Ads 468x60px

.

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2025

Một đời văn lực lưỡng Nguyễn Công Hoan


Một đời văn lực lưỡng Nguyễn Công Hoan

GS. Phong Lê


Đã hơn một thế kỷ, tính từ những năm hai mươi cho đến nay, Nguyễn Công Hoan vẫn được nhắc nhở trong dư luận của nhiều thế hệ bạn đọc.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan. Ảnh: Internet.


Nguyễn Công Hoan bắt đầu được chú ý từ những truyện trong tập Truyện thế gian của Tản Đà Thư Cục năm 1922; rồi Kiếp hồng nhan, năm 1923; để trở nên nổi tiếng với những chuyện đời trong chuyên mục “Xã hội ba đào ký”, thời An Nam tạp chí cũng của Tản Đà đầu những năm ba mươi. Và đến hôm nay, sau bao nhiêu biến thiên xã hội, ông vẫn tiếp tục là nhà văn thân quen của nhiều thế hệ bạn đọc, trong số đó không ít người đã từng qua một tuổi trẻ hoặc tuổi học đường sớm biết đến Nguyễn Công Hoan, qua Bước đường cùng và các truyện ngắn được chọn lọc trong chương trình văn học ở nhà trường.

Cố nhiên ở mọi thời kỳ, sự quan tâm của bạn đọc đối với Nguyễn Công Hoan là có khác nhau. Nguyễn Công Hoan xuất hiện với một bút pháp lạ, một cách nhìn lạ, một giọng điệu lạ, hài và bi, cười cợt và nghiêm trang, đùa mà tỉnh táo, đã được báo hiệu ngay từ Kiếp hồng nhan (1923). Rồi Nguyễn Công Hoan với truyện ngắn và truyện dài, dồn dập và xen kẽ, chuyển dịch qua bao xu hướng nghệ thuật trong những năm ba mươi. Nhà văn muốn tỏ ra trung thành với chủ nghĩa hiện thực trào lộng trong truyện ngắn lại rất nghiêm trang, mực thước trong Tấm lòng vàng, Cô làm công...

Chủ nghĩa lãng mạn tưởng như xa lạ với Nguyễn Công Hoan, khi nhà văn cố tình trở về với các khuôn mẫu cổ điển, để chống lại Đoạn tuyệt của Nhất Linh, trong Cô giáo Minh, lại là người đẫm ướt trữ tình và nước mắt lãng mạn trong Tắt lửa lòngLá ngọc cành vàng. Thanh đạm u trầm trong một khí hậu hoài cổ nhằm dẫn dắt con người vào một thời xưa, trong lúc Bước đường cùng lại rất quyết liệt phanh phui, lật tẩy hiện tại - sách bị cấm mà thành danh to, năm ngàn bản hết veo và được in đi in lại nhiều lần...

Nguyễn Công Hoan, tóm lại, đó là người viết dường như muốn có một mục tiêu để trung thành, để chung thủy,
nhưng lại nhiều đổi thay, chuyển dịch và không ít giọng điệu. Có phải vậy chăng cùng lúc có ở trong ông vừa khách quan vừa chủ quan, vừa mới vừa cũ, vừa hoài cổ vừa cách tân, vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa cổ điển vừa tự nhiên và cả tự nhiên chủ nghĩa... Vậy là, phải chăng về cái gọi là “phức tạp”, qua con mắt người đương thời và hậu thế, thì xem ra Nguyễn Công Hoan cũng có mặt nổi danh không kém Nguyễn Tuân.

Nhưng rút lại thì cái lớn, cái duyên và có thể là cả cái may nữa, của Nguyễn Công Hoan là ở đâu và lúc nào ông cũng được quan tâm. Có thể nói ông là nhà văn chưa bao giờ bị quên. Ông là người thường xuyên được nhắc nhở. Quả là trong làng văn Việt Nam hiện đại, người có vị trí như Nguyễn Công Hoan không phải thật quá hiếm hoi. Nhưng có người danh đang như cồn, bỗng bị quên ngay. Có người rất thực tài nhưng chịu rất nhiều thăng trầm.

Có người chịu một số phận âm thầm thật lâu rồi mới sáng sủa dần lên. Còn ông, nhà văn Nguyễn Công Hoan thì lúc nào cũng là người hiện diện cùng độc giả. Tham gia cách mạng, hoạt động ở nhiều cương vị, cho đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp, trở về hòa bình, ông là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đầu tiên từ khi có Hội, năm 1957, cương vị ấy ở ông gợi nhớ chức danh Tổng thư ký Hội Văn nghệ của Nguyễn Tuân trước đó gần một thập niên trong Đại hội lần thứ nhất Hội Văn nghệ Việt Nam. Những chọn lựa của lịch sử và nghề nghiệp quả thật là tinh.

Nghề và nghiệp, danh và thực, quả đã tìm được sự hội tụ ở những người viết có bản lĩnh, có chân tài. Qua hai hiện tượng trên, ở hai cương vị đại diện: một cho chủ nghĩa lãng mạn, một cho chủ nghĩa hiện thực, tôi thấy thật thú vị về sự gặp gỡ của hai phong cách lớn trong văn học Việt Nam hiện đại.





Trong tác phẩm "Ngựa người và người ngựa" phản ánh những mặt trái của xã hội cũ.
Ảnh: VnExpress.


Nhà văn Chủ tịch Hội Nguyễn Công Hoan đã khẩn trương trở về với vốn sở trường của mình qua một loạt các tiểu thuyết dài dồn dập, hơn bất cứ ai, trong giao điểm những năm năm mươi và sáu mươi: Tranh tối tranh sáng (1956), Hỗn canh hỗn cư (1961), Đống rác cũ, tập I (1963) như là một sự tổng hợp và nâng cao, trong quy mô sử thi, để có thể đồng thời diễn đạt cho được cả hai mặt: mặt tối tăm bi thảm và mặt cách mạng của cuộc đời cũ.

Nguyễn Công Hoan - cây đại thụ của văn học hiện thực phê phán Việt Nam. Ảnh: Internet.


Mặt tối tăm, dường như hầu hết những gì ông đã viết trước 1945 có thể xem là một tập đại thành; còn mặt sáng sủa, mặt cách mạng của xã hội cũ thì có dễ đến bây giờ ông mới có chủ trương và có quyết tâm trong một nỗ lực nhận thức rất cao. Còn nhớ có lần ông nói:
“Tôi vẽ người xấu nhạy hơn người tốt. Bởi vì tôi vốn bi quan nên nhìn mọi vật bằng con mắt hoài nghi, chỉ thấy phía xấu. Phía xấu dễ nhập tâm hơn phía tốt”.
Vậy là có phải bây giờ mới là lúc ông thấy cần và ông có điều kiện thể hiện mình trên cả hai thái độ: phê phán và khẳng định.

Nhưng gắn cho được cả hai mặt đó vào một chỉnh thể, sao cho nó hữu cơ, cho nó nhuần nhị, có nhân và quả, hoặc vừa là nhân vừa là quả, có quan hệ và tác động theo cả hai chiều, thật là cả một sự nặng nhọc. Ấy là chưa nói những đòi hỏi theo “phép biện chứng” ở người đọc, theo lý luận về hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi nhìn cuộc sống trong quá trình phát triển cách mạng và khẳng định mặt đang lên của hiện thực, phải đâu dễ đáp ứng được, nếu nó không tìm được lối thuận trong tạng của nhà văn.

Thiên chức nhà văn: nói cho toàn diện về hiện thực, hướng con người về phía cái tốt cái thiện, là câu chuyện ta từng bàn đi bàn lại, nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Ai cũng mong đạt cái đích cao và xa ấy. Nhưng đòi hỏi của cả một nền, cả một thời có khác với đòi hỏi riêng ở từng người. Và ở mỗi người, chuyện lực và tâm, và cả tạng nữa, có gắn bó hô ứng được với nhau không cũng còn phải tính. Một đời dài theo nghiệp văn, Nguyễn Công Hoan đã để lại cho ta một di sản lớn về nhiều mặt. Nhưng tôi lại nghĩ nếu Nguyễn Công Hoan biết chiều cái tạng riêng của mình và xã hội một thời dài cũng sẵn sàng chấp nhận, hoặc biết bao dung cái tạng ấy thì hẳn chắc sự nghiệp của ông còn lớn hơn, thậm chí lớn hơn rất nhiều. Ông cứ viết, tiếp tục với giọng trào lộng của riêng ông về cái cũ, cái ác trong xã hội cũ và cả về cái cũ, cái xấu trong xã hội mới nữa, cũng được chứ sao!

Chúng tôi là những người đọc hậu sinh trung thành và chuyên cần của nền văn chương quốc ngữ, chúng tôi càng quý trọng một trong những người đặt nền móng đầu tiên là Nguyễn Công Hoan. Cũng chính ông là người tiếp tục cần mẫn lần lượt leo lên nhiều tầng giàn giáo của công trường văn xuôi quốc ngữ Việt Nam. Một công trường thật sự là đông đúc, nhưng những bậc thợ cả trong số đó như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam. Khái Hưng, Tô Hoài, Nguyên Hồng... thì quả chưa phải là nhiều.

Còn chưa nhiều nên mới quý. Và càng quý khi tất cả họ, khi trong con số ít ỏi ấy ở họ, lại là những chân dung rất khác nhau, những gương mặt hoàn toàn không lẫn vào nhau.
Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn luôn nhớ đến một tiếng cười riêng, tiếng cười Nguyễn Công Hoan, tiếng cười gây cười, lập tức làm ta bật cười, cười không cản được, cười to lên hoặc tủm tỉm, nhưng rồi sau đó là một vị chát có lúc như nghẹn đắng, có lúc làm cay nơi mắt ta. Ngẫm ra thật là “sợ” cho ngữ ngôn, cho văn tự, cho chữ nghĩa Nguyễn Công Hoan: Oẳn tà roằn, Ngựa người và người ngựa, Báo hiếu - trả nghĩa cha, Cô Kếu - gái tân thời, Thế là mợ nó đi Tây...

Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn thấy sống động cả một thế giới người thật đông đúc và cũng thật là lúc nhúc trong văn ông: những phu phen, thuyền thợ, dân quê; những địa chủ, lý dịch, cường hào; những nghị viên, dân biểu, quan lại (huyện, phủ, bố, án, tuần...); những ký, lục, phán, tham; những con buôn, tư sản, chủ thầu; những giáo chức, nghệ nhân, viết văn, làm báo; những me tây, cô đầu, kép hát; những gái điếm, con sen, thằng nhỏ; những “ván cách”, lính cơ, thày quyền; những bồi, bếp, tây trắng, tây đen...

