrouve face à une patiente mourante, qui n'est autre que Lan.
Cette œuvre a été adaptée au théâtre, films, et musique, touchant de nombreuses générations au Vietnam sous le nom de « L’histoire d’amour de Lan et Điệp ». Cependant, les adaptations choisissaient de simplifier l’histoire. Lan mourut quelques mois après le mariage de Điệp empli de regrets et de douleur inexprimable.

Le 9 mars 2025 offrira l'opportunité de découvrir la pièce dans son intégralité.
La pièce sera interprétée en vietnamien avec des sous-titres en français.
Avec la participation de musiciens venus directement du Vietnam et d'artistes vietnamiens basés en France.
9 MARS 2025 de 14h30-18h30
Au Théâtre
Jacques-Higelin (MPAA Saint-Germain)
4 rue Félibien Paris 6

Métro 10. Mabillon ou 4. Odéon ;
RER B,C Saint-Michel Notre-Dame
Parking public à proximité ouvert 24/24 & 7/7
Saint-Germain-des-Prés – Citadines (400m) 4 rue des Grands Augustins 75006 Paris
Parking Marché Saint Germain: Face au 1 Rue Lobineau Paris 6
PAF: 40€ - place numérotée
Réservation: Cội nguồn 06 77 69 46 11
Email: coinguon.asso@orange.fr


-

Part I: Tắt Lửa Lòng - Lan và Điệp: Acte 1-5
Part II: Tắt Lửa Lòng - Lan và Điệp Acte 6-10
Part III CS
Part IV: Shooting snaps (the lucky ones)


Nhạc kịch Đàn Ca Tài Tử Tắt Lửa Lòng -
Phần 1: Những chuyện tình - Trúc Tiên & Vũ Hạ, 28 thg 3, 2025


Nhạc kịch Đàn Ca Tài Tử Tắt Lửa Lòng -
Phần 2: Chuyện tình Lan và Điệp - Trúc Tiên & Vũ Hạ, 03 thg 4, 2025


00:15:00 Acte 2 - Ân tình (Chương 2)
00:35:30 Acte 3 - Mắc mưu (Chương 6)
01:05:48 Acte 4 - Tin sét đánh... (Chương 7)
01:21:01 Acte 5 - Chia tay (Chương 9-10)
01:31:57 Acte 6 - Cắt dây chuông (Chương 12)
01:50:16 Acte 7 - Ly dị (Chương 11)
02:06:21 Acte 8 - 13 năm sau (Chương 14-19)


Thứ Tư, 9 tháng 4, 2025

Bước Đường Cùng – Nhạc Ballad Văn Học Cảm Động | Lấy Cảm Hứng Từ Nguyễn Công Hoan


Bước Đường Cùng – Nhạc Ballad Văn Học Cảm Động | Lấy Cảm Hứng Từ Nguyễn Công Hoan

NAM PHAT'S MUSIC




Bước Đường Cùng là bản ballad đầy cảm xúc, được sáng tác từ câu chuyện cùng tên của nhà văn Nguyễn Công Hoan.

Bài hát khắc họa bi kịch tột cùng của một con người bị xã hội dồn ép đến chân tường, gợi nhắc về sự đồng cảm, thấu hiểu và nỗi đau âm ỉ trong từng phận người.

Ca từ nhẹ nhàng – Giai điệu sâu lắng – Cảm xúc thổn thức
NAM PHAT'S MUSIC – nơi âm nhạc hòa quyện cùng văn học Việt Nam!
Kênh chuyên mang đến những ca khúc được sáng tác dựa trên các tác phẩm văn học nổi tiếng của Việt Nam, từ thơ ca cổ điển đến văn xuôi hiện đại. Mỗi bài hát là sự kết hợp giữa giai điệu sâu lắng (hay những bản remix mới mẻ) và những câu chuyện, nhân vật đầy cảm xúc, giúp người nghe cảm nhận văn học theo một cách mới mẻ và đầy nghệ thuật.




Bước Đường Cùng 2 – Rock Văn Học Đầy Phẫn Nộ | Cảm Hứng Nguyễn Công Hoan

NAM PHAT'S MUSIC


Một phiên bản rock đậm chất văn học, mang nỗi đau, sự phẫn nộ và phản kháng trước xã hội bất công, nơi con người bị đẩy vào bước đường cùng. Ca khúc lấy cảm hứng từ tác phẩm kinh điển của Nguyễn Công Hoan, truyền tải sức mạnh nội tâm và tiếng thét của kẻ bị dồn ép.
Giai điệu mạnh mẽ – Lời ca cháy bỏng – Tinh thần phản kháng



Thứ Bảy, 29 tháng 3, 2025

NGỮ VĂN 11 - LUYỆN ĐỌC TÁC PHẨM "TÌNH XƯA" - (Trích "Tắt lửa lòng" Chương 12 - Nguyễn Công Hoan)


NGỮ VĂN 11 -
LUYỆN ĐỌC TÁC PHẨM "TÌNH XƯA" -
(Trích "Tắt lửa lòng" Chương 12 - Nguyễn Công Hoan)

Tài liệu Văn chương trình mới -
Cô Sương Mai


Tắt lửa lòng là một tiểu thuyết lãng mạn của nhà văn Nguyễn Công Hoan, giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1933. Truyện kể về cuộc tình lãng mạn, bi ai giữa chàng học trò nghèo tên Điệp và cô gái cùng quê tên Lan, tại làng Văn Ngoại, khu vực chợ Gỏi thuộc vùng Hải Dương xưa, thời kỳ Nguyễn Công Hoan đang dạy học ở đó. Trích đoạn "Tình xưa" thuộc chương 12 của tiểu thuyết. Cùng luyện đọc phần trích ấn tượng này nhé!

BÀI GIẢNG | PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH "TÌNH XƯA" (TRÍCH TẮT LỬA LÒNG)





Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2025

'Tắt lửa lòng' của Nguyễn Công Hoan được thắp lại trên sân khấu - (Tóc mai sợi vắn sợi dài)


Chuyên mục: Lan&Điệp

'Tắt lửa lòng' của Nguyễn Công Hoan
được thắp lại trên sân khấu

Phạm Tuấn
Tắt lửa lòng’ của nhà văn Nguyễn Công Hoan sau 90 năm xuất hiện trên sân khấu cải lương lại được đưa lên sân khấu kịch nói vào dịp Tết Ất Tỵ.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977).


Tắt lửa lòng là tiểu thuyết nổi tiếng bậc nhất của nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977). “Tắt lửa lòng” được in ấn lần đầu tiên tại Hà Nội vào năm 1933, và chỉ hai năm sau được soạn giả Trần Hữu Trang (1906-1966) chuyển thể thành vở cải lương “Lan và Điệp” trên sân khấu Sài Gòn.

Sự gặp gỡ giữa hai tài năng lớn Nguyễn Công Hoan và Trần Hữu Trang đã giúp hai nhân vật trong tác phẩm Lan và Điệp chưa bao giờ “tắt lửa lòng” đối với giới mộ điệu. Câu chuyện lãng mạn và bi thương của chàng học trò nghèo Điệp và cô gái cùng quê Lan ở vùng chợ Gỏi ngoại ô Hải Dương rời khỏi 19 chương sách của nhà văn Nguyễn Công Hoan để có hình bóng thân thuộc qua kịch bản cải lương của soạn giả Trần Hữu Trang.

Nhờ sức lan tỏa của sân khấu, một số nhân vật khác trong “Tắt lửa lòng” như Khoa, Danh, Duyên, Vũ, Thúy Liễu… cũng gây được xúc cảm sâu xa cho công chúng rộng rãi. Cho nên, dù nhà văn Nguyễn Công Hoan có nhiều tác phẩm ưng ý như “Bước đường cùng”, “Kép Tư Bền”, “Đống rác cũ”, “Hỗn canh hỗn cư”, “Tranh tối tranh sáng”… thì “Tắt lửa lòng” vẫn có chỗ đứng riêng biệt.

Trên hành trình từ “Tắt lửa lòng” đến “Lan và Điệp”, tác phẩm đã trở thành cảm hứng sáng tạo cho các loại hình nghệ thuật khác. Ví dụ, có cả thảy 3 ca khúc “Chuyện tình Lan và Điệp” của Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng mà phổ biến nhất phải kể đến những câu hát “Tôi kể người nghe, đời Lan và Điệp, một chuyện tình cay đắng. Lúc tuổi còn thơ tôi vẫn thường mộng mơ đem viết thành bài ca”.

