Ads 468x60px

.

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2025

1. Tuồng ‘Lan và Điệp’ (1936) và dĩa hát ‘Hoa Rơi Cửa Phật’ (1948) - Trần Hữu Trang


Chuyên mục: Lan&Điệp

Loạt bài của Ngành Mai:
1. Tác phẩm “Tắt Lửa Lòng” và soạn phẩm “Lan và Điệp”
2. Tuồng ‘Lan và Điệp’ và dĩa hát ‘Hoa Rơi Cửa Phật’
3. Tuồng ‘Lan và Điệp’ hát cùng khắp, nhưng tiền bản quyền chẳng được bao nhiêu
7. Tuồng ‘Lan và Điệp’ phóng tác theo tiểu thuyết ‘Tắt Lửa Lòng’
8. Dĩa hát ‘Hoa Rơi Cửa Phật’



Tác phẩm “Tắt Lửa Lòng”
và soạn phẩm “Lan và Điệp

Ngành Mai,
thông tín viên RFA




Soạn giả Trần Hữu Trang.
Thập niên 1940, soạn giả Tư Trang, tức Trần Hữu Trang đã dựa theo cuốn “Tắt Lửa Lòng” của Nguyễn Công Hoan để soạn thành vở ca kịch “Lan và Điệp”, đưa lên sân khấu, do cô đào Năm Phỉ đóng vai Lan, kép Tư Út đóng vai Điệp. Đôi nghệ sĩ tiền phong thượng thặng này đã mở đầu cho 2 nhân vật chính “Lan – Điệp” trở thành bất tử với thời gian.

Vậy sau khi được đưa lên sân khấu rồi, Lan và Điệp còn bước sang bao nhiêu lãnh vực nghệ thuật khác nữa? Tôi xin trình bày sau đây, mời quí vị theo dõi...

Ăn khách
Nhận thấy tuồng “Lan và Điệp” quá ăn khách với nhiều đêm hát đông nghẹt khán giả, do đó đã làm động lực cho hãng dĩa hát Asia tìm đến soạn giả Tư Trang để thương lượng thu thanh dĩa hát. Đồng thời hãng cũng yêu cầu soạn giả viết ngắn lại, làm sao cho tuồng thu ít dĩa càng tốt. Bởi trước đó các bộ dĩa “San Hậu” và “Quan Âm Thị Kính”, bộ nào cũng trên 10 dĩa nên tiêu thụ chậm, khó bán.

Để đáp ứng yêu cầu của hãng dĩa, Tư Trang đã rút gọn tình tiết vở tuồng, bỏ bớt phần đầu nên Lan và Điệp chỉ thu thanh gọn trong 4 dĩa và đặt tên tựa là “Hoa Rơi Cửa Phật”.
Với bộ dĩa nầy soạn giả chỉ lấy đoạn sau, từ cảnh Lan vào chùa tu – Điệp tìm đến chùa giựt chuông – Lan ra mở cổng thấy Điệp, nàng không mở cổng.
Điệp kêu:
Lan mở cổng cho anh vào.

Không được! Anh về đi, đã hết rồi!
Nói dứt câu, Lan đi ngược trở vô chùa – Điệp tiếp tục giựt chuông liên hồi và Lan cắt đứt dây chuông.
Điệp thẩn thờ đành quay gót trở về.
Cảnh này Tư Trang đã xử dụng bản ca “Chuồn Chuồn” cho Năm Nghĩa ca với lối vô đầu giống như vọng cổ (Năm Nghĩa là dưỡng phụ của nữ nghệ sĩ Thanh Nga).

Lan cắt dứt dây chuông, nàng ngất xỉu và phát bệnh luôn. Bệnh mỗi ngày một nặng thêm, thuốc thang đều vô phương cứu chữa. Cho đến một ngày kia Lan biết mình không còn sống được bao lâu nữa, nên nàng mới xin vị hòa thượng trụ trì chứng minh cho nàng trao gởi nỗi niềm tâm sự, có nghĩa là nói hết sự thật do đâu mà nàng đi tu. Đồng thời cũng nói cho vị hòa thượng biết rằng mình là gái tên thật là Nguyễn Thị Lan, đã giả trai và mượn tên Điệp để được nhận vào chùa.

Về phần vị hòa thượng thì nghĩ rằng, ông đã đi tu hơn 30 năm rồi, không còn muốn vương vấn, dính dáng gì đến chuyện thế gian, nên buộc lòng ông từ chối.

Nhưng đến lúc thấy bịnh tình của Lan trầm trọng, và lúc mê sảng thường kêu gọi ba tiếng Vũ Khắc Điệp luôn. Nhớ lại sự việc trước đây Điệp đến chùa và Lan cắt dứt dây chuông, thì vị hòa thượng đã tìm ra giải pháp: Cho người đi mời Điệp đến thay thế ông đóng vai sư cụ, bằng cách cho Điệp mượn chiếc áo cà sa, giả làm hòa thượng vào hậu liêu chứng minh cho chú tiểu Huệ Minh trao gởi nỗi niềm tâm sự (Huệ Minh là pháp danh của Lan).

Khi chú tiểu Huệ Thông đưa hòa thượng, do Điệp giả dạng với chiếc áo cà sa mượn mặc vào. Huệ Thông nói:
Sư cụ đã nhận lời cầu xin của huynh Huệ Minh rồi. Vậy muốn trao gởi gì thì cứ nói.

Thế là Lan nói sự thật như trên đã nói, và cảnh nầy soạn giả Tư Trang đã xử dụng bản Nam Ai, nổi tiếng là bản ca diễn tả lúc buồn. Qua bản Nam Ai với lời ca, Lan kể sự thật xong thì hấp hối. Điệp vội vàng cởi chiếc áo cà sa ra rồi chạy tới ôm Lan:
Em Lan! Anh là Điệp đây!

Lan mệt nhọc nói tiếng còn tiếng mất:

Anh... Điệp. Kiếp nầy không hiệp... hẹn cùng anh theo kịp... em chờ!

Em Lan! Lan!
Lan thở hơi cuối cùng trên tay Điệp.

Đây là cảnh chót, cảnh xúc động nhứt, hàng vạn các bà, các cô đã rơi lệ ở cảnh nầy.

Kịch bản Lan và Điệp, soạn giả Tư Trang trao cho nghệ sĩ Năm Châu lúc gánh Việt Kịch Năm Châu còn hoạt động.
Đầu thập niên 1960 Tư Trang vào mật khu, người ta không biết kịch bản này nằm ở đâu, và cũng không thấy Năm Châu dàn dựng trở lại vở hát này, bởi lúc ấy Ban Năm Châu chỉ lo việc chuyển âm phim.



Thêm thắt
Lúc bấy giờ hầu hết các gánh hát bầu tèo, tức các gánh hát nhỏ ở miền quê, do không có kịch bản chính nên đã lấy bài ca và lời đối thoại trong dĩa Hoa Rơi Cửa Phật làm nền chính, và thêm thắt vào để hát tuồng Lan và Điệp. Tuy vậy tuồng vẫn hay, khán giả vẫn đi coi.
Có điều là đoạn đầu thì mấy gánh hát bầu tèo tùy tiện, viết sao cũng được, miễn là có cảnh Lan tiễn Điệp đi học – Điệp thi đỗ đạt bị gọi đến nhà quan Huyện, bị phục rượu say mèm và đem bỏ vô phòng Thúy Liễu – Cảnh Thúy Liễu hành tội mẹ chồng.

Các cảnh nầy, mấy gánh hát bầu tèo muốn xử dụng bản ca nào, câu đối thoại nào thì tự viết vào rồi cho nghệ sĩ tập tuồng. Xong cho hát, bởi có ai khiếu nại gì đâu.

Lại có cả bầu gánh ngang nhiên sửa đổi tình tiết câu chuyện mới thiệt là đáng trách hơn hết!

Vào khoảng 1962 có gánh hát bầu tèo (không nhớ gánh tên gì) hát ở Suối Cụt, Trảng Bàng, Tây Ninh. Thay vì đoạn cuối Lan chết, thì gánh này lại cho cô Lan sống, và được vị hòa thương cho rời chùa trở lại thế gian, về sống với Điệp và vãn hát.

Do thấy tuồng đã không đúng với sự hiểu biết của mình, nên sau khi vãn hát, một số khán giả đi ra hậu trường chất vấn ông bầu:
- Ai cũng biết tuồng Lan và Điệp kết cuộc cô Lan chết, sao bữa nay cô Lan không chết mà lại về sống với Điệp, nghĩa là sao chớ?
Ông bầu đang ăn cháo lòng, nhậu rượu ba xi đế, đã trả lời:

- Bộ mấy ông bà muốn cô Lan chết phải hôn?

- Nhưng mà tuồng nó như vậy, tôi coi tuồng Lan và Điệp cả chục lần rồi, chỉ có lần nầy cô Lan sống mà thôi.

- Được rồi! Ngày mai đi coi, tôi cho cô Lan chết...

Tóm lại có những vấn đề trên là do soạn giả đã không có mặt, bầu gánh muốn hát sao thì hát. Cải lương mà!

Dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành được bán khắp cùng từ Nam chí Bắc, bán cả bên Miên, trên Lèo và cả bên Pháp.

Vài tháng sau khi dĩa hát được phát hành phổ biến khắp nơi rồi, thì cuốn bài ca “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được ra đời đem bán các chợ lớn, nhỏ từ thành thị đến thôn quê. Chính nhờ những cuốn bài ca này mà ca sĩ tài tử đâu đâu cũng thấy, tạo thành một sinh hoạt đờn ca tài tử độc đáo ở miền Nam Việt Nam.

Chương trình hôm nay đến đây xin tạm ngưng, hẹn với quý vị kỳ tới. Tôi là Ngành Mai xin kính chào tất cả quý thính giả Đài Á Châu Tự Do.



Ngành Mai










Tuồng ‘Lan và Điệp’ và dĩa hát ‘Hoa Rơi Cửa Phật’

Ngành Mai




Kỳ 1:

Tuồng ‘Lan và Điệp’ và
dĩa hát ‘Hoa Rơi Cửa Phật’

Ngành Mai

Đầu thập niên 1940, kể từ ngày vở hát “Lan và Điệp” của soạn giả Trần Hữu Trang, tức Tư Trang được trình diễn trên sân khấu Năm Phỉ thì phần lớn khán giả cải lương sành điệu, đã biết qua tình tiết lớp lang câu chuyện diễn tiến từ đầu tới cuối.

Buổi trình diễn khi vở hát mới ra đời ấy, do cô đào Năm Phỉ đóng vai Lan, kép Tư Út đóng vai Điệp, đôi nghệ sĩ tiền phong thượng thặng này đã mở đầu cho hai nhân vật chính Lan-Điệp trở thành bất tử với thời gian (nữ nghệ sĩ tài danh Năm Phỉ từng được huy chương của chính phủ Pháp, của Vua Miên, Quốc Vương Lào, và Hoàng Đế Bảo Đại).

Trong lịch sử nghệ thuật sân khấu chưa có vở hát nào được giới mộ điệu ưa thích, đến đỗi càng về sau câu chuyện càng mở rộng xâm lấn sang các lãnh vực văn nghệ khác.

Trước tiên, “Lan và Điệp” được hãng dĩa hát Asia thâu thanh với tên tựa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành cùng khắp từ Nam chí Bắc.
Dĩa hát cũng được bán qua Miên, và theo theo như nhà phát hành lúc ấy cho biết, thì kiều bào xứ Chùa Tháp tiêu thụ dĩa hát này nhiều gấp 3, 4 lần đại lý dĩa hát ở Cần Thơ. Do ở đất Miên dễ làm ăn, người ta dám mua sắm, vả lại số người sang đây lập nghiệp đại đa số là người Nam Kỳ Lục Tỉnh, mà cổ nhạc cải lương đã gắn liền với đời sống tinh thần của họ.

Dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được đưa sang Lào và cả ở bên trời Tây, do vậy mà kiều ở Pháp vẫn còn những người lưu giữ các dĩa hát xưa ấy. Song song đó cuốn bài ca “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được ra đời bán ở các chợ miền quê, chợ nhỏ, lớn nào cũng có người bán.

Rồi cũng từ đó các gánh hát bầu tèo (gánh hát nhỏ) ở thôn quê đã sao chép lời ca, lời đối thoại, rồi thêm thắt vào dựng lên tuồng cải lương “Lan và Điệp” phục vụ bà con ở thôn quê và cũng được hoan nghinh.

Sau đó khi Tư Út rời gánh Năm Phỉ thì kép Thanh Tao nhảy vào đóng vai Điệp, cho đến khi cô Năm Phỉ qua đời thì kỳ nữ Kim Cương mới thay dì mình mà đóng vai Lan cùng với kép Sơn Minh thủ vai Điệp.

Vợ chồng nghệ sĩ Văn Chung, Thanh Hương cũng đã có lần hát. Thành Được và Thanh Nga hát hai vai chánh này được mấy lần trong các buổi tổng hợp tài danh.

Riêng bộ dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành năm 1947, và cuốn bài ca cũng đến tay người mộ điệu cùng thời điểm này.

Dưới đây là đoạn đầu bộ dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật,” lúc Lan giả trai lấy tên Điệp vào chùa tu, được hòa thượng trụ trì đặt tên là Huệ Minh. (Xem tiếp bên dưới)

Ngành Mai





Kỳ 6:

Tuồng ‘Lan và Điệp’ phóng tác theo tiểu thuyết
‘Tắt Lửa Lòng’

Ngành Mai


Soạn giả Trần Hữu Trang cùng hai người con: Soạn giả Việt Thường và bà Thanh Đạm. (Hình: Ngành Mai sưu tập)


Cuốn tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của nhà văn Nguyễn Công Hoan xuất bản ở Hà Nội thời tiền chiến, và theo như bố cục câu chuyện thì cô Lan là người miền Bắc, cô buồn vì tình duyên trắc trở nên đi tu ở một ngôi ngôi chùa gần đường xe lửa đi Việt Trì, Phú Thọ, Yên Bái; và cậu Điệp, một nam sinh từ tỉnh ra Hà Nội học. Câu chuyện diễn tiến với những tình tiết gay cấn, cảm động.

Ngày nọ, khoảng đầu thập niên 1940, tác phẩm vô tình đến tay soạn giả Trần Hữu Trang (Tư Trang). Nhận thấy tác phẩm mang nhiều kịch tính, nếu được phóng tác thành vở ca kịch thì sẽ thu hút mạnh mẽ người đi coi hát cải lương. Và Tư Trang quyết định viết thơ ra Bắc xin phép nhà văn Nguyễn Công Hoan cho ông được phóng tác theo tiểu thuyết “Tắt lửa lòng”.