Nghĩ đến Nguyễn Công Hoan tôi nghĩ đến cả một gia tài truyện ngắn thật đồ sộ mà ông để lại; và truyện ngắn - đó mới chính là sở trường của ông, trào phúng mới là giọng điệu của riêng ông. Một thứ trào phúng rõ ràng là bắt nguồn từ gia tài dân gian và cổ điển, nhưng vẫn là rất riêng của ông, không lẫn với ai, và không ai bắt chước được. Hơn thế, đó lại là cái trào phúng xem ra không chỉ có một mà nhiều cung bậc; mọi cung bậc không phải tất cả đều thuận tai; nhưng khi một nhà văn được viết hồn nhiên theo thiên tính của mình, thì cái hồn nhiên ấy mới làm phát lộ ra biết bao tài hoa khiến cho ta kinh ngạc.

Thế kỷ XX ghi nhận tên tuổi Nguyễn Công Hoan - tác giả của hàng trăm truyện ngắn sáng giá - là người hiếm hoi, cùng với Nam Cao, Thạch Lam có công đưa thể loại dễ mà khó này lên một tầng cao thật siêu việt. Là người có một tiếng cười riêng thật đặc sắc trong một bối cảnh vốn lúc nào cũng rất cần có tiếng cười. Một cuộc sống tối tăm đau khổ, thật đáng khóc như cuộc sống trước 1945, vẫn cần có tiếng cười; đã có một chuỗi cười dài trong Số đỏ, lại có tiếng cười của Nguyễn Công Hoan, cùng tiếng cười trong thơ của Tú Mỡ, Đồ Phồn.

Cuộc sống mới sau 1945, dẫu có nhiều niềm vui lớn, đâu phải đã hết cần đến tiếng cười phê phán. Cái lý đó và sự thật đó, phải chăng ta nhận ra khá muộn, khiến cho một người biết cười, một người dám cười như Nguyễn Công Hoan thật đáng giá, thế nhưng lắm lúc ông đã phải nghiêm trang. Nguyễn Công Hoan, trong cả đời văn nói chung là một người may mắn, nhưng ông cũng có đôi lúc không may. Dẫu thế, trong di sản của ông, bên nhiều thứ đã bị quên, có một bộ phận sẽ là bất tử.


GS. Phong Lê




Thứ Năm, 23 tháng 1, 2025

“Vua tàu thủy Bắc Kì” Bạch Thái Bưởi qua con mắt nhà văn Nguyễn Công Hoan


“Vua tàu thủy Bắc Kì” Bạch Thái Bưởi qua con mắt nhà văn Nguyễn Công Hoan

Nguyên Phong
(sưu tầm và giới thiệu)


LTS:
Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam, quê ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Ông được coi là ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam. Di sản nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan có hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học với nhiều tác phẩm đã trở thành kinh điển của nền văn học hiện thực Việt Nam như: Người ngựa – ngựa người, Kép Tư Bền, Bước đường cùng, Đống rác cũ,… Cuốn sách “Nhớ gì ghi nấy” của Nguyễn Công Hoan được viết từ năm ông lên tuổi 70 và đến những năm cuối đời. Nhà xuất bản Tác phẩm mới đã tổng kết, những nội dung chính ông nêu trong cuốn sách gồm 3 nội dung chính:
1. Những việc xảy ra trong đại gia đình mà nhà văn có lẽ muốn cho con cháu biết.
2. Một số nhân vật (những tên Tây thực dân, quan lại, địa chủ, tư sản mại bản) mà tác giả nghe biết và ghi lại.
3. Những điều tai nghe mắt thấy phần nhiều vào đầu thế kỷ này khi nhà văn đương tuổi thanh niên. Đó là những ghi chép về Hà Nội, những nơi nhà văn đã ở, làm việc và đi qua.
Đặc biệt, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã dành nhiều trang sách nói về doanh nhân, “vua tàu thủy Bắc Kì” Bạch Thái Bưởi (1874 - 1932), người hơn ông 26 tuổi và là một trong những doanh nhân có tầm ảnh hưởng lớn nhất vào thời bấy giờ. Những trang viết của Nguyễn Công Hoan về Bạch Thái Bưởi là sự “nhớ và ghi”, là những thông tin dữ liệu lịch sử qua lăng kính của một nhà văn cùng thời với Bạch Thái Bưởi, trong đó có nhiều trang viết khen và cũng nhiều trang viết chê. Điều đó cũng phản ánh một thái độ, tinh thần rất khách quan, khoa học của Nguyễn Công Hoan khi viết về doanh nhân Bạch Thái Bưởi.

Tạp chí Công nghiệp tàu thủy Việt Nam xin trích một số đoạn trong cuốn sách nói về “Vua tàu thủy Bắc Kì” Bạch Thái Bưởi của nhà văn Nguyễn Công Hoan với mong muốn cung cấp thêm cho độc giả tư liệu về một nhân vật đặc biệt của ngành đóng tàu Việt Nam này.
Chân dung Bạch Thái Bưởi trên Nam Phong tạp chí


Hải Phòng có ông Nguyễn Hữu Thu, chủ tàu thủy. Ông này vừa làm nghị viên dân biểu, vừa làm Hội trưởng Hội Trí tri là danh nhân ở cảng. Người ta còn gọi ông là ông Thông Vôi. Thông, chắc là chức thông ngôn. Vôi, vì có dạo trong cơm tù, ông hòa vôi vào với gạo để thổi cho cơm nở. Thông Vôi thành tên không phải để chế nhạo, mà để gọi thường. Ông Thu cũng nhận cái tên nhân dân đặt cho mình, không ngượng ngịu, không xấu hổ.
*
Ông Thu thông gia với Bạch Thái Bưởi, một nhà triệu phú hồi đó, nối nghiệp về nghề buôn tàu thủy. Là thông gia vì hai người cùng giàu và cùng ở Hải Phòng. Nhưng hai người là địch thủ của nhau trong việc buôn bán cạnh tranh ghê gớm với nhau. Song, do là thông gia, ông Bưởi và ông Thu lại vẫn vay tiền lẫn của nhau. Không đến thăm nhau được, thì gọi điện hỏi thăm sức khỏe của nhau.

Một lần ông Thu gọi điện hỏi thăm sức khỏe của ông Bưởi, ông này trả lời: "Khổ quá, tôi đang lo món nợ cụ đến hạn mà không xoay đâu để trả đúng hẹn, nên đương ốm đây, cụ ạ".

Ông Thu chết, ông Bưởi biết giờ đưa đám, nhưng phải bảo thư kí rằng gần đến giờ thì nhắc. Đến giờ thư kí nhắc, ông Bưởi mải làm cho xong một việc. Làm xong, vội vàng mặc quần áo chỉnh tề, để ra xe đến nhà ông Thu.
Lúc ấy đám tang đã đi được một quãng.
*
(25-26) …

Bạch Thái Bưởi còn gọi là Kí Bưởi, vì có làm kí rượu (bán rượu cho côn ti độc quyền Phông Ten). Có người nói hồi ông mới buôn tàu, thì công ti với bà phán Thái. Vì vậy, mới đặt hai tên là TháiBưởi. Còn họ Bạch nghĩa là trắng, là không lấy họ riêng của ai. Ở tàu thủy, thường cắm cờ màu vàng, viền đỏ, có bốn chữ Bạch Thái công ti.

Ông này là tư sản dân tộc, có tài buôn bán, nhưng cũng có tài đi lừa.

Ngày nay, có một cuốn sách viết về tư sản Việt Nam, nói rằng ông Bưởi bị tư bản đế quốc chèn ép nên phá sản. Mình ngạc nhiên, cho là điều này mình không rõ, nên đến hỏi tác giả là ông Bưởi bị tư sản đế quốc chèn ép như nào, tác giả không trả lời được cụ thể. Mình thì biết về ông Bưởi khác kia. Thì ra ông tác giả này máy móc, theo quy luật đã viết trong các sách khác mà gán cho ông Bưởi bị nạn chèn ép. Song sự thực lại không phải như thế, nên ông tác giả không trả lời được câu hỏi của mình.

Những chuyện mà mình được nghe về ông Bưởi rất nhiều. Triệu phú hồi này rất hiếm, cho nên chuyện về ông Bưởi không mấy người không biết. Bạch Thái Bưởi lập nghiệp từ việc có tiểu bài bán rượu lẻ của công ti độc quyền Phông Ten, sau được lĩnh trưng bán rượu một tỉnh (Kí Bưởi là kí rượu tên là Bưởi).

Năm đặt đường xe lửa Nam Định – Thanh Hóa, ông thầu làm tà vẹt cho hãng xe lửa. Tà vẹt là khúc gỗ ngang để đặt đường sắt lên trên. Ông đặt mua tà vẹt của dân theo kích thước và giá cả mà đôi bên đã thỏa thuận. Nhưng không rõ mánh khóe về kích thước thế nào, hoặc dùng thước khi đo tà vẹt thế nào mà lúc dân giao tà vẹt cho ông thì không đúng kích thước đã quy định. Ông không lấy, trả lại người làm. Thế thì họ dùng tà vẹt làm gì, nên lại phải bán rẻ cho ông.

Thế là ông lãi được rất nhiều.

Những người làm tàu với ông Bưởi nói rằng không một ai dính dáng đến tiền nong với ông mà không bị lừa. Ông lừa từ một vài trăm, cho đến một vài hào. Ông có thầy cãi riêng. Tháng nào tòa án cũng phải xử một vài vụ kiện ông về tội ông đi lừa. Ông quỵt tiền thuê nhà hàng trăm, và lừa cả những người hàng nước, thuê đất trên bờ sông, bến tàu của ông, mỗi tháng 1 - 2 đồng. Hình như bệnh của ông là bệnh đi lừa. Tháng nào không lừa được ai thì ông không yên lòng. Thành thử bao nhiêu những người vào công ty buôn tàu với ông buổi đầu đều bị ông lừa suốt lượt. Rút cục, gọi là Bạch Thái công ti mà chẳng còn ai được chia lãi với ông.

Ông buôn tàu, mới đầu có vài chiếc nhỏ, như chiếc Yên Bái, mua lại của cô Tư Hồng (con me Tây đầu tiên ở Việt Nam). Sau, phát tài ông có tàu chạy Hà Nội - Nam Định, Hà Nội – Hải Phòng, Nam Định – Hải Phòng, Hà Nội – Tuyên Quang, Hải Phòng – Kiến An, Nam Định – Lạc Quần,… Ông lại đóng được chiếc tàu chạy biển, vào Bến Thủy, lấy tên là Bình Chuẩn.

Ở Bắc Kì, ông có tàu đi khắp các sông, cho nên ngày ấy Phạm Quỳnh chủ báo Nam Phong được ông thuê viết bài đăng báo để quảng cáo cho Công ti Bạch Thái đã tâng bốc ông là Vua Sông để so với các vua dầu hỏa, vua sắt ở bên Mĩ. Về việc này, ông thuê Phạm Quỳnh 500đ. Nhưng rồi chỉ trả có 300đ, nói rằng vì bài viết không đủ.

