Ads 468x60px

.

Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2020

Tính kịch trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan


Tính kịch trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan

360 Độ Sách
Có thứ hạng trong văn đàn ở Việt Nam, Nhà văn Nguyễn Công Hoan có một phong cách riêng biệt khi các tác phẩm của ông phản ánh hiện thực chua cay thông qua cách nhìn rất "kịch" để làm nổi bật lên giá trị nhân văn muốn đề cập.



Thứ Ba, 1 tháng 9, 2020

"Bước Đường Cùng" Của Nguyễn Công Hoan - Xuân Vũ Hồi ức


"Bước Đường Cùng" Của Nguyễn Công Hoan

Xuân Vũ Hồi ức

Nguyễn Công Hoan trào phúng hình như bẩm sinh. Ông nhìn vật gì cũng với cặp mắt trào phúng. Không vật gì nghiêm túc cả. Đó là nét đặc biệt của nhà văn Nguyễn Công Hoan.

Nét đặc biệt thứ hai là (theo ông nói) ông không hề đọc sách, trừ sách giáo khoa, nhất là truyện. Hỏi tại sao? Ông bảo sợ viết trùng với người khác. Hay hơn hoặc dở hơn cũng đều bị chê là cầm nhầm.

Nét thứ ba: Nguyễn Công Hoan không bao giờ đi thực tế nông thôn hay nhà máy.
Nét thứ tư: Ông chữa trong khi viết. Viết xong là xong, đưa in chớ không có viết lại bản thảo thứ hai thứ ba.

Ông được hỏi trong trường hợp nào ông cho ra đời kiệt tác Bước Đường Cùng. Ông nói ông có nghe tí chuyện ở đâu đó rồi phát hứng lên, bỏ nhà đi đến một nơi im lặng, đóng cửa viết luôn mười lăm ngày xong đem về in. Ông viết trên giấy rời. Tờ nào không ưng ý thì rút ra viết tờ khác. Tôi có thấy bản thảo của ông. Chữ rất đẹp, trang nào cũng sạch nguyên, không dập xóa mù mịt như bản thảo của Tô Hoài.

Dường như trời phú cho ông cây bút, hễ viết là ra văn, không phải chữa. Nên nhớ, địa vị của ông đã tột đỉnh trước 1945 chớ không phải do đảng đào tạo.

Ông có nụ cười rất hóm. Ánh mắt tươi tỉnh sau mục kỉnh. Nhưng ít nói chuyện. Cơ quan cần họp đem xe đến rước ông đến, họp xong ông về, không mấy khi ở lại cơ quan lâu lắc. Dù là chủ tịch Hội Nhà Văn, ông cũng không giải quyết vấn đề gì cả. Nhưng tôi thấy hình như vào thời kỳ sau 54 thì ông cũng không thiết sáng tác.

Nguyễn Công Hoan tụt thang sau 1954. Ông viết rất thưa thớt, không có lửa. Ở Việt Bắc cũng thế. Độc giả tự hỏi: “Sao ông không có tiểu thuyết kháng chiến? Trong lúc đó thì trước 45, tác phẩm của ông chồng cao đến đầu?”.

Lúc ra Hà Nội tôi cố ý tìm những tác phẩm mới của những bậc tài danh cũ để đọc, một bữa đang ngồi trên ghế thợ cạo, tôi vớ nhằm tờ Trăm Hoa của Nguyễn Bính mới ra, thấy truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, viết theo hình thức những lá thư, nhân vật tên là Huyền. Đọc xong tôi thấy buồn. Không phải Nguyễn Công Hoan.

Trong lần đấu tranh đè bẹp Nhân Văn Giai Phẩm ở nhà hát lớn Hà Nội, đáng lẽ ông phải ngồi trên chủ tịch đoàn, nhưng không hiểu tại sao ông lại trốn xuống tận hàng ghế chót của hội trường mà ngồi?

Tôi nhớ chắc chắn không lầm, trong suốt mười năm ở Hà Nội, tôi chỉ đọc có một truyện ngắn của ông. Truyện Cây Mít dài chừng nửa trang đầu báo Văn Nghệ. Độc giả, nhất là đám mới tập tễnh vào nghề như tôi, mừng rơn: Lão Tướng lại ra quân. Nhưng không, sau Cây Mít, không có cây ổi, cây xoài gì nữa cả. Mảnh vườn văn học Hà Nội chỉ loe hoe vài ngọn cỏ...

Cây Mít lấy đề tài trong Cải Cách Ruộng Đất – Nội dung là một anh bần cố bị cướp đất trên đó có cây mít. Nhờ Cải Cách Ruộng Đất anh bần cố kia lấy lại được đất và hái quả chín chia cho gia đình vừa ăn vừa ơn bác ơn đảng. Chỉ có thế thôi. Tôi không thể kể hơn được vì Nguyễn Công Hoan chỉ ơn bác ơn đảng có thế. Tất cả nhà văn đều bị lưỡi dao xã hội chủ nghĩa thiến cụt, không riêng gì cụ Hoan.

Nói cho ngay hồi đó cũng không thấy ai in tác phẩm nào, trừ Tô Hoài. Xã hội chủ nghĩa đến đâu, hư hại đến đó. Xin công bình mà nói. Hồi còn kháng chiến thì xã hội chủ nghĩa còn sương mờ rơi chưa hiện rõ hình con quái vật. Về Hà Nội, nó hiện lên trên tường, trên ngã ba ngã tư, trong loa, trên báo với những chữ: yêu chủ nghĩa xã hội là yêu nước. “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”. Như vậy đó! Nhà văn không viết được. Nhà văn không được phép chế diễu xã hội chủ nghĩa. Đòn bút này chỉ dành cho kẻ thù. Mặc dù đảng có lắm cái đáng đem ra cho nhân dân cười cho vui đời. Nếu Nguyễn Công Hoan còn sống thì ắt cái vụ Cụ Hồ nhà ta có vợ có con sẽ được ông dựng thành một cái Oẳn tà Roằng xã nghĩa chớ không phải chơi. Còn cái lăng Bác kia có khác nào cái nhà mồ của Trần Văn Thừa trong Đống Rác Cũ của ông? Xã hội chủ nghĩa có biết bao Xuân Tóc Đỏ, biết bao Phó Doan, biết bao nhiêu cô Tuyết và ông Phán bị cắm sừng nhưng văn học bị cấm thể hiện. Phải ca ngợi những đảng viên Cần Kiệm Liêm Chính, những đồng chí bí thư toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, những anh hùng phân xanh phân chuồng chăn bò chăn vịt. Phải làm sao cho nhân dân thấy xã hội chủ nghĩa không có lãnh tụ ăn cơm gạo tám không hết đổ đi trong lúc nhân dân ăn củ chuối cầm hơi.

Nguyễn Công Hoan chẳng khác nào một cái cây đang mọc trên đồng bị bứng đem đi trồng trên núi đá.

Nguyễn Công Hoan chỉ còn cách tự trào cho qua ngày đoạn tháng!

Vào những năm cuối đời, ông có cố gắng làm ngọn đèn trước khi tắt. Ông đã viết luôn hai quyến: Hỗn Canh Hỗn Cu, Tranh Tối Tranh Sáng để mô tả Cải Cách Ruộng Đất và nông thôn sau Cải Cách Ruộng Đất, nhưng cả hai đều không phải Nguyễn Công Hoan của Bước Đường Cùng trước 1945 là tác phẩm đã đưa ông lên đỉnh cao nhất của văn chương tả chân Việt Nam. Điều đó làm người ta tự hỏi:
– Tại sao Nguyễn Công Hoan chưa vô đảng lại mô tả nông dân thành công hơn Nguyễn Công Hoan đảng viên Cộng Sản? Hóa ra cái lập trường vô sản không phải do nhồi nặn mà nên hay sao?

Nếu dịch Bước Đường Cùng ra tiếng Pháp hay tiếng Nga mà không để ngày tháng thì người ngoại quốc sẽ ngộ nhận rằng đó là tác phẩm do đảng viên Cộng Sản Nguyễn Công Hoan tậu nên chớ không phải Nguyễn Công Hoan nhà văn của thời kỳ đế quốc thống trị Việt Nam.
Lúc bấy giờ Cộng Sản Hà Nội có hai thái độ rất hèn hạ: không hề nhắc tới tác phẩm Bước Đường Cùng, hoặc nếu bắt buộc phải nhắc thì chỉ nhắc lấy lệ, không coi đó là niềm tự hào của văn học Việt Nam. Tôi hết sức lấy làm lạ rằng ngay ở các nước Cộng Sản Đông Âu Liên Xô, người ta vẫn đề cao tác phẩm của các nhà văn tiền bối không có hơi hám vô sản gì cả như thơ và truyện của Pouchkine, Tourguériev, Sadoreana, Gogol. Còn ở Việt Nam thì làm ngược lại nhất là đối với Tự Lực Văn Đoàn thì Tố Hữu không hết lời mạt sát, còn coi đó là văn học phản động. Chính Nguyễn Đình Thi đã cho Vũ Trọng Phụng là Troskít. Để rồi sau đó ca ngợi Vũ Trọng Phụng. Chính Viện Văn Học lại kỷ niệm Vũ Trọng Phụng và Thạch Lam, làm phim Lá Ngọc Cành Vàng, Số Đỏ, Bỉ Vỏ,... nhưng tuyệt đối không nhắc tới Nhất Linh và Khái Hưng là chủ tướng của Tự Lực Văn Đoàn.
Bây giờ xin trở lại Nguyễn Công Hoan.

Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã không tiếc lời ca ngợi Nguyễn Công Hoan về nghệ thuật lẫn về tư tưởng: Ông xếp Nguyễn Công Hoan bậc nhất trong các cây bút tả chân.

Tất cả tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan đều là những tiểu thuyết tả thực về phong tục Việt Nam về hạng trung lưu và hạng người nghèo. Ông quan sát hết sức kỹ lưỡng và rất đúng, sự nhận xét của tác giả thật tinh vi. Đọc ông người ta không bao giờ phải phàn nàn rằng nhà văn cứ quanh quẩn trong mấy đầu đề như nhiều nhà văn khác... Ông viết truyện nhi đồng rất tài tình...

Nhưng đối với xã hội chủ nghĩa thì Nguyễn Công Hoan hết đất sống. Ngòi bút của ông bị Tố Hữu bẻ gãy và dìm xuống đất đen, để cho hắn ngoi lên làm thần tượng giả của nông dân và công nhân Việt Nam trong mấy chục năm trời với Từ Ấy, Việt Bắc và Gió Lộng.

Nguyễn Công Hoan cố gắng làm Tần Thúc Bảo trong Thuyết Đường cử đảnh trước triều đình. Nhưng đã thổ huyết và chết. Nguyễn Công Hoan đã viết quyển Đống Rác Cũ năm trăm trang tung ra giữa cánh đồng văn học xã nghĩa chỉ còn trơ gốc rạ. Nhưng vì nó vượt hẳn bàn tay lãnh đạo của đảng nên đảng tìm cớ để triệt hạ nó. Đảng bảo là Nguyễn Công Hoan chơi trò biểu tượng hai mặt, lấy đống rác cũ để ám chỉ đống rác mới của chế độ: Chính là đảng đó chớ không gì khác.