Vở cải lương “Lan và Điệp” suốt 9 thập niên qua đã được dàn dựng ở hàng chục đoàn nghệ thuật trên cả nước. Hai bộ phim được sản xuất dựa theo “Lan và Điệp” là bộ phim “Tình Lan và Điệp” của đạo diễn Lê Dân ra mắt năm 1972 và bộ phim “Lan và Điệp” của đạo diễn Trần Vũ – Nguyễn Hữu Luyện ra mắt năm 1990.

Tết Ất Tỵ 2025, tác phẩm “Tắt lửa lòng” của nhà văn Nguyễn Công Hoan được Sân Khấu Kịch Hoàng Thái Thanh giới thiệu đến khán giả TP.HCM với tên gọi “Tóc mai sợi vắn sợi dài”. Đạo diễn Thành Hội dựa theo kịch bản của nhà văn Nguyễn Thị Minh Ngọc đã thiết kế một không gian mới cho Lan và Điệp đến gần giới trẻ hôm nay.

Tuân thủ cấu trúc và tình tiết của “Tắt lửa lòng”, vở kịch nói “Tóc mai sợi vắn sợi dài” có sự góp mặt nhiều diễn viên triển vọng như Hoàng Vân Anh, Kỳ Thảo, Đoàn Minh Tài… Vở kịch ca ngợi giá trị truyền thống tốt đẹp mà người Việt Nam lưu giữ ngàn đời, đó là tình yêu thương, sự cảm thông, lòng nhân ái, nghĩa quân tử, đạo vợ chồng…

Vở kịch nói “Tóc mai sợi vắn sợi dài” mượn ý tưởng thể hiện từ ca dao
“Tóc mai sợi vắn sợi dài
lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm”
mà nhạc sĩ Phạm Duy (1921-2013) từng viết thành ca khúc cùng tên, chất chứa tâm sự “Lòng vẫn thương người em tuổi thơ, lòng vẫn nhớ tình duyên ngày xưa, bao nhiêu thiên trường ca, không qua câu mẹ hò”.


Phạm Tuấn

Một cảnh trong vở kịch nói "Tóc mai sợi vắn sợi dài".






THÔNG CÁO BÁO CHÍ -
TÓC MAI SỢI VẮN SỢI DÀI

Thành Hội, Ái Như, Đoàn Minh Tài, Ngọc Duyên, Hoàng Vân Anh,
Nguyễn Long, Thế Hải, Kỳ Thảo, Hứa Mạnh Dũng, Hoài Nguyên, Bá Phong

NT


Tác giả: Nguyễn Thị Minh Ngọc - Hoàng Thái Thanh
Đạo diễn: Thành Hội
Phó đạo diễn: Công Hiển
Âm nhạc: Phạm Duy - Duy Thoán
Thực hiện cảnh trí: Nhóm Rambo Min
Nhiếp ảnh: Phạm Natao
Graphic: Trần Thiện
Creative: Công Hiển

Chàng trai nghèo tên Trọng tình cờ gặp lại ông Nhơn, một người bạn cũ của cha mình. Trọng ngỡ như gặp được quý nhân nhưng không ngờ cuộc gặp gỡ đã mở ra những cánh cổng bí mật và cạm bẫy đen tối vốn đã được giấu kín suốt nhiều năm.



LÀM SỐNG LẠI TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN
Những tác phẩm của nhà văn Nguyễn Công Hoan vốn in sâu trong lòng độc giả yêu văn học Việt Nam. Bằng sự đồng cảm sâu sắc và niềm ấp ủ được mang đến những vở kịch mang đậm dấu ấn văn hoá dân tộc, Hoàng Thái Thanh đã quyết định làm sống lại tác phẩm "Tắt lửa lòng" thông qua vở diễn "Tóc mai sợi vắn sợi dài". Không chỉ đơn thuần là tái hiện nội dung, vở kịch được đặt trong bối cảnh, hơi thở mới nhưng vẫn giữ được hồn cốt và thông điệp của nguyên tác. Những giá trị trong vở diễn không chỉ thuộc về quá khứ, nên Hoàng Thái Thanh dàn dựng tác phẩm tiêu biểu này với mong muốn mang lại một góc nhìn mới về một câu chuyện tình vốn dĩ đã quá dễ dàng bị rập khuôn trong tâm tưởng khán giả yêu văn nghệ. Bản dựng của Hoàng Thái Thanh đặt ra những ngã rẽ mà ở đó, tất cả các nhân vật đều có cơ hội quyết định cuộc đời mình sẽ đi về đâu chứ không còn phó mặc cho số phận.


KHÔNG PHẢI CÂU CHUYỆN LAN VÀ ĐIỆP
Tuy cùng được cảm tác từ tác phẩm "Tắt lửa lòng" của nhà văn Nguyễn Công Hoan nhưng vở kịch "Tóc mai sợi vắn sợi dài" và tuồng cải lương "Lan và Điệp" lại hoàn toàn khác nhau về nội dung. Ở vở kịch "Tóc mai sợi vắn sợi dài" của Hoàng Thái Thanh, nhân vật Trọng và Loan đều độc lập và quyết đoán hơn trong việc chọn lựa đường đi cho cuộc đời mình. Khi xem vở kịch, khán giả hoàn toàn không nhận thấy sự tương đồng giữa 2 tác phẩm sân khấu. Vậy nên, tuyệt nhiên không có tình tiết nhân vật nữ chính cạo đầu đi tu vì quá đau khổ.


Vở diễn TÓC MAI SỢI VẮN SỢI DÀI sẽ bắt đầu công diễn vào Mùng 1 Tết Âm Lịch tức ngày 29 tháng 1 năm 2025 và kéo dài đến hết mùa diễn.








Xem 'Tóc mai sợi vắn sợi dài'
để hoài niệm về tình người thế hệ xưa

Tam Anh


Cuộc sống luôn là một sự đổi thay. Nếu so với nhiều thập niên trước, quan niệm sống và nhịp sống ngày nay đã khác đi rất nhiều. Có những thứ trong xã hội cũ không còn phù hợp với ngày nay, nhưng cũng có nhiều giá trị xưa không còn nguyên vẹn đã tạo nên sự tiếc nuối cho nhiều người các thế hệ.
Vở kịch Tóc mai sợi vắn sợi dài (tác giả: Nguyễn Thị Minh Ngọc – Hoàng Thái Thanh, đạo diễn NSƯT Thành Hội) là một hoài niệm đẹp về giá trị cũ nhưng cũng đầy tính cách tân trong tư tưởng.

Cảm tác đầy sáng tạo
Thời gian gần đây, sân khấu và điện ảnh Việt đã bắt đầu xuất hiện khuynh hướng cảm tác hay phóng tác. Vì là cảm tác hay phóng tác nên trong nhiều trường hợp, kịch bản mới hầu như khác xa tư tưởng nghệ thuật và thông điệp chính của tác phẩm "vang bóng một thời" trước đây. Điều này xuất phát từ nhận thức của tác giả. Sau khi thấm hết ý nghĩa của tác phẩm cũ, họ nhận ra rằng có quá nhiều thứ không công bằng cho nhân vật trong câu chuyện, hoặc là không còn phù hợp với thực tế cuộc sống đương đại, nên đã viết lên những tình huống mới để giải oan hay giải phóng cho những quan niệm xưa cũ quá khắc nghiệt. Tóc mai sợi vắn sợi dài là một trường hợp điển hình.
Một cảnh trong 'Tóc mai sợi vắn sợi dài'


Câu chuyện tình yêu của Vũ Văn Trọng (Đoàn Minh Tài) và Loan (Kỳ Thảo vào vai) gợi nhớ tình huống kịch chàng trai và cô gái là một cặp "thanh mai trúc mã". Nàng chịu thương, chịu khó cực khổ nuôi chàng ăn học để mong ước ngày chàng thành tài, chàng sẽ quay về ngôi làng mà hai người lớn lên, cưới nàng làm vợ. Buồn thay, vì hoàn cảnh trớ trêu mà chàng đã phụ nàng đi lấy vợ giàu sang, để lại cho nàng nỗi đau thấu tận trời xanh. Câu chuyện ấy khiến cho khán giả bao thế hệ não lòng, xót thương cho thân phận thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội vẫn còn dư âm của hệ tư tưởng phong kiến.

