Quan lại dưới thời phong kiến
trong truyện Đồng hào có ma
Ảnh: Hội Nhà văn.
Sưu tầm các tác phẩm của Nhà văn Nguyễn Công Hoan và các bài viết về Ông có trên mạng.
Ảnh: Hội Nhà văn.
Nền văn học hiện đại của Việt Nam chứng kiến sự ra đời của nhiều truyện ngắn vô cùng đặc sắc. Đó là ngòi bút tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến, là tiếng nói đứng lên bênh vực những người dân nghèo.
Giữa những áng văn như vậy, truyện ngắn Bước Đường Cùng của Nguyễn Công Hoan nổi lên như những thước phim gai góc, khiến người đọc căm tức đến khôn cùng. Phẫn uất vì xã hội bất công, thương thay cho những kiếp người thấp cổ bé họng. Đọc sách để vạch trần những gian dối, cay đắng và nỗi tủi nhục của biết bao kiếp người.
Mục Lục
Review sách Bước Đường Cùng – Nguyễn Công HoanNguyễn Công Hoan là một nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1940 – 1945. Trong những tác phẩm của ông viết về theo khuynh hướng sáng tác này, tiêu biểu có thể kể đến Bước đường cùng ra đời năm 1938.
Tác phẩm phản ánh đời sống khổ cực của người nông dân dưới cảnh áp bức một cổ hai tròng, trong hoàn cảnh tối tăm đó, con đường duy nhất giúp họ thoát khỏi vũng bùn đen chính là giáo dục và sự đoàn kết.
Tao Đàn – Nguyễn Công Hoan nổi tiếng với ngòi bút châm biếm đả kích vô cùng mạnh mẽ, tinh thần thể dục không phải là một ngoại lệ. Tác phẩm vạch rõ tính chất bịp bợm của “phong trào thể dục thể thao” mà thực dân Pháp cổ động rầm rộ nhằm đánh lạc hướng thanh niên đương thời, làm nổi bật lên những mâu thuẫn nằm sâu trong hiện thực đất nước.
Tinh thần thể dục là một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan, tác phẩm được in báo lần đầu vào năm 1939. Truyện ngắn mang đến cho người đọc những tiếng cười dí dỏm, hài hước nhưng ẩn trong từng câu chữ lại là nét trào phúng, đả kích sâu cay chế độ thực dân phong kiến mục nát.
Tinh thần thể dục có dung lượng truyện không quá dài nhưng bằng ngòi bút hiện thực đặc sắc của mình, Nguyễn Công Hoan đã khắc họa rõ nét xã hội đương thời đầy những bất công, đè nén dành cho người nông dân.
Người ngựa ngựa người là một tác phẩm nổi bật của Nguyễn Công Hoan kể về số phận của những người lao động nghèo, thông qua câu chuyện đầy trớ trêu của anh phu xe, tác giả đã chỉ ra những mặt trái của xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời.
Không chỉ vậy, câu chuyện còn thể hiện sự đồng cảm, xót thương của nhà văn trước những bất công mà người dân nghèo phải chịu, đồng thời ông cũng thẳng thắn phê phán sự tàn ác của một bộ phận quan lại, quý tộc lúc bấy giờ.
Tao Đàn – Vẫn là kết cấu tương phản đậm chất Nguyễn Công Hoan, trong bối cảnh vui tươi rộn rã ngồn ngộn người khắc họa nên nỗi bất lực đớn đau cô độc của kẻ vẽ nhọ bôi hề mang lại tiếng cười trên sân khấu kia. Chỉ vài nét chấm phá, nhà văn đã vẽ một bức tranh sống động bởi sự đụng chạm khốn khổ giữa cái giàu và cái nghèo trong một xã hội mà đồng tiền được đặt lên đầu quả tim.