Và các cơ quan tuyên huấn tha hồ phát động quần chúng chống đối tác giả. Việc tịch thu sách đã xảy ra. Nguyễn Công Hoan đành bó tay xếp bút đến chết.

Cái Bước Đường Cùng của anh Pha (*) năm 1938 lại trở thành đường cùng của Nguyễn Công Hoan năm 1958. Cũng như Vang Bóng Một Thời trở thành cái bóng không may của Nguyễn Tuân trong chế độ xã hội chủ nghĩa vậy.

Hai ông khổng lồ của văn học Việt Nam đã tìm thấy cái chết dưới ánh sao vàng. Tố Hữu ơi! Mi là tên sát nhân văn học. Danh vọng hão Nhà thơ số hai của mi xây trên xác chết của biết bao nhà văn nhà thơ cùng thời với mi, trước mi và cả sau mi nữa.

Nguyễn Công Hoan đã qua đời hơn hai mươi năm nay, để khỏi phải nhìn thấy các cuộc nổi loạn văn chương sau này.

Tôi đọc những truyện ngắn của ông trên nửa thế kỷ.

Tôi được ông tiếp chuyện riêng một cách bất ngờ ở bên bờ Hồ Tây (phía bên chợ Bưởi) cũng đã bốn mươi năm. Thật là một thời gian quá dài.

Khi nói chuyện trong đại hội nhà văn lần 1 ở câu lạc bộ Đoàn Kết, ông có nói một câu làm cả hội trường kinh ngạc:

- Tôi không bao giờ đọc truyện của ai. Vì sợ viết trùng với người khác!

Tôi nhớ rõ lắm. Không thể sai được. Từ đó đến nay tôi vẫn không quên, nhưng tôi không tin hoàn toàn, chớ không phải hoàn toàn không tin. Nhưng hôm nay thì tôi tin hoàn toàn.

Chuyện có vẻ ngớ ngẩn, lạ lùng nhưng tôi cho rằng ông nói thật. Số là như sau:
Tôi đọc truyện Oẳn tà roằn của ông lâu lắm. Không nhớ là bao lâu nhưng vẫn còn nhớ cốt chuyện.

Một cặp vợ chồng nọ rất đẹp đôi. Lần đó bà vợ có thai. Ông chồng hi vọng sẽ đẻ ra một thiên thần con, khi nghe tiếng khóc oe oe, ông được phép vào xem mặt con, thì than ôi, đứa bé đen như than hầm. Ông chồng thất vọng ôm mặt chạy ra.
Ông không nghi ngờ vợ ngoại tình với ai, nhất là với một anh Tây đen nào đó. Đúng ra ở trong chung cư có một anh Tây đen. Hai vợ chồng ông ở tầng lầu còn anh Tây đen thì tầng trệt. Vì thế những người láng giềng nhìn thấy mặt nhau luôn. Đặc biệt người đàn bà thì rất sợ bộ mặt kinh hoàng của anh Tây đen.
Một bác sĩ tâm lý nhận định rằng sự sợ hãi đó đã gây một ấn tượng càng ngày càng sâu sắc cho người đàn bà và vì thế mà bà ta sinh ra một Oẳn tà roằn. Anh chồng tin như vậy, để tìm lấy một sự an ủi, nhưng vẫn đau khổ mỗi khi trông thấy Oẳn tà roằn.

Năm nay 1998, tôi được nghe thi sĩ Đỗ Quí Bái kể cho nghe trên phôn một câu chuyện. Một anh chàng lén vợ yêu một cô nàng khá đẹp. Sau một thời gian, cô bé có bầu. Chàng ta định bụng khi cô nàng sanh nở xong sẽ ly dị vợ để xây tổ uyên ương với nàng. Nhưng khi cô nàng sanh ra thì lại là một baby mắt đục như nước cơm và tóc vàng tươi, thơ mộng... như lúa chín. Anh chàng thất vọng tràn trề, đành câm lặng không biết nói sao..

Thi sĩ Đỗ Quí Bái kể cho tôi nghe xong, hai đứa cười vang trên phôn. Tôi nói ngay:
– Đúng là một Oẳn tà roằn!

Nhà thơ bảo tôi viết thành truyện ngắn. Tôi thấy truyện có chất trào phúng chua cay nên đề nghị bạn mình hãy làm thơ trước rồi tôi sẽ viết truyện và để bài thơ đó làm một cái sa-pô cho truyện.

Nhưng nhà thơ đã làm bài thơ xong, đọc cho tôi nghe và gởi cho tôi lâu rồi. Bao nhiêu lần tôi cầm bút định viết cái truyện nhưng rồi lại buông bút, không viết được.

Tôi cảm thấy viết ra nó sẽ không hay bằng nghe kể.

Và bây giờ tôi mới tin rằng Nguyễn Công Hoan nói ông không đọc ai, vì sợ viết trùng - là thật!

Đã có cái Oẳn tà roằn của Nguyễn Công Hoan ra đời trước đây năm mươi năm rồi.
Bây giờ mình đẻ ra một cái oẳn tà roằn khác, dù không phải copy thì cũng bị coi là copy.

Vì thế mà Nguyễn Công Hoan không đọc của ai. Và vì tôi đã đọc Oẳn tà roằn của Nguyễn Công Hoan nên tôi không viết cái Oẳn tà roằn của Đỗ Quí Bái kể cho tôi nghe được.

(*) Nhân vật chính của Bước Đường Cùng.

Xuân Vũ
Văn Nghệ Sĩ Miền Bắc Như Tôi Biết, Tập III
Nxb Xuân Thu, 1998



Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2020

Nguyễn Công Hoan – Một đời văn viết vì con người


Nguyễn Công Hoan – Một đời văn viết vì con người

Thúy Trân
Sở hữu một phong cách sáng tác vô cùng đặc biệt với hàng loạt tác phẩm gây chấn động trên văn đàn Việt Nam, Nguyễn Công Hoan trở thành một trong những cái tên có tầm ảnh hưởng lớn trong sự nghiệp văn học nước nhà.

Ông để lại một di sản lớn cho văn đàn Việt Nam với hơn hai trăm truyện ngắn, gần ba mươi truyện dài và nhiều bài tiểu luận văn học. Những bài phê bình, nghiên cứu lý luận được đánh giá rất cao vì có cái nhìn và cách tiếp cận sắc sảo về các tác giả.


Mục lục
  1. Nguyễn Công Hoan sinh ra đã định cho văn chương vì con người
  2. Nguyễn Công Hoan chiếm một vị trí quan trọng không thể thay thế trong văn đàn dân tộc
  3. Những tác phẩm để lại cho đời nhiều giá trị sâu sắc
  4. Bậc thầy của truyện ngắn châm biếm Việt Nam luôn sống mãi trong trái tim người đọc

Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2020

Khai bút đầu năm


Khai bút đầu năm

TẠ VĂN SỸ


Có trích truyện dài Thanh đạm.

Khai bút là một nét văn hóa đẹp của các nước Á Đông. Không rõ mỹ tục khai bút đã có từ bao giờ. Chỉ biết các bậc tao nhân mặc khách ngày xưa thường khai bút đầu năm. Ngày nay một số ít nhà thơ, nhà văn, nhà báo cũng còn giữ lệ khai bút ấy mỗi khi tết đến xuân về.

Ngày xưa các cụ khai bút rất cầu kỳ, trang trọng. Tôi còn nhớ thuở bé đọc tiểu thuyết Thanh Đạm của nhà văn Nguyễn Công Hoan có đoạn tả cảnh khai bút đầu xuân ở một huyện đường (trụ sở huyện) thấy chuyện khai bút thật sự như một buổi hành lễ nơi thánh đường của một tôn giáo nào đó:
“Giữa công đường bày một cái sập, trên trải chiếu cạp điều, phủ thêm khăn gấm. Mé ngoài bày một đỉnh trầm và đôi đèn sáp ong thắp sáng; mé trong bộ tam sự, lọ sứ cắm cây chuối có gài vài bông giấy đỏ. Đối diện với lộc bình là tấm gương mờ đặt trên giá gỗ. Quan huyện mặc áo thụng, bước vào giữa chiếu trải dưới đất, cúi lạy lễ vọng Hoàng thượng (vua) 5 lạy rồi lui ra cho các thầy đề, thầy thông vào lễ. Xong, quan huyện ra ngồi ở ghế ngựa kê ở gian bên sau chiếc án thư trùm nhiễu đỏ, có để sẵn giấy hồng điều. Quan khai bút bốn chữ “Vạn niên an lạc”, rồi đóng ấn son niên hiệu nhà vua ở phía trên. Thầy đề bắc thang leo lên bóc tờ hoa niên năm ngoái đã bạc màu, dán tờ tân xuân khai bút mới, màu đỏ tươi lên giữa xà nhà công đường…”.
Thế đấy! Lễ khai bút ngày xưa rất cầu kỳ, trang trọng như là một… “tín ngưỡng” vậy đấy! Nó được duy trì liên tục suốt một thời gian dài Hán học, và có lẽ thưa dần vào thời tân học, tức thời thuộc Pháp, học chữ quốc ngữ?

Vào cái thuở giao thời giữa cựu học và tân học ấy, các cụ nhà ta vẫn còn giữ nếp khai bút, như ông Tú Thành Nam Trần Tế Xương viết về việc mình khai bút đầu xuân rồi khoe với vợ:
“Cực nhân gian chi phẩm giá, phong nguyệt tình hoài
Tối thế thượng chi phong lưu, giang hồ khí cốt”!
Viết vào giấy dán ngay lên cột
Hỏi mẹ mày rằng: dốt hay hay?
Thưa rằng: hay thực là hay
Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài!...
Nhà thơ trào phúng trứ danh thời Thơ Mới là Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu cũng “luận” về cái sự khai bút:
Là văn sĩ lẽ nào không khai bút
Chẳng hay ho cũng nắn nót một bài
Ngót hai năm xổng bút mỉa mai đời
Thì tết đến cũng phải có bài thơ rắc rối
Rót thêm mực, thay ngòi bút mới
Thảo mấy dòng cảm khái sau đây…
Thú chơi tao nhã này sánh ngang hàng với thư pháp, bởi những câu chữ khai bút thường được viết rất cẩn trọng, dầu là nắn nót hay bay bướm. Các kiểu chơi chữ, cho chữ, xin chữ, rước chữ cũng từ đấy mà ra.

Khai bút có thể là một chữ, một câu, một đoạn, hoặc cả bài thơ.

Những chữ thường viết nhất vào ngày tết là: Phúc, Đức, Tài, Lộc, Ân, Nghĩa, Thần, Thọ, Tâm, Nhân, Nhẫn, Đại cát, An khang, Thịnh vượng, v.v…

Ngày xưa viết bằng chữ Hán, các cụ thường dùng các kiểu viết để thể hiện biệt tài “phượng múa rồng bay” của mình, như: cổ lệ, đại triện, chân phương, chân thảo, khải thư…

Ngày nay dùng chữ quốc ngữ theo ký tự la-tinh, các nhà thư pháp cũng vung bút tùy thích theo ngẫu hứng của mình, thậm chí có chữ… không tài nào đọc ra! Có người còn tách, ngắt chữ quốc ngữ, khuôn theo kiểu chữ vuông như Hán tự cho có vẻ… cổ điển!