Họ Nguyễn bằng lòng với điều kiện là khi nào vở hát ấy được mang ra Bắc trình diễn thì ông phải được xem trước khi ra mắt quần chúng đông đảo. Dĩ nhiên là họ Trần tuân ý. Cho nên khi đoàn Năm Phỉ ra Bắc, Trần Hữu Trang căn dặn kỹ cô Năm Phỉ rằng, đến Hà Nội hát vở gì trước thì hát, còn vở “Lan và Điệp” thì phải đợi sự có mặt của ông cái đã.

Vì một lời hứa với tác giả “Tắt lửa lòng”, ông phải giữ đúng! Và khi đoàn Năm Phỉ dọn ra hát ở Hà Nội thì Trần Hữu Trang khăn gói đi xe lửa ra Bắc, ăn vận áo dài khăn đóng chỉnh chạc đi mời cho được Nguyễn Công Hoan tới nhà hát lớn coi diễn phúc khảo một buổi. Dĩ nhiên là họ Nguyễn có mời nhiều văn nhân, ký giả Hà Nội tới xem với ông. Xem xong, tất cả đều lấy làm hài lòng và hết tình ca ngợi cô Lan Năm Phỉ và cậu Điệp Tư Út.

Tối hôm đó Tư Trang đã phải vay nợ cô Năm Phỉ 10 đồng bạc tiền Đông Dương để đưa Nguyễn Công Hoan cùng với anh em văn nhân ký giả Hà Nội đi chè chén và hát cô đầu. Vui vẻ cả làng với nhau và chẳng có việc đòi hỏi chia chác tiền bản quyền gì ráo.

Có lẽ cũng do người sáng tác câu chuyện “Tắt lửa lòng” đã không nói đến vấn đề bản quyền, thành ra sau này các gánh hát trong Nam diễn tuồng Lan và Điệp, soạn giả Trần Hữu Trang cũng không đòi hỏi gì tiền bản quyền, ai muốn trả bao nhiêu thì trả, mà không trả cũng chẳng sao.

Dưới đây là đoạn kế tiếp dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật” (kỳ 6, cuối). (Xem tiếp bên dưới)

(Ngành Mai)





Dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật”
[...]
Năm 1936, soạn giả Trần Hữu Trang đã viết chuyển thể từ nguyên tác (tiểu thuyết Tắt lửa lòng của nhà văn Nguyễn Công Hoan) thành kịch bản cho vở cải lương "Lan và Điệp".
[...]
Năm 1948, Trung tâm ASIA đã cho thu âm vở cải lương này (Lan và Điệp) vào 4 đĩa nhựa với tựa đề "Hoa rơi cửa Phật", với sự tham gia của các danh ca Tư Sạng (Lan), Năm Nghĩa (Điệp), Tám Thưa (Hòa thượng), Hồng Châu (Tiểu Huệ Thông). [...]
[...]
Cô Sáu Liên cho biết đĩa Hoa rơi cửa Phật, với các giọng ca Tư Sạng, Tám Thưa, Năm Nghĩa, Hồng Châu, Út Trà Ôn... bán chạy nhất vì khán giả sành điệu thích nghe cải lương nhịp 8 và 12. Lời ca khoan thai, chậm rãi, mỗi ca từ được nâng niu như rót vào lòng người nghe sự chân thành, da diết của tâm hồn nghệ sĩ. Các sản phẩm nghệ thuật này không mang tư tưởng cao siêu hoặc rao giảng đạo đức xa vời mà đi vào những tích truyện ca ngợi thủy chung, lòng nhân ái, không hề lạc hậu theo thời gian.
[...]
Thanh Hương xin giới thiệu một vở cải lương cổ, nằm trong danh sách ba tuồng cải lương để đời của soạn giả Trần Hữu Trang, đó là: Đời Cô Lựu, Hoa rơi Cửa Phật và Tô Ánh Nguyệt.
Thành phần phân vai của các bật tiền bối:
Cô Tư Sạng vai Nguyễn Thị Lan
Tám Thưa vai Khắc Điệp
Năm Nghĩa vai Bạch Thầy
Hồng Châu vai Chú Tiểu
Vở tuồng mang nhiều nổi xúc động, đem đến những nổi cảm xúc. Quả thật vở này rất hay, được hãng ASIA thu âm năm 1936, trước cả hai vở kia. Vở này Sáu Tửng đờn kiềm - mùi. Sau này, ekip Thanh Kim Huệ - Chí Tâm có dàn dựng lại một cách hoàn chĩnh hơn, đặc sắc và rõ ràng hơn. Nhưng vở này vẫn là cái ra đời đầu tiên để lại ấn tượng khó quên hơn. Nhưng vở này không để lại nhiều nét đẹp của cô Tư Sạng bằng Cô Năm Phỉ. Khi nhắc đến:
Lan là ta nhớ đến cô Năm Phỉ
Lựu là ta nhớ đến cô Phùng Há
Nguyệt thì ta mới nhắc đến cô Tư Sạng

Vở này Hương sẽ đăng phần đầu sau, do cô Tư Bé vào vai Thúy Liểu rất ấn tượng. Những thể điệu Nam Ai, Tứ Đại Oán, Chuồn Chuồn, Văn Thiên Tường nghe rất não lòng. Các điệu vui như Khóc Hoàng Thiên, Kim Tiền Bản, Xàng Xê nghe làm lòng bớt sầu hơn. Chúc các bạn nghe vui vẻ nhé.
Soạn giả: Trần Hữu Trang, tức Tư Trang.
Các nghệ sĩ:
1 - Cô Tư Sạng: Lan (Huệ Minh), Năm Nghĩa, Tám Thưa, Hồng Châu.
2 - Tư Tao, Tư Bé...

Lan và Điệp - Cải lương (Hoa Rơi Cửa Phật - Tư Sạng, Năm Nghĩa)

Mời xem tại YouTube (toàn bộ 8 video)



Tư Sạng vai Lan, Năm Nghĩa vai Điệp, Tám Thưa vai Hòa Thượng, Hồng Châu vai Tiểu Huệ Thông.

... Đoạn đầu bộ dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật,” lúc Lan giả trai lấy tên Điệp vào chùa tu, được hòa thượng trụ trì đặt tên là Huệ Minh.

Huệ Minh nói:
Than ôi, cánh hoa rụng tả tơi vì gió dập,
xác bướm khô ôm ấp bởi tình yêu.
Như tôi đây nhìn hoa lan mà ruột quặn thắt trăm chiều,
trông hồ điệp lệ sầu tuông mấy lượt.
Kìa những kẻ không cầu sao lại được,
tủi phận mình mong mỏi vậy mà sai,
kể từ đây chốn am mây chôn lấp mạch cảm hoài,
nghe kinh kệ phôi pha cơn khổ não.

      (Ca Nam Ai:)
Hoa lan xác bướm mảnh tơ lòng,
Đành vùi chôn,
Kiếp bướm hoa lỡ làng rồi, Nhưng còn một vật đổi trao nhau,
Càng thấy càng thêm nỗi khổ đau,
Phải chăng con dao này,
Nó đã dứt tình cùng ta,
Bấy lâu đeo giữ mãi bên mình,
Nay đành chôn giữa mả bướm hoa,
Ngăn đôi gian hà,
Cho nhẹ nhàng lòng ta.
Có lẽ khi trời xui phải chịu vậy,
Trần ai còn chi đâu mơ màng,
Trót đã ăn mặc nâu sòng,
Vui kinh kệ là xong.

Huệ Thông nói:
Đó thấy không, huynh Huệ Minh phạm giới sát sanh, để tôi vào bạch tôn sư, cho huynh coi nghé.

Huệ Minh nói:
Không, không phải đâu huynh Huệ Thông, vừa rồi tôi thấy con bướm nó chết khô cho nên tôi tội nghiệp bỏ vào hộp đem chôn vậy mà huynh.

Huệ Thông nói:
Huynh nói dối, hôm trước tôi thấy con bướm ấy nó đậu trên chậu hoa lan đẹp lắm, huynh rình bắt rồi ép khô ở trong cuốn kinh, bây giờ huynh đem chôn, tại huynh bắt nó mới chết, tôi phải vào bạch lại với thầy.

Huệ Minh nói:
Huynh, huynh Huệ Thông.

Huệ Thông nói:
Thế nào tôi cũng vô tôi bạch.

Huệ Thường nói:
Ôi, tu là cội phúc, tình là dây oan, nhưng tình chưa trọn thì tu làm sao cho thành. Đã đem thân nương chốn thiền môn, trót ba mươi năm có lẻ, một khoảng thời gian đăng đẳng, tấm lòng ta tưởng đâu đã nguội lạnh như mớ tro tàn, sự đời gác bỏ ngoài tai, trần ai không hệ lụy.
Bất ngờ vừa rồi nghe mấy lời của tiểu Huệ Minh than thở, mà xúc động mối từ tâm, trông cử chỉ hành vi khiến cho ta phải bàng hoàng ngơ ngẩn.
Đây, đây là nơi chôn chặt nỗi niềm tâm sự, nhưng vết thương lòng e khó nổi phôi pha. Như ta ba mươi năm mà hận cũ vẫn chưa nguôi, thì tiểu Điệp ngày nay dẫu không tròn luật pháp nhà tu, ta cũng rộng lượng thứ tha mà tìm phương an ủi.


Kỳ 2:

Huệ Thông nói:
Bạch hóa tôn sư, huynh Huệ Minh phạm giới sát sanh.

Huệ Thượng nói:
Sao đệ tử biết được?

Huệ Thông nói:
Mô Phật, vừa rồi huynh Huệ Minh bắt được con bướm ép khô rồi bỏ vào hộp đem chôn, lại còn khóc lóc khấn vái than thở làm nhiều chuyện lạ lùng lắm, con theo ghẹo phá hoài là huynh Huệ Minh cũng không chịu bỏ, nên con phải vào bạch với thầy.

Huệ Thượng nói:
Thế là đệ tử có tội.

Huệ Thông nói:
Bạch tôn sư Huệ Minh sát sanh chớ nào phải con phạm giới.

Huệ Thượng nói:
Đệ tử nên biết, khấn vái khóc than đó là giờ phút thiêng liêng người ta tưởng niệm những điều đau khổ, trước cảnh thương tâm ấy, đáng lẽ đệ tử phải lặng lẽ cúi đầu sao lại dám theo ghẹo phá, Huệ Minh phạm giới sát sanh, để rồi thầy sẽ nghiêm trị. Còn đệ tử từ nay nếu còn khuấy rối Huệ Minh, thầy sẽ phạt quỳ hương một tháng.

Huệ Thông nói:
Mô Phật.

Huệ Thượng nói:
Đệ tử vào gọi Huệ Minh ra đây cho thầy dạy việc.

Huệ Thông nói:
Mô Phật.


Huệ Minh nói:
Bạch hóa tôn sư cho gọi con, có điều chi dạy bảo.

Huệ Thượng nói:
Vừa rồi tiểu Huệ Thông thấy con bắt một con bướm bỏ vào hộp và đem chôn. Tại sao lại có những hành vi lạ lùng như thế?
Đã đem thân nương dựa cửa thiền mà lòng trần chưa đoạn tuyệt, thất tình còn vướng, nghiệp chướng còn mang, thầy xem đệ tử sắc diện võ vàng tiều tụy lắm, vậy thầy xin khuyên đệ tử.

      (Ca Xàng Xê:)
Công phu hai buổi sớm chiều, phải tự mình tìm phương giải thoát.
Từ nay chuyện thế gian tua dẹp lại,
Chốn Phật đài tưởng niệm sắc không,
Cái tâm nếu chẳng tạo ra nguyên nhơn,
Thì kết quả phải khỏi trở về với không,
Cõi hư vô có ngày được thảnh thơi.

Huệ Minh ca:
Con cúi xin vàng lời ân sư chỉ dạy,
Bao nhiêu nỗi niềm thắc mắc,
Bao nhiêu khổ sầu ôm ấp bấy lâu,
Kể từ đây con quyết tâm đoạn tuyệt,
Vùi chôn vết thương trong tâm hồn,
Mùi tục lụy chẳng còn vương mang,
Tiếng khóc than đổi thay câu tụng niệm,
Nhờ thời gian sẽ phôi pha sẽ nhạt phai dần.

Huệ Thượng nói:
Nếu được vậy thì tốt lắm, thôi đệ tử hãy theo thầy vào trước Phật đài, thầy sẽ cầu nguyện giúp cho.

      Khai kinh:
Nam mô Như Lai ứng cúng, chánh biến tri, minh hạnh phúc, thiên thê thế gian giải vô thượng sĩ điều ngự thượng phu, thiên nhơn sư, Phật Thế Tôn.

Huệ Thượng:
Nam mô, phổ quan Phật.

Huệ Minh:
Nam mô, phổ quan Phật.

Huệ Thượng:
Nam mô, phổ minh Phật.

Huệ Minh:
Nam mô, phổ minh Phật.

Huệ Thượng:
Nam mô, phổ tịnh Phật.

Huệ Minh:
Nam mô, phổ tịnh Phật.


Kỳ 3:

Điệp nói:
Dạ xin chào ông đạo.

Huệ Thông nói:
Mô Phật, nơi đây là chùa Phật, thầy tới đây có chuyện chi?

Điệp nói:
Ông đạo làm ơn cho tôi hỏi thăm.

Huệ Thông nói:
Thầy muốn hỏi thăm điều chi?

Điệp nói:
Chẳng biết trong chùa nầy có ni cô nào tên Lan không?

Huệ Thông nói:
Chùa này không có ni cô.

Điệp nói:
Vậy từ Tháng Hai năm ngoái tới nay, có người nào đến quy y không?

Huệ Thông nói:
Có nhưng không phải tên Lan.

Điệp nói:
Người ấy ra làm sao?

Huệ Thông nói:
Người ấy tướng tá không cao không thấp, hình vóc không ốm không mập, gương mặt không tròn không dài, tiếng nói thiệt trong như chuông ngân, mà cặp mắt lúc nào cũng như đầy nước mắt.

Điệp nói:
Vậy ông làm ơn vào nói với người ấy, có tôi, tên là Điệp tới thăm.

Huệ Thông nói:
Không được đâu thầy, chú ấy không tiếp ai hết, trước kia có một vài lần người ta đến hỏi thăm, nhưng chú không chịu ra bảo nói dối rằng không có chú ở đây.

Điệp nói:
Nhưng ông cứ vào nói có một người tên Điệp thì chú ấy ra lập tức mà.

Huệ Thông nói:
Sao lạ vậy, chú ấy tên là Điệp mà thầy cũng là Điệp nữa.

Điệp nói:
Phải rồi, chú ấy giận cha mẹ họ hàng, nên mới mượn tên tôi mà đi tu, bây giờ chú ấy chỉ biết có một mình tôi thôi.