Vũ Văn Trọng (Đoàn Minh Tài) vốn dĩ là một người có tham vọng thăng tiến, muốn bước ra khỏi lũy tre làng để tung hoành ngang dọc ngoài kia. Sau khi đỗ bằng thành chung, Trọng đã lọt vào mắt xanh của ông Phủ Nhơn (NSƯT Thành Hội) và bà phủ Nhơn (Ngọc Duyên). Đôi vợ chồng quyền lực này muốn Trọng trở thành rể trong nhà, là chồng của Thúy, cô con gái họ (Hoàng Vân Anh thủ vai).

Nếu như trong tiểu thuyết Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan, hay trong tuồng cải lương kinh điển Chuyện tình Lan và Điệp (tác giả Quế Chi chuyển thể từ tiểu thuyết Tắt lửa lòng, đạo diễn Loan Thảo – Hoàng Việt) cô con gái nhà giàu này sẽ vồ vập chàng thư sinh, thì Thúy trong Tóc mai sợi vắng sợi dài đã không hành động như thế. Cô đã nói thẳng với Trọng rằng đó là cái bẫy mà cha mẹ cô giăng ra, và cô ta không hề yêu anh ta chút nào. Tình huống mới này rất thú vị làm nền cho diễn biến tâm lý của Thúy ở phần sau.

Về nhân vật người vợ hứa hôn của chàng trai, nếu trong câu chuyện gốc, nàng đã quá đau khổ vì tình phụ nên đã xuống tóc đi tu thì ở trong kịch bản mới, tác giả đã tạo tình huống cô ấy chấp nhận cho chồng hứa hôn “sống tạm” với cô gái con nhà giàu. Để rồi từ đây, có những biến cố khác xảy đến với cuộc đời của Loan.

Nhìn chung, cảm tác hay phóng tác là thể loại rất cần thiết cho nghệ thuật. Nó phản ánh nhận thức của con người ở thế hệ mới. Có thể một tác phẩm nào đó đã trở thành kinh điển, nhưng theo thời gian giá trị tư tưởng nghệ thuật ấy sẽ bị phai mờ, vì tâm lý thưởng thức của khán giả thế hệ sau khó chấp nhận những gì quá xa lạ với thời họ đang sống. Từ đây, có thể nói, cái hay của Tóc mai sợi vắn sợi dài là nét mới mẻ trong cái nền cốt truyện xưa cũ quen thuộc.

Giá trị cần trân trọng

NSƯT Thành Hội và nghệ sĩ Ái Như xem nghệ thuật là đạo. Khi đã xem là đạo thì vở diễn phải chỉnh chu, không có sự cẩu thả mà chỉnh chu, đẹp từ nội dung đến hình thức. Nếu như ở phần trên có nói về sự loại bỏ những thứ không còn phù hợp thì vở kịch lại đề cập đến những giá trị cần gìn giữ. Ông giáo Thân (Nguyễn Long) dù dạy quốc ngữ latinh nhưng sống mực thước. Lẽ sống của ông bám vào 5 chữ: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Bà giáo Lài (Ái Như) thì thủy chung, trọng nghĩa khinh tài. Họ không chấp nhận đồng tiền bất nghĩa, dù hoàn cảnh khó khăn. Họ đã hứa hôn cho con cái ngay từ khi chúng chưa biết tình yêu lứa đôi là gì và triệt để muốn con phải giữ hôn ước như là một tiêu chuẩn đạo đức. Xen vào chuyện tình yêu lứa đôi của con cái rõ ràng đã không phù hợp với cuộc sống ngày nay khi mà thế hệ trẻ tự quyết định gần như mọi thứ cuộc đời mình, nhưng tinh thần gìn giữ chữ tín của người xưa là thứ mà người ngày nay cần phải suy ngẫm.

Nghệ sĩ Ái Như


Đạo diễn NSƯT Thành Hội đã dựng bàn thờ trong không gian nhà bà giáo Lài. Vào không khí ngày tết, nhìn thấy cái bàn thờ cửu huyền sạch sẽ ngắn nắp với nén hương tỏa khói cho ta một cảm xúc ấm áp. Đó là hình ảnh đầu tiên gợi nhắc lại nét văn hóa, phong tục truyền thống Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung. Ở đó, bà giáo Lài mỗi khi thắp nhang lên bàn thờ thì khoác vào người cái áo dài, mỗi khi đi ra khỏi cái mái nhà lá cũ nghèo, thì vẫn rất trang nhã trong chiếc áo dài. Tương tự, cô Loan dù nhà rất nghèo. Cô rơi vô cảnh đói khát lúc chăm cha trong bệnh viện vẫn nhu mì trong tà áo dài Việt chân phương. Nhân vật Vũ Văn Trọng rất đẹp và văn minh trong bộ áo dài trắng.

Lời ăn tiếng nói của các nhân vật chậm rãi, lễ độ, giữ khuôn phép, đưa người xem về lại cái thời mà người Việt đặt lên cao nhất năm chữ “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. Sống không hại người, giữ trọn nghĩa tình, giữ lời hẹn ước, giữ gìn phong tục tập quán, và phải có cái trí phân biệt đâu là kẻ ác, người gian. Những điều kể trên hầu như ít được thấy trong cuộc sống hiện đại vội vã, khi mà con người ta chạy theo nhu cầu vật chất.

Vở diễn là sự gợi nhớ để người ngày nay biết rằng cái tính cách người Việt Nam ở một thời trong quá khứ có nhiều sự khác biệt so với ngày hôm nay.

Xét về diễn xuất, hầu như mỗi diễn viên đều hóa thân một cách sinh động nhất vào nhân vật của mình. Lần này, diễn viên trẻ Kỳ Thảo tạo nên dấu ấn đậm nét hơn nhờ nhập vai rất tốt vào tính cách của người con gái chân quê, hiền lành, trong sáng của những năm đầu thế kỷ 20. Có những đoạn diễn của Kỳ Thảo và người thầy Ái Như hòa quyện đến mức người xem tưởng rằng đó chính là số phận cuộc đời thật. Hoàng Vân Anh lột tả được cái phong cách mạnh mẽ bên ngoài của cô gái Tây học, cái yếu đuối của một nạn nhân bị lạm dụng tình dục, và cái khát khao được yêu thương. Thế Hải rất chững chạc và giàu xúc cảm trong vai bác sĩ tuổi ngoài 30. Đoàn Minh Tài và Ngọc Duyên ngày càng chín mùi trong diễn xuất.

Nghệ sĩ Ái Như và Thành Hội có lẽ không cần nói thêm về tài năng diễn xuất. Họ chính là dàn bao cứng để câu chuyện có nhiều thắt mở về cảm xúc.







'Tóc mai sợi vắn sợi dài'
- góc nhìn mới từ 'Tắt lửa lòng'

Hoàng Kim


Sân khấu Hoàng Thái Thanh (TP.HCM) vừa ra mắt vở kịch Tóc mai sợi vắn sợi dài (tác giả Nguyễn Thị Minh Ngọc và Hoàng Thái Thanh - đạo diễn NSƯT Thành Hội) với một sự thấu cảm rất mới.

Cảm tác từ tiểu thuyết Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan, vở diễn đã có những thay đổi về chi tiết để phù hợp hơn với góc nhìn của thời đại, xoay quanh Trọng (Đoàn Minh Tài đóng), một anh học trò nghèo vì mắc mưu ông Phủ Nhơn (Thành Hội) nên bất đắc dĩ phải phụ tình Loan (Kỳ Thảo), người vợ chưa cưới. Dù thay đổi tên nhân vật so với nguyên tác, câu chuyện vẫn khiến khán giả cảm động bởi ngoài một chuyện tình ngang trái, nó còn vẽ nên bức tranh đời sống éo le và nghiệt ngã. Con người đôi khi không thể làm chủ vận mệnh của mình mà bị hoàn cảnh khống chế và thay đổi một cách âm thầm. Ước mơ đổi đời của Trọng không hề sai, nhờ cậy nơi quyền quý trong cảnh ngặt nghèo để giúp người thân cũng chính đáng, nhưng anh lại quá non nớt, không lường trước những cạm bẫy để rồi dần trở thành một con người khác lúc nào không hay.
Đoàn Minh Tài, Kỳ Thảo, Ái Như trong vở Tóc mai sợi vắn sợi dài - ẢNH: H.K


Bi kịch lớn nhất là sự bất lực của Trọng khi anh bị cuốn vào cơn bão thời cuộc nhưng không có được sự đồng cảm từ những người thân. Ai cũng cho rằng Trọng hèn nhát, phản bội, nhưng dưới áp lực của gia đình ông Phủ, tận mắt chứng kiến sự tàn nhẫn của quyền lực, anh không đủ sức phản kháng. Phải chăng chúng ta nên có cái nhìn cảm thông với số phận?