Chữ và nghĩa của những câu từ khai bút thường thể hiện tâm trạng và tư duy của người viết. Nét chữ thường thể hiện sự khỏe khoắn, mạnh mẽ, tự tin, hoặc bay bướm, tài hoa, khí phách - Nghĩa thì thường hướng tới cái đẹp, cái đạt, cái hay cho những ngày kế tiếp trong năm. Là cũng bởi các cụ quan niệm nếu nói cái xấu, cái dở, cái xúi quẩy thì có khi nó “vận” vào mình, khó thoát!

Tuy nhiên, tùy tâm trạng và tình cảnh hiện tại của người viết, cũng lắm khi khai bút là nhằm thể hiện cái sầu, cái hận, cái khổ, cái bất bình, cái chí khí riêng. Ví dụ tương truyền những ngày “lăn lóc” đất phương Nam, vào một tết nọ, “nhà thơ đồng quê” Nguyễn Bính có khai bút bài thơ tứ tuyệt rồi đem dán trước cổng ngõ căn nhà đang ở trọ:
Từ độ về đây sống kiếp nghèo
Bạn bè còn có gió trăng theo
Những thằng bất nghĩa xin đừng đến
Hãy để thềm ta xanh sắc rêu!
Nếu chỉ hiểu thoáng qua, có thể cho rằng Nguyễn Bính “khoe” cái nghèo cái khó của mình, nhưng thật ra là nhằm “hạ bệ” bọn bất nghĩa bất nghì, để tụng ca cái đẹp, cái tốt đấy! Tết nhất mà lị, ai lại nói cái dở, cái xấu ra làm gì!

Nhân ngày xuân, một tí tản mạn và nhàn đàm, vừa chơi vui, vừa cũng là để hoài niệm lại một nét “đẹp xưa” nay đã hao mòn!

TẠ VĂN SỸ



Thứ Năm, 2 tháng 1, 2020

Chặng đường nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan


Chặng đường nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan

Lê Thị Hằng (ghi)
Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam
Được đồng nghiệp đánh giá là chuyên gia hàng đầu nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan*, PGS.TS Lê Thị Đức Hạnh** đã dành nhiều thời gian trong 40 năm cuộc đời, nỗ lực, kỳ công nghiên cứu và cho ra đời nhiều công trình về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn hiện thực trào phúng nổi tiếng này.
PGS.TS Lê Thị Đức Hạnh



Tôi xuất thân từ một gia đình gia giáo ở xã Khương Đình (nay là phường Hạ Đình), quận Thanh Xuân, Hà Nội. Cha làm nghề dạy học, mẹ buôn bán nhỏ. Từ nhỏ, tôi đã có năng khiếu về toán nên sau đấy ước mơ trở thành sinh viên khoa Toán trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nhưng đến ngày thi đại học thì tôi bị ốm, đành phải bỏ thi. Để có thu nhập phụ thêm cho gia đình, tôi đã nhận đan len thuê và dạy môn toán cấp 2 ở trường Đoàn (do Đoàn Thanh niên mở). Tôi còn tham gia các hoạt động xã hội như đi dạy học để xóa mạn mù chữ, điều tra dân số...

Đến năm 1960, có người nói ở Viện Văn học đang cần người làm tư liệu cho cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945. Tôi lên Viện Văn học và gặp ông Phan Nhân. Ông hỏi tôi biết gì về văn học. Tôi bèn đọc thuộc lòng một đoạn văn của Vũ Trọng Phụng. Thế là tôi được nhận và trở thành nhân viên làm tư liệu của Viện.

Năm 1961, theo gợi ý của ông Nguyễn Đức Đàn (Cán bộ trong tổ Văn học hiện đại), tôi đã tập viết bài nghiên cứu về tiểu thuyết “Hỗn canh hỗn cư” của Nguyễn Công Hoan. Tôi quyết tâm cao lắm, ba ngày tết đóng cửa ngồi viết. Sau đó phải có sự sửa chữa của ông Thành Duy1 bài viết mới đăng báo Văn nghệ được, chúng tôi là đồng tác giả. Sau đó, tôi đọc nhiều bài nghiên cứu học tập cách viết và viết một bài về nhà văn Thép Mới là “Bút ký của Thép Mới”. Khi ấy công việc chính của tôi vẫn là làm tư liệu cho cuốn “Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945” của tổ Văn học hiện đại, nhưng bước đầu đã làm quen với việc nghiên cứu. Do thường xuyên đi thư viện nên tôi tìm được những tác phẩm của Nguyễn Công Hoan mà trên các sách báo chưa nói đến, như cuốn “Ông chủ”, “Bà chủ” (hai truyện vừa in vào một cuốn). Tôi thấy hay, thế là về báo cáo với ông Hoài Thanh (khi ấy là Phó Viện trưởng Viện Văn học, đồng thời phụ trách Tạp chí Nghiên cứu văn học) và bảo tôi muốn viết về “Ông chủ”. Rồi tôi lại đến gặp ông Nguyễn Công Hoan, kể lại nội dung truyện cho ông nghe, ông cười và nói “tôi giống như người đẻ nhiều rồi quên cả mặt con”. Thế rồi tôi tiếp tục đọc, nghiền ngẫm, suy nghĩ để viết bài “Ông chủ, một tác phẩm hay về vấn đề nông dân trước cách mạng”. Đó là bài đầu tiên tôi viết về Nguyễn Công Hoan đăng trên Tạp chí nghiên cứu Văn học năm 1969. Bài viết rất công phu nên được mọi người chú ý và nhà văn Nguyễn Công Hoan thích thú. Nhờ vậy, tôi tạo được ấn tượng tốt, bởi nhà văn rất quý những người làm việc nghiêm chỉnh. Đó cũng là khi tôi chính thức đi vào nghiên cứu Nguyễn Công Hoan.

Sau đó, tôi viết bài “Ảnh hưởng của Đảng đối với sáng tác của Nguyễn Công Hoan thời kì Mặt trận Dân chủ”. Tôi tiếp tục viết một số bài tạp chí. Sau nhiều lần gặp gỡ, trò truyện để hỏi về quá trình viết từng truyện ngắn, truyện dài, tìm hiểu tư tưởng, tình cảm nhà văn,... Những bài viết của tôi đăng tạp chí được đánh giá tốt, vì thế tôi quyết định chọn đề tài luận án phó tiến sĩ về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan. Quá trình ấy, tôi viết dần các bài. Đương nhiên, tôi phải đọc rộng ra các tác giả khác, đọc lý luận về truyện ngắn, về nghệ thuật trào phúng, về tiểu thuyết... thế nên dần dần cái phông hiểu biết của tôi cũng mở rộng ra. Coi như đó là quá trình vừa làm vừa học. Do vậy, tôi vẫn có thể viết bài về các nhà văn khác, như viết về nhân vật phụ nữ trong tác phẩm của Phan Tứ, rồi “Phụ nữ ba đảm đang”, Vũ Trọng Phụng... nhưng tập trung nhất vẫn là Nguyễn Công Hoan. Cũng thời gian ấy, tôi phải đi học thêm lớp đại học buổi tối ở câu lạc bộ Đoàn Kết, gần Nhà hát lớn, do Đảng xã hội mở để có được tấm bằng đại học văn sử hệ ba năm.

Về lý do tôi chọn nghiên cứu Nguyễn Công Hoan, có thể tóm lược như sau: Nguyễn Công Hoan là một nhà văn hiện thực tài năng, nổi tiếng cả trong và ngoài nước. Có thể coi ông là người mở đường cho chủ nghĩa hiện thực, có khối lượng sáng tác phong phú, với hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài, một số bài ký và nhiều bài tiểu luận. Tên tuổi ông gắn liền với truyện ngắn trào phúng, truyện dài Bước đường cùng, các tác phẩm Ông chủ, Cái thủ lợn, Lá ngọc cành vàng,... và cuốn hồi ký Đời viết văn của tôi. Đương nhiên, không phải không có những mặt hạn chế, bị phê phán, nhưng tóm lại, Nguyễn Công Hoan vẫn được giới phê bình đánh giá cao và rất được độc giả hâm mộ. Nhiều độc giả gửi thư hoặc đến gặp ông để chia sẻ tâm sự; họ xếp hàng mua báo có in truyện ngắn của ông; có lần, tưởng ông mất, họ làm lễ truy điệu... Và ngày càng có sự đánh giá thỏa đáng về ông, đặc biệt là các truyện ngắn trào phúng viết trước cách mạng, được coi là một kho tàng quý báu. Không chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài, Nguyễn Công Hoan cũng được các nhà nghiên cứu đánh giá cao, thậm chí rất cao với một số truyện ngắn trào phúng. Nhiều nước dịch truyện của ông. Ông được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất, được Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (1996). Tuy vậy, trước kia tôi thấy chỉ có một ít chương sách, giáo trình, bài báo, chưa được nghiên cứu sâu, kỹ, nhiều mặt và nhất là chưa có công trình nghiên cứu về truyện ngắn cũng như toàn bộ sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Do đó, tôi đã đi sâu nghiên cứu về nhà văn nhằm lấp đầy những khoảng trống đấy.

Tôi thường đến nhà ông Nguyễn Công Hoan để trao đổi mỗi khi viết bài, như thế mới thấu tình đạt lý. Ông cũng rất hay đến nhà tôi. Ông nói chuyện thân tình với cả chồng tôi, và ông rất yêu các cháu bé, con tôi. Có lần, ông bế con trai thứ hai của tôi trên lòng. Tôi khoe: “Cháu đã biết đọc rồi đấy ạ!”. Ông hỏi cháu: “Cháu có đọc được truyện của ông không?”. Cháu nói: “Thưa ông, cháu có đọc được một đoạn ạ!”. Ông hỏi: “Cháu có nhớ được gì? Nói ông nghe”. Cháu nói: “Cháu nhớ là ông viết: “khoai ăn cả vỏ càng đỡ tốn” ạ! Thì ra, đó là câu trong truyện ngắn “Bữa no đòn”.

Khi tái bản tập 2 “Truyện ngắn chọn lọc” của ông, tôi rủ ông đi thư viện để chép (hồi đó chưa nhờ thư viện photocopy được, ông đọc, tôi chép). Ông lưỡng lự vì không có thẻ đọc nên đến cổng thư viện thì dừng lại. Tôi vội đi lên trước và nói với người gác cổng: “Đây là nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan”. Ông gác cổng cúi đầu chào và nói “Xin mời bác vào”. Ông Nguyễn Công Hoan quay sang phía tôi, cười hóm hỉnh: “Hóa ra nhà văn thiếu vốn sống thật”.