Huệ Thông nói:
Vừa rồi chú ấy và tôi mới bị hòa thượng quở phạt, chú đang buồn chẳng tiếp ai đâu.

Điệp nói:
Chú ấy làm gì mà bị quở phạt.

Huệ Thông nói:
Kìa thầy không không trông thấy à.

      (Ca Khóc Hoàng Thiên:)
Chính giữa một cái mả cao hai mả thấp,
Chú ấy đem chôn lấp, xác bướm với cành lan,
Bướm khô lan đã tàn,
Con dao tây chận ngăn đôi đàng,
Thật rõ ràng nào sai,
Khóc than lâm râm khấn lạy,
Vì thấy chú ấy sát sanh,
Sợ lây tội tình,
Luật ở chùa giới nghiêm,
Thế nên tôi lên bạch thầy,
Mới bị rầy cả hai.


Kỳ 4:

Điệp nói:
Ông đạo ôi!

Huệ Thông nói:
Mô Phật.

Điệp nói:
Tôi từ xa tìm tới đây là mong mỏi cùng người quen được gặp xin ông niệm chút từ tâm.

Huệ Thông nói:
Không phải tôi muốn làm khó thầy, song vừa rồi tôn sư mới ra lịnh nghiêm nhặt, nếu tôi còn nói chuyện gì lôi thôi với chú ấy, lỡ tôn sư gặp tôi phải quỳ hương tới một tháng lận thầy.

Điệp nói:
Vậy bây giờ ông không còn cách nào giúp tôi được sao? Thế là tôi phải về.

Huệ Thông nói:
Thiệt thấy tình cảnh của thầy, tôi muốn giúp giùm nhưng biết làm thế nào? À, hay là chỉ có cách này.

Điệp nói:
Cách nào ông?

Huệ Thông nói:
Thầy bước tới lại đây tôi chỉ cho thầy xem, đây sợi dây này là để cho khách thập phương, mỗi khi tới chùa, giựt chuông cho chúng tăng ra mở cổng, bây giờ tới chiều, phiên chú ấy gác chuông để tôi đi tránh vào trong rồi thầy cứ giựt chuông cho chú ấy ra mở cổng, chừng gặp nhau thì thầy muốn nói gì thì nói.

Điệp nói:
Tôi hết sức cám ơn ông.

Huệ Thông nói:
Mô Phật, thôi tôi vào. Kìa chú ấy đương ngồi tưởng niệm và lần chuỗi bồ đề dưới gốc cổ thụ, kia đó, đây, phía bên này đây.

Điệp nói:
Ôi! Chưa đầy hai năm, mà một vẻ đẹp thùy mị kín đáo trước kia, bây giờ đã hóa ra hình dạng một nạn nhơn khốn khổ.

      (Ca Chuồn Chuồn:)
Em Lan ôi! Tội tình chi mà em phải đọa đày,
Cho khổ sở kiếp hồng nhan,
Hỡi này em Lan,
Nay anh đã dứt rồi nghiệp oan,
Anh tìm đến đây cùng em tạ tội, đặng rước em trở về.
Mối duyên xưa cùng nhau ta nối lại,
Để đền bù những lúc khổ đau,
Ôi tiếng chuông rung chắc trái tim em phập phồng,
Em không ngờ anh đã tới đây,
Nỗi mừng vui nào hơn được lúc này.



Kỳ 5:

Huệ Minh nói:
Anh Điệp!

Điệp nói:
Em Lan, anh đã ly dị với Thúy Liễu, anh lên đây để rước em về.

Huệ Minh nói:
Không thể được, hết rồi.

Điệp nói:
Mở cổng cho anh vào.

Huệ Minh nói:
Không thể được, anh phải đi về đi, đã hết rồi.

Điệp nói:
Lan đành cắt đứt dây chuông.

Khai Chuông:
U minh vỉ mãng vô thượng tấn tốc,
Ngưỡng lao đại chúng an tọa tịnh chung.
Văn chung thinh nhứt tâm thế niệm A Di Đà Phật.

Huệ Thông nói:
Bạch thầy có Vũ Khắc Điệp đến.

Hòa Thượng nói:
Mời người vào.

Huệ Thông nói:
Mô Phật.

Điệp nói:
Mô Phật bạch hòa thượng.

Hòa Thượng nói:
Mô Phật, bần tăng xin chào ngài. Ngài có phải là Vũ Khắc Điệp mà cách đây mấy tháng, ngài có đến chùa này một lần.

Điệp nói:
Bạch hòa thượng phải.

Hòa Thượng nói:
Ngài vừa tới cổng giựt chuông để gọi chúng tăng ra mở cửa, thì có một chú tiểu vội cắt đứt dây chuông, rồi ngất xỉu, lúc ấy ngài đi luôn không vào chùa, và từ đó tới nay cũng không khi nào ngài trở lại.

Điệp nói:
Bạch hòa thượng, trong lúc cắt đứt dây chuông tôi vì cảm xúc quá nên cũng té gục trên cổng, chừng tỉnh lại nhìn vào chùa thấy bốn bề vắng ngắt nên ngậm ngùi lặng lẽ ra về.

Hòa Thượng nói:
Ngài có biết đâu, sau khi ngài đi rồi, chú tiểu ấy phát bịnh nặng, những lúc mê sảng thường kêu gọi ba tiếng Vũ Khắc Điệp luôn, đến nay thuốc thang đà vô phương cứu chữa, nên bần tăng mới cho người đi tầm ngài tới đây, bần tăng cũng vẫn biết sống chết là một lẽ đương nhiên, song có điều làm cho bần tăng không yên lòng, là chú ấy cứ nài nỉ khẩn cầu xin bần tăng chứng minh cho chú ấy trao gởi nỗi niềm tâm sự, điều ấy bần tăng khó thể nhận lời, ngài cũng đủ biết giùm cho bần tăng ngày nay.

      (Ca Vọng Cổ:)
1- Đã ngơ lấp chuyện hồng trần, lòng thanh thản hồn nhiên trước cửa từ bi, bao nỗi thị phi, tai chẳng buồn nghe, mắt cũng không buồn trông thấy nữa.

2- Không sắc đã thay cho danh lợi tự giác nhi giác tha, Lục tự di đà vô biệt niệm trót ba mươi năm mà công quả vẫn chưa tròn.

3- Ngày nay cũng bởi tiểu Huệ Minh, trần lụy đa mang, nghiệp oan chưa dứt, kiếp duyên còn nặng nợ, lòng bận bịu nơi sóng mê bể khổ, nên bịnh căn trầm trọng mỏi mòn.

4- Đã ba hôm rồi yêu cầu bần đạo chứng minh cho người, gởi chút niềm riêng nhưng bần đạo đã xả thân khổ hạnh, thì luật tu hành không thể nhận, chớ có phải đâu sắt đá là loại vô tri, cỏ cây là loài vô cảm mà chẳng thương tâm trước cảnh mất còn.



Kỳ 6, cuối:

Huệ ca:
5- Hòa thượng ôi, người đương hoằn hoại là một nạn nhơn, còn chính tôi đây là một tội nhơn, ấy cũng vì nghịch cảnh xui nên xin hòa thượng hãy rộng lượng xót thương cho kẻ đã bao lâu nay cùng chung đau khổ một tâm hồn.

6- Mới đem thân nương chốn thiền môn đặng tìm phương giải thoát, những tưởng nước cành dương rưới tan niềm oan khổ, nào ngờ đâu không hàn gắn vết thương lòng, hạnh phúc con người ta là quên, nhưng bởi không thể quên nên thành ra khổ thân.

Hòa thượng ca:
7- Hiện thời bịnh thế rất ngặt nghèo, thần sắc xem đã biến thiên, hình thể đã tiêu hao, e không qua khỏi đêm nay, trước cảnh nguy vong bần tăng cũng muốn chứng cho xong, để cho yên lòng người trong cơn hấp hối.

8- Bởi vậy bao nhiêu phép tắc ở chùa, bao nhiêu luật trai giới nghiêm minh, chấp kinh có khi cũng phải tùng quyền, giờ phút này mở rộng lòng bác ái, bao nhiêu trách nhiệm dầu ai có khép tội lỗi gì đều để hết cho bần tăng.

9- Vậy đây mảnh áo ca sa, ngài choàng vào đi, Huệ Thông (mô Phật) Huệ Trí (mô Phật), đệ tử hãy đốt đèn lên rồi đưa ngài giả dạng bần tăng để cho tiểu Huệ Minh trao gởi nỗi niềm tâm sự.

Huệ ca:
10- Ân sư ôi, ơn của ân sư dám sánh tợ biển trời, đức của ân sư đã gội nhuần vạn vật, đạo của ân sư đã độ khắp chúng sanh, ân sư ôi một lạy này đệ tử gọi là chút lòng thành để đền đáp dạ từ bi.

Hòa thượng ca:
11- Ngài ôi, ngài chớ quá nhọc tâm, mà bần tăng thêm tổn đức, ngài hãy bình tâm đi, để lạy này, ngài lạy Phật thì phải hơn, tâm sự đôi bên bần tăng chưa hiểu hết, nhưng chẳng may đạo Huệ Minh tánh mạng khó bảo toàn.
12- Thì bấy lâu nay tiếng kệ câu kinh, tiểu Huệ Minh đã dày công sám hối, dòng hệ lụy dầu chưa có rũ sạch, nhưng căn đã khiến cho gần chốn Phật đài, mà duyên đã tạo nhiều công quả, có lẽ rồi đây cõi Tây phương người sẽ được hưởng phước thanh nhàn.


Nói: Ngài cứ yên lòng, Huệ Thông (mô Phật) Huệ Trí (mô Phật) hãy y lời thầy dặn.

Huệ Thông nói:
Huynh Huệ Minh, hòa thượng đã y lời cầu xin của huynh, nên vào đây, huynh muốn tỏ điều gì thì cứ bạch với tôn sư đi.

Huệ Minh nói:
Huynh Huệ Thông.

Huệ Thông nói:
Mô Phật.

Huệ Minh nói:
Bây giờ là chừng nào rồi.

Huệ Thông nói:
Hết canh tư bước sang canh năm.

Huệ Minh nói:
Ôi tai lắng mõ chuông chớ tấm thân đã nhẹ nhàng tục lụy,
nhưng mắt nhìn cảnh vật, cõi lòng chưa có giải thoát hồng trần,
trong khói hương mà chạnh chốn tử phần,
nỗi đau khổ lạy cha già xin lượng thứ,
tủi duyên phận tôi mới tìm nơi Phật tự,
thân bọt bèo nhờ sư phụ rộng dung tình,
ân sư ôi, đáp ơn dày đành đợi kiếp lai sinh,
số mạng bạc tới đây cam liểu kết,
nghiệp oan dầu hết, mà phúc quả chưa tròn,
như tôi đây dám vì tình lỗi đạo làm con,
thì tội bất hiếu kiếp nào chuộc được.

      (Ca Nam Ai:) (lớp mái)
Ân sư ôi, cúi xin thương tha thứ tội tình,
Thật tôi là họ Nguyễn tên Lan,
Trắc trở cuộc tình duyên,
Bởi quá thống khổ,
Mượn tên Điệp này,
Đặng có nhập thiền môn,
Tôi dẫu chết đã yên phận rồi,
Tội nghiệp cho người kiếp sống không nguôi,
Thương nhau đã lỡ rồi, ôi hỡi đất trời,
Tại vì đâu xui ly biệt đôi nơi,
Từ ngày đành cắt đứt dây chuông,
Ôi anh Điệp anh có rõ cho chăng,
Em chỉ sợ vì em, mà anh phải khổ,
Thôi để một mình thân em chịu là xong,
Nay cái chết không dung em rồi,
Anh hãy yên lòng, vui cảnh vợ con,
Kiếp này không hiệp, hẹn cùng anh theo kịp em chờ.

Huệ nói:
Em Lan.

Lan nói:
Anh Điệp ôi em đã mệt lắm rồi.

Huệ nói:
Trời ôi! Lan, em Lan đã tắt nghỉ rồi.





Tham khảo
  1. Soạn giả Trần Hữu Trang: Sân khấu và dĩa hát - Báo Bạc Liêu, 15/06/2012
  2. Đêm hè nhớ lại Những giọng ca vàng ngày xưa - Nguyễn Phương, Cải lương Số, 2012
  3. ĐIỂM DANH NHỮNG GIỌNG CA VÀNG TỪ NĂM 1940 ĐẾN NĂM 2000 - Soạn giả Nguyễn Phương, Cải Lương Việt Nam, 22/04/2016
  4. Tiểu Sử Cô Tư Sạng - Kho tàng Vọng cổ Việt Nam, 07/08/2021
Cô Tư Sạng
NS Lư Hoà Nghĩa (Năm Nghĩa)

1/ Lời giới thiệu: Mộng Tuyền là một nữ nghệ sĩ cổ nhạc trước năm 1975…Tên tuổi cô rực sáng trong nhiều vở diễn, đĩa nhựa, phim, kịch, truyền hình…
4/ Lan và Điệp (Hoa rơi cửa Phật) – Soạn giả Viễn Châu: Một ca khúc mà tạo cho Mộng Tuyền rất nhiều kỷ niệm đẹp trong quá khức với số phận của Lan…

VOV - Đài Tiếng nói Việt Nam - Chương trình “Tìm trong kho báu” : Nguyễn Công Hoan


VOV - Tìm trong kho báu : Nguyễn Công Hoan

VOV Live
VOV6.VOV.VN


  1. Nguyễn Công Hoan trong vai trò nhà lý luận phê bình
  2. Nhà văn Nguyễn Công Hoan: “Kiến trúc sư” tài hoa của dòng văn học hiện thực phê phán (Răng con chó của nhà tư sản)
  3. Kép Tư Bền - truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Công Hoan (Kép Tư Bền)
  4. Văn chương hiện thực xã hội chủ nghĩa của Nguyễn Công Hoan (Trích: Tranh tối tranh sáng)
  5. Tiểu thuyết hiện thực phê phán của nhà văn Nguyễn Công Hoan (Trích: Bước đường cùng)


1. Nguyễn Công Hoan trong vai trò nhà lý luận phê bình

VOV6.VOV.VN

BAN VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT VOV6 - Đài Tiếng nói Việt Nam
Chương trình “Tìm trong kho báu”

Nguyễn Công Hoan trong vai trò
nhà lý luận phê bình

Đài Tiếng nói Việt Nam


Bên cạnh hàng loạt sáng tác văn chương hư cấu nổi tiếng, nhà văn Nguyễn Công Hoan còn thể hiện khả năng lý luận phê bình văn học qua một số tác phẩm bàn về quan niệm văn chương, kinh nghiệm viết văn và chân dung nhà văn. Trên nền tảng sáng tác và tác phẩm, những lý luận về văn chương của ông quả thực hấp dẫn và giàu sức thuyết phục...(Tìm trong kho báu phát 08/08/2019).