Các nhân vật khác cũng được khai thác đầy đặn hơn. Bà Lài (Ái Như) biết phải quấy, giàu lòng tự trọng và nhân nghĩa. Lớp diễn bà ôm lấy Trọng làm người xem rưng rưng, bởi dù con cái có lầm lạc thế nào người mẹ vẫn bao dung. Hay cô Thúy (Hoàng Vân Anh) so với nguyên tác lại mạnh mẽ, thẳng thắn hơn, dám từ bỏ những gì không còn xứng đáng. Ngay cả nhân vật Loan cũng không đi tu như trong tiểu thuyết mà mở lòng ra đón nhận tình yêu của anh bác sĩ (Thế Hải), âu cũng là cách sống tích cực.

Vở diễn quen thuộc với khán giả nhưng vẫn tạo được sức hút nhờ những thay đổi trong chi tiết và khai thác nhân vật. Diễn xuất được đảm bảo bởi những gương mặt quen thuộc của Hoàng Thái Thanh với sự chăm chút tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ. Tóc mai sợi vắn sợi dài là tác phẩm thuần chính kịch hiếm hoi trong dịp tết 2025.







"Tóc mai sợi vắn sợi dài"
không phải "Lan và Điệp"

Đông A


PNO - Mùa diễn tết này, sân khấu Hoàng Thái Thanh giới thiệu vở diễn “Tóc mai sợi vắn sợi dài” (tác giả: Nguyễn Thị Minh Ngọc - Hoàng Thái Thanh, đạo diễn: nghệ sĩ ưu tú Thành Hội), cảm tác từ tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của nhà văn Nguyễn Công Hoan.
Nhắc đến Tắt lửa lòng, nhiều người nghĩ ngay đến các phiên bản cải lương: vở Lan và Điệp của soạn giả Trần Hữu Trang (năm 1936), vở Chuyện tình Lan và Điệp của soạn giả Loan Thảo (khoảng năm 1970) hay bài tân cổ giao duyên Chuyện tình Lan và Điệp của soạn giả Viễn Châu (khoảng năm 1965). Các phiên bản này đều trở thành kinh điển, được khán giả mộ điệu yêu thích đến tận hôm nay. Các nhân vật và nhiều tình tiết trong tuồng Lan và Điệp cũng đi vào đời sống, làm người xem đôi khi quên mất tác phẩm gốc Tắt lửa lòng.

Loan và Trọng của Tóc mai sợi vắn sợi dài hoàn toàn khác với nhân vật Lan và Điệp của vở cải lương cùng tên - Ảnh: Sân khấu Hoàng Thái Thanh
Với Tóc mai sợi vắn sợi dài, Hoàng Thái Thanh mong muốn một lần nữa làm “sống lại” Tắt lửa lòng - một tác phẩm tiêu biểu của văn học lãng mạn Việt Nam. Tất cả đến từ sự đồng cảm sâu sắc với tinh thần tác phẩm và niềm ấp ủ mang đến những vở kịch giàu chất văn học, mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc mà Hoàng Thái Thanh luôn theo đuổi.

Tuy nhiên Tóc mai sợi vắn sợi dài hoàn toàn không phải là phiên bản kịch nói của tuồng cải lương Lan và Điệp. Cùng cảm tác từ Tắt lửa lòng nhưng 2 tác phẩm đi theo 2 hướng khác nhau. Các nhân vật trong Tóc mai sợi vắn sợi dài đều độc lập và quyết đoán hơn.

Chàng trai nghèo tên Trọng tình cờ gặp lại ông Nhơn - một người bạn cũ của cha mình - nhưng nào ngờ cuộc gặp gỡ đã đưa đời anh rẽ sang một hướng khác - Ảnh: Sân khấu Hoàng Thái Thanh
Với mong muốn đem lại góc nhìn mới về một câu chuyện tình thường bị rập khuôn trong tâm tưởng công chúng, vở diễn đặt ra những ngã rẽ mà ở đó, tất cả nhân vật đều có cơ hội quyết định cuộc đời mình chứ không còn phó mặc cho số phận. Vì thế, tuyệt nhiên không có chuyện nhân vật nữ chính cạo đầu đi tu khi quá đau khổ vì tình.

Nữ chính của Tóc mai sợi vắn sợi dài không đi tu rồi chết với khối tình chung mà đã tìm được hạnh phúc của đời mình - Ảnh: Sân khấu Hoàng Thái Thanh


Tóc mai sợi vắn sợi dài (có sự tham gia của các diễn viên: Thành Hội, Ái Như, Đoàn Minh Tài, Kỳ Thảo, Ngọc Duyên, Thế Hải…) sẽ chính thức công diễn vào mùng Một tết, tức ngày 29/1 và kéo dài đến hết mùa diễn.

Ngoài Tóc mai sợi vắn sợi dài, các vở diễn được khán giả yêu thích là Rau răm ở lại, Bạch Hải Đường, Ngôi nhà thiếu đàn bà, Cơn mê cuối cùng, Nửa đời hương phấn cũng trở lại sân khấu Hoàng Thái Thanh trong mùa diễn tết này.


Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2025

Thiết kế chương trình sân khấu hóa tác phẩm “Cụ Chánh Bá mất giày” của Nguyễn Công Hoan cho học sinh trung học phổ thông (nghiên cứu từ Lí thuyết giễu nhại)


Thiết kế chương trình sân khấu hóa tác phẩm
“Cụ Chánh Bá mất giày” của Nguyễn Công Hoan
cho học sinh trung học phổ thông
(nghiên cứu từ Lí thuyết giễu nhại)


Lê Hải Anh+, Vũ Thị Ngọc Hân, Nguyễn Thị Lan Anh
Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội
Liên hệ ● Email: lehaianh@vnu.edu.vn


Từ khóa: Giễu nhại, sân khấu hóa, tác phẩm văn học, Cụ Chánh Bá mất giày, Nguyễn Công Hoan.

Tóm tắt
Phương pháp sân khâu hóa tác phẩm văn học là một phương pháp hiệu quả nhằm tăng cường kiến thức về văn học và ngôn ngữ, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đáp ứng sở thích, nhu cầu và phát huy được sở trường của học sinh. Bài viết nghiên cứu thiết kế một chương trình sân khấu hóa truyện ngắn Cụ Chánh Bá mất giày của Nguyễn Công Hoan trên cơ sở ứng dụng lí thuyết giễu nhại. Thiết kế chương trình sân khấu hóa trong dạy học tác phẩm văn học cho học sinh THPT là hoạt động không mới, nhưng để triển khai thành công, cần có những nghiên cứu sâu về bản chất, quy luật thể loại, về các kĩ thuật cơ bản, về những khó khăn và thuận lợi trong thực tế. Bài viết này sẽ được mở rộng, đầu tư hơn sau khi đưa vào thực nghiệm, đánh giá, cân nhắc các khả năng tiếp theo.

Keywords
sarcasm, theatricalization, literature works, “Cụ Chánh Bá mất giày”, Nguyen Cong Hoan.

ABSTRACT The method of expanding literary tasks is an effective method to increase literary and linguistic knowledge, skills of applying knowledge into practice, meeting interests, needs and development. The article researches and designs a brief theatricalization program of the short story Uncle Ba by Nguyen Cong Hoan on the basis of application of sarcasm theory. Designing a theatricalization program in teaching for high school students is not a new activity, but for successful implementation, it is necessary to have people who study the quality, the laws of the genre, the techniques, and the difficulties and advantages in practice. This study will be further researched after piloting.