Một lần khác, có nhà nghiên cứu người Tiệp Khắc đến gặp ông để nghiên cứu thì ông bảo “đến tìm cô Hạnh, chứ tôi không tự nghiên cứu về tôi”. Khi bị ốm, ông nhờ người báo tin ngay cho tôi. Tôi đến thăm, ông kể về bệnh tật, rồi chuyện văn, chuyện đời... Khi ông qua đời, cô Ngọc Tú2 đến báo, tôi và cô ấy đều khóc! Thương nhớ ông lắm! Bao nhiêu lần ông đến nhà, tình cảm ông dành cho tôi rất đáng trân quý. Mấy lần ra sách ông đều tặng tôi đầu tiên, cuốn “Đời viết văn của tôi” ông mang đến tận nhà tôi tặng. Còn nhớ, năm 1971, khi mới sinh con trai út, tôi đến dự lễ mừng thọ ông ở Hội nhà văn. Lúc vào phòng, ông lặng lẽ đi xuống bắt tay tôi và nói: “thôi, bây giờ tạm thời nghỉ nghiên cứu trông con cho cẩn thận nhé”. Ông mất rồi, mỗi lần tôi đến nhà, vợ ông đều pha nước đặt lên bàn thờ, thắp hương và khấn “ông về đi, cô Hạnh đến đấy”! Bà mắt kém, còn bắt cháu đưa đến nhà tôi chơi. Tôi cảm động lắm!
Tôi có nhiều thuận lợi trong quá trình nghiên cứu, đó là được nhà văn nhiệt tình tâm sự khi có thể, ông còn mượn tài liệu giúp. Tôi được một số người quen cho mượn những bài báo cũ để đọc; lại được cán bộ thư viện Trung ương rất ưu tiên cho đọc và mượn sách bị hạn chế. Phải nói thật là gần như không ai có nhiều tài liệu bằng tôi. Và đặc biệt khi làm luận án tôi được GS Vũ Đức Phúc hướng dẫn rất tận tình.

Nhưng tôi cũng gặp không ít khó khăn. Thứ nhất là chính nhà văn không giữ được các tác phẩm của mình nên tôi phải đi thư viện đọc và tìm gặp bạn bè, người thân của ông để mượn tài liệu và tìm hiểu thêm về nhà văn. Tôi phải đi lại nhiều lần, nhiều nơi. Đặc biệt là nhiều truyện hay phải vào thư viện chép vì ngày ấy không có máy photocopy. Rồi đi tìm mua sách ở các hiệu sách cũ. Nhờ vậy tôi đã tập hợp được số lượng lớn các tác phẩm (trong đó nhiều tác phẩm ông đã quên)... Không chỉ vậy, tôi còn phải hỏi ông về bối cảnh chính trị, xã hội, tình hình văn học thời trước mà những người thời sau khó nắm được.

Với tôi, trong nghiên cứu khi đưa ra một nhận định nào cần dựa trên cơ sở tư liệu phong phú, chính xác rồi đào sâu suy nghĩ đến tận bờ, sát góc thì luận điểm của mình mới có sức thuyết phục, có giá trị khoa học thật sự. Đến khi việc sưu tầm tài liệu khá đầy đủ, tôi đi sâu vào từ nội dung, tư tưởng, phong cách, ngôn ngữ, nghệ thuật, nhất là nghệ thuật trào phúng đặc sắc. Tôi nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp của nhà văn (200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài, nhiều bài tiểu luận, ký) và đặc biệt cuốn Đời viết văn của tôi, và chia ra từng thời kỳ sáng tác (5 thời kỳ). Cách phân kỳ này chưa ai làm. Mỗi thời kỳ tôi lại đi sâu, nghiên cứu kỹ về những chuyển biến tư tưởng thể hiện trong sáng tác (cả truyện ngắn và truyện dài), những ưu điểm nổi bật và phần nào những hạn chế, chú ý những truyện tiêu biểu. Đồng thời, từ quá trình tiếp xúc, tôi đã tìm hiểu con người, cuộc đời của nhà văn, hiểu được tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, suy tư của nhà văn trong từng thời kỳ, bởi “văn là người”. Tôi so sánh đối chiếu với các nhà văn đương thời, trên cơ sở khoa học, có sức thuyết phục để khẳng định: Nguyễn Công Hoan thực sự là một tài năng lớn, độc đáo, khẳng định vai trò vị thế của nhà văn trong văn học hiện thực Việt Nam.

Bằng tư liệu cụ thể, chính xác, nghiên cứu sâu, kỹ, tôi đã có kết luận vững chắc là Nguyễn Công Hoan xuất hiện sớm trên văn đàn, viết nhiều, viết khỏe, viết đặc sắc, độc đáo... Nhà văn đã góp phần đặt nền móng cho chủ nghĩa hiện thực phê phán trong Văn học Việt Nam. Ông chính là người khai mở và phát triển một thể loại truyện ngắn hiện đại, đặc biệt là truyện ngắn trào phúng, đến nay chưa ai theo kịp. Ông cũng viết nhiều truyện dài, truyện vừa đặc sắc: Bước đường cùng, Cái thủ lợn, Ông chủ, Bà chủ,... Kết quả nghiên cứu của tôi góp phần làm sáng tỏ một tài năng và một nhân cách đẹp. Nguyễn Công Hoan xứng đáng có một vị trí trang trọng trong văn học sử nước nhà và có uy tín đáng kể trên thế giới.

Năm 1976, tôi đã hoàn thành luận án phó tiến sĩ với đề tài “Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan”. Nhưng do tôi chỉ có bằng đại học hệ 3 năm, không hợp lệ để bảo vệ luận án. Tôi phải nhờ đến sự giúp đỡ của bà Phan Thị An, phụ trách phụ nữ trí thức thủ đô và được Bộ trưởng Bộ đại học Nguyễn Đình Tứ tác động để tôi được bảo vệ đặc cách hệ đại học 4 năm. Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội lập một hội đồng nhỏ, kiểm tra kiến thức lý luận văn học và văn học sử của tôi. Trong thời gian ấy, PGS Vũ Đức Phúc gợi ý tôi chuyển luận án thành sách để xuất bản. Vì vậy, năm 1979, tôi đã xuất bản cuốn “Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan”.

Do từ nhỏ, tôi đã có vấn đề về tim mạch, từng phải gác lại ước mơ học hành do sức khỏe yếu. Thời điểm bấy giờ, cùng phải lo cho luận án, cho bản thảo sách rồi việc ôn chương trình đại học khiến sức khỏe của tôi suy kiệt. Gia đình lo lắng, chăm sóc cho tôi nhưng kinh tế thời đó khó khăn, không có điều kiện bồi bổ. Lần nào tôi đi khám, bác sĩ cũng ghi “suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể”. Khi có quyết định bảo vệ luận án, tôi không đi nổi phải nhờ cô Trần Thị Băng Thanh3 đến nhận quyết định giúp. Đến năm 1982 thì tôi đã hoàn thành việc bảo vệ luận án.

Sau bảo vệ luận án, tôi đã cơ bản hoàn thiện việc nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp nhà văn Nguyễn Công Hoan. Ngoài các bài nghiên cứu đăng trên báo, tạp chí, các sách chung, tôi in thêm cuốn nghiên cứu: “Nguyễn Công Hoan, 1903-1977” (1991), hai cuốn sưu tầm tuyển chọn “Nguyễn Công Hoan: Về tác giả và tác phẩm” (2000), “Nguyễn Công Hoan, những tác phẩm tiêu biểu trước năm 1945” (2000). Những công bố ấy của tôi đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước (Tiệp Khắc, Nga, Đức, Nhật), nghiên cứu sinh, sinh viên đại học… tham khảo và trích dẫn. Tôi cũng đã đi nói chuyện, giảng về Nguyễn Công Hoan ở các lớp học cho nghiên cứu sinh, cho Trường Viết văn Nguyễn Du...; báo cáo cho các chuyên gia Nga, Tiệp Khắc, Nhật nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan. Với tư liệu phong phú, trong sách của tôi còn có một bản danh mục có xuất xứ cụ thể, tỉ mỉ về sáng tác của Nguyễn Công Hoan trong suốt cuộc đời ông, cùng một niên biểu để thấy rõ: lịch sử cuộc đời của nhà văn, từ nhỏ cho đến khi qua đời.

Nhìn lại những gì đã làm được trong nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan, tôi thấy mình đã thực sự say mê, tâm huyết, và nỗ lực thật đáng kể... Tôi có phần tự hào về kết quả đó. Đôi lúc thấy “thật không ngờ mình đã làm được như vậy”. Chẳng những thế, tôi còn rất vui khi trong “Đời viết văn của tôi” nhà văn Nguyễn Công Hoan đã dành gần một trang viết về tôi, trong đó có câu: “Tôi rất cảm ơn chị bạn trẻ”.



Lê Thị Hằng (ghi)
Trung tâm Di sản
các nhà khoa học Việt Nam


-------------------

* Nguyễn Công Hoan (1903-1977) là một nhà văn hiện thực lớn, Hội viên Hội nhà văn Việt Nam (từng giữ chức Chủ tịch Hội, thành viên Ban chấp hành).

** PGS.TS Lê Thị Đức Hạnh sinh ngày 22-2-1934 tại Hà Nội, chuyên ngành Văn học Việt Nam hiện đại, nguyên Nghiên cứu viên chính Viện Văn học, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam).

[1] Tức Nguyễn Văn Truy, sau này làm Vụ trưởng Vụ Tổ chức của Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Đây là nhà khoa học Trung tâm Di sản các nhà khoa học đang nghiên cứu.

[2] Nguyễn Thị Ngọc Tú (1942-2013) là một nữ nhà văn Việt Nam, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Tổng biên tập tạp chí Tác phẩm mới - Hội Nhà văn.

[3] PGS.TS Trần Thị Băng Thanh, chuyên ngành Văn học, từng là Phó trưởng phòng Văn học cổ - cận đại, Viện Văn học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.




Thứ Tư, 1 tháng 1, 2020

NHÀ VĂN NGUYỄN CÔNG HOAN VIẾT SÁCH.


THÁI ĐOÀNH

Nhà Văn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) là một cây bút sáng tác dồi dào. Chính ông cũng không nhớ mình đã viết bao nhiêu cuốn sách và viết những cái gì.

Sau này có nhà sưu tầm công phu công bố: Ông để lại trên 200 truyện ngắn, 33 truyện dài, chưa kể hàng ngàn bài báo và ghi chép khác.

Nhưng có điều ít ai biết đó là trước Cách mạng Tháng 8/1945, ông làm nghề dạy học. Ông đã kể lại trong cuốn “Đời viết văn của tôi”:

Khi viết truyện Tấm lòng vàng cho tạp chí Cậu Ấm, ông đồng thời viết Lá ngọc cành vàng cho Tiểu thuyết thứ Bảy và truyện ngắn cho báo Nhật Tân. Vì còn bận dạy học nên mỗi tuần ông chỉ ngồi bàn viết ba tối.

Ông cho biết những chuyện đăng trên các báo hàng tuần, ông phải viết từng hồi cho kịp báo ra. Có khi quên cả tên nhân vật, nhiều khi phải bỏ trống nhờ tòa soạn điền hộ khi đưa vào nhà in.