Việc này làm Lê Văn Phúc sượng mặt với Phạm Quỳnh. Lê Văn Phúc là chủ nhà in, in báo Nam Phong, đồng thời cũng là một trong năm người sáng lập báo Nam Phong. Phúc là em vợ hay em rể của Bưởi, mới đứng ra giới thiệu Bưởi với Quỳnh nên Quỳnh mới viết bài này. Ngày trước nhà in Lê Văn Phúc (16 Hàng Hài) cũng gọi là nhà in Kí Bưởi. Vậy Bạch Thái Bưởi cũng đã có thời kì mở nhà in, sau mới nhường nhà in cho Phúc.
Tàu Kí Bưởi ganh nhau với tàu hiệu. Tàu hiệu là tàu của chủ Hoa kiều. Nhưng do người Việt Nam mình giầu tinh thần dân tộc nên đi tàu Kí Bưởi. Tàu hiệu chỉ còn lấy việc chở hàng là chính. Việc này cũng dễ hiểu, vì hàng họ từ Trung Quốc sang ta, đổ ở Hải Phòng, nên các hiệu Hoa kiều ở Hải Phòng tải đi các nơi bằng tàu của người nước họ, chứ không bằng tàu Kí Bưởi.

Ngoài tàu Kí Bưởi và tàu hiệu, còn có tàu của Pháp, gọi là tàu Tây điếc và Tây cao, đi các sông, lại không sống bằng chở hàng và chở khách, mà sống bằng chở thư Bưu điện, nhưng được trợ cấp rất nhiều. Cần nhớ rằng, hồi Kí Bưởi mới có tàu chở khách, ông có đặt ở mỗi tàu một thùng quyên tiền. Không chuyến nào thùng quyên tiền không có tiền. Có lần có cả một tờ giấy 20đ.

Vì cạnh tranh với tàu hiệu về việc lấy khách nên thỉnh thoảng hai bên ganh nhau. Ganh nhau về chạy nhanh, ganh nhau về hạ giá vé. Từ Hà Nội đi Nam Định, khách hạng thường trả 1 hào. Hạng thường là hạng ngồi ở hai bên rìa. Vì ở giữa tầu là buồng rộng, có cửa đóng để che gió, gọi là sa lông, khách trả ba hào. Hai bên rìa thì có thể gió mưa hắt vào. Tàu hiệu không có sa lông, khách thuê chiếu nằm ngổn ngang trên sàn, bất cứ chỗ nào. Cạnh tranh thì sa lông không hạ giá. Nhưng hạng thường thì hạ giá. Khi thấy tàu Kí Bưởi hạ xuống 1 hào thì tàu hiệu cũng hạ theo. Rồi tàu Kí Bưởi không hạ thêm, mà biếu mỗi người khách một gói chè đáng giá 1 xu. Được ít lâu, hình như hai bên cùng thiệt hại, mới điều đình với nhau thế nào đó, nên giá lại như cũ.

Ngày hội đền Kiếp Bạc, Kí Bưởi cho tàu chở khách từ Hải Dương đi Kiếp Bạc để tranh khách với tàu hiệu. Bên tàu hiệu mất khách, mới hạ giá vé. Nhưng bên Kí Bưởi cũng hạ theo. Sau bên tàu hiệu quay quắt, mới nghĩ ra kế là thuê người làng ỉa bậy ở bến tàu Kí Bưởi. Qủa nhiên khách thấy bẩn, thì tàu Kí Bưởi có bớt khách. Nhưng Kí Bưởi nghĩ ngay cách đối phó. Ông mới thuê người dọn cứt là người làng ấy. Người làng với nhau thì khuyên bảo hoặc dọa nạt được những người ỉa bậy. Bên Kí Bưởi từ đó được sạch sẽ.

Hai tàu còn ganh nhau đến trêu tức nhau, rồi sinh ra thù hằn nhau.

Tàu Kí Bưởi tốt, chạy nhanh, nên mặc cho tàu hiệu nhổ neo trước. Đến lúc tàu Kí Bưởi đuổi kịp thì hành khách đứng ra mạn tàu để xem, cũng lấy làm khoái, nên được người ba toong, tức là người bẻ lái, xui là vỗ tay lên, cho bên tàu hiệu xấu hổ.

...

Kí Bưởi là người rất cương quyết, cứng rắn.

Người ta kể rằng con trai thứ tư của ông là Bạch Thái Tư được ông cho sang Pháp học. Ba người con lớn là Toán, Tòng, Đào không nối được nghiệp của ông, vì chúng chơi bời, kém nhân cách, nên ông chỉ mong về Tư. Một hôm đương làm việc, ông nhận được tờ điện báo, báo tin Tư chết. Xem xong, ông cho tờ điện báo vào ngăn kéo, tiếp tục làm việc cho đến lúc hết giờ.

Nhưng ông lại rất mê tín. Ông tin một người thầy bói ở Nam Định. Thấy nói tháng nào ông cũng nhờ bói xem tháng ấy, ông làm ăn thế nào. Cái ngày tàu ông bị đắm nhiều, chỉ còn chiếc Tự Đức là tốt, thì thầy bói xem quẻ nói rằng tàu Tự Đức đến hôm ấy, hôm nọ cũng sẽ bị đắm. Ông tức lắm, mới đánh điện, bắt tàu Tự Đức trở về Nam Định ngay. Và trước ngày thầy bói nói bị đắm, thì ông bắt đóng cọc xung quanh, lấy dây xích sắt và chão cột chặt tàu với cọc cho thật chắc chắn. Nhưng sáng hôm sau, có tin báo cho ông, biết là tàu Tự Đức đắm. Thì ra vì nó bị cột chặt quá, khi nước thủy triều dâng lên, nó không nổi rềnh lên được, nước mới ùa vào cả tàu.

Thầy bói còn nói ông giầu thế nhưng lúc chết sẽ không còn mảnh bát mà ăn. Ý nói nghèo rồi chết đói.

Việc ông bán tất cả tàu của ông cho hãng Sauvage (Xô Va) của Pháp không phải vì ông bị tư bản đế quốc chèn như cuốn sách đã quá sách vở, mà là vì ông đã nhìn rất xa. Dạo ấy ở Bắc Kì lác đác có phong trào ô tô buýt chở khách. Ông mới nhìn ngay thấy tương lai của ông. Tàu của ông chỉ ăn về chở khách, mà khách sẽ đi ô tô buýt vừa nhanh vừa rẻ. Ông mới đùn cái chết cho hãng Xô Va. Hãng này mua tất cả tàu của ông, trả cho ông một món trước, rồi sau trả dần mỗi tháng là 500đ. Tức là để chống lại số mệnh mà thầy bói đoán. Với món tiền này, ông đổi nghề ra Bí chợ, khai mỏ than. (27-37)

Bạch Thái Bưởi có điểm tốt là đã dùng Bùi Như Uyên, một người Đông du về nước nhưng bị lộ, và nuôi con thứ hai cụ Thượng Hiền là Nguyễn Thượng Khoa, cho sang Pháp học với Bạch Thái Tư. Nguyễn Thượng Khoa hiện ở bên Pháp, không về nước. (Tr.522)

….

Bài viết trích dẫn từ cuốn sách: “Nhớ gì ghi nấy” của Nguyễn Công Hoan, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1998, 770 trang.



Nguyên Phong
(sưu tầm và giới thiệu)






Tàu (sà lúp- chaloupe) Phi Hổ - một trong những phương tiện thuộc đội tàu thủy vận chuyển của doanh nhân Bạch Thái Bưởi


Một ma-két quảng cáo của hãng vận tải Bạch Thái Bưởi trên báo chí thời Pháp thuộc năm 1924


Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2025

Các nhà văn được miêu tả như thế nào?


Các nhà văn được miêu tả như thế nào?

Vương Trí Nhàn


Xuân Diệu từng có hai câu thơ được nhiều người nhắc nhở:

Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ.

Trong nhiều truyện ngắn, Nam Cao cay đắng kể lại tình thế bất lực và nông nổi dễ bị bắt nạt của người cầm bút.

Văn sĩ An Nam khổ như chó – Nguyễn Vỹ đã nói huỵch toẹt ra như vậy trong bài Gửi Trương Tửu.

Trong văn chương Việt Nam thế kỷ XX vậy là có cả một mạch sáng tác, ở đó, các nhà văn viết về chính mình. So với văn học trung đại, nay là lúc chẳng những chủ đề này được khai thác thường xuyên, mà có một điều quan trọng hơn, những ảo tưởng vốn gắn liền với văn nhân xưa được khắc phục. Sự sáng tạo được kéo xuống phàm trần. Ở đó, một mặt vẫn có cái vẻ thiêng liêng, song mặt khác, nó cũng hiện ra với tất cả cái vẻ lam lũ, vất vả vốn có. Cái tinh thần hiện đại đã chi phối các nhà văn trong việc nhìn nhận con người nói chung tới đây lại tiếp tục gây ảnh hưởng.

Những sự quá đà và những điều chính

Nếu trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, cùng lúc thấy sự ngự trị của cả hai khuynh hướng là lý tưởng hoá đời sống (thường gọi là chủ nghĩa lãng mạn) và cực tả những mặt đen tối của đời sống (thường được mệnh danh là chủ nghĩa hiện thực) thì trong các sáng tác viết về nghề văn, hai khuynh hướng đó cũng đã có mặt.

Khi hình dung lại cuộc đời cầm bút của mình, Vũ Bằng gọi đó là Bốn mươi năm nói láo. Nhiều chuyện bất hảo của người làm nghề được ông kể lại rành rọt trong cuốn hồi ký: nào kéo bè, kéo cánh công kích nhau; nào lúc vội, cần có bài liền tán “vung xích chó”, và thi nhau nói dóc v.v…

Trong Đời viết văn của tôi, Nguyễn Công Hoan cũng cho thấy là nhiều lúc, ông xem giới văn chương như một cái chợ; và kể lại rằng, trước 1945, có những cây bút khiến người ta ghê sợ “như sợ hủi”.

Có điều, nên xem đây chỉ là một nửa sự thực. Ngay trong các hồi ký nói trên, các tác giả cũng đã trình bày ra một nửa sự thực khác: Vũ Bằng sau một đời lăn lộn với giới báo chí và văn chương vẫn hết sức tha thiết với nghề và ao ước nếu được làm người lần nữa, thì vẫn chọn nghề cầm bút. Nguyễn Công Hoan cũng cảm động ghi nhận trong hồi ký những kỷ niệm đẹp trong đời sáng tác, và tự thấy rằng đã hết lòng với sứ mạng của mình. Nên biết thêm là Nguyễn Công Hoan không chỉ là tác giả của những thiên truyện như Cái Tết của các nhà đại văn hào hoặc Cái lò gạch bí mật chế giễu sự ngây thơ của các đồng nghiệp, mà chính ông đã để thì giờ viết hẳn một cuốn tiểu thuyết như Trên đường sự nghiệp, trong đó, hình ảnh những người viết văn hiện ra hết sức lãng mạn.