“Kép Tư Bền” là truyện ngắn đặc sắc nhất trong tuyển tập cùng tên của nhà văn Nguyễn Công Hoan, hoàn thành vào tháng 07/1933, xuất bản thành sách năm 1935.
Kép Tư Bền là tác phẩm được viết dưới ngòi bút hiện thực phê phán của Nguyễn Công Hoan, cuốn sách đã thành công trong việc truyền tải những tư tưởng về sứ mệnh cao cả của người nghệ sĩ đến với độc giả. Chính vì thế nên Kép Tư Bền đã chứng minh được sức sống bền bỉ của mình cùng với những ý nghĩa sâu sắc mà nhà văn đã để lại.
Trong đề tài chống lễ giáo phong kiến, tiểu thuyết “Lá ngọc cành vàng” của Nguyễn Công Hoan được dựng nên từ kết cấu tương phản bởi mâu thuẫn giàu – nghèo, nhà văn trực tiếp đả kích quan niệm môn đăng hộ đối trong hôn nhân, đồng thời phê phán mạnh mẽ lực lượng bảo thủ và những kẻ có tiền có quyền đã chà đạp lên hạnh phúc chính đáng của thanh niên.
Nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan trong tác phẩm “Nhà văn hiện đại” đã nhận định rằng:
““Lá ngọc cành vàng” là một trong những truyện hay nhất của nhà văn Nguyễn Công Hoan”.
Lá ngọc cành vàng được sáng tác năm 1934, đây là tiểu thuyết đầu tiên sau hơn một thập kỷ chỉ viết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan. Tác phẩm xoay quanh mối tình bi thương giữa con gái nhà quan và chàng thanh niên nghèo, họ khát khao được yêu nhưng bị lễ giáo phong kiến ngăn cản.
Tuy vỏn vẹn mười sáu chương nhưng cuốn sách vẫn làm bật lên nỗi niềm của những người trẻ, đồng thời phơi bày bộ mặt tàn ác của xã hội phong kiến. Nhà văn theo đó góp sức vào cuộc đấu tranh đòi quyền lợi, đẩy lùi tư tưởng “lá ngọc cành vàng phải bày nơi chung đỉnh”.
“Cố nhiên là tôi đọc lại như vẹt, ngâm ngọng. Song do đó, niêm luật của thơ ca, nhạc điệu của ngôn ngữ được luyện vào óc tôi, được nhuần vào óc tôi từ ngày ấy” - ông cho biết.Lúc ông học Trường Bưởi, Đông Dương tạp chí xuất bản thành khổ nhỏ, có phần văn chương, Trung Bắc tân văn có phần Từ phú thi ca và Đoản thiên tiểu thuyết thì trong thời gian nghỉ hè, không ngày nào ông không đọc những bài đã in trong báo đó.
“Trời sinh ra bác Tản Đàcái mộng dan díu với “nàng thơ” ở ông tắt ngúm vì thừa biết mình không thể sánh được với bậc đàn anh.
Quê hương thời có, cửa nhà thời không”,
“Ngay từ những năm tôi còn nói ngọng, tôi đã thuộc một số thơ cổ của Trung quốc. Rồi tôi học phương ngôn, tục ngữ ca dao của dân tộc. Rồi tôi thích nghe những vần thơ chống Pháp của những tác giả ẩn danh do cha tôi dạy truyền khẩu…”.Vai trò của thơ được ông diễn tả bằng những lời lẽ cảm động:
“Lúc đầu tôi đọc thơ, nhưng chưa hiểu. Rồi sau, vì đọc đi đọc lại luôn, tôi hiểu dần, ý nghĩa của những bài ấy như thấm thía tí một vào trong người và rồi hình như những lời ấy là của chính tôi nói với người khác vậy”.Những khi có điều gì không được như ý, sau khi làm vài chén rượu, ông không chỉ đọc thơ mà còn làm thơ giải buồn. Trong hồi ký, ông từng chép ra nguyên văn mấy bài thơ ông đã làm.