Viết truyện dài Bước đường cùng ông cho hay: “Cuốn ấy tôi viết ngày, viết đêm; viết cho chóng xong để còn đi chơi nhiều nơi, trước khi phải ra “an trí” tại Trà Cổ. Vừa nghĩ, vừa viết, vừa sửa; tôi đã hoàn thành cuốn truyện trong 16 hôm, từ 1 đến 16/7/1938.

Cuốn ấy ông viết ở Nam Định, vì ngồi nhờ cái bàn quá cao so với tầm tay và phải dùng quá nhiều gân sức nên bị sái bả vai bên phải đến ba năm. Sau này do tuổi cao, khi trái gió trở trời bệnh đau ấy trở lại thành tật.

Sau hòa bình 1954, về Hà Nội ông viết cuốn tiểu thuyết “Tranh tối tranh sáng” dày hơn 300 trang in cũng hoàn thành sau 29 ngày lao động cật lực.

Nguyễn Công Hoan nói thêm: Về số lượng sách, nếu tôi có thua thì chỉ thua Lê Văn Trương mà thôi. Nhưng tác phẩm của Lê Văn Trương khó biết cuốn nào là chính hiệu, cuốn nào là giả hiệu; vì ông ta có “nuôi bao” một số đàn em viết hộ.

T.Đ



Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2019

Không có bước đường cùng


Không có bước đường cùng

Nguyễn Vũ Tiềm
Nguyễn Công Hoan
(1903-1977)

Vừa bổ xuống miệt biển
trát lại đẩy lên ngàn
cây bút chấm bài phê điểm
nhà giáo buộc lòng làm nhà văn.
 
Giờ phê điểm trang đời, trang số phận
trang bơ vơ, trang lá ngọc, cành vàng
kiếp khốn nạn, nợ nần bao nghịch cảnh
chiếc quan tài khóc khản tiếng trên trang.
 
Mực tâm huyết dẫu trong bình oan nghiệt
bút nhân sinh không có bước đường cùng



“Chuyện tình Lan và Điệp” qua 80 năm - Soạn giả Nguyễn Phương


Chuyên mục: Lan&Điệp

“Chuyện tình Lan và Điệp” qua 80 năm

Soạn giả Nguyễn Phương

Tuồng "Chuyện tình Lan và Điệp" hát trên sân khấu Thanh Minh



Trong lịch sử nghệ thuật sân khấu Cải lương, tuồng hát được sáng tác cách nay hơn 80 năm, đến nay vẫn còn được tái diễn và khán giả ái mộ cải lương vẫn ưa thích: đó là tuồng Chuyện tình Lan và Điệp.
Năm 1933, nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903 – 1977) sáng tác và phát hành quyển tiểu thuyết Tắt Lửa Lòng. Sau đó tiểu thuyết Tắt Lửa Lòng được dựng thành kịch, trình diễn ở Hà Nội và một số tỉnh thành miền Bắc.
Năm 1936, đoàn hát Phước Cương lưu diễn ở Hà Nội, soạn giả Tư Trang chuyển thể tiểu thuyết Tắt Lửa Lòng thành vở tuồng cải lương Chuyện tình Lan và Điệp, với thanh phần diễn viên: Năm Phỉ vai Lan, nghệ sĩ Thanh Tao vai Điệp, Bảy Nhiêu vai Quan Án, Ba Thâu vai ông Tú, Thanh Loan vai Thúy Liễu, Văn Lâu vai Hòa Thượng.
Cô Năm Phỉ nổi danh là nghệ sĩ xuất sắc tầm vóc quốc tế qua vai Bàng Quí Phi trong tuồng Xử Án Bàng Quí Phi trong cuộc đấu xảo các nước thuộc địa của Pháp tổ chức tại Paris năm 1931. Năm 1936, cô Năm Phỉ một lần nữa khẳng định tài nghệ ca diễn và duyên dáng của cô qua vai Lan, làm cho vở tuồng Chuyện tình Lan và Điệp vang danh từ Hà Nội đến các tỉnh miền Trung và cả miền Nam.


Tóm lược tuồng Chuyện tình Lan và Điệp

Gia đình ông Hương Cử và gia đình ông Tú là chỗ thâm giao. Họ hẹn sau nầy sẽ kết nghĩa thông gia: Lan con gái ông Tú và Điệp, con trai ông Cử rất xứng đôi vừa lứa.
Ông Cử qua đời, gia đình thiếu trước hụt sau nhưng bà Cử chịu thương chịu khó tảo tần, lo cho Điệp ăn học mong Điệp thi đậu tốt nghiệp bằng Thành Chung. Gia đình ông bà Tú và cô Lan cũng tận tình giúp đở cho Điệp để Điệp an tâm học tập vì ông bà Tú đã xem Điệp là con rể tương lai. Hai gia đình chờ cho Điệp thi cử xong là sẽ tổ chức hôn lễ cho đôi trẻ.

Việc không may xảy ra, Điệp thi rớt bằng Thành Chung, nhưng tại họa đến làm cho cuộc hôn nhơn Lan và Điệp không thành do sự can thiệp của gia đình Quan Án Sát.
Quan Án Sát là bạn học cũ của ông Cử và ôngTú, có cô con gái tên Thúy Liễu, tánh nết lẳng lơ, chưa chồng mà đã có mang. Để che giấu tiếng xấu cho gia đình, ông Án gọi Điệp đến nhà, vờ hỏi chuyện thi cử và dự định tương lai, rồi phục rượu cho Điệp say, đem Điệp vào ngủ chung phòng với Thúy Liễu. Tình ngay lý gian, Điệp trở thành con rể của Quan Án Sát.

Trước mối tình tan vỡ, Lan cải trang nam giới, đến chùa tu để diệt khổ dưới bóng từ bi.
Cuộc hôn nhân cưỡng bách giữa Điệp và Thúy Liễu không thể bền lâu. Sau khi sanh nở, Thúy Liễu ly dị với Điệp.
Điệp tìm đến chùa thăm Lan để mong tạ tội nhưng Lan cắt đứt dây chuông, dứt duyên trần thế.
Lan bị bịnh thập tử nhất sinh, nhờ lòng từ bi của Hoà Thượng trụ trì, Điệp phải giả là một hòa thượng, khoác áo nâu sồng đến thăm Lan. Giây phút trùng phùng ngắn ngủi, nỗi oan của Điệp được giải tỏa, Lan kể nỗi niềm tâm sự và nhắm mắt xuôi tay trong vòng tay ấm áp của người yêu.

Chuyện tình Lan và Điệp tuy được phóng tác từ tiểu thuyết Tắt lửa lòng của nhà văn Nguyễn Công Hoan nhưng người thích đọc tiểu thuyết và thích xem hát chỉ nhớ đến Chuyện tình Lan và Điệp của soạn giả Trần Hữu Trang và hầu như không ai biết đến chuyện đó từ tiểu thuyết Tắt Lửa Lòng. Nữ nghệ sĩ tài danh Năm Phỉ diễn vai Lan hay đến nỗi người xem tưởng cô Lan có thật, chuyện tình Lan và Điệp là một chuyện tình có thật.

Tháng 8 năm 1945, hãng dĩa Asia phát hành bộ dĩa Hoa Rơi Cửa Phật (tức Chuyện tình Lan và Điệp) với thành phần diễn viên cô Tư Sạng vai Lan, Nghệ sĩ Năm Nghĩa vai Điệp, Tám Thưa vai Hòa Thượng, Hồng Châu vai Tiểu Huệ Thông.
Năm 1959, tuồng Chuyện tình Lan và Điệp diễn trên sân khấu Thanh Minh với Thanh Nga trong vai Lan, Thành Được trong vai Điệp. Thanh Nga với vóc người mảnh mai, nét mặt đẹp một cách ngây thơ thánh thiện, làm sống lại nhân vật Lan và mối tình bi thảm, khiến cho khán giả nhớ lại diễn viên kỳ tài Năm Phỉ và khán giả để lòng thương cảm cho mối tình đẹp nhưng trắc trở giữa Lan và Điệp. Vở hát hát luôn ba tuần liên tục tại rạp Nguyễn Văn Hảo, tạo ra một kỷ lục diễn suốt 3 tuần lễ tại một rạp hát ở giữa đô thành Saigòn.


Năm 1972, hãng phim Dạ Lý Hương thực hiện cuốn phim Lan và Điệp (đạo diễn Lê Dân, Thanh Nga trong vai Lan, Thanh Tú (Điệp), Bạch Tuyết (Thúy Liễu), Ba Vân (Quan Án), Ngọc Giàu (Bà Án), Năm Châu (ông Tú), Kim Cúc (Bà Tú).
Bộ dĩa Hoa Rơi Cửa Phật của tác giả Trần Hữu Trang ăn khách trong nhiều thập niên. Phim Lan và Điệp cũng được khán giả ưa thích, đến xem đông đảo. Nhiều đoàn hát khác cũng sáng tác tác tuồng Lan và Điệp và nhiều đào kép diễn vai Lan và Điệp nhưng giới ký giả kịch trường và khán giả ái mộ cải lương chỉ nhắc đến Năm Phỉ và Thanh Nga trong vai Lan, khó có nghệ sĩ nào diễn hay hơn hai diễn viên kỳ tài đó.
Năm 1970, soạn giả Viễn Châu sang tác bài vọng cổ Lan và Điệp cho hãng dĩa Hồng Hoa (thối thân của hãng dĩa Asia) được thính giả ưa thích.

Theo yêu cầu của nhiều bạn đọc muốn lưu lại tài liệu về Chuyện tình Lan và Điệp, tôi giới thiệu bài vọng cổ Lan và Điệp của soạn giả Viễn Châu và bộ hình tuồng Chuyện tình Lan và Điệp hát trên sân khấu Thanh Minh trong thời gian tôi cộng tác với đoàn hát nầy.