1. Mở đầu
Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (Bộ GD-ĐT, 2018) đã xây dựng hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học thành Chuyên đề học tập bắt buộc cho lớp 10 THPT (tr 64-65). Điều đó một lần nữa cho thấy tầm quan trọng của việc triển khai các phương pháp dạy học tích cực trong dạy và học môn Ngữ văn ở trường phổ thông.
Lựa chọn tác phẩm để thực hiện sân khấu hóa là một yếu tố quan trọng đem lại thành công cho hoạt động này. Những tác phẩm phù hợp với quy luật sân khấu mới có thể đưa ra dàn dựng, chủ yếu tập trung ở tác phẩm tự sự. Những tác phẩm chứa đựng sắc thái bi/hài rõ rệt rất thích hợp cho hoạt động sân khấu hóa.
Trong văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX, Nguyễn Công Hoan là nhà văn có vị trí quan trọng. Các tác phẩm của ông thường được dàn dựng trên các sân khấu kịch, trong điện ảnh. Một trong những yếu tố làm nên nét đặc sắc trong truyện của Nguyễn Công Hoan là tính giễu nhại. Khai thác yếu tố này sẽ giúp người đọc, người nghiên cứu, người dàn dựng hiểu được đặc điểm phong cách nghệ thuật Nguyễn Công Hoan một cách tập trung nhất.
Với quan điểm đó, bài báo chọn đề tài “Thiết kế chương trình sân khấu hóa tác phẩm Cụ Chánh Bá mất giày của Nguyễn Công Hoan cho học sinh THPT - nghiên cứu từ lí thuyết giễu nhại ” (Tác phẩm được lấy từ “Nguyễn Công Hoan - Truyện ngắn chọn lọc”, tr 86 (Nguyễn Anh Vũ, 2020)) và triển khai thực nghiệm để rút ra những kiến thức, kĩ năng cần thiết cho việc thực hiện trong thực tế giảng dạy.

2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Thủ pháp giễu nhại và giễu nhại trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Giễu nhại (parody) với tư cách là một thủ pháp bắt chước một cách quá lố một văn bản khác đã xuất hiện từ lâu trong văn hóa dân gian, gắn liền với các trò diễn dân gian. Giễu nhại là một vấn đề đã được chú trọng trong nghiên cứu nghệ thuật. Hầu hết các nghiên cứu có liên quan đều sử dụng lí thuyết của M. Bakhtin về văn hóa trào tiếu dân gian cùng lễ hội carnival như là lí thuyết chung về cái giễu nhại.
Giễu nhại là một khái niệm chưa có cách hiểu thống nhất. Theo M. Bakhtin, giễu nhại là nói bằng giọng của kẻ khác nhưng đưa vào đó một khuynh hướng nghĩa đối lập hẳn với khuynh hướng nghĩa của lời người đó. Theo Hutcheon,
“giễu nhại là một dạng thức bắt chước, nhưng sự bắt chước được đặc trưng bởi sự mai mỉa, không luôn luôn phải làm tổn hại tới các văn bản bị nhại. Nhại là một trong những hình thức chính của sự phản tư hiện đại. Là một hình thức của diễn ngôn liên nghệ thuật” (Phạm Thị Thu, 2016, tr 7).
Nhưng dù hiểu theo cách nào thì giễu nhại cũng có hai yếu tố chính: nhại và giễu - tức bắt chước và châm biếm. Hai yếu tố đó sẽ tạo nên chất trào tiếu cho tác phẩm.
“Như vậy, mô hình chung của nhại là hình thức tạo ra một A’ giống với A (A là cái có trước, cái đã có trong suy nghĩ, tiềm thức của cộng đồng) về hình thức bên ngoài, về một đặc điểm hay một cấu trúc nổi bật. Đồng thời, A không đồng nhất với A’ ở một vài sắc thái ý nghĩa, có thể là trái ngược. Hay nói cách khác, nhại là một trò chơi hai cấu trúc. Trong văn học, tác giả sáng tạo nên một hình thái cấu trúc này dựa trên một hình thái cấu trúc khác. Chúng lồng ghép vào nhau để tạo nên một thực thể chứa đựng sự mâu thuẫn. Nhại để mà giễu, giễu xuất phát từ nhại. Giễu nhại mang tính bản thể luận, nó đặt nghi vấn với bản chất của hiện tượng và trở thành sự phản quy phạm” (Nguyễn Thị Kim Thiện, 2012, tr 1).
Những tên tuổi tiêu biểu cho khuynh hướng văn chương parody thời Phục Hưng là Rabelais, Cervantes, trong văn học hiện đại là James Joyce và Franz Kafka. Trong văn học viết Việt Nam có Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Thiệp,…
Nguyễn Công Hoan là một trong những cây bút truyện ngắn bậc thầy của văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX. Truyện ngắn của ông mang nhiều sắc thái thẩm mĩ nhưng kết tinh tài năng ở truyện trào phúng. Năng khiếu trào phúng của Nguyễn Công Hoan trước hết là do cá tính ưa khôi hài, sau nữa khi trưởng thành, chứng kiến sự đảo lộn các giá trị sống trong xã hội đương thời, bằng tài năng văn chương, Nguyễn Công Hoan đã sáng tạo nên những thiên truyện ngắn bất hủ. Tiếng cười trong truyện Nguyễn Công Hoan không chỉ mang giá trị thời sự mà còn chứa đựng nhiều giá trị phổ quát. Sáng tác của Nguyễn Công Hoan được nhận định vừa có cái thông minh của bản thân, vừa có cái sâu sắc của văn học cổ, có cả cái khỏe lẫn cái thô của văn học dân gian. Nhận xét trên đã chỉ ra một đặc điểm quan trọng trong nghệ thuật trào phúng Nguyễn Công Hoan: chất giễu nhại. M. Bakhtin đã nhắc đến điểm này như một đặc điểm quan trọng của tiếng cười hội hè dân gian, tiếng cười ấy nhằm vào đối tượng giễu nhại và cả những người cười. Nhân dân không loại trừ mình khỏi chỉnh thể thế giới luôn luôn chuyển biến. Nhân dân không bao giờ hoàn bị, cũng phải chết đi để sống lại và đổi mới. Đây là một trong những nét khác biệt cơ bản của tiếng cười hội hè dân gian so với tiếng cười trào phúng thuần túy của thời mới. M. Bakhtin cũng cho rằng, “trong văn phỏng nhại không thể có sự hòa hợp của các giọng”, “luôn có những tranh luận ngầm” (M. Bakhtin, 1998, tr 207-208). Chất giễu nhại trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan biểu hiện trước hết ở các đối tượng giễu nhại. Những nhân vật quen thuộc trong truyện cười dân gian như quan lại, lính tráng, sư sãi, đám thanh niên nam nữ hư hỏng, đám dân lao động nhiều tật xấu… được nhại lại trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan với một diện mạo khác, một tính chất xã hội khác, trong một tâm thế sáng tạo khác. Cái nhìn của Nguyễn Công Hoan là cái nhìn bi quan về đời sống. Trong tâm thế “coi thường tất cả. Tất cả đối với tôi như một trò đùa”, nhà văn đã mỉa mai, châm biếm, đả kích sâu cay những hiện tượng đời sống nhố nhăng bỉ ổi, những dạng hình méo mó của con người, thậm chí các bi kịch cũng trở thành trò cười ra nước mắt.
Biểu hiện tiếp theo là các thủ pháp giễu nhại đặc sắc của Nguyễn Công Hoan. Ông nhại hình tượng, nhại ngôn ngữ, nhại giọng điệu; sử dụng phép phóng đại, cường điệu hóa, phép tương phản, tỉnh lược và bỏ lửng rất thành công. Người đọc gặp ở các truyện ngắn bóng dáng tiếng cười dân gian và cá tính sáng tạo độc đáo của nhà văn trào phúng bậc thầy Nguyễn Công Hoan.