Mời nghe mp3

VOV6 - Ban Văn học Nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam




2. Nhà văn Nguyễn Công Hoan: “Kiến trúc sư” tài hoa của dòng văn học hiện thực phê phán (Răng con chó của nhà tư sản)

VOV6.VOV.VN

BAN VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT VOV6 - Đài Tiếng nói Việt Nam
Chương trình “Tìm trong kho báu”

Nhà văn Nguyễn Công Hoan - "Kiến trúc sư" tài hoa của dòng văn học hiện thực phê phán

Đài Tiếng nói Việt Nam


Giữa muôn ngả rẽ của tư tưởng văn chương buổi giao thời, ngay từ đầu nhà văn Nguyễn Công Hoan đã dứt khoát hướng ngòi bút của mình đứng về phía người dân lao động bị áp bức. Ông là người đã đặt những viên gạch đầu tiên xây đắp nền móng cho nền văn xuôi hiện thực phê phán. Theo Giáo sư Phan Cự Đệ, tác phẩm Nguyễn Công Hoan là bức tranh sống động về những cảnh ngộ, con người trong chế độ cũ...



Mời nghe đọc tại YouTube


Mời nghe mp3
VOV6 - Ban Văn học Nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam




3. Kép Tư Bền - truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Công Hoan (Kép Tư Bền)

VOV6.VOV.VN

BAN VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT VOV6 - Đài Tiếng nói Việt Nam
Chương trình “Tìm trong kho báu”

Kép Tư Bền - Truyện ngắn xuất sắc
của Nguyễn Công Hoan

Đài Tiếng nói Việt Nam


Có tài dẫn dắt cốt truyện đến một kết cục không ai ngờ đến, nhiều truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan có dáng dấp như một màn kịch ngắn đầy cảm xúc và cuốn hút. Truyện ngắn “Kép Tư Bền” in trong tập truyện ngắn cùng tên năm 1935 tiêu biểu cho đặc điểm ấy của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan...(Tìm trong kho báu phát 18/07/2019)



Mời nghe mp3
VOV6 - Ban Văn học Nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam.

Mời nghe đọc tại YouTube





4. Văn chương hiện thực xã hội chủ nghĩa của Nguyễn Công Hoan (Trích: Tranh tối tranh sáng)

VOV6.VOV.VN

BAN VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT VOV6 - Đài Tiếng nói Việt Nam
Chương trình “Tìm trong kho báu”

Văn chương hiện thực xã hội chủ nghĩa
của Nguyễn Công Hoan

Đài Tiếng nói Việt Nam


Không những có công khai phá, mở đường cho văn chương hiện thực phê phán ở nước ta mà nhà văn Nguyễn Công Hoan còn là người góp phần đặt nền móng cho văn xuôi hiện thực hiện thực Xã hội chủ nghĩa. Nhiều tác phẩm Nguyễn Công Hoan viết sau Cách mạng tháng Tám ngược về quá khứ, nhìn vào hiện thực với một cảm quan mới, sâu sắc và khách quan hơn...(Tìm trong kho báu phát 01/08/2019)


Mời nghe đọc tại YouTube


Mời nghe mp3
VOV6 - Ban Văn học Nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam




5. Tiểu thuyết hiện thực phê phán của nhà văn Nguyễn Công Hoan (Trích: Bước đường cùng)

VOV6.VOV.VN

BAN VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT VOV6 - Đài Tiếng nói Việt Nam
Chương trình “Tìm trong kho báu”

Tiểu thuyết hiện thực phê phán
của nhà văn Nguyễn Công Hoan


Đài Tiếng nói Việt Nam


Không phải ngẫu nhiên mà hầu hết tiểu thuyết viết trước Cách mạng tháng Tám của Nguyễn Công Hoan đều được sân khấu hóa. Các thói tục nông thôn, chuyện quan lại chốn đình trung, những chuyện tình yêu bị chia cắt do lễ giáo phong kiến đã được nhà văn phục dựng một cách sinh động. Tiểu thuyết viết trước Cách mạng tháng Tám của nhà văn Nguyễn Công Hoan thực sự trải trước mắt người hôm nay một bức tranh xã hội cũ thu nhỏ...(Tìm trong kho báu phát 25/7/2019)



Mời nghe đọc tại YouTube


Mời nghe mp3
VOV6 - Ban Văn học Nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam





Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2025

Nghe đọc Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Công Hoan - (Hoài Niệm – Kính Hồng)


Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Công Hoan



Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: Kính Hồng

Mời nghe đọc tại YouTube - #nguyenconghoan
Diễn đọc: Kính Hồng

Xin nhấp chuột vào truyện ngắn muốn nghe






Thứ Năm, 23 tháng 10, 2025

Tiểu sử và cuộc đời của nhà văn Nguyễn Công Hoan


Tiểu sử và cuộc đời của nhà văn Nguyễn Công Hoan

Văn Học (VanHoc.Net)


Nội dung bài viết
1. Tiểu sử của nhà văn Nguyễn Công Hoan
2. Phong cách sáng tác của nhà văn Nguyễn Công Hoan
3. Tác phẩm tiêu biểu
4. Nhận định về Nguyễn Công Hoan


Nhắc đến Nguyễn Công Hoan là chúng ta nhớ đến bậc thầy truyện ngắn, những tác phẩm của ông mang tính chấm biêm sâu cay khiến người đọc có ấn tượng sâu sắc. Ngày hôm nay hãy cùng Văn học khám phá về tiểu sử và cuộc đời của nhà văn Nguyễn Công Hoan nhé!

1. Tiểu sử của nhà văn Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Công Hoan sinh năm 1903 tại Hưng Yên và mất năm 1977 tại Hà Nội. Ông được biết đến là một nhà văn, nhà báo và thành viên của Hội nhà văn Việt Nam.

Nguyễn Công Hoan sinh ra trong một gia đình Nho học thất thế. Chính vì thế khi còn bé Nguyễn Công Hoan đã được tiếp thu rất nhiều những câu thơ, câu văn mang tính chất châm biếm các tầng lớp, quan lại cường hào bắt dân nghèo. Và sau này khi đi theo sự nghiệp văn chương, Nguyễn Công Hoan chuyên viết về thể loại châm biếm sâu cay.

Năm 1926, sau khi tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, Nguyễn Công Hoan đã đi dạy học ở rất nhiều nơi khác nhau. Mãi cho đến khi Cách mạng tháng 8 bùng nổ ông mới viết tác phẩm đầu tay có tên là Kiếp hồng nhan.

Sau Cách mạng tháng 8 sự nghiệp văn chương của Nguyễn Công Hoan bước sang trang mới khi ông giữ những vị trí quan trọng như, Giám đốc kiểm duyệt báo chí Bắc Bộ, Giám đốc Sở Tuyên truyền Bắc Bộ.

Năm 1951 Nguyễn Công Hoan làm việc tại Trại tu thư của ngành giáo dục, biên soạn sách giáo khoa và Sách sử Việt Nam hiện đại từ Pháp thuộc đến năm 1950 dùng cho lớp 7 hệ chín năm.

Từ sau năm 1954, Nguyễn Công Hoan trở về với cương vị chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam.

Ngày 6 tháng 6 năm 1977 Nguyễn Công Hoan mất tại Hà Nội.




2. Phong cách sáng tác của nhà văn Nguyễn Công Hoan
Đọc tác phẩm của Nguyễn Công Hoan độc giả sẽ thấy được cái châm biếm sâu cay của ông như thế nào. Cái cười trong truyện là tiếng cười đau khổ của những kiếp người lầm than, thấp cổ bé họng.

Nguyễn Công Hoan cho rằng khi viết chúng ta cần phải đề cao về nội dung truyền tải chính vì thế mà những tác phẩm của ông luôn giàu tính nhân văn, mỗi tác phẩm đều có sự sáng tạo riêng biệt.

Trong cuốn sách Đời viết văn của tôi, Nguyễn Công Hoan từng chia sẻ:
“Tôi đặt nhiều công phu vào việc viết truyện ngắn, chứ không phải vào việc viết truyện dài. Tôi chỉ viết truyện dài khi nào tôi lười đi tìm đề tài để viết truyện ngắn.”
Có lẽ tiểu thuyết Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan là truyện nổi bật nhất trong sự nghiệp cầm bút của ông. Bước đường cùng viết về cuộc đời đầy bi kịch của vợ chồng anh Pha. Vì không có nhiều sự hiểu biết nên vợ chồng anh Pha đã bị địa chủ dùng nhiều thủ đoạn để cướp đoạt ruộng đất và nhà cửa.

Sự bóc lột trắng trợn và lòng tham vô đáy của tên địa chủ đã khiến anh Pha không còn là một chàng nông dân hiền lành chất phác nữa. Hành động anh Pha phang một cú giáng vào đầu Nghị Lại thể hiện sự bức xúc đến đỉnh điểm của anh. Hình ảnh cuối truyện khi anh Pha bị trói, anh nhắm mắt, nghiến răng rơi nước mắt thể hiện lực bất tòng tâm trước thời cuộc. Truyện Bước đường cùng phản ánh rất chân thật đời sống của những người nông dân nghèo ở xã hội phong kiến, họ bị quan lại áp bức, bóc lột nặng nề. Thế nhưng chẳng ai giúp người nông dân nghèo thoát cảnh ấy, họ chỉ biết cắn răng chịu đựng vì không dám đối đầu với quan lại.

“Thế nào là bướng? Tôi không bướng. Tôi chỉ muốn có lẽ phải. Bọn cầm quyền cứ thấy ai hiểu lẽ phải, ngăn cản không cho họ làm bậy, thì bảo là bướng. Thế hãy hỏi quan, lính trên huyện ăn lương để ngồi không à? Sao động có việc gì bắt họ phải làm thì mình lại cứ tống tiền vào cho họ hư quen đi. Là tại mình ngu, cho nên họ mới bắt nạt mình được.”



3. Tác phẩm tiêu biểu


4. Nhận định về Nguyễn Công Hoan
Nói đến Nguyễn Công Hoan trước hết là nói đến một bậc thầy truyện ngắn trong Văn học Việt Nam hiện đại. Thế giới truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đa dạng, phong phú như một “bách khoa thư”, một “tấn trò đời” mà đặc trưng là xã hội phong kiến của thực dân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20.
Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có nhiều nét gần với truyện cười dân gian, tiếp thu được truyền thống lạc quan của nhân dân muốn dùng tiếng cười như một “vũ khí của người mạnh” để tống tiễn cái lạc hậu, cái xấu xa vào dĩ vãng.
Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan với đặc điểm của nó đã nâng cao khả năng nhận thức và khám phá các hiện tượng xã hội phức tạp.
Chúng ta có quyền tự hào về Nguyễn Công Hoan và coi ông là bậc thầy truyện ngắn.
Nguyễn Công Hoan là nhà văn có công khai phá, mở đường cho chủ nghĩa hiện thực trong Văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại.
Nguyễn Công Hoan đã đột phá vào những thành trì, khuôn khổ của giáo huấn và tiếp nhận, tuân theo một chủ nghĩa khách quan lịch sử khi miêu tả hiện thực.
Giới nghiên cứu văn học khi bàn đến sự hình thành chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam đều nhất trí đánh giá cao vai trò, vị trí của Nguyễn Công Hoan, người có những tác phẩm được coi là “cổ điển” trong nền văn học hiện đại.

– Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam.
Nguyễn Công Hoan cũng đã sống ở nông thôn trong nhiều năm, ông chịu khó quan sát nên có nhiều hiểu biết về nông thôn. Ông sáng tác nhiều truyện về đề tài này.
– Lê Thị Đức Hạnh

Cái cười của Nguyễn Công Hoan là một phương tiện đả kích… có sức công phá thật mạnh mẽ. Đôi lúc ta còn bất chợt thấy trong cái cười hài hước của ông một chút ngậm ngùi, một tình tương có thể nói là kín đáo.
– Nguyễn Huệ Chi, Phong Lê

Truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan là hiện tượng chưa có tới hai lần trong văn học Việt Nam.
– Nguyễn Hoành Khung.


Lời kết

Dành cả cuộc đời của mình để tận hiến cho sự nghiệp văn học nước nhà Nguyễn Công Hoan xứng đáng trở thành một trong những nhà văn nổi tiếng tại Việt Nam. Qua bao nhiêu thế hệ, những tác phẩm của ông vẫn luôn để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn đọc.

Cảm ơn bạn đọc đã dành thời gian quan tâm và đọc những bài viết tại Văn học. Hy vọng trong thời gian sắp tới chúng tôi vẫn sẽ tiếp tục nhận được sự ủng hộ từ độc giả.






Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2025

Từ tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của Nguyễn Công Hoan đến cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp”


Chuyên mục: Lan&Điệp

Từ tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của Nguyễn Công Hoan đến video “Chuyện tình Lan và Điệp”

Môn: NGUYÊN LÝ VĂN HỌC SO SÁNH
Nhóm thực hiện: Nhóm 3 – Lớp Cao học khóa 2 - Đại học Văn hiến
TP HCM 27/12/2014


MỤC LỤC
  • I - Dẫn nhập:
  • II – Khái quát chung về hai thể loại:
    • (tiểu thuyết và video cải lương)
    • 1. Về nguồn gốc
    • 2. Về chất liệu
    • 3. Đặc trưng thể loại
  • III – Nội dung chính:
    • 1. Những điểm giống nhau:
      • 1.1. Cốt truyện
      • 1.2. Nhân vật
      • 1.3. Tư tưởng
    • 2. Những điểm khác nhau:
      • 2.1. Hoàn cảnh sáng tác, tiêu đề
      • 2.2. Dung lượng, tình tiết 9
      • 2.3. Ngôn ngữ
      • 2.4. Nhân vật
      • 2.5. Sức ảnh hưởng của hai tác phẩm
  • IV – Kết luận:




Từ tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của Nguyễn Công Hoan đến cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp”
của soạn giả Loan Thảo,
chỉnh lí: Thế Châu,
đạo diễn Sân khấu: NSND Diệp Lang,
đạo diễn truyền hình: Yên Sơn
TP HCM 27/12/2014



I - Dẫn nhập: (Phát đoạn video clip)
Nguyễn Công Hoan (1903 – 1977), quê ở làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay là tỉnh Hưng Yên. Ông là nhà văn nổi tiếng và để lại cho di sản văn học nghệ thuật với hơn hai trăm truyện ngắn, gần ba mươi truyện dài và nhiều tiểu luận văn học khác.
Loan Thảo tên thật là Nguyễn Tấn Vị (1942 – 1982), ông là soạn giả cải lương và là tác giả của nhiều bài vọng cổ nổi tiếng ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

Tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” được Nguyễn Công Hoan viết vào năm 1933 và sau đó được soạn giả Loan Thảo chuyển thể thành tác phẩm sân khấu – vở cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp” vào năm 1972.