Vọng cổ Lan và Điệp (soạn giả Viễn Châu)

Nói lối: Lan xơ xác sầu ai Lan rũ cánh
Bướm lỡ làng duyên phận bướm cô đơn,
Mộng lòng tan theo năm tháng tủi hờn,
Nơi phật tự còn vương mùi tục lụy.
Vọng cổ:
1/- Điệp ơi! Cánh bướm năm xưa hãy bay đi đừng trở lại, vì em hiện nay chỉ là một đoá Lan tàn… Em biết anh chẳng dạ phũ phàng…Nhưng kiếp nầy đã lỡ xin Điệp đừng lưu luyến chi Lan. (-) Hãy để cho em yên tâm rảnh dạ tu hành, mượn kinh kệ chốn thiền môn để phôi pha mối sầu vạn cổ…
2/- Khi tiếng mõ công phu nện đều trên chánh điện thì suối lệ đầy vơi cũng thắm đượm áo nâu sồng… Tiếng hẹn năm xưa còn nhớ mãi bên lòng… Nếu chẳng cùng anh xây tổ ấm, than nầy nguyện gởi chốn thiền môn (- ) Trời ơi! Lời đoan thệ năm xưa đã thành sự thật, bởi từ khi Điệp đi cưới vợ thì Lan cũng gởi kiếp xuân tàn nơi cửa từ bi…
3/ – Điệp ôi! Đời Lan đến ngày nầy còn kể đến làm chi, Lan đã xây đắp một hy vọng tương lai để được cùng ai nên nghĩa gối chăn trong vòng lễ giáo, thế mà ông Tơ cắc cớ đem sợi chỉ hồng se lộn mối duyên.
Thôi rồi một kiếp xuân xanh
Điệp đi cưới vợ, Lan đành xuất gia!
Lệ tràn theo giọt mưa sa
Hỏi trăng, trăng lặn, hỏi hoa, hoa tàn.
Nói lối:
Kéo vạt áo lau đôi dòng nước mắt,
Lạy mẹ cha con thí phát quy y
Con dao kia với xác bướm khô nầy
Lan chôn lấp dưới cội cây ngoài cửa Phật!
4/ – Điệp ơi! Mái tóc xuân xanh Lan đã cắt đi với lời khấn nguyện, trong khi giữa thiền môn vọng lại tiếng chuông…buồn… Suối lệ tuôn rơi theo lá rụng quanh tường…Tiếng côn trùng nỉ non họa lại bản nhạc sầu với tiếng mõ, hồi chuông, (-) Nam mô cứu khổ chí tôn, Cầu xin phổ độ linh hồn thế gian, Con tên là Nguyễn Thị Lan, Xác thân còn đó mà hồn tan lâu rồi!
5/ – Điệp ôi! Sau khi Điệp trở về chốn cũ thì mái nhà xưa đã vắng bóng Lan rồi…Lan cất bước ra đi mà tất dạ tơi bời…Lan biết Điệp cưới vợ chẳng qua vì nghịch cảnh, chớ nào phải phụ bạc chi Lan!
Nhưng mối tuyệt tình Lan phải đeo mang, bao thất vọng đọa đày thể xác. Lan mới mượn lời kinh kệ để mong dập tắt lửa ưu phiền.
6/ – Điệp ôi! Hôm Điệp đến thăm Lan là một buổi chiều sương lam mờ cảnh vật, Điệp ngập ngừng trước cổng nhìn thân bạn héo mòn mà lã chã lệ sầu tuôn. Điệp ôi, Lan đã cắt đứt dây chuông để Điệp quay về cùng bổn phận, có biết đâu vì không dằn được cơn cảm xúc cho nên Lan ngã gục trước sân chùa. ( – ) Khi Lan tỉnh dậy thì chỉ nghe tiếng chuông mõ công phu vang rền trên chánh điện.
Gia trung Điệp đã về rồi! Đêm đêm quỳ trước Phật đài mình Lan.


Nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan đã lấy nước mắt hàng ngàn thính giả qua bài vọng cổ Lan và Điệp nầy, tiếp nối giọng ca áo nảo của danh ca Tư Sạng làm rơi lệ hàng ngàn thính giả qua các bản cổ nhạc trong bộ dĩa Hoa Rơi Cửa Phật của trong thập niên 40 của thế kỷ trước.

Tây Phương có chuyện tình để đời: Roméo và Juliette. Á Đông Trung Quốc có chuyện Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài. Việt Nam có chuyện tình Lan và Điệp.

Soạn giả Nguyễn Phương



Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2019

Thời Tết Trung thu dành cho… người lớn vì đâu bị cấm?


Thời Tết Trung thu dành cho… người lớn vì đâu bị cấm?

Lê Tiên Long

Trong ‘Nhớ và ghi về Hà Nội’, Nguyễn Công Hoan kể, thời trước Tết Trung thu người lớn múa sư tử rồi đánh nhau nên Tây cấm, Tết Trung thu mới dành cho trẻ con.

Trẻ em múa sư tử chơi Tết Trung thu ở Hà Nội, năm 1928.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977) tuy quê ở Văn Giang, Hưng Yên, nhưng thuở bé từng học trọ ở phố Hàng Hài (Hàng Bông ngày nay), Hà Nội, rồi theo học tại Cao đẳng sư phạm, nên rất thông thuộc những sự kiện diễn ra ở thủ đô những năm đầu thế kỷ 20.

Bên cạnh những tiểu thuyết hiện thực, những truyện ngắn trào phúng, ông cũng để lại những ghi chép có giá trị lịch sử trong tập Nhớ và ghi về Hà Nội (NXB Trẻ tái bản năm 2004). Đây là cuốn sách sưu tầm những trang ông viết dành riêng để nhớ về Hà Nội, một Hà Nội xưa cũ vào những thập niên đầu của thế kỷ 20, với một lượng thông tin sống động bằng những câu chữ đằm thắm và giản dị.

Qua những trang viết của ông, người đọc hậu thế mới biết không khí Tết Trung thu ở Hà Nội thời xưa với những món đồ chơi truyền thống:

“Tết Trung thu vốn không phải là tết trẻ con. Tối 14 và 15 tháng Tám, có rước rồng, rước sư tử. Các nhà chăng đèn ở ngoài cửa. Thường thì có đèn trống quân, hoặc đèn cù, là một cái khung hình vuông, phất giấy bản. Người ta thắp đèn dầu ta ở dưới, hơi nóng thành gió, làm cho cái tán ở trên quay được. Tán ấy được xếp bằng những mảnh giấy ở cái thế hứng được gió. Tán quay, làm quay cả cái vòng treo ở dưới, có dán hình người, ngựa... để ở ngoài nhìn vào, thấy những bóng ấy chạy”.
Nhà văn cũng giải nghĩa câu thành ngữ “chạy như đèn cù”, nghĩa là chạy quanh không có mục đích gì.

Nguyễn Công Hoan mô tả sự khéo léo của những người thợ thủ công Hà Nội xưa, khi làm những chiếc đèn cù (đèn kéo quân) rất sinh động:
“Rồi nhiều người (bác Cả Thạch, nhà ở số 19 phố Hàng Gai) có sáng kiến, không làm cái vòng quay, mà buộc bằng tóc vào những mảnh hình người, làm cho tán quay, thì người cử động được.
Ví dụ cô tiên hái hoa, hai vợ chồng hái dừa, chồng hái dừa vợ hứng bằng váy, hai ông tướng đánh nhau... Cái cán tán phải chấp bằng từng đoạn theo đường gấp, chứ không thẳng. Phải tính toán rất tỉ mỉ”.
Đặc biệt, ông cho độc giả biết về chuyện khá bất ngờ với lớp trẻ ngày nay, về việc thời xưa, Tết Trung thu vốn dành cho người lớn, cho đến khi bị chính quyền thực dân Pháp cấm:
“Múa sư tử và múa rồng thì là trò chơi của người lớn. Các đầu sư tử lớn, rồng rất nhiều khúc, múa nhiều điệu rất khéo. Nhưng một dạo, từng tụi du côn nhân rước sư tử, rước rồng để tranh nhau giải, mà đánh nhau rất hăng. Rồi tụi du côn ở ngõ Sầm Công (phố Đào Duy Từ ngày nay) thù nhau với tụi du côn ở ngõ Tạm Thương chẳng hạn, họ chờ đến Tết Trung thu, đi múa sư tử, thì đánh nhau. Trong xe bò chở trống và thanh la, họ để sẵn xà beng, các khí giới. Nhiều cuộc đánh nhau thành án mạng. Vì thế, Tây cấm người lớn múa sư tử. Tết Trung thu chỉ cho trẻ con chơi, Tết ấy trở thành Tết trẻ con”.

Do sống ở phố Hàng Bông, nên nhà văn rất thông thuộc những gì diễn ra ở xung quanh, khắp khu vực phố cổ. Qua ghi chép của ông, ta mới biết thời những năm 20 của thế kỷ trước, phố Hàng Gai là nơi tập trung bán đồ chơi Trung thu.

“Phố Hàng Gai, cứ sắp Tết Trung thu, thì biến thành phố bán đầu sư tử, đèn, và các đồ giấy chơi Tết”,
ông miêu tả và cũng đưa ra một thắc mắc chưa có lời giải đáp:
“Nhưng cũng chỉ bán ở bên số lẻ, và vào quãng từ giữa phố đến cuối phố. Bên số chẵn thì không. Không rõ vì lí do gì”.

Lê Tiên Long


Các hàng bán đồ chơi Trung thu ở Hà Nội xưa.



Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2019

Nguyễn Công Hoan: Chân dung một bậc thầy châm biếm, đả kích


Nguyễn Công Hoan: Chân dung một bậc thầy châm biếm, đả kích

Theo VĂN HỌC QUÊ NHÀ

Khi nói về Nguyễn Công Hoan là người ta nghĩ ngay đến một bậc thầy chuyên viết truyện ngắn châm biếm, đả kích bọn thực dân cuớp nước và bè lũ quan lại phong kiến tay sai, cùng những thói hư tật xấu của những kẻ thích đua đòi, “trưởng giả học làm sang”, nhưng thực chất thiếu hiểu biết về nguồn cội văn hóa Việt. Thế nhưng, khi nhà chức trách hỏi về học vấn để bổ sung vào hồ sơ, lý lịch, ông nhận mình là người chỉ đọc thông, viết thạo (!?)


Thứ Hai, 19 tháng 8, 2019

CẢ CUỘC ĐỜI, NGUYỄN CÔNG HOAN CHỦ TRƯƠNG 'GIỮ MÌNH' CHO 'THUẦN VIỆT'


CẢ CUỘC ĐỜI, NGUYỄN CÔNG HOAN CHỦ TRƯƠNG 'GIỮ MÌNH' CHO 'THUẦN VIỆT'

Sách Văn học Đinh Tị

Có lần Nguyễn Công Hoan đã tự nhận rằng mình không biết làm văn tả cảnh. Lý do thì thật đơn giản, ấy là ông không thấy ở thiên nhiên có gì đẹp. Đối với con người, ông càng khó tìm thấy vẻ đẹp ở họ hơn. Trong văn của Nguyễn Công Hoan, hầu như người ta chẳng tìm được một nhân vật đẹp mà chỉ cần nhắc đến tên là có thể nằm lòng tác phẩm nhân vật ấy xuất hiện. Giống như Chí Phèo của Nam Cao, hay Xuân Tóc đỏ của Vũ Trọng Phụng, chị Dậu của Ngô Tất Tố.

Nguyễn Công Hoan cầm bút từ rất sớm, khi chỉ mới 17 tuổi. Sự nghiệp văn chương trước năm 1945 có phần thành đạt hơn, tươi sáng hơn so với sau năm 1945, khi mà lớp nhà văn trẻ khi ấy như Nguyễn Tuân, Tô Hoài đang nở rực rỡ. Dù không đọc được hết các tác phẩm mới ấy, nhưng Nguyễn Công Hoan vẫn mạnh bạo nhận xét rằng “Truyện ngắn sau Cách mạng tháng Tám hay hơn truyện ngắn thời trước rất nhiều”.

Văn chương Nguyễn Công Hoan là thứ văn bám chặt với đời sống và nhìn thẳng vào các vấn đề của xã hội đương thời. Ông có biệt tài quan sát và đưa vào tác phẩm của mình đời sống của dân nghèo thành thị. Ông che chở, bênh vực, rồi nói hộ tiếng lòng và khát vọng cuộc đời của họ. Vậy nên người ta mới ca ngợi Nguyễn Công Hoan là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của dòng văn học hiện thực phê phán, một nhà văn bậc thầy về truyện ngắn và nghệ thuật trào phúng.