Trong khi đó, một cái nhìn phải chăng hơn, mà cũng là cận nhân tình hơn, ưu ái hơn đối với giới sáng tác là tinh thần chính toát ra qua các thiên truyện như Mực mài nước mắt của Lan Khai, Những đứa con hoang của Nguyễn Tuân v.v…


Giữa mơ ước và hiện thực

Muốn tìm hiểu hình ảnh các nhà văn qua các trang sách được viết trong nền văn học cách mạng từ sau 1945, trước tiên, nên chú ý đến một sự thực có liên quan đến thể loại được sử dụng.

Một mặt, để có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước, mọi người cầm bút lúc này đều hiểu rằng phải có ý thức phấn đấu để trở thành những ngòi bút cao quý. Điều này được thể hiện rõ nhất trong các bài phát biểu mang tính cách chính luận thường xuyên xuất hiện trên báo chí.

Mặt khác, khi đi vào miêu tả bản thân giới cầm bút như những người lao động bình thường, thì người ta cũng có chủ ý phác hoạ hình ảnh của đồng nghiệp với tất cả vẻ sinh động vốn có của đời sống.

Hiện nay, chưa ai đứng ra sưu tầm đầy đủ các sáng tác loại này (tức là các thiên truyện, trong đó, người viết văn trở thành nhân vật trung tâm), song chỉ căn cứ vào một vài cuốn sách đã in, cũng đã có được những ví dụ chứng minh cho tinh thần nói trên. Chẳng hạn, đây là một tập sách mới in ra năm 2000 mang tên Truyện ngắn chọn lọc viết về các nhà văn.

Ở đây, người ta có thể bắt gặp Người kể chuyện thuê của Nguyễn Khải, Ghen của Ngô Văn Phú, Nạn văn chương của Nguyễn Phan Hách, Tình vờ của Phạm Dũng v.v… Truyện thì kể lại những ảo tưởng của người làm nghề, truyện thì phác hoạ cuộc sống nhếch nhác và những bươn chải kiếm ăn của họ. Đùa có, thật có, mơ màng đấy mà ứa nước mắt đấy!

Xin nhắc lại rằng, cả hai phương diện nói ở đây (mơ tưởng cao đẹp và thực tế hàng ngày lầm lũi như mọi người) gộp lại mới làm nên bộ mặt thực của các chủ thể sáng tạo hiện nay.



Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn – (st)





Thứ Năm, 2 tháng 1, 2025

Nhà văn Việt Nam đầu tiên viết những mánh lới ma mãnh trong vấn đề “huy động vốn” là ai ?


Nhà văn Việt Nam đầu tiên viết những mánh lới ma mãnh trong vấn đề “huy động vốn” là ai ?

Lê Minh Quốc


Đó là nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977). Từ thập niên 1930, ông đã viết truyện ngắn Bạc đẻ đăng hai kỳ trên Tiểu thuyết thứ bảy: Ông Cửu Ấu ở trọ nhà ông Trưởng Sắc có hành tung rất khả nghi, xài tiền như nước, thường hay vắng nhà.
“Song hễ ở nhà thì ông ta hay mượn chiếc chậu thau đồng lên buồng làm gì, để hàng hai ba tiếng đồng hồ, rồi khi dùng xong thì tự tay đem ra ao, lấy trấu và cát đánh cho thực sáng rồi mới đem trả. Ông ta có một tính khác người thường, là hễ ở nhà, thì không thích cho ai lên buồng riêng của mình. Có một lần ông đã mắng đứa đày tớ vô ý trước khi mở cửa vào, không đánh tiếng hoặc gõ cửa. Nhưng khi ông đi vắng thì tha hồ, ai vào cũng được, tuy đồ đạc, quần áo ông để bừa bãi, mà có một lần ông Trưởng sợ quá, cái va li của ông Cửu, trong để rặt những đồng bạc, mà ông quên không khóa”.
Rồi trong một lần chè chén say sưa, ông Cửu “vô tình” cho ông Trưởng biết là mình đang nắm giữ “công nghệ” làm cho bạc đẻ thêm nhiều, cứ một đồng thì đẻ ra một đồng! Mà bạc nó cũng ở cữ nên ông phải đi xa khi nó thụ thai, nếu ở gần thì bạc tịt lại, không đẻ được gì cả. Nghe “nhỏ to tâm sự” như thế, ông Trưởng nổi máu tham, đưa tiền cho ông Cửu làm cho bạc đẻ và đúng như vậy. “Tiếng lành đồn xa”. Sau đó, cả làng đều biết chuyện và ùn ùn đưa tiền cho ông Cửu.
“Cả làng, từ ông già cho chí trẻ con, ai cũng tấp nập rủ nhau đến nhà ông Trưởng để đưa bạc đi đẻ. Thôi thì có bao nhiêu bạc giấy, hào, xu, họ đổi thành bạc đồng và đánh cho thật bóng nhoáng. Ông Cửu mỏi tay biên sổ trong hai ngày, vì từ thằng khố dây trong làng, cũng cố cầm cố bán chác đồ đạc trong nhà để kiếm vài đồng bạc trắng. Ông chánh Bá, giầu nhất tổng, đưa đẻ hẳn năm trăm, mà còn tiếc vì vội quá, không kịp bán nốt mấy chục mẫu ruộng, ông lý Thới, ông lý Sang, ông phó Ung, ông cả Sích, vân vân, và những nhà có máu mặt, đều cùng nhau đưa hàng trăm; còn hạng đưa hàng chục, hàng đồng, thì tên biên vừa đen kịt hai mươi trang giấy. Khi cộng sổ, ông Cửu phải lắc đầu lè lưỡi nói với ông Trưởng:
- Sáu nghìn bảy trăm sáu mươi tư đồng, chà! Có lẽ tôi phải lánh đến bảy tám hôm chắc!
Ông Trưởng cười gượng:
- Chúng tôi chỉ dám phiền ông có lượt này nữa thôi đấy ông chịu khó vậy.
- Vâng, tôi có dám phàn nàn đâu!
Vừa xẩm tối, mọi người đã chen chân nhau vào nhà ông Trưởng để được xem phép lạ. Nhưng họ có được trông thấy gì đâu, vì phải đứng cả ở ngoài sân, mà ông Cửu thì ở tận trong buồng để làm việc. Hàng năm sáu giờ đồng hồ sau, bỗng ông Trưởng, vẻ mặt quan trọng như ông tướng chạy ra hè hô lớn:
- Bây giờ ai phải về nhà nấy để bạc dưỡng thai. Cấm không ai được dòm, vì nếu có hơi người lạ thì bạc tiểu sản, biến ra bùn mất cả. Ai không tuân lệnh mà làm hỏng mẻ này thì phải đền sáu nghìn bảy trăm sáu mươi tư đồng, một thành hai!
Mọi người thấy câu nói đều sợ thiệt đến của riêng, bèn kéo ồ cả ra về. Độ năm phút sau, sân nhà vắng vẻ, ông Cửu đi dò la chung quanh hàng rào, rồi một mình khênh bạc ra vườn, lúi húi làm nốt công việc.
Lúc chôn xong thì vừa hai giờ sáng, ông Cửu mệt nhoài, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, nhưng theo phép, ông phải lánh xa chỗ bạc dưỡng thai, nên ông vội vã khăn áo ra đi, và dặn lại ông Trưởng:
- Bốn giờ kém năm sáng thứ bảy sau, tôi sẽ trở lại. Trong chín hôm tôi không có đây, ông phải cấm không cho ai lai vãng ra vườn nhé!”
Thế là sau khi cầm gọn một số tiền lớn, ông Cửu... biến luôn!

Rõ ràng cái mánh này vẫn còn được các “đại gia” ngày nay áp dụng nhưng tinh vi hơn bội phần. Đó là các trường hợp tiêu biểu như Lâm Cẩu, Nguyễn Văn Mười Hai, Huỳnh Là v.v... đã huy động vốn trong nhân dân để kinh doanh với chiêu bài trả lãi suất cao hơn ngân hàng gấp nhiều lần, nhưng thật ra họ chỉ lấy tiền... người trước trả cho người sau! Đến khi đồng loạt các con nợ đến rút lại tiền mà các “đại gia” đã huy động thì... “bể mánh” là lẽ tất nhiên!
Và thêm một điều thú vị khác của truyện ngắn này, là khi ta liên hệ với hai vụ lừa đảo có “tầm vóc” xuyên lục địa vừa mới xẩy ra gần đây tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 3.1998, hai tên tội phạm quốc tịch Camơrun đã dùng “chiêu bài” rất hấp dẫn... “biến giấy trắng thành đô la”! Chúng đã lừa và “ẵm” trót lọt của ông Trần Chính Hưng - một doanh nhân người Hoa ngụ tại quận 5 là 100.000 USD.

Tương tự như vậy, vào ngày 15.7.2003, hai đối tượng tội phạm khác cũng quốc tịch Camơrun là Lata và Simo đã tìm đến ông Long - một Việt kiều đang làm ăn tại Việt Nam. Sau khi giả vờ trao đổi về một số phương thức để hợp tác kinh doanh thì chúng tiết lộ với ông Long rằng, chúng có một số lượng ngoại tệ rất lớn ở nước ngoài đã đưa vào Việt Nam. Do số tiền lên đến hàng triệu USD nên không thể đưa vào một cách hợp pháp, vì vậy, chúng phải ngụy trang bằng cách nhuộm trắng toàn bộ số đô la trên giống như những tờ giấy trắng và đóng thành một “kiện hàng”. Tuy nhiên, hiện chúng không đủ tiền mua một hóa chất đặc biệt để “tẩy rửa” toàn bộ “kiện hàng” này thành đô la. Nếu ông Long đồng ý cho chúng mượn tiền, thì sẽ được “trả công” 50% trong tổng ngoại tệ mà chúng đang có! Lời đề nghị quả là hấp dẫn. Để đưa “con mồi” vào tròng, chúng đã dẫn ông Long lên một khách sạn để tận mắt chứng kiến... “công nghệ chế biến đô la”! Qua một màn phù phép, chúng đã tặng không cho ông Long 5 USD xài chơi! Tin thật, ông Long đã cho chúng mượn trước 30.000 USD, nhưng với tinh thần cảnh giác nên cùng lúc ông đã bí mật báo cho công an. Lúc 16 giờ ngày 17.7.2003, tại một địa điểm trên đường Nguyễn Đình Chiểu - nhà riêng của ông Long, hai tên tội phạm này đã thao tác “tẩy rửa” 200.000 USD nhuộm trắng thành đô la thật.
Loại hóa chất mà chúng sử dụng thật ra rất đơn giản - sau này theo giám định của Bộ Công an - chúng hòa tan iốt, tức loại thuốc sát trùng rất rẻ tiền, có bán tại các nhà thuốc tây trong cồn ở nồng độ cao để trở thành dung dịch có màu nâu đen. Khi thả những giấy trắng được cắt bằng kích cỡ của tờ đô la thì chúng cũng “nhanh tay lẹ mắt” thả luôn vào tờ đô la thật. Tất nhiên cả thẩy đều bị nhuộm nâu đen. Xong, chúng vớt những tờ đô la thật bỏ vào trong xô nước có pha sẵn xà phòng, thì những tờ giấy bạc này trở lại sắc màu như cũ. Trò ảo thuật đã khiến người ngoài cuộc tưởng hóa chất đã tẩy rửa những tờ giấy bạc bị nhuộm trắng thành đô la thật. Quá trình thao tác này nhanh đến mức dù tận mắt chứng kiến, nhưng khó ai có thể phát hiện ra trò đánh tráo này. Khi Lata và Simo xếp từng tờ đô la “bàn giao” cho ông Long thì cũng là lúc công an ập vào bắt quả tang và giám định toàn bộ số tiền trên là... tiền giả!