Và sau khi được thực hiện quay video lần đầu tiên
(kịch bản: Loan Thảo,
chỉnh lí: Thế Châu,
đạo diễn sân khấu: NSND Diệp Lang &
đạo diễn truyền hình: Yên Sơn
)
với NSƯT Trọng Hữu vai Điệp,
NSND Lệ Thủy vai Lan,
tác phẩm này đã tạo được tiếng vang lớn và nhận được sự đón nhận mạnh mẽ từ khán giả mộ điệu.

Từ tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của Nguyễn Công Hoan
đến vở cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp” của Loan Thảo
là một chuyển thể đặc sắc,
viết nên câu chuyện tình yêu lãng mạn nhưng cũng đầy nước mắt.



II – Khái quát chung về hai thể loại (tiểu thuyết và video cải lương):
Cùng với hội họa, điêu khắc, âm nhạc thì văn học và điện ảnh cũng được coi là một loại hình nghệ thuật. Bất cứ loại hình nghệ thuật nào cũng sử dụng một chất liệu nhất định trong tự nhiên để xây dựng hình tượng và tạo nên những nét đặc trưng riêng. Cái độc đáo ở đây chính là trong quá trình tồn tại và phát triển, các loại hình nghệ thuật này đã có sự tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau, làm đề tài cho nhau để cùng cho ra đời những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, có giá trị thẩm mĩ cao. Một trong những sự ảnh hưởng ấy chính là mối quan hệ tương tác giữa văn học và điện ảnh.

Khái niệm văn học và điện ảnh là hai phạm trù khá rộng. Trong phạm vi của bài tiểu luận này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến một phạm trù hẹp hơn, đó là đi vào so sánh tiểu thuyết và video cải lương.


1. Về nguồn gốc:
Nhiều ý kiến cho rằng tiểu thuyết ra đời ở Châu Âu vào thời đại cuối cùng của nền nghệ thuật cổ đại Hi Lạp huy hoàng.
Ở Trung Quốc, tiểu thuyết xuất hiện sớm từ thời Ngụy Tấn (thế kỉ III - IV) nhưng sang đến thời Minh thì nó đạt đến đỉnh cao với một loạt những pho tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng như: “Tam quốc diễn nghĩa” (La Quán Trung), “Thủy hử” (Thi Nại Am), “Tây du kí” (Ngô Thừa Ân)...
Còn ở Việt Nam, tiểu thuyết xuất hiện muộn hơn vào khoảng thế kỉ XVIII với thiên kí lịch sử “Hoàng Lê nhất thống chí”. Đây được coi là pho tiểu thuyết lịch sử đầu tiên, có giá trị văn học đặc sắc. Tuy vậy, phải chờ đến những năm 1930-1945 thì tiểu thuyết Việt Nam mới gặt hái được những thành tựu đáng kể từ những cây bút như: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng...

Về thời gian ra đời của cải lương, theo Vương Hồng Sển: tuy "có người cho rằng cải lương đã manh nha từ năm 1916, hoặc là 1918", nhưng theo ông thì kể từ ngày 16 tháng 11 năm 1918, khi tuồng “Gia Long tẩu quốc” được công diễn tại Nhà Hát Tây Sài Gòn, cách hát mới lạ này mới "bành trướng không thôi, mở đầu cho nghề mới, lấy đờn ca và ca ra bộ ra chỉnh đốn, thêm thắt mãi, vừa canh tân, vừa cải cách... nên cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ...”.

Cải lương là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam, hình thành trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và nhạc tế lễ.

Vậy, tiểu thuyết là thể loại có nguồn gốc từ nước ngoài, ra đời từ thời cổ đại, còn cải lương là sản phẩm của trí tuệ và tâm hồn Việt Nam thời hiện đại.



2. Về chất liệu:
Tiểu thuyết là một thể loại của văn học. Bởi vậy, cũng giống như văn học, tiểu thuyết cũng xây dựng hình tượng bằng ngôn từ.
Ngôn từ ấy phải mang tính chính xác, tính hàm súc và tính hình tượng.
Thông qua hệ thống ngôn từ ấy, người đọc cảm nhận, hình dung, tưởng tượng ra cuộc đời, số phận, tính cách của các nhân vật và cả xã hội mà nhân vật đó đang sống cũng như tư tưởng, tình cảm, thái độ, cách đánh giá của nhà văn.

Chất liệu của cải lương vô cùng phong phú, cụ thể ở đây là video cải lương: ngôn từ và giai điệu âm nhạc (nằm trong kịch bản thể hiện vai trò của soạn giả), âm nhạc (thể hiện vai trò của thầy đờn), giọng ca và khả năng diễn xuất (thể hiện vai trò của nghệ sĩ), ý tưởng dàn dựng (thể hiện vai trò của đạo diễn sân khấu), các góc máy quay hình, cách dàn dựng hình ảnh, lồng nhạc (thể hiện vai trò của đạo diễn truyền hình và cả ekip quay phim, kĩ thuật âm thanh, ánh sáng,...), phục trang, thiết kế cảnh trí, đạo cụ...



3. Đặc trưng thể loại:
Tiểu thuyết nói riêng và văn học nói chung là nghệ thuật biểu hiện, nghệ thuật thuần túy và nó là sáng tạo của cá nhân. Bởi vậy, nó mang đậm dấu ấn cá nhân và dấu ấn thời đại.
Độc giả tiếp nhận nó như “thì quá khứ” thông qua hồi ức, tưởng tượng... Bởi sự việc xảy ra trong tiểu thuyết khi đến với người đọc luôn ở vào cái thế là việc đã rồi.

Còn video cải lương là nghệ thuật tổng hợp (kết hợp giữa các yếu tố biểu diễn, tạo hình, diễn xuất, ca hát, kĩ thuật quay hình,...). Hay nói cách khác, đó là sự kết hợp giữa nghệ thuật và kĩ thuật. Cải lương là sáng tạo của tập thể, khán giả tiếp nhận như “thì hiện tại” tức là có thể nhìn thấy, nghe thấy trực tiếp thông qua diễn xuất của diễn viên.





III – Nội dung chính:
1. Những điểm giống nhau:

1.1. Cốt truyện :

Tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của Nguyễn Công Hoan và vở cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp” của soạn giả Loan Thảo, do Thế Châu chỉnh lí đều xoay quanh cốt truyện tự sự: tình yêu của Lan và Điệp. Đây là một câu chuyện tình yêu lãng mạn, nhưng đầy trắc trở. Từ khi Điệp và Lan còn bé, gia đình hai bên đã hứa hôn sau này khi trưởng thành sẽ cho đôi trẻ nên duyên chồng vợ. Do mắc mưu quan phủ Trần, Điệp phải phụ tình Lan để cưới Thúy Liễu - con gái quan phủ Trần. Lan ôm mối tình tuyệt vọng bỏ nhà đến chùa xin cắt tóc đi tu. Khi Điệp gặp lại Lan thì cô lâm trọng bệnh rồi nhắm mắt lìa đời.

Nhìn chung, cốt truyện của cả hai tác phẩm có những điểm chung sau:

Nhân vật





Diễn biến
Gia đình ông Tú:

Ông Tú, Lan




Gia đình Bà Cử:

Bà Cử, Điệp




Gia đình Ông bà phủ Trần:

Ông bà phủ Trần,
Thúy Liễu
Phần trình bày Gia đình ông Tú và bà Cử đã đính ước chuyện hôn nhân cho Lan và Điệp.

Gia đình ông Tú đã cưu mang, giúp đỡ gia đình bà Cử trong cảnh mẹ góa con côi.
Phần thắt nút Điệp thi rớt và hàm ơn ông phủ Trần khi ông lo cho Điệp thi đậu.
Phần phát triển Điệp mắc mưu ông phủ Trần, nên phải cưới Thúy Liễu phụ tình Lan. Lan buồn bã đi tu.
Đỉnh điểm cao trào, và phần mở nút thắt Điệp gặp Lan lần cuối khi Lan lâm trọng bệnh và sau đó Lan chết.

Từ nguyên tác “Tắt lửa lòng”, tác phẩm này đã được chuyển thể thành cải lương, kịch, chèo như dạng tích kinh điển được diễn đi diễn lại nhiều lần, và cũng đã dựng thành phim. Bên cạnh đó, cùng sự phổ biến bởi âm nhạc, có thể nói: phổ biến khắp nước Việt Nam không ai không biết đến “Chuyện tình Lan và Điệp”.



1.2. Nhân vật:

Hệ thống nhân vật, số lượng nhân vật của hai tác phẩm sẽ có những thay đổi. Tuy nhiên, về cơ bản hai tác phẩm xoay quanh cuộc đời, số phận, và tính cách của hai nhân vật chính là: Lan và Điệp.

Ở tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” và vở cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp” đều có điểm chung là: tính cách nhân vật không phải ngay từ đầu đã được hình thành trọn vẹn. Chính hành động có tác dụng bộc lộ quá trình phát triển của tính cách và thúc đẩy sự diễn biến của hệ thống cốt truyện, cùng những tình tiết bất ngờ, éo le. Cả Lan và Điệp đều có một tình yêu thủy chung, son sắt.

Những nhân vật được giữ lại khi chuyển từ tiểu thuyết sang video cải lương: Lan, Điệp, Thúy Liễu, bà Cử, ông Tú, vợ chồng ông phủ Trần.



1.3. Tư tưởng:

Trong tất cả các yếu tố tạo thành tác phẩm thì tư tưởng có vai trò quan trọng nhất vì nó có tác dụng chỉ đạo đối với toàn bộ tác phẩm. Tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” và vở cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp” thì tư tưởng tác phẩm được biểu hiện tập trung qua hệ thống nhân vật; từ những khái quát hóa riêng biệt của từng nhân vật chính, tác phẩm sẽ dẫn người đọc đến một khái quát chung rộng lớn cho toàn tác phẩm. Cả Nguyễn Công Hoan và soạn giả Loan Thảo đều thể hiện chung một cách nhìn, cách cảm trước bi kịch tình yêu, bi kịch cuộc đời của đôi trẻ Lan - Điệp. Đó là sự ngợi ca tình yêu chân thành, thủy chung, vị tha; đó là sự xót xa, nghẹn ngào, thương cảm trước nỗi đau chia lìa; đó là sự căm phẫn, lên án những mưu đồ đen tối, vụ lợi, chà đạp lên tình yêu chân chính. Nhưng phải chăng nó còn thể hiện sự bất lực của con người trước thế lực vô song của đồng tiền, của địa vị trong cái xã hội dở Tây dở Ta bóp nghẹt sự sống của con người? Và khi con người gặp thất bại, bế tắc trong tình yêu thì họ tìm đến nương nhờ cửa Phật để xa lánh bụi trần, để rũ bỏ quá khứ đau buồn, để không phải nhớ, không phải đau và để không bao giờ gặp phải bi kịch ái tình ấy một lần nữa. Nhưng tiếng chuông chùa và cuộc sống thanh tịnh nơi cửa Phật vẫn không thể giúp xoa dịu nỗi đau trần thế, con người vẫn phải đối mặt với những đau khổ, những bất công, những ngang trái của cuộc đời. Có lẽ chính vì vậy mà chuyện tình Lan và Điệp tạo được nhiều sự đồng cảm của độc giả, khán giả qua nhiều thế hệ đến như vậy.



2. Những điểm khác nhau:

2.1. Hoàn cảnh sáng tác, tiêu đề:

2.1.1. Hoàn cảnh sáng tác:

Tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” được Nguyễn Công Hoan viết và in trên báo Nhật Tân vào năm 1933. Đây là giai đoạn văn học nước nhà đã hoàn tất quá trình hiện đại với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại, đặc biệt là tiểu thuyết. Trong giai đoạn này, từ đầu thế kỉ XX, văn hóa Việt Nam dần thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa phong kiến Trung Hoa, bắt đầu mở rộng tiếp xúc với văn hóa phương Tây mà chủ yếu là văn hóa Pháp. Luồng văn hóa mới thông qua tầng lớp trí thức Tây học phần lớn là tiểu tư sản ngày càng thấm sâu vào ý thức và tâm hồn của người cầm bút cũng như người đọc sách.

Tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của Nguyễn Công Hoan được chuyển thể thành tác phẩm sân khấu qua các phiên bản: vở cải lương “Lan và Điệp” của cố soạn giả Trần Hữu Trang (năm 1936), kịch nói “Lan và Điệp” do Ban kịch nói Kim Cương trình diễn (1970), vở cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp” của soạn giả Loan Thảo viết và Thế Châu chỉnh lí thu thanh năm 1972 với Chí Tâm vai Điệp, NSƯT Thanh Kim Huệ vai Lan, sau đó vở này được quay video với NSƯT Trọng Hữu vai Điệp và NSND Lệ Thủy vai Lan, …



2.1.2. Tiêu đề:

Tiêu đề “Tắt lửa lòng” mang đậm chất văn học, tiêu đề gợi cho người đọc sự suy nghĩ, liên tưởng đến nỗi thất vọng, buồn bã, nguội lạnh trong tâm hồn. Và chính tiêu đề đó khiến cho người đọc tò mò tìm đến với tác phẩm xem đó như thế nào? Trong câu chuyện đó có những ai? Và lửa lòng ai đã tắt? Tiêu đề hàm chứa nhiều ẩn ý, nhiều bí ẩn để người đọc suy nghĩ. Cụm từ “tắt lửa lòng” đã từng được Nguyễn Du dùng trong “Truyện Kiều”, khi Kiều quyên sinh, gieo mình xuống sông tự tử, được sư Giác Duyên cứu giúp đưa về am cùng tu hành:

“Mùi thiền đã bén muối dưa,
Mầu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng
Sự đời đã tắt lửa lòng,
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!
Dở dang nào có hay gì,
Đã tu tu trót quá thì thì thôi!”

Tiêu đề “Chuyện tình Lan và Điệp” nhằm hướng đến đối tượng khán giả thưởng thức nên ngôn từ dễ hiểu sẽ dễ đi vào lòng công chúng. Nên tiêu đề “chuyện tình Lan và Điệp” đã thực hiện được mục đích đó và phù hợp với tính chất của video cải lương, phục vụ nhu cầu giải trí của đông đảo công chúng. Sự đơn giản ấy sẽ tạo nên cảm giác gần gũi đối với người thưởng thức. Đây là chuyện tình giữa đôi nam nữ, một người tên Điệp và một người tên Lan. Chuyện tình ấy như thế nào thì trong nội dung vở diễn sẽ thể hiện điều đó.