Nguyễn Công Hoan đã sớm tính chuyện viết hồi ký. Cần phải biết rằng suốt thời trung đại, văn học Việt Nam không có hồi ký. Mà ngay trong thế kỷ 20, cả nhà chính trị, nhà hoạt động xã hội, nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ cũng không mấy ai tính chuyện động bút trọng thể loại này. Nhưng Nguyễn Công Hoan thì khác, có lần ông đã tâm sự với Tô Hoài rằng, có một loại truyện dài mà khi viết ra sẽ dài vô tận, ấy là truyện nhớ gì ghi nấy.


Có thể coi Nguyễn Công Hoan là một người ghi chép phong tục. Ông muốn ghi lại cho lớp sau biết những gì mình đã từng trải, những mắt thấy tai nghe từ lúc mất nước đến lúc độc lập có bao nhiêu chuyện phong phú. Nhà văn đã tự gọi “Bước đường cùng” đơn giản chỉ là một tiểu thuyết phong tục, chẳng qua thao nhiều chuyện sinh hoạt ở nông thôn như chuyện sinh đẻ, chuyện cãi nhau vì mất gà đến cảnh vay nợ, ăn khao,... mà đưa vào trong sách. Chính vì ghi chép lại phong tục nên văn của ông mới không có một nhân vật nào được coi là đẹp, là tiêu biểu.

Cả đời, Nguyễn Công Hoan chủ trương “giữ mình” cho “thuần Việt”. Ông không bị ảnh hưởng nhiều bởi trường học của Pháp hay sách báo nước ngoài. Ông phê phán những người viết truyện nhưng chẳng phải truyện Việt Nam, từ tâm lý đến ngôn ngữ nhân vật đều giống truyện nước ngoài, xa rời độc giả, xa rời thực tế Việt Nam.

Có thể hiện thời, quan điểm đọc sách và cách chọn sách đọc của Nguyễn Công Hoan chỉ đúng với riêng ông, và không phù hợp với xu thế chung, nhưng có một điều chắc chắn là, suốt một đời vất vả sáng tạo, Nguyễn Công Hoan đã dâng hiến cho bạn đọc những tác phẩm thấm đẫm phong vị và cốt cách con người Việt Nam.



Thứ Tư, 14 tháng 8, 2019

"Nhà văn hiện đại - Quyển 5": Nguyễn Công Hoan (Vũ Ngọc Phan)


Nhà văn hiện đại- Quyển 5

Nguyễn Công Hoan

Tác giả: Vũ Ngọc Phan
NXB: Thăng Long
Năm: 1960
Ngôn Ngữ: Tiếng Việt
Định dạng: pdf
Quyển 5
Tiểu thuyết tả chân
Nguyễn Công Hoan

Trang 22-48/236 (1051-1077)


Quyển 1

Quyển 2

Quyển 3

Quyển 4




Một cuộc gặp gỡ


Một cuộc gặp gỡ

Nhà văn Lê Minh

Phái đoàn đồng chí Lê Đức Thọ cùng gia đình cụ Đạo (Chu Lễ - Hà Tĩnh) trên đường từ chiến khu Việt Bắc vào Nam Bộ (đồng chí Lê Đức Thọ - người đứng thứ hai từ trái sang)



- Số mình chỉ được ở nhà hướng Tây.

Cha tôi[1][1] Nhà văn Nguyễn Công Hoan. thường nói như một lời vỗ về, mỗi khi nửa đêm nóng quá tôi giẫy đạp lục xục trong giường và cuối cùng cha tôi phải buông bút bế tôi ra vại nước. Cơn nóng dịu xuống lúc về sáng.

Căn nhà gác nhỏ số 7, có cầu thang đi riêng xuống cửa mở thẳng ra hè đường, rất giống một loạt nhà trong cùng dãy, đều thuê của Cha xứ đạo. Nhà trông thẳng hướng mặt trời chiều, gay gắt nắng lửa.

Chợ Rồng về chiều càng lao xao tấp nập người và hàng, đồ biển từ các huyện đánh bắt được theo xe khách lúc này mới gồng gánh đổ vào chợ tỉnh... Mùi tôm tép, cá, rạm tanh mặn ươn nồng vì một ngày chịu nắng. Đến nỗi buổi chiều tối nhìn vào nhà chợ, trong ánh đèn mờ ảo chỉ còn thấy trỏng trơ những bàn sạp, những cọc lều, những lá rác nhưng cái mùi chợ kia thì vẫn dai dẳng bốc lên nồng nặc thấm ướp suốt một dãy nhà trông xuống chợ Rồng. Bên kia nhà chợ cách một con đường lớn là nhà chợ vải và hoa quả, ngược lại, sáng sủa, khô ráo, bước vào đã thơm ngát như đâu đây có hoa ngâu, hoa huệ. Hương chuối ngự chỉ riêng chợ Rồng mới có, sao mà ngọt ngào, sao mà thanh khiết. Nhà phía bên ấy thuê đắt tiền hơn.

Một người khách lạ đến thăm cha tôi. Ông không phải là thầy giáo, vì không thấy nói gì chuyện lớp học. Cũng không phải là người trong họ Xuân Cầu ra, vì nếu thế mẹ tôi đã biết. Nhưng thân thiết mức nào mà khi người khách ra về rồi, cha mẹ tôi không hết thầm thì vui vẻ. Trong câu chuyện của hai người thường nhắc một tên họ rất lạ. Cũng cái tên họ ấy, tôi nghe mẹ đọc trên chiếc phong bì thư cha tôi sắp đem gửi. Cũng cái tên họ ấy, mỗi lần ông khách tới thăm, trong câu chuyện của hai người thường nhắc đến. Rồi một hôm, bà nội tôi từ quê xuống. Trong những toan tính của người lớn tôi chắp nhặt được, cộng với trí tưởng tượng của trẻ thơ, tôi hiểu rằng người chú ruột của tôi đi biệt tích từ khi tôi chưa có mặt trên đời này, mà cả nhà ai cũng nhắc trong những ngày đoàn tụ để xót thương, sắp trở về đến nhà. Người khách đã cho tôi tưởng tượng ra như vậy. Người khách đã bày cách cho cha tôi làm đơn và bà nội tôi điểm chỉ. Đơn gửi Mặt trận Bình dân Pháp đề nghị can thiệp cho chú được phóng thích. Chú đã mang một tên họ khác để không ai đoán nhận được tông tích: Phạm Văn Khương[2][2] Tức Lê Văn Lương. , số tù 6214, đảo Côn Lôn. Người khách cũng mới từ đảo Côn Lôn trở về. Cha tôi gọi ông theo cách xưng hô thân mật: Anh Khải[3][3] Tức Lê Đức Thọ. . "Anh Khải" người dong dỏng cao, cao hơn cha tôi, nhưng trẻ hơn cha tôi nhiều. Té ra "anh Khải" cũng người tỉnh này, nhà ở bên kia Đò Quan, lại là anh ruột anh Đống[4][4] Tức Mai Chí Thọ. , học trò của cha tôi và học cùng lớp với chú Bông tôi. Đều đã là người thân trong nhà cả.

"Anh Khải" vẫn đến với cha tôi và bao giờ cha cũng sai tôi những việc lấy thuốc lá, lấy trà, mặc dù tôi còn rất bé. Đó chứng tỏ một niềm vui của cha tôi, điều cha tôi quý khách. Câu chuyện giữa hai người nghiêm trang, đôi lúc xúc động, và lần nào cũng vậy, sau khi tiễn khách ra về, cha tôi ngồi vào bàn, điếu thuốc lá trên tay, cha tôi nhìn đi đâu, đang nghĩ gì? Chắc là người chú ruột biệt tích của tôi đã lên tàu thủy và sắp về đến nhà rồi. Bao nhiêu tưởng tượng hân hoan nảy nở trong óc tôi về giây phút đầu tiên chú hiện ra trước ô cửa kia, với cái đầu húi trọc, với cái áo trắng đính số tù trước ngực. Chắc chắn bà nội tôi sẽ bật khóc òa nức nở.

Cha tôi cặm cụi trước bàn. Gần như không đứng dậy. Gần như không biết gì xảy ra xung quanh. Khói thuốc lá mù mịt trong phòng đến nỗi mẹ tôi kêu lên vì ngạt. Chỉ có tôi được mon men đến gần, gọi cha đi ăn cơm, giục cha đứng dậy nghỉ. Nhưng cha chỉ thả tay xuống xoa đầu tôi:

- Con ngoan, đi chơi đã,

Tiếng ngòi bút loạt xoạt ngày đêm trên trang giấy. Liền trong nửa tháng, một cánh tay cha tôi bại đi nhức nhối.

- Sao thế, cha đau lắm ư?

Cha tôi cười:

- Con đấm đúng chỗ này này. Thế, thế. Hết đau rồi.

Cái quả đấm nhỏ xíu chỉ bằng quả ổi của tôi làm cho cha tôi buồn buồn và bật lên tiếng cười.

- Cha ơi, có khách.

Tiếng chuông đồng rung leng keng. Cha tôi xuống gác. Và người khách vụt bước vào.

Một thất vọng lớn cho tuổi thơ của tôi, không có chuyện ân xá nữa. Người lớn nói với nhau như thế sau khi khách ra về. Tất cả đổ vỡ. Những người cộng sản bị bắt trở lại rồi, hoặc sẽ bị đày đi căng. Cuốn tiểu thuyết cha tôi mới cho ra đời liền bị cấm. Cha tôi phải thi hành lệnh rời khỏi Nam Định tức khắc.

Chẳng thể bao giờ ngờ được, ít lâu sau, chính bà nội tôi đã tay nải lên đường lặn lội đến tận căng Bá Vân để thăm những người bạn con mình đã bị bắt trở lại. Lúc về, bà cầm thư đi phân phát đến từng gia đình cho anh em, mà suốt thời gian ở quây quần trên căng, anh em đã gọi bà bằng cái tên thiêng liêng, đầm ấm: Mẹ.

Ngày nay nghĩ lại tôi vẫn sửng sốt. Ngay từ những ngày xa xưa ấy trong xã hội Việt Nam đã ngấm ngầm nảy sinh một quan hệ ruột thịt giữa người với người, mối quan hệ không bắt đầu từ một dòng máu, hoặc từ đồng tiền và địa vị như mô hình xã hội đương thời. Đã là tù thì còn có địa vị gì nữa. Nhưng một sự thức dậy đột ngột đã làm cho bà tôi nhận biết, có mối hòa hợp tự đáy lòng mình với lý tưởng của con, bà tôn trọng và từ đó kính phục cuộc đời hy sinh của tất cả các bạn con. Bất chấp bọn mật thám đương theo dõi và triệt hạ gia đình mình, bà đã làm một việc mà xã hội ngày ấy người ta cho là dại dột. Những người tiếp tục đến tụ hội ở nhà với chú Bông tôi, bà che chở. Bà thường nhắc hỏi về "anh Khải". Như xưa kia "anh Khải" đã mang bóng dáng người con trai mất tích của bà đương ở tù chung thân ngoài đảo Côn Lôn, bóng dáng người cháu kêu bà bằng dì ruột là anh Tô Hiệu, mà "anh Khải" cũng rất thân ngoài Côn Đảo, sau này đã chết trong Nhà ngục Sơn La.