2.1.2. Sân khấu hóa tác phẩm văn học
Sân khấu hóa tác phẩm văn học là một hoạt động trải nghiệm sáng tạo quen thuộc trong các nhà trường. Xuất phát từ đặc thù của môn Ngữ văn: vừa là môn học công cụ vừa là môn nghệ thuật, hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học giúp khắc sâu kiến thức văn bản, phát triển các năng lực quan trọng cho học sinh: năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mĩ, năng lực sáng tạo… Ngoài ra, hoạt động này còn giúp phát triển các kĩ năng tổ chức, kĩ năng hoạt động nhóm, kĩ năng giao tiếp và hợp tác, kĩ năng giải quyết vấn đề…
Quá trình sân khấu hóa một tác phẩm văn học đòi hỏi những hiểu biết cơ bản về nghệ thuật sân khấu, kĩ thuật chuyển thể kịch bản, diễn xuất và sản xuất chương trình. Những hiểu biết và kĩ năng này cần được đào tạo một cách bài bản, được thực nghiệm và đánh giá nghiêm túc trong đào tạo sư phạm.
Trong bài báo này, người nghiên cứu xác định truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan tính kịch thể hiện rất rõ, nên khi nghiên cứu tác phẩm để sân khấu hóa cần phải có những hiểu biết tổng quan về đặc trưng của kịch, về tính hành động, về yêu cầu có sân khấu, khán giả, tính ước lệ, phải có trình diễn… (dẫn theo Nguyễn Văn Trung, 2019, tr 128-129) để xây dựng kịch bản và các công việc khác phù hợp với tác phẩm được chọn.

2.1.3. Tổng quan về truyện ngắn Cụ Chánh Bá mất giày nhìn từ thủ pháp giễu nhại
a. Tình huống truyện: Kiểu tình huống trào phúng được xây dựng trên sự đối lập giữa hiện tượng và bản chất. Từ sự kiện cụ Chánh Bá đi ăn cỗ ở một nhà nọ, bị mất đôi giày, thực chất là âm mưu của cụ để chủ nhà phải đền cụ đôi giày mới, tác giả vạch ra bản chất của các nhân vật trong truyện.
b. Cốt truyện: Cụ Chánh Bá có đôi giày cũ đã sắp nát nhưng không muốn mua giày mới. Cụ nghĩ ra một mưu, nhân dịp được mời đi ăn cỗ, cụ quyết định lập mưu lừa chủ nhà để họ phải đền mình đôi giày mới. Cụ sai người hầu lén vứt đôi giày xuống ao; khi phát hiện việc mất giày của cụ Chánh Bá, chủ nhà sợ quá hỏi anh đầy tớ, anh này tả một đôi giày mới đắt tiền, chủ nhà vội tìm cách mua về, lén đặt dưới chỗ ngồi của cụ Chánh Bá. Tan cuộc, cụ Chánh Bá có đôi giày mới đi về.
c. Ý nghĩa của truyện: Truyện ngắn châm biếm, đả kích nhân vật cụ Chánh Bá - một viên quan có quyền thế, địa vị cao trong xã hội. Cụ Chánh Bá vốn được người dân nể sợ, trọng vọng, quỵ lụy vì “xưa nay cụ dữ như con hùm, khét tiếng trong hàng tổng là quyền hành, hách dịch, thét ra lửa”, “xưa nay cụ chúa ghét những thói gian giảo”, và nhất là “lỡ ra có sơ suất hay thất thố, thì thà cụ cứ mắng chửi ngay cho thì lại phúc. Đằng này, cụ cứ im rồi để bụng. Thế là mất làm ăn”. Bởi thế, cụ “quá bộ đến xơi rượu” cho, tức là cụ “thương nhà này thế nào” rồi. Nhưng con người bề ngoài đầy quyền lực, đức cao vọng trọng đó lại có tư cách nhem nhuốc, đê tiện. Là ông chủ, cụ chánh bóp nặn cả kẻ hầu người hạ trong nhà. “Anh đầy tớ lo lắm, nếu anh bẩm cụ mua giày mới, thì khổ anh. Vì cụ cứ ừ, nhưng không đưa tiền. Nếu không có giày cho cụ, thì cụ đánh đòn vì tội kiệt”. Nhưng sự đê tiện bày ra rõ nhất qua việc cụ lập mưu lừa chủ nhà để kiếm đôi giày mới (không phải bỏ tiền mua). Lợi dụng sự nể trọng, quỵ lụy của chủ nhà để phi tang đôi giày cũ. Đánh vào nỗi sợ, sự đớn hèn trước quyền thế của chủ nhà để lấy không đôi giày mới. Truyện bày ra một màn kịch đậm chất trào phúng, bộc lộ sự căm ghét, khinh bỉ tột độ của nhà văn Nguyễn Công Hoan đối với giới quan lại thực dân nửa phong kiến. Tác giả đã bóc trần bản chất của những kẻ có quyền thế trong xã hội. Dưới ngòi bút sắc sảo của ông, chúng hiện ra như những chân dung trào phúng vừa nực cười vừa đáng khinh, đáng ghét.
d. Thủ pháp giễu nhại trong truyện ngắn Cụ Chánh Bá mất giày
- Giễu nhại ở cấp độ nhân vật
+ Nhân vật chính: Cụ Chánh Bá

Nhại hình tượng viên chức Tây: vì cụ có chân Sơ học yếu lược. Sơ học yếu lược (Primare Eslementaire) là loại bằng cấp cho học sinh lớp Sơ đẳng trong hệ thống giáo dục phổ thông Pháp - Việt. Bằng này chưa đủ để ra làm việc cho chính quyền. Vì vậy, đối với cụ Chánh Bá, nó có tính chất trang trí, “lòe” thiên hạ. Nhưng cái bằng đó được cụ Chánh coi là một “chân”, tức là một chức vụ. Chức vụ ảo này có tác dụng “đổi ngạch Bá hộ sang ngạch Văn giai”, tức là từ kẻ phú hào sang giới văn nhân. Điều đó khiến cụ thay đổi lối hành xử “cụ hiền lành hơn trước một chút. Giá cụ có biết rằng cụ mất giày, thì cũng mặc kệ cho nhà chủ tự xử trí”.

Nhại nhân vật keo kiệt: Bản chất của nhân vật được bộc lộ qua sự kiện cố ý để mất giày, buộc chủ nhà phải đền. Nguyễn Công Hoan đã nhại mô típ nhân vật keo kiệt trong văn học dân gian. Sự keo kiệt thể hiện qua các cấp độ: dùng đôi giày cũ đến mức sắp nát ra nhưng không chịu mua đôi mới; muốn có giày mới nhưng đẩy trách nhiệm cho đầy tớ, là kẻ nghèo hèn hầu hạ trong nhà; lập mưu lừa hàng xóm để kiếm đôi giày mới. Cấp độ cuối tạo ra tình huống trào phúng đặc sắc của truyện.

Nhại nhân vật quan phong kiến: Mâu thuẫn phát sinh giữa địa vị xã hội (bậc phụ mẫu chi dân, oai vệ, quyền thế) với tư cách xấu xa (keo kiệt, thủ đoạn, đê tiện, lừa đảo để kiếm một thứ nhỏ nhặt là đôi giày mới).
Hình thức nhại được sử dụng để thể hiện thái độ ác cảm, cảm hứng đả phá giới quan lại biến chất trong xã hội thực dân. Kẻ có tiền, có quyền thực chất là những tên hề mạt hạng trên một sân khấu hài rẻ tiền. Với bọn chúng, mọi giá trị sống đều là trò lừa đảo, bịp bợm mà chúng sẵn sàng diễn không chút ngượng ngùng.
+ Hai nhân vật phụ: anh đầy tớ và người chủ nhà
Nguyễn Công Hoan nhại mô típ nhân vật bình dân của văn học dân gian. Chúng ta đã biết đến những tác phẩm trào phúng dân gian trong đó đối tượng bị châm biếm, giễu cợt chính là những thói tật của giới bình dân. Nguyễn Công Hoan không tấn công vào những tật xấu trong sinh hoạt, ông đả phá những tính cách đã trở thành căn tính bám rễ vào truyền thống văn hóa của người Việt: tâm lí sợ hãi, đớn hèn, thói nhu nhược trước quyền, tiền. Sự hèn đớn nhu nhược khiến cho anh đầy tớ mặc nhiên chấp nhận làm đồng phạm cho trò lừa đảo bẩn thỉu của cụ Chánh Bá; sự hèn đớn nhu nhược khiến vợ chồng chủ nhà sợ mất hồn trước viễn cảnh bị cụ Chánh Bá trả thù. Tất yếu, họ rơi vào bẫy của cụ. Nhục nhã và nực cười ở chỗ, họ tưởng mình nhanh trí, khôn ngoan thoát khỏi tình thế nguy nan nhưng thực chất họ là con rối bị cụ giật dây. Nỗi hoảng sợ của họ nằm trong toan tính của cụ, họ là kẻ bị cụ cười nhạo thầm.