2.2. Dung lượng, tình tiết:

2.2.1. Dung lượng:

Do đặc trưng riêng của từng thể loại cũng như ý đồ nghệ thuật của mỗi tác giả nên dung lượng của hai tác phẩm ở hai thể loại này khác nhau. Câu chuyện trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” được thể hiện bằng ngôn ngữ, là sản phẩm của cá nhân nhà văn Nguyễn Công Hoan. Ông đã thỏa sức thể hiện tư tưởng, suy nghĩ của mình cũng như những thủ pháp nghệ thuật vào trong tác phẩm. Ở thể loại này, không bị giới hạn về dung lượng, thời gian, không gian nên trong quá trình sáng tác, nhà văn dễ dàng sáng tạo với số lượng nhân vật không hạn định, với những tình tiết theo ý tưởng của mình. Ở tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” đã thể hiện với 19 chương.

Ở video cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp”, soạn giả tập trung vào mối tình của Lan và Điệp, đây là câu chuyện bi đát, đau khổ của hai người yêu nhau nhưng không đến được với nhau. Do đó, để tập trung vào câu chuyện về mối tình này, mà khi chuyển thể, soạn giả Loan Thảo đã lượt bỏ đi những tình tiết trong tiểu thuyết. Trong cải lương kể đến mối tình của Lan và Điệp, hai người yêu nhau và gia đình hai bên đã hứa hôn từ nhỏ. Rồi vì hoàn cảnh nên Điệp phải cưới Thúy Liễu, Lan buồn bã tìm quên trong lời kinh tiếng kệ. Điệp sống với vợ không có hạnh phúc, sau này trở về tìm Lan. Lan vì đau buồn, gởi thân nơi cửa Phật mà lòng còn nặng tình xưa nên lâm trọng bệnh. Điệp đã tìm đến để gặp Lan lần sau cuối. Trong cải lương chỉ tập trung vào câu chuyện này, không nhắc đến về cuộc đời của Vũ (con của Thúy Liễu) cũng như cuộc sống của Thúy Liễu sau này như trong tiểu thuyết. Do giới hạn về thời gian, không gian, cũng như đặc trưng của thể loại, nên dung lượng của video cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp” sẽ giảm bớt đi so với tiểu thuyết “Tắt lửa lòng”. Vở này được gói gọn với khung thời lượng hai giờ năm phút.



2.2.2. Tình tiết:

Mặc dù khi chuyển thể sang cải lương, Loan Thảo đã giữ lại câu chuyện chính là mối tình của Lan và Điệp, nhưng để cho phù hợp với thể loại cải lương phục vụ công chúng đặc biệt là khán giả ở miền Nam nên ông đã thay đổi một số tình tiết so với tiểu thuyết. Sự thay đổi ấy đã đem lại hiệu quả nghệ thuật cao.

- Trước hết, ở phần đầu tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” xuất hiện chi tiết Lan sai người ở sang nhà Điệp xin đỗ (ở đây là hạt đậu), lúc đó Điệp mới đi thi về. Câu chuyện lấy bối cảnh thời phong kiến tại Việt Nam với nhằng nhịt những mối quan hệ xã hội phân cấp, cao thấp giàu nghèo và sự bó buộc trong quan hệ nam nữ không được tự do giao lưu và luôn luôn giữ kẽ khiến truyện đặt mối tình Lan Điệp vào những hoàn cảnh rất thực của một đôi trẻ yêu nhau mà chẳng bao giờ được thể hiện thẳng ra, khiến nó mang tính kín đáo, rất thâm trầm và cũng lãng mạn bởi sự xa cách. Mối tình của lan và Điệp vừa ý nhị, e lệ, thẹn thùng, dễ thương lại có lúc đau khổ thương tâm. Chi tiết này không có trong cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp”:

“- Thưa cậu, nhà có đỗ không, cậu cho tôi xin một bát.

- Anh xin đỗ làm gì?

- Tôi không biết.

Điệp nhanh trí hiểu ngay. Tự nhiên chàng thấy trong lòng hồi hộp, bèn hỏi gặng:

- Anh không biết? Ai sai anh đi xin?

- Thưa cậu, cô tôi.

Điệp lặng người một lát:

- Ông có nhà không?

- Thưa cậu, ông tôi đi vắng từ hôm qua, chiều mới về.

- Anh về nói rằng nhà tôi hiện nay không có đỗ, nhưng ít lâu nữa thì thế nào cũng có...”
(Chương I - THÔI CÒN CHI NỮA MÀ MONG)

Ở cuối chương IV – KHOA, khi Điệp thọ ơn ông phủ Trần để Điệp thi đỗ chàng mừng vui khôn xiết, hình ảnh của “đỗ” như thay lời nói của hai người, như thay lời trả lời của Điệp đối với Lan về công danh của mình. Chi tiết này ở cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp” không có:

“Điệp phớn phở ôm bọc quần áo ra đến bờ sông, sung sướng nghĩ đến công đèn sách ngót mười năm, đến tương lai rực rỡ như hoa như gấm.

Nhưng chàng phải làm cho Lan giật mình về tin mừng này, chàng bèn chịu khó cuộc bộ sang đầu cầu Gia Lâm, để bớt được vài xu, mua một nắm đỗ. Chàng gói đỗ vào tờ giấy, bỏ cẩn thận vào trong túi.

Xe tới chợ Gỏi, Điệp hăm hở về làng. Lúc này thì Điệp thấy cái gì cũng vui và đẹp cả. Chàng vênh váo đằng hắng một tiếng rõ to. Lan vừa ngẩng đầu lên, chàng giơ thẳng cánh, ném cả gói đỗ vào sân rơi tung tóe. Lan mỉm cười hiểu ý, khẽ gật đầu... Điệp gật đầu, nở nang từng khúc ruột”.

- Trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” những chi tiết nói về tâm trạng của Điệp nhiều, đặc biệt là những đoạn tương tư của Điệp sau khi được Lan mở lời. Ở trong chương IV – KHOA, còn xuất hiện chi tiết về giấc mơ và lá thư của Điệp viết khi nhớ Lan, những dòng chữ chất chứa tình cảm nỗi nhớ mong dành cho Lan. Ở chương này có lẽ nhà văn Nguyễn Công Hoan đã miêu tả được khung cảnh rất lãng mạn đi vào lòng người với cánh đồng xanh ngắt, trời rộng bao la, gió mát …

“…Tôi thấy tôi cùng cô đi trên con đường giữa một cánh đồng mông mênh bát ngát. Trời xanh mây xám chen màu; hai bên, lúa râm vàng. Ta cứ rong ruổi con đường đi mãi, rồi... tới chân một quả núi cao. Thấy trên đỉnh có cái nhà năm tầng bỏ không, cô bền rủ tôi lên xem. Nguyên tôi vẫn ước có một ngày được cùng cô chon von ở một nơi cao vút, xa cái xã hội có người, nên tôi thích lắm, chẳng quản chi những nỗi khó nhọc.
…Tuy trời đã sang thu nhưng vẫn nắng, cái nắng hanh vàng lạt mà gay gắt. Hoa rừng sặc sỡ như gấm giải, cái đỏ, cái vàng, cái hồng, cái tím, có thứ tròn trắng như núm bông trên mũ trẻ con, có thứ lua tua rũ xuống, như đánh đu dưới cái cành cây ẻo lả…”
(Chương IV – KHOA - TẮT LỬA LÒNG)

- Đoạn Điệp với Lan gặp nhau, Điệp hỏi Lan về lá thư chàng gởi muốn từ chối chuyện hôn nhân vì chàng cảm thấy không xứng đáng với Lan được thể hiện ở hai không gian khác nhau.
Ở tiểu thuyết (nằm ở chương III – SỰ TÌNH CỜ) thì hai người men theo bờ ruộng và đến chỗ khuất thì ngồi xuống cùng tâm sự.
Còn ở cải lương thì đó ở không gian nhà của Điệp.
Nếu ở tiểu thuyết cho người đọc đọc được lá thư của Điệp gởi cho Lan, và sau đó là nỗi lòng, suy nghĩ của Lan khi đọc lá thư đó
thì ở cải lương, người xem sẽ không đọc được cụ thể nội dung lá thư đó, nhưng qua cuộc trao đổi của Lan với Điệp, qua lời ca, người xem đã hiểu được nội dung lá thư đó nói những gì. Đặc biệt, Loan Thảo đưa 8 câu Nam Xuân vào đây rất hợp lí. Bởi tính chất của bài Nam Xuân dùng trong hoàn cảnh chỉ hơi thoáng buồn, có tính thanh thản, ung dung, nhẹ nhàng. Trong hoàn cảnh này, tâm trạng của Lan hơi thoáng buồn và muốn giải bày nhưng suy nghĩ của mình cho Điệp. (Phát clip)

Điệp: Lan!
Lan: Bộ mới dìa hả?
Điệp: À! Tôi mới về. Lan! Lan có nhận được thơ tui gởi chưa?
Lan: Dạ…rồi!
Điệp: Lan có đọc chưa?
Lan: Dạ … rồi!
Điệp: Mà Lan có đọc kĩ chưa?
Lan: Nè! Nhăn nheo hết vầy sao hỏng kĩ
Điệp: Vậy, vậy Lan có hiểu được lòng tôi không?
Lan: Hiểu chứ sao không. Nhưng mà … ác quá à! Tui hiểu bụng người ta mà người ta hỏng hiểu cho cái bụng dạ của tui.
Điệp: Đó là vì tui muốn Lan không phải buồn phải khổ.
Lan: Nếu không muốn cho tui khổ sao còn biên thơ nói vậy, mà hồi nào tới giờ, có khi nào tui mở miệng than thở với ai đâu. Khi biết … biết cha mẹ hai nhà đã hứa với nhau.
NAM XUÂN:
Thì tui như cuộc đời tui đã gởi trọn cho người … ta.
Coi như yên phận rồi dù hỏng có nói ra.

Từ mấy năm qua,
Khi gần nhưng lúc xa.
Dù chưa có nói lại nói qua,
Nhưng đã coi như một nhà,
Tui coi bác như mẹ già,
Tui nghĩ anh cũng thiệt thà,
Ai dè! Người ta cũng tính gần tính xa.
Điệp: Lan! Tui, Tui cũng thương Lan hết dạ hết lòng,
Nhưng sợ Lan khổ Lan buồn,
Khi có một tấm chồng,
Tương lai thật là tối tăm.
Lan: Cái chuyện tương lai ai mà biết được,
Vui sướng hay buồn phiền cũng do số phận mà thôi.
Hay là tại tui dốt nát quê mùa,
Nên người ta bày điều đặng đổi thay”.


- Ở tiểu thuyết, khi Điệp nhắc đến ông phủ Trần và việc sắp phải thọ ơn ông thì bà Cử và Điệp qua hỏi ý kiến của ông Tú và Lan với những tình tiết hết sức cặn kẽ.
Còn ở cải lương, Loan Thảo đã chuyển sang cảnh Lan vô tình nghe cuộc nói chuyện của mẹ con Điệp, nên nàng thấy lo âu mơ hồ, như một điềm báo không tốt mấy. Sự thay đổi ấy do quy định về thời lượng. Sự thay đổi, cắt bỏ ấy hợp logic, người xem cảm thấy rất hợp lí. Và nỗi lo của Lan với câu nói gỡ: “Nếu có chuyện gì chắc tui chết quá à! Chắc tui đi tu quá à!” như một dự báo, như lời để “câu” khán giả, họ sẽ chờ xem ở phần tiếp theo Lan có như thế nào? Nàng có đi tu hay không? (Đây cũng là một trong những “chiêu thức” của các soạn giả, tác giả cải lương).

- Tình tiết ông phủ Trần bắt gặp Điệp ngủ với Thúy Liễu,
ở tiểu thuyết thì “ông đi vào trong buồng … - Nhưng rồi ông ấy lẳng lặng đi ra”. Sau đó, ông gởi bức thư nhờ Điệp mang về cho bà Cử, và ông dùng mọi cớ để đuổi người làm trong nhà, tạo cho Điệp có việc làm. Ông dùng ông cả Tòng để làm đầu mối chứ không nói trực tiếp với Điệp về việc gả Thúy Liễu. Sau một thời gian, ông để cho Điệp đã thọ nhiều ơn ông, ông mới hỏi Điệp về việc Thúy Liễu. Để ông so sánh giữa ông và ông Tú ai là người giúp đỡ Điệp nhiều hơn. Mọi việc đã rồi, Điệp không còn cách nào khác là phải cưới Thúy Liễu. Ở đây, tâm trạng của Điệp luôn day dứt, khổ tâm bởi thời gian kéo dài, từ đêm ngủ với Thúy Liễu rồi đối diện thái độ, hành động của ông phủ Trần càng làm cho Điệp thêm thấp thỏm. Lá thư của ông phủ Trần, lá thư của Thúy Liễu càng làm Điệp thêm rối bời. Chuỗi thời gian kéo dài như đưa người đọc mang tâm trạng cùng chung với Điệp.
Ở cải lương thiên về kịch tính, cao trào nên đã cắt bớt đi nhiều chi tiết trong tiểu thuyết. Khi ông phủ Trần bắt được Điệp ngủ với Thúy Liễu thì ông bà phủ xông thẳng vào để hò hét, mắng chửi Điệp:

“Trời ơi là trời… khốn nạn không? Chúng tôi ăn ở với cậu tử tế mà cậu sống chó má thế à?”.

Ông bà đã đến nhà Điệp, đám cưới đã diễn ra. Điều này phần nào cho thấy các chi tiết tạo ra sự khác nhau giữa đặc trưng của hai thể loại. Nhân vật ông Phủ trong tiểu thuyết có tình tiết như trên là vì Nguyễn Công Hoan muốn nhấn mạnh vào sự nham hiểm, độc ác của bọn quan lại và những kẻ giàu có lúc bấy giờ.

- Khi Lan hay tin Điệp với Thúy Liễu sắp làm đám cưới,
ở tiểu thuyết thì Lan bình tĩnh được thể hiện ở chương IX – THÔI, TỪ NAY …. Lan mang thuốc sang cho bà Cử và gặp Điệp, hai người cùng trao đổi ở phía sau nhà. Ở đây ta thấy Điệp với tâm trạng rối bời, áy náy, muốn giải bày mọi chuyện mong Lan thông cảm cho mình, còn Lan rất tỉnh táo, hỏi Điệp cặn kẽ từng chi tiết. Điệp khóc trước, sau cuộc trao đổi Lan có rơi vài giọt nước mắt:

- Không phải là ích kỷ, vì cậu làm yên cả gia đình tôi. Cậu hy sinh chữ duyên mà báo đáp thày tôi ở chỗ đó. Rồi tôi quên cậu; tôi quên cậu rồi.