Thì ra, với truyện ngắn “Bạc đẻ” nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng đã “dự báo” một cách tài tình những thủ đoạn lừa đảo của bọn tội phạm quốc tế trong thời đại mà chúng ta đang sống.



Lê Minh Quốc





PDF

Nghề làm xe tay


Nghề làm xe tay

Lê Minh Quốc


Người phu kéo xe do nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc vẽ
(báo Le Paria số 5 ra ngày 1.8.1922).


Có lẽ Tú Xương là nhà thơ trước nhất đưa chất liệu thực tế vào thơ: “Ông chồng thương đến cái xe tay”. Trước kia các quan nước ta thường đi ngựa, đi võng hay đi cáng. Sau Đốc lý Hà Nội Bonnal mua được bên Nhật Bản hai cái xe tay, một biếu quan Tổng đốc, một để dùng. Về sau, năm 1884, ông tham tá nhà Đoan là Ulysse Leneveu dù hưu trí, nhưng chưa vội về cố hương mà ở lại Hà Nội để kinh doanh. Ông sang Hồng Kông mua được 6 chiếc xe tay, vừa để cho thuê, vừa mướn thợ Việt Nam căn cứ vào mẫu mã có sẵn để sản xuất thêm. Mãi đến ngày 24.3.1887, ông Leneveu mới có được hơn 100 chiếc xe để cho thuê. Từ đó những người thợ của ta đã làm xe cho ông Leneveu cũng bắt đầu sản xuất loại xe này, hầu hết xe tay dùng bánh sắt. Chỉ có quan tuần vũ, quan tây mới dùng loại xe bánh cao su- mà người lính kéo thường mặc áo “kép nẹp”, đầu đội “nón gù”, đi chân không. Rồi mãi đến năm 1932 mới có tập phóng sự Tôi kéo xe của nhà báo trứ danh Tam Lang (Vũ Đình Chí) ra đời - mở đầu cho thể loại viết phóng sự ở Việt Nam. Nhân đây, ta đọc lại một đoạn ngắn trong tập phóng sự này. Một người “cựu binh” trình bày “kỹ thuật” kéo xe cho người mới vào nghề:
“- Kéo xe cũng là một nghề. Đã đành cầm đến cái tay gỗ thì ai cũng kéo, ai cũng đi, nhưng phải kéo làm sao, đi làm sao cho đỡ vất vả.
Tôi chắc bác chạy một cuốc xong, thể nào bác cũng phải thở dốc một hồi, lúc mới buông hai chiếc tay xe ra. Thế là không biết kéo rồi, người kéo thạo tuy cũng thở, nhưng không phải thở dốc ra như thế.
Làm cái nghề chạy quanh năm suốt ngày này, người đã không thể nhớn lên được, cứ cọc dần đi, nếu không biết chạy mà lần nào cũng thở hồng hộc như bò thì phổi mình phải yếu dần đi, rồi đến mắc ho mắc xuyễn. Ăn đã chẳng có gì béo bổ, ở cũng ở chui ở rúc, lại còn dãi gió dầm mưa, phơi sương phơi nắng, đến đá cũng phải ốm, đừng nói là người. Nhưng giời đã đầy vào kiếp ấy, cũng chẳng chống lại được với giời! Biết giữ được phần nào, hãy cứ hay phần ấy.
Nói đến đấy, chẳng biết cảm động thế nào mà anh Tư nhỏm dậy, cầm tích nước, tu thẳng một hơi.
Bây giờ thì anh ta ngồi, nhón chiếc kẹo bỏ vào mồm, nhai rau ráu rồi lại nói:
- Cầm hai chiếc tay xe lên, phải liệu xem khách ngồi chiều nào, định trước cho cân rồi hãy chạy. Người ta ngồi ngả vào đệm dựa, thì phải cầm dài, ngồi giữa đệm thì cầm giữa càng; ngồi tì đệm tai (hai cái đệm con để tựa khuỷu tay) thì cầm ngắn.
Trước khi chạy, phải dún càng xe lấy mực rồi hãy bước. Cầm tay xe, không nên cầm tay dài tay ngắn, vì lúc chạy ngoắt đường này sang đường khác, đà xe đang mạnh, mình giữ không vững, xe phải lật nghiêng.
Không nên ăn no, phải thắt chặt dây lưng; thắt lưng không chặt thì ruột vặn từ rốn đưa lên; ngon miệng ăn no thì bụng xóc. Lúc chạy, phải mím môi lại, chỉ được thở đằng mũi, đừng thở đằng miệng. Cầm hơi như thế, sức bao giờ cũng mạnh; hễ há hốc luôn miệng mà thở là thấy mệt liền. Giữ như thế cho đến lúc thật tức hơi thì há mồm thở phào ra một cái thật mạnh rồi lại phải mím miệng lại liền; lấy hơi vào, phải thở luôn bằng mũi. Xe dừng lại, khách xuống rồi, bấy giờ tha hồ thở, nhưng không nên ngồi nghỉ ngay. Phải bước một mà đi cho chân khỏi chồn, lúc thuận chân hãy ngồi nghỉ lại. Quạt cho ráo mồ hôi rồi hãy uống nước; uống nước vội vã chẳng đỡ khát, lại thêm mồ hôi...’’
Bài học vỡ lòng ấy, anh Tư giảng giải cho tôi nghe làm nhiều đoạn, nhiều hồi.
Mỗi điếu thuốc là một cái chấm xuống dòng. Mỗi chiếc kẹo là một cái chấm phẩy!”.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan có viết truyện ngắn “Người ngựa ngựa người” mà nhân vật chính cũng là người kéo xe... Riêng thi sĩ Tản Đà có viết “hài đàm” tựa Cái đòn cán và anh phu xe đọc thấy chua chát trong cái buổi giao thời thuở ấy:
“Có một anh phu xe nguyên ngày trước là phu cáng chuyển nghề. Từ ngày đi làm xe, anh ta hay học đòi nói năng kiểu mới. Một hôm anh ta định đem đòn cáng chẻ thành củi và nói rằng:
“Trước ta làm cùng mày thì hai đứa chỉ khiêng được một người mà cũng ì ạch. Giờ ta làm xe , một mình kéo được hai ba người mà lại chạy nhanh. Thế là văn minh, tiến bộ hơn”.
Đòn gánh liền đáp:
“Trước cùng tôi anh chỉ phải khiêng một nửa người. Bây giờ anh phải mang nặng gấp 4, 6 lần. Vậy mà đời sống và phẩm giá của anh chẳng hơn gì trước. Vậy thì văn minh, tiến bộ là phải, nhưng nên tiến lên làm người ngồi xe, và đừng làm người kéo xe”:
Đời thế anh ơi, thế cũng khoe,
Hết trò phu cáng lại phu xe!
Văn minh chừng mấy ki-lô mét?
Tiến bộ như anh nghĩ chán phè.


Lê Minh Quốc

Cảnh phu kéo xe tay trước khách sạn Morin (Đà Nẵng) năm 1900.

Cảnh phu xe trước khách sạn Métrpole (Hà Nội) trong thập niên 1920.


PDF


Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2024

Nhớ ‘Tinh thần thể dục’ của Nguyễn Công Hoan!


Nhớ ‘Tinh thần thể dục’ của Nguyễn Công Hoan!

Trân Văn

(Hình: Trích xuất từ VnExpress.net)
Cho dù thành tích của Đội tuyển Bóng đá nữ Việt Nam vượt xa Đội tuyển Bóng đá nam, nhưng các nữ cầu thủ chỉ được nhắc tới khi đạt thành tích vượt trội rồi... thôi!

Chủ tịch Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam vừa chúc mừng các thành viên Đội tuyển Bóng đá nữ của quốc gia giành được vé tham dự Vòng Chung kết Giải Vô địch Bóng đá nữ Thế giới (Women's World Cup) do FIFA tổ chức ở Australia và New Zealand vào năm tới, sau khi thắng Đội tuyển Bóng đá nữ của Đài Loan 2-1 (1).

Đây là lần đầu tiên trong bóng đá, Đội tuyển Việt Nam giành được quyền tham dự Vòng Chung kết của Giải Vô địch Bóng đá Thế giới nên chuyện chúc mừng là tất nhiên.

Tuy nhiên, nếu quan tâm đến bóng đá Việt Nam nói chung và bóng đá nữ ở Việt Nam nói riêng, người ta dễ ngơ ngẩn và ngậm ngùi về câu, từ của Chủ tịch Nhà nước...

Ví dụ Chủ tịch Nhà nước
... bày tỏ niềm vui, niềm tự hào của người hâm mộ Việt Nam khi dõi theo cả quá trình tập luyện và thi đấu, nhất là được chứng kiến những giây phút các cầu thủ bóng đá nữ Việt Nam làm nên chiến thắng, ghi dấu mốc lịch sử đối với nền bóng đá Việt Nam...

***

Cứ dùng Google với một số từ khóa, chẳng hạn “bóng đá nữ”và ”phân biệt đối xử”,... sẽ thấy thân phận của những phụ nữ yêu thích bóng đá và chọn con đường làm nữ cầu thủ bóng đá tại Việt Nam thế nào, bao nhiêu người thật sự... “dõi theo cả quá trình tập luyện và thi đấu” của Đội tuyển Bóng đá nữ Việt Nam như Chủ tịch Nhà nước vừa chúc mừng!

Cho dù thành tích của Đội tuyển Bóng đá nữ Việt Nam vượt xa Đội tuyển Bóng đá nam (ba lần Vô địch Giải Bóng đá nữ Đông Nam Á, sáu lần giành Huy chương vàng SEA Games dành cho bóng đá nữ, tám lần có mặt tại vòng bảng của Cúp Bóng đá nữ khu vực châu Á) nhưng các nữ cầu thủ chỉ được nhắc tới khi đạt thành tích vượt trội rồi... thôi!