Nguyễn Công Hoan vạch ra cái căn tính đó, chua chát nhìn vào cái thói tật khiến con người tự biến mình thành nô lệ, chấp nhận cúi đầu làm nô lệ đến chết. Hiện thực đó chính là nỗi bi quan sâu sắc ẩn sau tiếng cười Nguyễn Công Hoan.
Từ những phân tích trên, có thể nhận xét: Đối tượng giễu nhại trong truyện ngắn này không phải là những cá nhân mà là hệ thống quan lại và người dân trong mối quan hệ đặc thù. Từ mối liên kết đó, nổi lên đặc tính/tính chất của hiện thực xã hội Việt Nam thời kì Nguyễn Công Hoan.

- Giễu nhại ở cấp độ ngôn ngữ
+ Giễu nhại trong trần thuật
Trần thuật trong truyện Cụ Chánh Bá mất giày mang giọng giễu nhại rất độc đáo.
Nhại ngôn ngữ sinh hoạt: dùng các từ đệm, từ đưa đẩy tạo giọng kể lể, rườm rà, ề à “phải hiểu rằng…”, “chứ như…”, “chứ lại…”, “ừ thì”, “có chết không”, “ấy thế mà”; dùng nhiều câu nghi vấn, cảm thán để thể hiện cảm xúc; dùng thành ngữ; tách câu, chêm xen… Chẳng hạn đoạn văn sau:
“Phải hiểu rằng cụ Chánh Bá có thương nhà này thế nào, cụ mới quá bộ đến xơi rượu, chứ như nhà khác, dễ mà mời nổi cụ đấy hẳn? cụ lại không mắng cho vô số, chứ lại thèm đi à? ấy thế mà mới chập tối, họ đã để ngay đứa nào nó xà lọn mất đôi giày mới của cụ, có chết không! ừ thì đông người thì đông chứ, nhà có việc, nhà nào chả có nhiều kẻ ra vào! nhưng cụ ngồi chơi tận trên nhà trên thăm thẳm, thì còn kẻ gian nào dám lẻn vào đó? vả riêng mình cụ ngồi ở sập giữa, thì còn ai ngờ đi lẫn được giày? chẳng qua là lỗi tại chủ nhà không biết trông nom cẩn thận người nhà người cửa, trong khi chúng hầu hạ mà thôi! mà đứa nào lấy đôi giày ấy cũng to gan thực! hỗn với ai thì hỗn, chứ sao được hỗn ngay của cụ Chánh Bá! thực là vuốt râu hùm!”
Nhại ngôn ngữ khoa học:
“mà cụ thét ra lửa thực, thì cháy tiệt cả nhà, còn gì nữa? mà nhà nước thấy cụ có phép lạ, thì đã gửi toách cụ sang Tây từ đời nào, để viện hàn lâm khoa học, các ông bounvier, caulery, gravier, joubin, marchal, mesnin khảo cứu”.
Nhại ngôn ngữ giáo điều truyền thống:
“Đến nơi, nhà chủ đón chào rất trân trọng. Họ mời cụ lên nhà trên, hầu hạ kính cẩn, sợ hãi. lại còn sợ không quen tính cụ xưa nay ra sao, nên cứ phải thì thào hỏi dò cậu người nhà từng tí. và nhờ cậu luôn luôn đứng cạnh cụ, xem thiếu thức gì, thì cứ việc sai bảo tự nhiên”.
Nhại ngôn ngữ hiện đại:
“Câu cáu gắt khí lạ, các ngài nhỉ! Giá chúng mình làm nũng vợ, hay bắt nạt em gái, thì dùng câu nói ấy được đấy. Nhưng bắt đền người nhà thì kém logic lắm”!
Việc nhại nhiều phong cách ngôn ngữ tạo ra lối trần thuật tự nhiên, sinh động; giúp làm nổi bật các điểm nhìn khác nhau.
+ Giễu nhại trong ngôn ngữ nhân vật
Kiểu ngôn ngữ xóa mất vị thế, làm cho nhân vật trở thành bằng vai phải lứa:
“Tao bực lắm! làm thế nào bây giờ?… Tao không thể đi đôi giày được nữa. Kệ chúng bay! Muốn làm thế nào thì làm!”.
Lời nói nhại lối dằn dỗi, ăn vạ của trẻ con. Xét từ vị thế của người nói, phát ngôn trên làm bật ra tiếng cười.
Kiểu ngôn ngữ phi logicmày làm tao xấu hổ về đôi giày (của tao)”. Lời nói thể hiện thói vô lí của người nói.
Kiểu ngôn ngữ mập mờ
“ớ! không phải... dạ! bẩm phải đấy ạ.”
Lời nói bị tỉnh lược các thành phần ý quan trọng. Nó mang tính ám chỉ, ngầm hiểu, tránh cho hai vai giao tiếp phải chịu trách nhiệm cho nội dung phát ngôn.
- Giễu nhại ở cấp độ chi tiết
Các chi tiết quan trọng nhất của truyện được xây dựng bằng thủ pháp phóng đại để làm nổi bật các mâu thuẫn trào phúng. Các chi tiết quan trọng nhất của truyện như: miêu tả đôi giày cũ, cụ chánh lau giày, đối thoại của cụ chánh với anh đầy tớ, cảnh chủ nhà phát hiện mất đôi giày, cảnh tìm giày, đoạn kết… đều được vẽ bằng ngòi bút cường điệu, phóng đại để tô đậm cái hài ở nhân vật, sự kiện.
Chi tiết trào phúng trong truyện đảm bảo được cả hai yêu cầu: tăng cấp trào phúng từ thấp đến cao và đảm bảo tính như thật. Tác giả đã phóng đại chi tiết trào phúng đến một mức độ phù hợp để sự kiện “thật hơn cả sự thật” (Trần Đăng Suyền và Nguyễn Văn Long, 2008, tr 238). Chẳng hạn, đoạn kết của truyện là đỉnh của chuỗi sự kiện, đồng thời là điểm bùng nổ tiếng cười. Nhà văn đã dừng lại, đặc tả, cận cảnh từng chi tiết nhỏ, từ động tác “quàng cái khăn vào cánh tay, rồi lấy đóm soi đôi giày dưới đất” của cụ Chánh; hình ảnh đôi giày mới tinh dưới gầm sập; chi tiết “cụ hiểu ý, liếc mắt nhìn nhà chủ, nhưng cụ lại thấy nhà chủ cũng nhìn trộm cụ, thì cụ lại phải soi đóm xuống lần nữa” và đậm đặc ở hai câu thoại đầy ẩn ý cuối cùng.
Kết quả khảo sát các biểu hiện của thủ pháp giễu nhại trong truyện ngắn Cụ Chánh Bá mất giày sẽ được sử dụng làm căn cứ để thiết kế chương trình sân khấu hóa tác phẩm văn học. Chương trình phải đảm bảo giữ được tính chất giễu nhại trong kịch bản và diễn xuất; khâu đánh giá cũng phải dựa trên yêu cầu này.