Câu nói như tự an ủi mình, để Điệp nhẹ lòng, đừng vướng bận gì mình mà hãy đi cưới vợ, nhưng cũng đầy tâm trạng. Thái độ cố tỏ vẻ bình tĩnh của Lan làm cho Điệp cảm thấy hoang mang:

“Điệp không rõ bụng Lan với mình ra sao, sao lại có cái thái độ lạnh lùng nhưng lại chứa chan vẻ đằm thắm làm vậy? Lúc nghiêm, lúc khóc, vậy thì Lan có tin chàng mà thương hại tình cảnh chàng chăng?

Hay Lan nghe ông Chánh án mà giận dữ chàng? Nhưng giận hay thương, Điệp cũng không còn hi vọng gì nữa”.

Còn ở cải lương, thiên về biểu diễn với tiếng khóc, lời ca để phục vụ khán giả, Loan Thảo đã chuyển sang hình ảnh cô Lan với vẻ mềm yếu, nàng đã khóc rất nhiều khi hay tin người mình yêu sắp đi lấy vợ. Đặc biệt với sự thể hiện của NSND Lệ Thủy, với cách diễn ca trong diễn, với những đoạn nghe nức nở, làm rung động trái tim người thưởng thức

“Nói:
Điệp: Lan! Em!
Lan: Thôi! Tui nghe hết rồi, tôi biết hết rồi, anh đừng có nói gì nữa hết, tui khóc đây nè hỏng thấy sao, mà giọt nước của tui bây giờ có nghĩa lý gì đâu, có ăn nhầm gì tới ai nữa đâu.
Điệp: Lan! Em khóc đi! Em khóc nữa đi! Mỗi giọt nước mắt rơi là vơi đi trong lòng em một phần nào buồn tủi. Nếu dòng lệ kia bôi xóa được kỉ niệm của thời gian, nếu bảo rằng em hãy quên đi thì thật đau xót cho tui. Còn bằng muốn em còn nhớ là là cả đời em vương khổ lụy.
Vọng cổ câu 4/. Nhưng thôi Lan ơi em hãy quên đi chớ nhớ làm chi cái con người phản bội. Bao nhiêu tiếng yêu thương còn âm vang trong gió ân nghĩa nặng oằn vai mà đã vội vong … tình. Lan ơi!
Tui biết nói làm sao cho em hiểu được lòng mình. Trong khi đối với Lan tui là người bạc nghĩa, còn đối với bác Tú bên nhà tui là kẻ vong ân. Hạt cơm ơn cơm nghĩa còn dính ở kẻ răng, tiếng nói lời thương còn âm vang hơi thở. Trời ơi! Tui là một kẻ ngu si khờ dại, đã làm nát lòng Lan và gây khổ lụy cho bao người.
Lan: 5/. Tui nè! Tui mới ngu chớ người ta đâu có ngu có dại, người ta ngu sao người ta biết kiếm vợ giàu vợ giỏi, biết chọn cho mình một tương lai sáng sủa tốt tươi. Còn tui, tui coi như cuộc đời đã gởi trao, nên cả ngày thui thủi, chiều lo chuyện nhà sáng gánh hàng ra chợ, mà mắt không dám nhìn một chàng trai, tai không dám nghe một lời nói ngọt … ngào. Sáng ở bên nhà lo cho cha bát nước, chiều qua bên ấy hầu hạ mẹ miếng trầu. Ngày ngày bấm đốt ngón tay ngày ngày chờ đợi mong buổi nắng hè sợ lúc mưa thu. Nhưng từ nay hết sợ lá vàng rơi, thôi mong con ve sầu trên cành me cao giọng hát, có ai về nữa đâu mà tui chờ tui đợi, mà ra bến nhớ mong rồi hờn giận con đò.”
Lệ Thủy & Trọng Hữu - Trích đoạn Chuyện Tình Lan Và Điệp

- Thái độ của ông Tú khi hay tin Điệp sắp phải cưới Thúy Liễu ở hai tác phẩm khác nhau:
Ở tiểu thuyết thì ông Tú có lúc tỏ vẻ giận hờn, trách mắng Điệp khi đọc được lá thư Điệp hồi âm Thúy Liễu. Đó cũng là sự phản ứng tự phát của con người, thử hỏi ai mà không giận dữ, đặc biệt là ông Tú, một người đã từng cưu mang, giúp đỡ Điệp và hy vọng sau này Điệp sẽ làm rể mình, lo lắng cho con của mình. Nào ngờ lại hay tin Điệp đã trót ngủ với Thúy Liễu và đọc được những dòng tâm tình ngọt ngào dành cho Thúy Liễu. Ở đây, Nguyễn Công Hoan đã nêu ra cặn kẽ mọi chi tiết, và thể hiện được tâm lí của ông Tú một cách thật nhất. Dù có thông cảm cho Điệp vì mọi sự đã rồi, nhưng cũng có những lúc dâng lên nỗi buồn bã, giận dữ.
Còn ở cải lương, soạn giả Loan Thảo đã khắc họa một ông Tú hết mực yêu thương, lo lắng cho gia đình Điệp. Khi ông bà phủ Trần đến cho hay chuyện xảy ra giữa Điệp với Thúy Liễu, ông Tú bình tĩnh khuyên Điệp và thắp hương trước bàn thờ ông Cử để rút lại lời giao ước năm xưa, để Điệp bớt đi phần nào áy náy mà đi cưới vợ. Hình ảnh ông Tú trong cải lương được phác họa với một chiều tâm lí, luôn thông cảm, yêu thương, lo lắng cho Điệp.

- Trong tiểu thuyết, sau khi Điệp làm đám cưới với Thúy Liễu thì trong đêm tân hôn Điệp đã nhận một lá thư không để tên người gởi, với nội dung là Thúy Liễu đã có mang với người khác.
Còn trong cải lương thì không có chi tiết này.
Cũng như chi tiết khi Điệp về sống cùng Thúy Liễu, chàng trồng lan để nhớ người xưa, chi tiết này được thể hiện trong tiểu thuyết, còn trong cải lương thì không có.

- Khi Điệp cưới vợ, cả trong tiểu thuyết và cải lương đều có chi tiết Lan gởi thư cho Điệp.
Nếu ở tiểu thuyết thì lá thư ấy Thúy Liễu bắt gặp và chửi thậm tệ,
thì ở cải lương, tác giả và đạo diễn đã dàn dựng đậm chất trữ tình. Điệp đọc thư Lan, với cách dàn dựng để cho NSND Lệ Thủy hát và NSƯT hát với cách đối thoại, và lồng vào đó cảnh phục hiện về những kỉ niệm của Lan và Điệp từ ấu thơ cho đến lúc trưởng thành. Người thưởng thức vừa nghe được lời ca với nội dung trong thư, vừa hiểu được tâm trạng của Điệp trong lúc này và hiểu thêm về được những kỉ niệm đầy thơ mộng của Lan và Điệp.

- Được biết Lan đi tu Điệp tìm đến chùa gặp Lan.
Trong tiểu thuyết, Điệp đến nhìn thấy Lan đang khâu áo, Lan nghe thấy tiếng chó sủa và nhìn ra ngoài. Thấy Điệp Lan vội chạy vào trong chùa, lúc này:

“...Điệp vẫn nắm lấy dây chuông, co tay lên định giật rõ mạnh. Nhưng bỗng chàng đờ tay, thần người ra nghĩ, rồi nét mặt ngùi ngùi…

Tự nhiên hai dòng nước mắt lóng lánh bò xuống má, chàng thở dài:

"Thôi, nhưng lửa lòng của Lan đã tắt, đã chôn ở nơi từ bi tĩnh mịch này rồi, ta gợi chi cái đống tro tàn cho thêm đau đớn?"

Rồi buông phắt dây ra, chàng quả quyết đi rõ nhanh, không quay mặt lại nữa”.

Chi tiết này dường như Điệp cố gắng kìm nén nỗi đau và cảm xúc của mình khi biết Lan không chịu gặp.
Nhưng trong cải lương tính kịch nổi lên rất rõ, không có chi tiết chó đuổi cắn, và Điệp ở đây cầm dây chuông kéo liên hồi, trong lúc đó Điệp đã giãi bày được nỗi oan trong lòng mình. Và còn thêm hành động Lan dùng con dao cắt đứt dây chuông rồi mới chạy vào chùa.

- Cái chết của Lan là kết thúc đầy bi kịch cho mối tình của Lan và Điệp.
Ở tiểu thuyết, Nguyễn Công Hoan đã mở ra cho Điệp một tương lai có vẻ rạng rỡ hơn, Điệp và Thúy Liễu đã ly dị, mỗi người đi mỗi ngả, Điệp học y khoa và trở thành bác sĩ, lo cho Xuân em trai của Lan học tập. Và sau này Điệp là bác sĩ đã chăm sóc cho Lan trong những giây phút cuối đời sau mười lăm năm kể từ ngày Lan vào chốn thiền môn. Điệp bên Lan trong những giây phút cuối đời là một bác sĩ, chăm lo tận tình người mình yêu sau mười lăm năm.
Còn trong cải lương thì, sau khi Điệp cùng vợ về quê nhà thăm mẹ, thì nghe ông Tú cho hay Lan lâm trọng bệnh, Điệp vội vàng lên chùa, mặc vào áo cà sa để giả làm nhà sư vào thăm Lan. Và đoạn cuối này, với bài bản “Tứ Đại Oán” qua sự diễn xuất của NSND Lệ Thủy đã lấy đi biết bao nước mắt của người thưởng thức. Và bài “Tứ Đại Oán” này đã đi vào lòng công chúng mộ điệu cải lương, khi mà trong các cuộc thi, các thí sinh thường chọn đoạn này để thể hiện phần thi của mình. Trích đoạn bài bản “Tứ Đại Oán”:

“Bạch Thầy! Con không phải là Vũ Khắc Điệp, mà tên thật là Nguyễn Thị
TỨ ĐẠI OÁN (6 câu)
1/. Lan. Vì đứt đoạn mảnh tơ lòng,
2/.Tìm vào đây, vui mõ sớm với chuông chiều.
Mong lãng quên nỗi khổ sầu của mối tình ly tan.
3/.Tình đã xa, tơ đã dứt tự lâu rồi.
Nhưng, bóng trăng bao lượt khuyết đầy mà sầu chưa nguôi.
4/. Nay, biết con không còn sống được bao lâu
Nên, khúc nôi xin bày tỏ cùng thầy
5/. Xin thầy, cảm thương cho kẻ nặng sầu đau.
Mà ban cho lời tha thứ tội
6/. Ở xa xôi, người xưa có biết cho lòng
Anh Điệp! Anh có hiểu nỗi khổ đau đang oằn nặng lòng Lan.”

Cách sử dụng bài bản của Loan Thảo đã tạo nên sự thành công cho vở diễn. Soạn giả đã rút ngắn thời gian thay vì sau mười lăm năm so với tiểu thuyết, nhưng người xem không cảm thấy hụt hẫng mà trái lại thấy rất logic. Vì Lan buồn bã chuyện tình duyên, vào chùa để mong lãng quên nhưng rồi không quên được, tâm bệnh đã làm héo mòn thân xác.

- Trong tiểu thuyết kéo dài và có thêm những tình tiết: Điệp sau này chán ngán mối lương duyên hờ với Thúy Liễu đã li dị, sống một mình và tu tâm học hành thành một bác sĩ giỏi. Thúy Liễu lấy ông Hoàng Xuân Long và sinh được bốn đứa con là Thằng Vũ, thằng Ly, thằng Quy và thằng Phượng. Nhưng thằng Vũ con đầu lúc nào cũng bị cha mẹ nó chửi mắng và đánh đập… đến một ngày nó quyết tìm ra sự thật và đi tìm cha đẻ nó. Thằng Vũ tìm đến Điệp, Điệp đã giúp thằng Vũ tìm ra cha nó là là Tư Kềnh. Nhiều lần đến chùa gặp Lan nhưng không được, mãi đến mười mấy năm sau từ ngày chia ly mới đưa được nàng về nhà chữa bệnh, nhưng cũng là phút Lan lìa đời bỏ lại một mối tình đầy ray rứt.

Từ sự so sánh về dung lượng và tình tiết trên chúng ta thấy với đặc trưng của mỗi thể loại khác nhau nên về mặt dung lượng và tình tiết hai thể loại tiểu thuyết và video cải lương cũng khác nhau.
Ở cải lương, người thưởng thức được xem một vài không gian với một vài khung cảnh có giới hạn,
còn ở tiểu thuyết thì đọc thỏa sức tưởng tượng với nhiều cảnh vật theo sự miêu tả của nhà văn cũng như theo dòng cảm xúc của nhân vật.
Nhưng sức hút của vở cải lương lại ở những tình tiết kịch tính và những câu hát ngọt ngào làm người xem không thể rời mắt khỏi màn hình, đặc biệt đoạn cuối của vở cải lương.
Như vậy, ta thấy sự đóng góp lớn của nhà văn Nguyễn Công Hoan trong việc sáng tạo ra tác phẩm văn học cũng như trên cơ sở đó với sự chuyển thể của soạn giả Loan Thảo, Thế Châu chỉnh lí, và sự tham gia ca diễn của các nghệ sĩ,
tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” đã trở thành video cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp” cũng là một thành công lớn.



2.3. Ngôn ngữ:

2.3.1. Về phương ngữ:

Hai tác phẩm ra đời ở hai không gian khác nhau, hai thời điểm khác nhau nên sẽ dẫn đến những điểm khác nhau về phương ngữ do tính chất đặc trưng của mỗi thể loại.
“Tắt lửa lòng” ra đời ở miền Bắc, cho nên cảnh vật, con người của vùng đất ấy đã được nhà văn Nguyễn Công Hoan đưa vào tác phẩm một cách với những nét đặc trưng của miền Bắc. Điều dễ nhận thấy nhất là ở phương diện phương ngữ.
Cải lương là sản phẩm của vùng đất Nam bộ, mặc dù lấy cốt truyện từ tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” (ra đời ở miền Bắc), nhưng Loan Thảo đã chuyển hoàn toàn những nhân vật ấy trở thành những con người của vùng đất Nam bộ. Các nói chuyện, xưng hô mang đậm chất của người dân Nam bộ. Chúng ta có thể điểm qua một vài nét khác nhau của hai thể loại chịu ảnh hưởng của phương ngữ:

Chẳng hạn như:

Tắt lửa lòng Chuyện tình Lan và Điệp
- Thưa đẻ, thành ra con cứ làm cho đẻ lo nghĩ về con mãi.
(đẻ: mẹ)
- Má ơi, con mời về nè.
(má: mẹ)
- Bẩm ông, con hỏng !
(hỏng: trượt)
- Dạ…! Cháu rớt rồi bác.
(rớt: trượt)
- Kìa cậu Điệp đã về đấy à? Điệp quay lại vui vẻ chào rồi đáp:
- Vâng, tôi được nghỉ hè.
- Ủa, Điệp! Cháu mới về à?
- Dạ! Thưa bác, cháu mới dề.
- Chết chửa! Cậu có trông thấy cái gì đấy kia không?
(Chết chửa: chết chưa)
- Dạ, hổng phải ba ơi !
(hổng: không)


2.3.2. Ngôn ngữ độc thoại: (độc thoại nội tâm)

Độc thoại nội tâm là phát ngôn của nhân vật nói với chính bản thân, trực tiếp phản ánh quá trình tâm lý bên trong; kiểu độc thoại thầm, mô phỏng hoạt động suy nghĩ, xúc cảm của con người trong dòng chảy trực tiếp của nó. Ngôn ngữ độc thoại được sử dụng nhiều trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng”, trong vở cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp” thì kiểu ngôn ngữ này ít được thể hiện rõ nét. Đây là ưu thế nổi bật của tiểu thuyết so với cải lương. Với bút pháp diễn tả nội tâm nhân vật, Nguyễn Công Hoan cho ta thấy được những dòng suy nghĩ ở sâu thẳm tận đáy lòng của nhân vật mình.