Trước, nhiều người Việt từng lắc đầu khi tình cờ được biết nữ cầu thủ đội tuyển quốc gia thiếu đủ thứ từ trang bị cá nhân, tiện nghi tập luyện, đến ăn, ở, chăm sóc y tế. Giờ cũng thế. Sau khi các cầu thủ nữ Đội tuyển Bóng đá nữ của quốc gia giành được một vé tham dự Vòng Chung kết FIFA Women's World Cup 2023, một số người tiếp tục nhắc lại chuyện nhiều người đã biết, họ không có lương, mỗi ngày tập luyện được trợ cấp từ 60.000 VND đến 100.000 VND. Khi khoác áo đội tuyển quốc gia ra sân thỉ được trả thêm tiền ăn từ 90.000 VND đến 200.000 VND. Thu nhập bình quân từ ba triệu VND đến bốn triệu VND, cao nhất cũng chỉ từ bảy triệu VND đến tám triệu VND (2)...

Đó cũng là lý do các thành viên Đội tuyển Bóng đá nữ Việt Nam phải làm thêm nhiều nghề khác nhau để có thể tiếp tục làm... “nữ chiến binh áo đỏ”, để những viên chức hữu trách như Chủ tịch Nhà nước thỉnh thoảng lại nhân danh người hâm mộ bày tỏ... sự tự hào về tinh thần quả cảm, tinh thần của những “con cháu Bà Trưng, Bà Triệu”!

Sau những tuyên bố về cảm xúc... “tự hào” đó là gì? Hồi tháng 8/2019, một số cơ quan truyền thông chính thức ở Việt Nam tường thuật... những nữ cầu thủ - Đội Tân Vô Địch Bóng đá nữ Đông Nam Á hồi hương trong vắng lặng. Họ bảo với báo giới, họ không chạnh lòng vì đã... quen với chuyện này (3)!

Đầu tháng 3 năm 2020, vài cơ quan truyền thông chính thức nêu thắc mắc, tại sao Chương Thị Kiều không được sắp xếp để phẫu thuật sớm? Hai tháng sau khi bị chấn thương, nữ cầu thủ giữ vai trò Trung vệ, một trong những trụ cột của Đội tuyển Bóng đá nữ Quốc gia này vẫn phải chờ, trong khi chỉ một tuần sau khi bị chấn thương, hai cầu thủ khác của Đội tuyển Bóng đá nam Quốc gia đã được sắp xếp để đưa sang Nam Hàn và Singapore phẫu thuật (4).

Hôm 6 tháng 2 vừa qua, Chương Thị Kiều được bình chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trong trận đấu giữa Đội tuyển Bóng đá nữ Việt Nam và Đội tuyển Bóng đá nữ Đài Loan. Cô gái người Kh’mer này theo đuổi bóng đá từ năm 15 tuổi, đã bị chấn thương vài lần phải nghỉ tập luyện, thi đấu và kiếm sống bằng nghề làm tóc (5)...

***

Không phải tự nhiên mà kẻ viết bài này nghe Chủ tịch Nhà nước Việt Nam chúc mừng các thành viên Đội tuyển Bóng đá nữ Quốc gia lại nhớ đến... “Tinh thần thể dục” của Nguyễn Công Hoan (6)... Đại khái, vì... “Tinh thần thể dục”, tỉnh ra lệnh cho huyện, huyện chỉ đạo cho xã phải dẫn đủ 100 người đi xem đá bóng. Người Việt thời đó sợ đi xem đá bóng theo chỉ đạo do phải ăn mặc tử tế, vác cờ, cuốc bộ tới huyện, phải vỗ tay luôn luôn vì hôm ấy có nhiều quan khách nên họ... trốn hay hối lộ cho Lý trưởng để được ở nhà. Vào... ngày trình diễn “Tinh thần thể dục”, lý trưởng tuy tận tâm, cử tuần đinh lùng sục từng nhà, bới cả đụn rơm, bồ trấu, cót gio,... nhưng chỉ gom được 96 người!

Có một thời, “Tinh thần thể dục” được đưa vào sách giáo khoa để giúp học sinh nhận diện... chính sách lừa bịp, mị dân của thực dân, phong kiến. Nay, chẳng rõ “Tinh thần thể dục” còn trong sách giáo khoa hay không nhưng so cách hành xử với Đội tuyển Bóng đá nữ của quốc gia và Đội tuyển Bóng đá nam của quốc gia, có thể thấy, nguyên nhân dẫn tới lối xử sự “bên trọng, bên khinh” không phải là khác biệt trong nhận thức liên quan tới giới tính mà nằm ở chỗ, một bên có đám đông, một bên... không!


Trân Văn



----------------

Chú thích

(1) Chủ tịch nước chúc mừng Đội tuyển Bóng đá Nữ quốc gia lần đầu tiên giành quyền tham dự World Cup - vietnam.vnanet.vn

(2) Bài viết của Phan Châu Thành - FB

(3) Tuyển nữ Việt Nam trở về trong vắng lặng - vnexpress.net

(4) Chuyện tuyển thủ nữ 2 tháng chưa được phẫu thuật, tuyển thủ nam 1 tuần đã xong xuôi: VFF có phân biệt đối xử? - kenh14

(5) Tinh Thần Thể Dục - isach.info

Trân Văn là bút danh của một nhà báo có 28 năm làm việc ở nhiều vị trí khác nhau (Cộng tác viên, Phóng viên, Biên tập viên, Thư ký Tòa soạn) của một số đài truyền hình, đài phát thanh, nhật báo, tuần báo, báo điện tử tại Việt Nam và Hoa Kỳ. Các bài viết của Trân Văn là blog cá nhân và được đăng tải với sự đồng ý của đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm chính thức của chính phủ Hoa Kỳ.



Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2024

Phùng Văn Khai - Trần Đăng Suyền: Đối thoại về nhà văn Nguyễn Công Hoan


Phùng Văn Khai - Trần Đăng Suyền:
Đối thoại về nhà văn Nguyễn Công Hoan

Bảo Thơ (ghi)


Theo kế hoạch của Dự án sách “Thuật bút Xuân Cầu”, Ban biên soạn Dự án đã có chuyến đi về thăm mộ nhà văn Nguyễn Công Hoan và Nhà lưu niệm Tô Hiệu tại làng Xuân Cầu, Nghĩa Trụ, Văn Giang, Hưng Yên. Đây là chuyến đi vô cùng ý nghĩa và nhiều cảm xúc đã tiếp thêm động lực cho ban biên soạn có nguồn cảm hứng bất tận, tiếp nối các bậc đa đề để tạo ra những tác phẩm hay, có giá trị cống hiến cho quê hương, đất nước. Ngay sau chuyến đi đó, Ban biên soạn đã lên kế hoạch, sắp xếp lịch hẹn với Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đăng Suyền để có một buổi phỏng vấn sâu về nhà văn lỗi lạc Nguyễn Công Hoan.

Đoàn nhà văn viếng mộ nhà văn Nguyễn Công Hoan.


Nhà văn Nguyễn Công Hoan.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Xin kính chào GS.TS Trần Đăng Suyền! Thưa ông, chúng tôi vừa có một cuộc viếng thăm, dâng hương tại mộ nhà văn Nguyễn Công Hoan. Một nấm mộ nhỏ bé nằm trong khu nghĩa trang của làng Xuân Cầu rất đơn sơ, giản dị đã cho chúng tôi nhiều cảm xúc. Nhà văn Nguyễn Công Hoan là vị Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam đã để lại một kho tàng các tác phẩm đồ sộ. Cũng đã có hàng chục luận văn thạc sĩ, tiến sĩ làm về tác phẩm của nhà văn Nguyễn Công Hoan nhưng tôi cho rằng nhà văn Nguyễn Công Hoan vẫn phải tiếp tục được định vị, khẳng định vị trí, cái tâm và cái tầm của ông trong nền văn học cách mạng.
Vậy với tư cách và cương vị là nhà nghiên cứu văn học đương đại, ông đánh giá như thế nào về nhà văn Nguyễn Công Hoan?


GS.TS Trần Đăng Suyền: Xin cảm ơn nhà văn Phùng Văn Khai. Trước tiên chúng ta có thể thấy, vùng quê nào cũng có những đặc sắc riêng và đều có những chân giá trị từ lâu đời. Thế nhưng mà vùng quê sinh ra những nhà văn lớn thì phải là cái vùng quê có truyền thống văn hóa. Những vùng đất khác có thể sinh ra những nhân vật lớn ở những lĩnh vực khác nhưng đã là văn chương nghệ thuật thì phải là cái vùng đất có truyền thống văn hóa. Ý tưởng của các bạn tôi thấy rất hay là nói về vùng đất Xuân Cầu nơi sinh ra nhiều nhân vật nổi tiếng ở nhiều lĩnh vực, trong đó có nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan. Đấy là một cái cái hướng khảo sát mà theo tôi là rất đúng, rất trúng, rất là chuẩn xác.

Nói về nhà văn Nguyễn Công Hoan - ông là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của văn chương hiện thực Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Ông đã để lại một di sản lớn cho văn học nước nhà với hàng trăm tác phẩm và nhiều tác phẩm của ông đã gây tiếng vang lớn, thậm chí là gây chấn động trên văn đàn Việt Nam. Với tầm tư tưởng, tài năng lớn và những đóng góp lớn, tôi nghĩ rằng tên tuổi và nhiều tác phẩm của Nguyễn Công Hoan chắc chắn sẽ có một vị trí quan trọng, chắc chắn, vững vàng, trường tồn trong nền văn học Việt Nam và sẽ còn được tiếp tục nghiên cứu, giới thiệu rộng rãi, vang xa hơn nữa.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Vâng thưa ông, “Dư Địa Chí Xuân Cầu” đã cho thấy trong thời phong kiến có 13 tiến sĩ có tên trong bia Văn Miếu. Ở đó có những dòng họ truyền thống khoa bảng như dòng họ Nguyễn, dòng họ Tô, dòng họ Quản - ba dòng họ lớn nhất và có nhiều tiến sĩ nhất. Đối với nhà văn Nguyễn Công Hoan, chúng tôi cho rằng ông là một nhân vật lịch sử với những đóng góp về văn chương nghệ thuật và về các lĩnh vực khác nữa. Nhà văn Nguyễn Công Hoan nổi tiếng là một bậc thầy truyện ngắn trào phúng, vậy theo ông, đóng góp sâu sắc nhất của nhà văn Nguyễn Công Hoan với văn chương là gì? Và hiện nay chúng ta cần phải làm gì tiếp theo để tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của những đóng góp đó của nhà văn Nguyễn Công Hoan?