2.2. Thiết kế chương trình sân khấu hóa truyện ngắn Cụ Chánh Bá mất giày, vận dụng thủ pháp giễu nhại
2.2.1. Biên soạn kịch bản
a. Xác định các chi tiết quan trọng ở văn bản truyện
- Tả đôi giày từ “phải nói rằng nó xấu…thì oan gia” (giọng đọc hoặc anh đầy tớ nói với chị bếp);
- Cụ Chánh Bá lau chùi đôi giày để đi ăn cỗ, cụ phát khùng lên.
- Đoạn thoại của cụ Chánh Bá và anh đầy tớ từ “đội khăn, đi hầu tao…” đến “đỡ lo đôi chút”;
- Chủ nhà chào đón trân trọng, xếp cụ riêng một mâm ở trên;
- Anh đầy tớ trộm giày, đem ném xuống ao;
- Chủ nhà ngồi hút thuốc với cụ Chánh Bá, phát hiện mất đôi giày, sợ quá;
- Đoạn thoại của chủ nhà với anh đầy tớ từ “cậu có cất không? đến “hay tôi lên trình cụ xem nhé”;
- Vợ chồng chủ nhà tìm giày, than thở với nhau, sai người đi mua giày mới;
- Đoạn kết.
b. Những lời thoại cần giữ lại
Truyện ngắn có ít thoại, các lời thoại đều đặc sắc, nên giữ toàn bộ.
c. Dựng phân cảnh
- Cảnh 1: anh đầy tớ nói chuyện với chị bếp
Nội dung: Tả đôi giày cũ của cụ Chánh Bá; Than thở vì bị cụ bắt phải vá, sửa, làm sạch; Cười giễu cụ/đôi giày.
- Cảnh 2: cụ Chánh Bá và anh đầy tớ
Nội dung: Cụ Chánh Bá nhổ nước bọt, lau giày, thấy nó quá nát, cụ nghĩ ngợi; Gọi anh đầy tớ trách mắng; Bày mưu cho anh đầy tớ (chỉ nói thầm).
- Cảnh 3: phi tang đôi giày cũ
Nội dung: Chủ nhà đón, mời cụ chánh ngồi một mình ở mâm trên; Nhờ anh đầy tớ hầu hạ cụ; Chủ nhà đi ra, cụ chánh ra hiệu, anh đầy tớ lén nhặt đôi giày mang ra ao ném; Đầy tớ quay lại thì thào báo cụ (gài đoạn “giá cao đoán… còn gì”); Chủ nhà vào, ngồi hút thuốc lào cùng cụ, phát hiện mất đôi giày.
- Cảnh 4: tìm giày
Nội dung: Vợ chồng chủ nhà soi tìm giày, than thở với nhau; Chủ nhà hỏi thăm anh đầy tớ; Đầy tớ tả đôi giày mới; Chủ nhà sai người hầu đi mua giày (gài đoạn “vì lỡ ra có sơ suất…mất làm ăn”; Vợ chồng chủ nhà nghi hoặc, nói chuyện với nhau rồi gạt đi.
- Cảnh 5: kết
Nội dung: Cụ Chánh Bá chào mọi người ra về; Cụ soi tìm giày; Đoạn thoại “ớ không phải… phải đấy ạ”.

2.2.2. Viết kịch bản chi tiết
a. Xây dựng hệ thống nhân vật
- Sử dụng các nhân vật có sẵn trong văn bản văn học: cụ Chánh Bá, anh đầy tớ, chủ nhà.
- Thêm nhân vật mới: vợ chủ nhà, một số khách ngồi chơi tổ tôm cùng cụ chánh, chị bếp nhà cụ Chánh.
b. Dựa vào các chi tiết mang tính giễu nhại, viết thành lời thoại của các nhân vật.
Lời thoại trong kịch có tính hành động. Diễn biến của vở kịch sẽ được lời thoại định hướng và dẫn dắt. Cách viết như sau:
* Đưa những câu thoại quan trọng ở văn bản truyện vào kịch bản sân khấu.
* Viết lời thoại mới: chuyển từ ngôn ngữ tự sự trong văn bản truyện thành ngôn ngữ hành động trong kịch bản sân khấu.
Mẫu: Cảnh 1: đối thoại giữa anh đầy tớ và chị bếp
Anh đầy tớ cầm đôi giày cũ trên tay, ngắm nghía, vẻ mặt chán nản. Chị bếp vào
Chị bếp: làm gì thế?
Anh đầy tớ: chị nhìn đôi giày của cụ này, chẳng biết cụ mua từ Khải Định mấy niên đến bây giờ, đóng lại đế là lần thứ bốn, mà nó vẫn hoàn không đế. Mũi thì nứt rạn và vá nhiều nơi. Cái cá đã đóng thêm lượt nữa, nhưng nó vẫn thủng. Lượt da thì ải và bật dây gần hết.
Chị bếp: chú gọi thợ đóng lại cho cụ
Anh đầy tớ: bọn thợ khâu giày phải trốn như chạch, vì lỡ ra không nhẹ tay mà chọc mạnh cái dùi vào, là nó toạc ra - vì tất nó toạc ra - thì oan gia.
Chị bếp: hôm nay cụ đi đâu?
Anh đầy tớ: người ta mời cụ đi ăn cỗ, cụ bảo tôi đánh giày chi mới, sạch. Mà đôi giày thế này, tôi biết làm thế nào…
Có tiếng cụ Chánh phía ngoài.
Chị bếp: cụ ra kìa, tôi xuống bếp kẻo cụ mắng cho thì khốn.
Chị bếp ra.
c. Mở rộng nghĩa
Lớp nghĩa chính của truyện tập trung ở việc giễu nhại nhân vật cụ Chánh Bá. Trong kịch, do tính độc lập về thể loại, do nhu cầu làm phong phú nội dung kịch bản, có thể mở thêm lớp nghĩa thứ hai: giễu nhại sự đớn hèn, sợ quyền thế của những người bình dân. Lớp nghĩa này được biểu hiện qua lời thoại mới trong một số phân cảnh cụ thể.

2.2.3. Sản xuất chương trình sân khấu
a. Chọn diễn viên
Khâu này bắt buộc phải qua casting. Diễn viên phải đạt yêu cầu về: hình thể, sự phù hợp với nhân vật, khả năng nhập vai, chất giọng, sự ham thích diễn xuất.
b. Tập kịch
- Diễn viên phải học thuộc thoại, nhập tâm và nhập vai.
- Diễn viên nắm được các vị trí diễn xuất, các hành động có tính ước lệ sân khấu.
- Diễn viên sử dụng thành thạo các đạo cụ, thuộc tiến trình, thuộc tín hiệu âm nhạc.
c. Hậu cần
Thiết kế sân khấu (phông cảnh, đạo cụ); Thiết kế trang phục; Thiết kế âm nhạc, tiếng động, hiệu ứng, kĩ xảo…; Người nhắc vở.
d.Trình diễn
e. Tổng kết, rút kinh nghiệm

3. Kết luận
Quá trình sân khấu hóa truyện ngắn Cụ Chánh Bá mất giày của Nguyễn Công Hoan từ lí thuyết giễu nhại là một nghiên cứu mang tính sơ khai của chúng tôi trong việc ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực. Đây là hoạt động không mới, nhưng để triển khai thành công, cần có những nghiên cứu sâu về bản chất, quy luật thể loại, về các kĩ thuật cơ bản, về những khó khăn và thuận lợi trong thực tế. Bài báo này sẽ được mở rộng, đầu tư hơn sau khi đưa vào thực nghiệm, đánh giá, cân nhắc các khả năng tiếp theo.

Lời cảm ơn: Nhóm tác giả cảm ơn sự tài trợ của Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội qua đề tài “Từ lí thuyết giễu nhại (parody), thiết kế chương trình sân khấu hóa tác phẩm văn học (ứng dụng thực nghiệm tác phẩm Cụ Chánh Bá mất giày của Nguyễn Công Hoan”, mã số QS.NH.20.04.

Tài liệu tham khảo
- Bộ GD-ĐT (2018). Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018).
- Đỗ Ngọc Thống (2018). Hướng dẫn dạy học môn Ngữ văn Trung học phổ thông theo chương trình giáo dục phổ thông mới. NXB Đại học sư phạm.
- Hà Nhật Thăng, Lê Tiến Hùng (1995). Tổ chức hoạt động giáo dục. NXB Giáo dục.
- M. Baktin (1998). Những vấn đề thi pháp Doxtoiepxki. NXB Giáo dục.
- Margaret A. Rose (1993). Parody: Ancient, modern and post - modern. Cambridge University Press.
- Nguyễn Anh Vũ (2020). Nguyễn Công Hoan - Truyện ngắn chọn lọc. NXB Văn học.
- Nguyễn Thị Kim Thiện (2012). Giễu nhại trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao. Báo Văn hóa Nghệ An, tháng 11/2012.
- Nguyễn Thị Liên (2016). Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông. NXB Giáo dục Việt Nam.
- Nguyễn Văn Trung (2019). Lược khảo văn học II - Ngôn ngữ văn chương và kịch. NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm Duy Khuê (2009). Lí luận sân khấu hóa. NXB Sân khấu.
- Phạm Thị Thu (2016). Parody/nhại trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Ngữ văn, mã số 62220102-2016. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Simon Dentith (2000). Parody - The New Critical Idiom. Routledge.
- Trần Đăng Suyền, Nguyễn Văn Long (2008). Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại tập I. NXB Đại học Sư phạm.

Article History
Received: 17/01/2020
Accepted: 25/01/2020
Published: 05/02/2021




PDF