- Ở phần THÔI CÒN CHI NỮA MÀ MONG, có nhiều đoạn nhân vật Điệp trải qua nhiều suy nghĩ xoay quanh việc mình bị hỏng thi, nhân vật vừa buồn vừa lo lắng, tâm trạng rối bời, buồn vì mình học hành thế nào để bị hỏng thi, nghĩ đến mẹ mình vất vả khổ cực nên cảm thấy thương mẹ, lo lắng vì Ông Tú và Lan đang kì vọng rất nhiều ở kì thi này, họ biết chắc buồn lắm. Đoạn diễn tả những suy nghĩ nội tâm của nhân vật Điệp về hoàn cảnh gia đình và hoàn cảnh của bản thân mình.

Điệp học bốn năm trời, rất chăm chỉ ngoan ngoãn, nhưng đến ngày thi bằng Cao Đẳng Tiểu Học thì hỏng. Điệp hỏng thi.

"Thế thì làm thế nào?"

Câu nói ban nãy lại như văng vẳng bên tai Điệp, khiến chàng phải bồi hồi, lau mồ hôi trán.

"Thế thì để lại vất vả một ít lâu nữa. Thế thì ta lại phải lo lắng tới kỳ thi tháng chín này. Thế thì ta lại chưa báo hiếu đẻ được. Thế thì Lan lại phải nghĩ ngợi vì ta. Thế thì làm thế nào được!"

- Ở phần X, nhân vật Điệp bị vu oan và bắt phải lấy Thúy Liễu, có đoạn:

Nhưng không bao giờ Điệp quên ông Tú, thỉnh thoảng chàng lại tự an ủi mà nghĩ rằng:
“Mình hy sinh hạnh phúc để trả nghĩa ông Tú vì nếu mình lấy Lan, ông Tú sẽ bị hại”
Còn nhiều đoạn khác trong tác phẩm mà chúng tôi không liệt kê ra hết được, chỉ xin chọn lấy một vài đoạn tiểu biểu để làm rõ cho phần ngôn ngữ độc thoại của nhân vật.
Nhiều đoạn độc thoại nội tâm như trên ở cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp” chỉ xuất hiện có một đoạn ngắn với nội tâm của Điệp sau khi đám cưới với Thúy Liễu xong, mẹ anh về, lúc này Điệp nghĩ về Lan với những dòng tâm sự của mình.
Điệp: Lan ơi! Anh có lỗi với em nhiều lắm!
Lan: Anh Điệp! Em muốn theo bác Cử đến dự đám cưới để góp vui chúc mừng vợ chồng anh hạnh phúc. Nhưng ….
Điệp: Lan! Lan ơi! Em đừng nói vậy em ơi!
Lan: Chắc con Xuân có nói cho anh nghe, em đứng nép bên nhà để được nhìn rõ hạnh phúc của anh và Thúy Liễu.
Điệp: Lan ơi! Anh khổ lắm! Anh khổ lắm Lan ơi! Tại sao hai đứa mình nhìn nhau như vầy mà tầm tay xa dịu vợi quá vậy Lan?
THỂ ĐIỆU CHIÊU QUÂN:
Lan: Sông Ngân … Hà, ngăn đôi bờ chia biệt,
Điệp: Trời ơi! Đau quá Lan ơi!
Lan: Đã hết rồi giấc mơ đầu tươi đẹp,
Điệp: Anh đau hận, cơn say rượu đã giết chết yêu đương. Lan! em có hiểu cho anh không Lan,
Lan: Thôi chia biệt một cuộc tình ly Lan,
Anh đi cưới vợ, em câm lặng nuốt nghẹn tiếng giao thề.”
Ngôn ngữ độc thoại được sử dụng nhiều hơn ở thể loại tiểu thuyết, ở video cải lương được sử dụng rất ít, tùy vào trường hợp, hoàn cảnh.


2.3.3. Ngôn ngữ đối thoại:

Ngôn ngữ đối thoại biểu hiện sự giao tiếp qua lại (thường là giữa hai phía) trong đó sự chủ động và sự thụ động được chuyển đổi luân phiên từ phía bên này sang phía bên kia (giữa những người tham gia giao tiếp); mỗi phát ngôn đều được xuất phát từ phát ngôn có trước và là phản xạ lại phát ngôn có trước ấy.
Thuận lợi nhất cho ngôn từ đối thoại là các kiểu tiếp xúc không mang tính công cộng; là kiểu trò chuyện giản dị bằng khẩu ngữ, là không khí bình đẳng về tinh thần và đạo đức giữa những người phát ngôn.
Đặc trưng cho ngôn ngữ đối thoại là sự luân phiên của các phát ngôn ngắn, của những người phát ngôn khác nhau. Tuy vậy, yếu tố đối thoại cũng có mặt ở lời nói của một người khi được kích thích bởi nét mặt và cử chỉ, như những tín hiệu, thông điệp, của người cùng trò chuyện. Xét về ngôn ngữ đối thoại trong thể loại tiểu thuyết và loại hình cải lương thì ta thấy do đặc trưng của mỗi thể loại mà nó được diễn đạt theo hình thức khác nhau. Tiểu thuyết ngoài những lời đối thoại trực tiếp của nhân vật thì phần nhiều là lời của nhà văn. Ta lấy một đoạn trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” và một đoạn trong cải lương làm rõ cho điều vừa nói ở trên:

phần III – SỰ TÌNH CỜ, hai nhân vật Điệp và Lan tình cờ gặp nhau, họ ngồi trò chuyện với nhau về lá thư mà hôm trước Điệp có gửi cho cô, Điệp cảm phục tình yêu cao quý mà Lan dành cho mình.

Lan cất nón, né mình, vén áo, cùng ngồi phệt. Từ thuở bé đến giờ Điệp mới được ngồi cạnh một người yêu khác máu và khác giống, nên lại thấy nao nao trong lòng. Chắc Lan cũng chẳng được tự nhiên như ngồi bên cạnh bạn gái. Hai người ngồi im lặng một lúc lâu, tuy chẳng nhìn nhau, nhưng hai trái tim đập theo một nhịp. Độ năm phút, Lan giục:

- Cậu nói gì?

- Cái thư hôm nọ, cô có đọc kỹ không?

Lan không trả lời, móc túi lấy ra tờ giấy đã nhàu và bóng những mồ hôi, nói:

- Đây, sao tôi không đọc kỹ?

- Vậy cô có hiểu bụng cho tôi không?

Lan thấy Điệp nghiêm sắc mặt, bèn không trả lời, co chân lên, tựa cằm vào đầu gối, tay rứt cái cỏ gà. Điệp lại hỏi:

- Vậy có hiểu bụng cho tôi không?

- Tôi hiểu lắm, nhưng...

Đến tiếng "nhưng" thì Lan ngắc lại, không nói được nữa, mà một giọt nước mắt rơi xuống ngọn cỏ. Rồi Lan ôm mặt nức nở khóc.

- Nhưng... nhưng cậu ác quá.

- Cô Lan ơi!

- Cậu không hiểu bụng tôi!

Câu nói từ đáy lòng nọ thấm thía đáy lòng kia, khiếp Điệp thổn thức, cũng không cầm được lệ. Bốn dòng châu lã chã, chan hòa như làm trôi cả tư tưởng oán hận. Một lát, Điệp lau nước mắt, tủm tỉm nói:

- Tôi không muốn cô khổ.

- Tôi không muốn cậu khổ một mình.

- Tôi không muốn cô phải khổ vì tôi.

- Thế nào là khổ?

- Khổ là không được sung sướng!

- Thế nào là được sung sướng?

- Được sung sướng là không phải khổ!

Nghe câu nói giằng co như kéo cưa, bỗng hai người cùng bật cười, tình tứ nhìn nhau, cái buồn bây giờ thật tiêu tan hết...

Nhưng loại hình cải lương thì ngược lại, trong cải lương chỉ toàn lời thoại trực tiếp nên ngôn ngữ đối thoại được sử dụng xuyết suốt từ đầu đến cuối.

Chúng tôi trích lấy một cảnh trong vở mà chúng tôi đã so sánh ở phần khác nhau về tình tiết, chỗ Điệp hỏi Lan và lá thư chàng gởi, có sử dụng bài Nam Xuân. (Phần III.2.2.2)

Trong phần ngôn ngữ đối thoại này, cải lương không chỉ dừng lại ở đối thoại theo kiểu nói chuyện qua lại mà còn thể hiện qua lời hát, lời của phần hát cũng là lời đối thoại trực tiếp của hai hay nhiều nhân vật.

Ta thấy rằng so với tiểu thuyết, cải lương có nhiều hình thức thể hiện ngôn ngữ hơn, nhân vật có thể vừa nói, có thể vừa hát, kèm theo điệu bộ cử chỉ nên nó đến với người tiếp thụ nhanh hơn. Như vậy, ngôn ngữ đối thoại được sử dụng ở cả hai thể loại, nhưng ngôn ngữ đối thoại được dùng nhiều ở thể loại video cải lương hơn so với thể loại tiểu thuyết.



2.4. Nhân vật:

2.4.1. Số lượng nhât vật:

Do khi chuyển thể sang thể loại cải lương, soạn giả Loan Thảo đã cắt bỏ một số tình tiết từ tiểu thuyết, chỉ giữ lại những tình tiết quan trọng và thay đổi một số tình tiết nhỏ. Do đó, số lượng nhân vật khi chuyển thể sang cải lương cũng có sự thay đổi. Chúng ta sẽ theo dõi sự thay đổi ấy qua bảng dưới đây:

STT “Tắt lửa lòng” “Chuyện tình Lan và Điệp”
01 Ông Tú, Lan, bà Cử, Điệp, ông bà phủ Trần, Thúy Liễu
02 Xuân – em của Lan (nam) Xuân – em của Lan (nữ)
03 Người hầu ở nhà Lan, hàng xóm của Điệp Không có
04 Vú áp, người hầu ở nhà ông phủ Trần Thằng hầu
05 Bà già ở chùa Chú tiểu ở chùa
06 Ông Cả Tòng, thằng Vũ, ba thằng Vũ, chồng và con của Thúy Liễu sau này. Không có



2.4.2. Tính cách nhân vật:

Do tiểu thuyết được viết ra từ chủ ý của nhà văn về cuộc sống xung quanh mình, và trong đó chứa đựng tư tưởng, tình cảm của nhà văn. Khi sáng tác hay chuyển thể cải lương, thì soạn giả vẫn muốn phản ánh cuộc sống quanh mình với những tư tưởng, triết lí từ đứa con tinh thần của mình, nhưng vẫn phải bị chi phối bởi các yếu tố về: số lượn đào kép hiện có, thay đổi làm sao cho thu hút người xem, chen thêm các yếu tố hài hước, cân bằng đất diễn cho các nhân vật của mình, xây dựng tính cách nhân vật sao cho phù hợp với thị hiếu của khán giả … Do đó tích cách của nhân vật có sự thay đổi khi chuyển thể từ tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” sang video cải lương “Chuyện tình Lan và Điệp”.

STT Nhân vật “Tắt lửa lòng” “Chuyện tình Lan và Điệp” Lí giải
01 Lan Mang tính cách con gái miền Bắc thời phong kiến: e thẹn, tế nhị, biết lo lắng, giàu đức hi sinh Mang tính cách của người con gái Nam Bộ: Bộc trực, thẳng thắn, yêu ghét rõ ràng Sự thay đổi cho hợp với tính chất của cải lương, của cô gái Nam bộ.
02 Điệp Tâm lí, tính cách của Điệp phức tạp và đa chiều. Chủ yếu là Điệp bị động nên đau khổ, bất lực, diễn biến tâm lí chưa bộc lộ sâu sắc như trong tiểu thuyết
03 Ông phủ Trần Nham hiểm, xảo quyệt hơn nhiều hơn so với cải lương. Nham hiểm và có sự cộng hưởng của bà vợ. Sự cân bằng vai diễn, để vai người vợ có đất diễn.
04 Bà phủ Trần Trong tiểu thuyết hơi mờ nhạt so với cải lương. Đã thể hiện nét đanh đá, gian xảo, và đây là vai độc pha chút hài hước rất hợp với cố NS Tô Kiều Lan.
05 Thằng Hầu (bếp Sạc) Trong tiểu thuyết là người sai vặt Do tính chất biểu diễn nên đã pha chút hài hước, và đây là người cho Điệp hay vụ cái thai trong bụng Thúy Liễu không phải là con của Điệp. Tăng thêm sự chú ý từ người xem, và yếu tố hài sẽ mang lại tiếng cười cho người xem, đỡ nhàm chán khi phải đối diện với cái bi trong suốt vở tuồng.

Tùy vào đặc trưng của từng thể loại, cùng sự ảnh hưởng của văn hóa xã hội trong từng thời đại mà tác giả hay soạn giả lựa chọn những chi tiết, hình ảnh, hành động, lời nói của các nhân vật trong tác phẩm của mình sao cho phù hợp và hiệu quả nhất.



2.5. Sức ảnh hưởng của hai tác phẩm:

- Tiểu thuyết là một thể loại của văn học dùng ngôn ngữ làm chất liệu chính.
Do đó khi tiếp nhận, người đọc phải cảm nhận bằng trái tim, bằng tâm hồn, và cũng đồng sáng tác với nhà văn.
- Video cải lương là loại hình giải trí, khi tiếp nhận chúng ta phải tiếp nhận bằng nhiều giác quan: thính giác, thị giác, …
Có “Tắt lửa lòng” mới có “Chuyện tình Lan và Điệp”.
Khẳng định tác phẩm văn học luôn trường tồn theo thời gian.







Cải Lương "Chuyện Tình Lan Và Điệp"

Lệ Thủy & Trọng Hữu