GS.TS Trần Đăng Suyền: Theo tôi, xét đến cùng, một nhà văn lớn, một nhà văn kiệt xuất là các tác phẩm của nhà văn đó phải mang dấu ấn của thời đại sinh ra nhà văn cùng với những tác phẩm bất hủ của ông ta. Mặt khác, điều ảnh hưởng đến những sáng tác của nhà văn chính là môi trường sống từ bé và hoàn cảnh gia đình, cái nét riêng của quê hương. Nhà văn Nguyễn Công Hoan hội tụ cả hai phương diện trên.

Ông là nhà văn của thời đại trước cách mạng, sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống văn hóa, truyền thống cách mạng. Bác ruột của nhà văn Nguyễn Công Hoan từng đỗ Phó bảng, từng làm Tri phủ, ngay từ lúc bé, Nguyễn Công Hoan được nuôi ở nhà ông bác và hằng ngày ông tiếp xúc với thế giới quan trường, lính tráng. Từ nhỏ, Nguyễn Công Hoan đã được nghe và thuộc rất nhiều câu thơ, câu đối và những giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm, đả kích tầng lớp quan lại. Điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách văn chương của ông sau này. Nhà văn Nguyễn Công Hoan còn có ba người em trai đều tham gia hoạt động cách mạng và giữ cương vị quan trọng là Nguyễn Công Miều (tức Lê Văn Lương) - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị - trưởng Ban Tổ chức Trung ương; Nguyễn Công Bồng - nguyên Phó Tổng Giám đốc Nha Công an và Nguyễn Công Mỹ - nguyên Tổng Giám đốc đầu tiên của Nha Bình dân học vụ. Có thể thấy, đây là một dòng họ lớn của đất nước ta có truyền thống gia đình, truyền thống văn hóa, truyền thống cách mạng rất đáng trân trọng và tự hào.

Nói về nhà văn Nguyễn Công Hoan, theo tôi ông là nhà văn mở đầu cho trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945. Đây là một trào lưu văn học lớn, rất tiến bộ và có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao. Sức sống của trào lưu văn học này sẽ còn lâu dài đối với lịch sử văn học dân tộc. Những nhà văn của thời kỳ hiện đại chúng ta nếu như muốn đi xa được phải nâng cao trình độ, bồi dưỡng tâm hồn bằng nhiều cách, trong đó có việc kế thừa và phát triển văn mạch dân tộc, từ những cây bút lớn của trào lưu văn học hiện thực phê phán mà trong đó có Nguyễn Công Hoan.

Văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930 - 1945 đã phản ánh chân thực và sâu sắc hiện thực xã hội đầy bất công, thối nát đương thời, thể hiện thái độ bất bình với thực tại, tỏ lòng thương cảm với những số phận khốn khổ của nhân dân lao động, bị dồn vào đường cùng. Trải qua những thử thách khắc nghiệt của thời gian, những tác phẩm của văn học hiện thực phê phán ấy đến nay vẫn nguyên giá trị và luôn có sức ảnh hưởng với văn học thời hiện tại và cả trong tương lai.

Tôi cũng là người nghiên cứu khá sâu và kỹ về trào lưu văn học hiện thực phê phán. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu văn học đều cho rằng: Trào lưu văn học hiện thực phê phán được chia làm 3 chặng đường. Chặng đường thứ nhất từ khoảng 1930 đến 1935, đã thấy xuất hiện những tác phẩm của các cây bút hiện thực với những tác phẩm bước đầu gây được sự chú ý như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, Tú Mỡ, trong đó tiêu biểu nhất là nhà văn Nguyễn Công Hoan với tập truyện ngắn xuất sắc Kép Tư Bền (1935). Chặng đường thứ hai, từ 1936 đến 1939, xuất hiện thêm nhiều cây bút tài năng như Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng,… trong đó, Vũ Trọng Phụng là tiêu biểu nhất. Chặng đường thứ ba, từ 1940 đến 1945, hàng loạt những cây bút trẻ đầy tài năng xuất hiện, trong đó tiêu biểu nhất là Nam Cao.

Như vậy, nói đến văn học hiện thực 1930 - 1945, người ta thường kể tên các nhà văn lớn như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng và Nam Cao, tiếp đến có thể kể tên nhiều cây bút hiện thực tài năng khác. Trong trào lưu văn học lớn này, Nguyễn Công Hoan có một vị trí đặc biệt, có đóng góp lớn. Ông là cây bút đặt nền móng, mở đầu cho chủ nghĩa hiện thực ở thể loại truyện ngắn. Ông đã sáng tạo ra một kiểu truyện ngắn rất độc đáo là truyện ngắn giàu chất kịch, truyện ngắn trào phúng. Mỗi truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Công Hoan giống như là cái màn hài kịch được viết bằng văn xuôi. Cũng có khi là những tấn bi - hài kịch. Càng đi sâu vào để mà lý giải vấn đề này thì càng rất thú vị.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Thưa ông, ông vừa chia sẻ về ba đỉnh cao của văn học hiện thực phê phán là nhà văn Nguyễn Công Hoan, nhà văn Vũ Trọng Phụng và nhà văn Nam Cao. Chúng tôi thấy rằng có một vẻ đẹp của ba ông là ba ông rất độc lập với nhau về cách viết và trong thời gian sáng tác của Nguyễn Công Hoan có những quãng song song với Tự Lực Văn Đoàn, thế nhưng Nguyễn Công Hoan vẫn độc lập. Ông đánh giá như thế nào về tư cách của nhà văn khi độc lập ngòi bút trong sáng tác, trong cuộc sống và sau này gần như nhà văn Nguyễn Công Hoan luôn rất nhất quán với tinh thần ấy?

GS.TS Trần Đăng Suyền: Chúng ta hiểu đây là vấn đề về cá tính sáng tạo, phong cách nghệ thuật, về bản lĩnh và tài năng của nhà văn. Nhà văn Nguyễn Công Hoan xuất hiện trong một bối cảnh văn học của ta lúc bấy giờ thiên về lãng mạn, sướt mướt, tình ái làm mủi lòng người. Khi độc giả không thích đọc những truyện như thế nữa người ta đòi hỏi văn học phải phản ánh sự thực ở đời, người ta thích những tác phẩm phơi ra những mặt trái của xã hội và nói về những vấn đề thân phận con người. Nhà văn Nguyễn Công Hoan đáp ứng được nhu cầu ấy và trào lưu văn học hiện thực ra đời là vì cái nhu cầu ấy.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan là người được học hành, được học tiếng Pháp đến nơi đến chốn. Thế nhưng, truyện ngắn, tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan hầu như không chịu ảnh hưởng gì từ văn học phương Tây. Những đề tài, những nhân vật, những cốt truyện, ngôn ngữ của ông đều lấy từ đời sống xã hội Việt Nam, đậm chất Việt Nam. Chúng ta thấy được bản lĩnh rất lớn của Nguyễn Công Hoan là ở chỗ, nếu ông có đọc những tác phẩm của văn học phương Tây nhưng không tiếp nhận một cách thụ động, không sao chép, mô phỏng mà tìm ra một lối đi riêng, sáng tạo ra một kiểu truyện ngắn riêng của mình, trên cơ sở kế thừa và phát triển truyền thống văn học của dân tộc.


Nhà văn Phùng Văn Khai: Thưa Giáo sư, chúng tôi có nhận định như thế này: Đối với nền văn học cách mạng thì Nguyễn Công Hoan giống như là người bắc cầu, chúng ta lấy dấu mốc năm 1945, trước đó chữ quốc ngữ cũng mới được sử dụng và chúng ta đã mau chóng có những tác phẩm văn học bằng chữ quốc ngữ, trong đó Nguyễn Công Hoan là tiên phong. Sau Cách mạng, nhà văn Nguyễn Công Hoan cùng với các nhà văn khác như Nam Cao vẫn tiếp tục đi theo hướng đó. Sau đó, Nguyễn Công Hoan được phân công làm Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đầu tiên, ông vừa sáng tác vừa gánh vác công việc quản lý văn học nghệ thuật ngày đó. Có thể thấy là không dễ gì để tập hợp anh em văn nghệ sĩ quây quần, sinh hoạt trong một tổ chức. Ông đánh giá như thế nào về vai trò của Nguyễn Công Hoan với cương vị là Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam?

GS.TS Trần Đăng Suyền: Nguyễn Công Hoan là nhà văn lớn, vừa có tâm vừa có tài. Với tài năng lớn, ông đã tạo được một phong cách nghệ thuật độc đáo. Truyện ngắn Việt Nam đến Nguyễn Công Hoan mới thực sự hiện đại, có vai trò mở đầu cho trào lưu văn học hiện thực phê phán. Có thể nói, ngay từ trước Cách mạng, Nguyễn Công Hoan đã là nhà văn lớn, uy tín văn học của ông đã rất lớn.

Như tôi vừa nói là gia đình Nguyễn Công Hoan có truyền thống văn hóa và truyền thống cách mạng đã tạo nền tảng để ông có thể viết được các tác phẩm để đời trong đó có tiểu thuyết nổi tiếng Bước đường cùng. Gia đình (các em ruột, các con trai), họ hàng, bè bạn của ông có nhiều người hoạt động cách mạng bị thực dân Pháp bắt giam, tù đày. Nhà văn Nguyễn Công Hoan viết trong Đời viết văn của tôi, ông viết Bước đường cùng là để “trang trải món nợ lòng đối với anh em cộng sản ở Nam Định”. Ấy là vì, khi dạy học ở thị xã Nam Định (bây giờ là thành phố Nam Định), ông đã tiếp xúc, gần gũi với các đồng chí Lê Văn Phúc, Lê Đức Thọ, những người đồng chí với người em ruột của ông là Lê Văn Lương. Sở mật thám thực dân cho ông là “một tay cộng sản nguy hiểm” và chuyển ông từ thị xã Nam Định - nơi tập trung nhiều thợ thuyền - ra hòn đảo Trà Cổ hẻo lánh. Nhà văn đã hối hả viết Bước đường cùng, chỉ trong 16 ngày (từ ngày 1 - 16/7/1938), trước khi bị chuyển ra đảo Trà Cổ. Cho nên ngoài những truyện ngắn xuất sắc thì Nguyễn Công Hoan còn để lại những cuốn tiểu thuyết có giá trị, trong đó có tiểu thuyết Bước đường cùng nổi tiếng, là một trong những đỉnh cao của tiểu thuyết hiện thực phê phán 1930 - 1945. Nhà văn Nguyễn Khải có lần nhận xét, đó là một trong những cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học.

Nguyễn Công Hoan là một nhà văn có nhân cách lớn, tài năng lớn, có uy tín lớn trong giới nhà văn. Không phải ngẫu nhiên mà năm 1957, Hội Nhà văn Việt Nam thành lập, Nguyễn Công Hoan được giao trọng trách là Chủ tịch. Tất nhiên, một con người tính cách như Nguyễn Công Hoan không bao giờ ham hố danh vị, chức tước. Thì chính ông viết trong cuốn hồi kí Đời viết văn của tôi, là ông “bị bầu làm Chủ tịch”. Nhưng ông là một con người đầy tinh thần trách nhiệm, ông đã hoàn thành trọng trách được tổ chức giao phó, đồng nghiệp tín nhiệm. Trên cương vị là Chủ tịch Hội Nhà văn, Nguyễn Công Hoan ông có công lớn và vai trò rất quan trọng tập hợp một đội ngũ nhà văn đi vào hoạt động và sáng tác, gắn bó sâu sắc với vận mệnh của đất nước, đưa văn học nước nhà tiến lên thêm một bước nữa.


Nhà văn Phùng Văn Khai: Thưa ông, chúng tôi quay lại câu chuyện đầu tiên là chúng tôi vừa mới về dâng hương mộ của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Tôi với tư cách là hậu sinh dẫn anh em văn nghệ sĩ trí thức đến đó dâng hương cụ. Tôi thấy ngôi mộ cũng rất khiêm tốn, đơn sơ nhưng do nguyện vọng của cụ là ngôi mộ nằm chung trong một dãy mộ của gia đình, điều này cũng phù hợp với văn hóa Việt Nam giản dị, khiêm tốn. Tuy nhiên, với những đóng góp của nhà văn Nguyễn Công Hoan, chúng ta cũng phải tính những bước lâu dài như xây dựng Nhà Lưu niệm Nguyễn Công Hoan, hoặc dựng văn bia về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của cụ. Bởi vì bây giờ đất nước và Hội Nhà văn Việt Nam cũng đã rất phát triển và khang trang, chúng ta hoàn toàn có đủ điều kiện để thực hiện những điều trên. Vậy theo ông, chúng ta đưa ra những bước đi rõ như vậy thì có cần thiết không khi thực hiện những công trình mang tính kỷ niệm, mang tính nhắc nhở, giáo dục, truyền thống về một nhà văn nổi tiếng, về một con người đã có những đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, đóng góp cho nền văn học một kho tàng tác phẩm như vậy?

GS.TS Trần Đăng Suyền: Nhà văn Phùng Văn Khai đặt ra một vấn đề theo tôi là rất hay và rất có ý nghĩa. Những tài năng lớn, những nhân cách lớn như Nguyễn Công Hoan thì những con người ấy người ta lại rất giản dị, khiêm tốn. Bản thân giá trị tác phẩm của những nhà văn như thế đã đi vào lịch sử văn học dân tộc, đi vào tình cảm của nhân dân, của đất nước là lẽ đương nhiên, cho nên những con người có chân giá trị như thế, người ta cần gì, người ta không bao giờ tự đề cao mình.

Không chỉ nhà văn Nguyễn Công Hoan mà cả các nhà văn như Nguyên Hồng, Nam Cao cũng đều sống rất là khiêm nhường, giản dị. Mục đích, lẽ sống của họ là bằng tâm huyết, tài năng, họ cống hiến những tác phẩm vô giá cho đất nước, cho dân tộc.

Nhà văn Phùng Văn Khai đặt vấn đề rất đúng, bây giờ chúng ta có điều kiện rồi và trong cái tình hình văn hóa như hiện nay thì đây chính là trách nhiệm của thời đại này, của những người biết tôn trọng và yêu văn hóa nghệ thuật. Chúng ta làm không phải là vì Nguyễn Công Hoan mà là vì nền văn học của dân tộc, để tạo địa chỉ cho những bạn đọc yêu quý văn chương, trân trọng giá trị văn học truyền thống của dân tộc ghé thăm, tỏ lòng tri ân thành kính. Đây là vấn đề rất lớn, giữ gìn rồi phát huy cái bản sắc văn hóa truyền thống cần có những việc làm cụ thể thiết thực và chúng ta nên làm càng sớm càng tốt.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Hôm nay, thông qua câu chuyện với GS.TS Trần Đăng Suyền, chúng tôi cũng thấy được sự hiểu biết, đánh giá công tâm và đặc biệt là những cái tư duy thông qua câu chuyện đã tạo nên tinh thần để chúng ta thực hiện những hoạt động về văn hóa văn học nghệ thuật bắt nguồn từ những hoạt động hữu ích nhất và những con người cụ thể nhất để từ đó góp phần làm giàu hơn cho văn hóa, văn học nghệ thuật, làm giàu hơn nhận thức và trí tuệ của lớp trẻ có được một niềm tin, nguồn tri thức, nguồn sức mạnh để chúng ta mạnh mẽ bước về phía trước.

Xin trân trọng cảm ơn giáo sư!




Bảo Thơ (ghi)

Toàn cảnh buổi phỏng vấn.



Thứ Tư, 18 tháng 12, 2024

Phương pháp tra tấn "Lộn mề gà"


Phương pháp tra tấn "Lộn mề gà"

Hội Sử Học Dân Lập Việt Nam


Xuất hiện dưới thời Pháp thuộc, từng được miêu tả trong truyện ngắn "Thằng ăn cướp" của nhà văn Nguyễn Công Hoan, đây là một phương pháp tra tấn khá đơn giản và dễ làm, gây đau đớn rất lớn cho phạm nhân

Đầu tiên phạm nhân sẽ bị ép nằm sấp xuống phản, chân duỗi thẳng, cơ thể phạm nhân sẽ bị giữ chặt làm cho không động đậy được. Hai tay sẽ bị đặt ép sát vào hai bên hông, người tra tấn sẽ từ từ nâng hai cánh tay phạm nhân lên theo phương thẳng đứng từ từ cho đến khi vuông góc 90 độ so với cơ thể, ép vào hai bên đầu. Có thể đi kèm trước khi tra tấn là một trận đòn đấm đá cực đau.


Đòn tra tấn này sẽ làm cho cơ ngực phạm nhân bị siết chặt, chèn ép lồng ngực khiến cho ngạt thở, kèm theo sẽ bị đau cơ dữ dội. Thực hiện trong thời gian dài có thể khiến nạn nhân thổ huyết, ngất. Nếu tra tấn quá tay có thể làm trật khớp vai.

Lộn mề gà được dùng rất phổ biến trong nhà tù thời Pháp thuộc, từ tội phạm cứng đầu, cho đến tù chính trị. Nó còn được kết hợp với các biện pháp khác như đi tàu bay, đi tàu ngầm, treo dây,... tạo lên một chuỗi tra tấn liên hoàn, khủng bố tinh thần phạm nhân

Nguồn:
- Truyện ngắn "Thằng ăn cướp" Nguyễn Công Hoan.
- Hồi kí Bùi Công Trừng.
- Những kí ức của Đồng chí Đỗ Mười.


Nhà tù Hoả Lò, một trong những nhà tù khét tiếng của Thực Dân Pháp


Thứ Hai, 16 tháng 12, 2024

Vì sao người Việt xưa đi chân đất (không mang giày dép)?


Vì sao người Việt xưa đi chân đất
(không mang giày dép)?

Chuyện Xưa


Nếu xem lại những hình chụp người Việt (người Pháp gọi là Annamite) thời cuối thế kỷ 19 hoặc nửa đầu thế kỷ 20, có lẽ nhiều người sẽ thắc mắc là hầu hết “dân thường” đều đi chân đất (không mang giày dép).

Có phải do thời điểm đó giày dép quá mắc tiền nên người dân nghèo không có điều kiện để mua? Điều đó cũng có thể đúng, nhưng lý do cốt yếu là trước khi Pháp tới chiếm Việt Nam, người Việt dưới chế độ quân chủ bị cấm mang giày, vì đó là đặc quyền của vua quan thời đó.

Theo ghi chép của bác sĩ người Pháp Baurac năm 1894, điều này được ghi rõ như sau:
Người An Nam thường không đi giày, và trước khi người Pháp tới Nam kỳ, giày bị cấm hoàn toàn với dân thường. Lễ nghi của người An Nam không cho phép người ta đi giày xuất hiện trước kẻ bề trên; phải để dép ở cửa và đi chân trần. Thói quen này có từ thời thơ ấu, khiến lòng bàn chân ai nấy đều chai sạn, đến mức người An Nam có thể đi trên đá và xuyên qua các cánh rừng đầy bụi rậm và bụi gai mà không hề đau đớn.
Sau khi Pháp chiếm toàn bộ Nam kỳ (1867), sau đó là toàn bộ Trung kỳ và Bắc kỳ, nhiều điều luật được ban hành dưới chế độ phong kiến được xóa bỏ, trong đó việc cấm người dân thường mang dép dĩ nhiên cũng được gỡ bỏ.

Trong một thời gian rất dài, người mang giày và người đi chân đất cũng là thể hiện sự khác biệt về giai cấp trong chế độ phong kiến.

Tuy nhiên do thói quen lâu đời đã ăn sâu vào lối sống của người dân, nên dù không còn bị cấm nữa nhưng vẫn còn nhiều người ái ngại mang giày dép, và việc đi chân đất vẫn còn kéo dài qua quá nửa thế kỷ 20. Thậm chí sang tới thập niên 1970-1980, trong các hình cũ sau đây vẫn thấy có nhiều người dân lao động đi chân đất.

Theo ghi chép của bác sĩ Baurac (có nhắc tới bên trên), thì dần dần người Việt cũng quen với việc mang giày dép để nhìn tươm tất hơn:
“Từ một vài năm nay, những người khá giả và nhiều người An Nam khác, chẳng hạn như thông ngôn, thư ký của Đổng lý Nội vụ… nhất là ở Sài Gòn đã mang tất và giày Âu châu; phụ nữ thuộc tầng lớp khá giả vẫn mang giày Trung Hoa”.
chuyenxua.net biên soạn

Quan mang giày còn người hầu đi chân không



Các bà trong Cung đi ra xem đua thuyền trên sông Hương thời vua Khải Định (12-1924). Các bà này có lẽ là người hầu (cung nữ), tất cả đều phải đi chân trần, giống như lính của triều Nguyễn, chỉ quan mới được đi giầy hay hài.


Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2024

Tổ nghề đóng giày


NGUYỄN THỜI TRUNG, PHẠM THUẦN CHINH, PHẠM ĐỨC CHÍNH, NGUYỄN SĨ BÂN -
Tổ nghề đóng giày

Trong "Dấu ấn khơi dòng văn hóa Việt"
Lê Minh Quốc

Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2024

Xưng hô trong giao tiếp vợ chồng nông dân người việt


Xưng hô trong giao tiếp vợ chồng nông dân
người việt

(Trên cứ liệu một số tác phẩm văn học giai đoạn 1930 - 1945)

KHUẤT THỊ LAN
(ThS; Đại học Sư phạm II, Hà Nội)