Sự kiện Mặt trận Bình dân ở Pháp lên nắm chính quyền và ở Đông Dương, nhiều chính trị phạm được ra khỏi các nhà lao về địa phương gây phong trào, "anh Khải" được trở về Nam Định, đã tạo nên những vang động sâu xa trong lòng mỗi người thuộc gia đình chúng tôi như thế.

Một đoạn trong Đời viết văn của tôi (Nguyễn Công Hoan): "Từ khi tôi được theo dõi các cuộc đình công của công nhân đòi quyền lợi kinh tế và chính trị, các cuộc điều tra của Chính phủ bình dân, phái đoàn Gôđa, Vian sang Đông Dương, từ khi tôi thích đọc các sách báo của Mặt trận dân chủ thì tôi bắt đầu yêu công nhân. Tôi tìm hiểu anh em thợ thuyền Nhà máy sợi và Nhà máy tơ. Tôi xin gia nhập chi nhánh Pháp của Đảng công nhân quốc tế SFIO tức Đảng Xã hội Pháp và dịp kỷ niệm Quốc tế Lao động năm 1938, tôi được cử vào ban trật tự trong cuộc biểu tình lớn ngày 1-5 tại khu Đấu Xảo Hà Nội".
"Càng gần gũi anh em chính trị phạm cũ, nhất là anh Phan Đình Khải hay đến chơi với tôi, tôi càng hiểu chủ nghĩa cộng sản là nhân đạo, và đấu tranh giai cấp chính là đấu tranh giải phóng cho đất nước, cho quảng đại nhân dân".

"Nhưng mặt khác, tôi càng hiểu cộng sản, càng yêu cộng sản, thì bọn cầm quyền ở Nam Định cũng càng hiểu tôi và càng không yêu tôi. Chúng cho tôi là người cộng sản trá hình, là đảng viên Đảng Xã hội để hoạt động công khai.

"Tôi là "một tay cộng sản nguy hiểm, cần tống ra khỏi nơi tập trung thợ thuyền này" (nguyên văn hồ sơ bí mật ở Sở Mật thám). Cho nên Nha học chính Bắc Kỳ, theo lệnh của thống sứ, đuổi tôi ra một hòn đảo xa xôi, hẻo lánh là đảo Trà Cổ. Nghị định thuyên chuyển ký trước ngày nghỉ hè mấy hôm, bắt tôi rời khỏi Nam Định lập tức".

"Thì ừ, ông cộng sản cho mày xem". Suốt nghỉ hè, tôi ngồi lỳ tại Nam Định. Tôi viết cuốn Bước đường cùng, một truyện dài về nông dân, để trang trải món nợ lòng đối với anh em cộng sản ở Nam Định. Cái "sự kiện vùng dậy" của anh Pha chưa đúng với thực tế hồi bấy giờ, nhưng cuối cùng tôi cứ cho anh nông dân vùng dậy. Đó là vì tôi đã chịu ảnh hưởng trong các sách báo cộng sản hồi bấy giờ".

*
* *

Anh Khải thật hồ hởi khi nhắc một kỷ niệm sâu sắc trong đời anh khi tôi hỏi chuyện anh. "Làm sao mà tôi quen biết anh Hoan ư? Chính là vì có Khương. Tôi ra Côn Đảo trước Khương".

Anh kể tiếp: "Đoàn 89 tù cộng sản vừa dự phiên tòa đại hình đặc biệt mở tại Sài Gòn, ngày 14-5-1939 ra đến đảo, đã gây một chấn động lớn trong anh em. Đoàn tù có mấy anh án chém được Quốc tế đỏ can thiệp hạ xuống chung thân. Tôi ở cùng banh với Khương, một trong những người tù án chém ngày đó, nhưng ở khác khám. Phải nói rằng, anh em ai cũng quý Khương. Riêng tôi, rất phục tinh thần dũng cảm của anh. Khương là một tấm gương về sự hy sinh. Con người của anh công tâm, giản dị, ăn ở với ai cũng có tình, con người tốt lắm. Sống với ai cũng được người ta thương. Hai đứa tôi thân nhau. Năm 1936 Mặt trận Bình dân lên, tôi được phóng thích. Tôi hỏi Khương: Gia đình mày còn ai không? Lần này về tao sẽ đi tìm. Từ khi bỏ nhà vào Sài Gòn hoạt động, Khương giấu biệt tông tích để khỏi lụy đến gia đình. Anh ruột của Khương là anh Nguyễn Công Hoan đang dạy học ở Nam Định. Nam Định lại chính quê tôi.

Được Đảng phân công hoạt động công khai và trực tiếp ở tỉnh nhà, tôi liên lạc với anh Hoạt tức Trần Bảo, lúc ấy là Xứ uỷ viên phụ trách Nam Định, Thái Bình. Rồi qua Đống, em trai tôi, bạn học với Nguyễn Công Bông là em út của Khương; hai cậu này cũng rất thân nhau. Thế là tôi bắt liên lạc với Bông và đến anh Hoan. Tôi kể với anh những chuyện về Khương. Tôi nhận xét anh Hoan là người điềm đạm, nói năng chắc chắn, anh là người đã được giác ngộ cách mạng.

Tôi đến anh Hoan luôn, ở căn gác số 7 phố chợ Rồng. Anh hỏi tôi nhiều về phong trào công nhân, về tình hình các nhà tù Côn Đảo, Sơn La, về tình hình công nhân máy sợi, máy tơ, công nhân ngoài mỏ. Tôi đã chuyển nhiều báo chí đến cho anh đọc. Tôi bàn với anh Hoạt tìm mọi cách giúp anh Hoan tiếp xúc được rộng rãi với công nhân. Lúc ấy tôi chỉ nghĩ, anh đã giác ngộ, cần để anh hiểu về chủ nghĩa cộng sản. Hoàn cảnh anh không đi hoạt động thoát ly được thì tham gia phong trào công khai. Còn tôi giới thiệu Bông để anh Hoạt tổ chức hoạt động bí mật và đưa vào Đảng.

- Có phải vì anh là người thích thơ phú nên ngày ấy đã gắn bó với anh Hoan?

- Hoàn toàn không phải thế. Hoạt động bí mật nên phải dựa vào gia đình các đồng chí, đó là nơi tin cậy. Tôi không hề nghĩ rằng gặp anh Hoan để ảnh hưởng gì đến bước đường viết văn của anh Hoan.

- Vậy anh có đọc Bước đường cùng chứ?.

- Có. Tôi đọc ngay từ ngày ấy. Các tư liệu giúp anh Hoan hiểu về đời sống công nhân, một phần là do tôi đưa đến. Sau này trong kháng chiến chống Pháp, đôi lần tôi cũng gặp anh Hoan, vẫn như xưa, vui vẻ, tin cậy và thân tình. Song chỉ một thời gian ngắn tôi đã chuyển công tác vào mặt trận miền Nam, rồi sau này khi anh Hoan mất, tôi ở mặt trận Tây Nam. Rất tiếc là không được gặp anh lần cuối cùng. Nhưng trước sau như một, tôi rất quý trọng anh. Chính vì hồi ấy mật thám theo dõi tôi, biết tôi thường đến anh Hoan, nên tên anh đã vào sổ đen của Sở Mật thám. Anh Hoan có nói đến một bước chuyển quan trọng trong đời viết văn của anh thời kỳ Mặt trận Bình dân, và nhắc đến tên tôi. Nhưng tôi nghĩ, đó chỉ là một phần, còn là do ảnh hưởng của cao trào cách mạng và do anh Hoan đã tự hào về nhân cách người em ruột, người ấy là bạn tù rất thân của tôi...

Quả thật tôi đã bàng hoàng trước câu chuyện giản dị trên đây khi được nghe kể lại: Một cao trào cách mạng. Những nhân cách cộng sản. Thôi thúc một tấm lòng yêu nước. Cuộc gặp gỡ giữa cao trào chính trị với nhà văn trong tình huống cách mạng hết sức đặc biệt ấy, đã tạo nên những rung động ngân vang trên những trang viết.

Hành động "vùng dậy" của nông dân Pha trong Bước đường cùng; hành động phản kháng đến cùng của Sáng, chị phu mỏ; nhân vật Pha trở thành công nhân hầm lò, đứng trong tổ chức của giai cấp, đấu tranh quyết liệt chống bọn bóc lột cường quyền, đề cương chi tiết đã hoàn thành của cuốn tiểu thuyết tiếp theo: Bước đường ngoặt. Tất cả đã chứng minh một sự kiện vượt mình, một biến động lớn trong chọn lựa nhân vật, trong quyết định số phận nhân vật, trong khuynh hướng phát triển tiểu thuyết: Nhà văn dám dấn thân và sức sáng tạo bật dậy.

Lịch sử văn học Việt Nam cho đến hôm nay có lẽ cũng mới chỉ có một cuộc gặp gỡ này, một nhà văn với cao trào cách mạng, trong một tình huống đặc biệt của cách mạng. Cuộc gặp tự nhiên như con sông nhỏ hòa vào trong con sông lớn tan trong nhau ở khúc chảy xiết.

Cái đẹp đến, chẳng bao giờ cần sự sắp đặt.

Cái đẹp xuất hiện, không bao giờ tuân theo ý định có trước chủ quan...

Cái đẹp bình dị chỉ nảy sinh trong sự chân thành của tấm lòng. Chính vì lẽ đó, mối tình đã long lanh tồn tại. Căn nhà nhỏ số 7 nhìn xuống chợ Rồng, trở thành nơi chứng kiến.



-------------------------------
[1]. Nhà văn Nguyễn Công Hoan.
[2]. Tức Lê Văn Lương.
[3]. Tức Lê Đức Thọ.
[4]. Tức Mai Chí Thọ.

Trích trong cuốn Lê Đức Thọ - Người cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng;

Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011



Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2019

Tôi mới thấy bà



Minh họa: Kênh Truyện Xưa

Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Cô Vân | 2. Thái Hoàng Phi | 3. Chiến Hữu


Mời đọc Bản đánh máy

Tôi mới thấy bà

Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan


Cái ngày mà ông ấy bắt được quả tang bà ấy “nói chuyện” với trai ngay ở trong buồng đến nỗi hai người đánh nhau một trận ra tuồng mà bà con ta xúm đông xúm đỏ ở trước cửa để xem, thì ai tưởng đâu có ngày nay, ông bà ấy lại hòa hợp vui vẻ được nhỉ!

Hẳn cũng chửa ai quên được cái câu đau đớn mà bà ấy mỉa chồng. Phải bà ấy gọi lũ con nhỏ ra đứng trước mặt, rồi trợn mắt, nghiến răng ken két, chỉ tay và nói:

- Đừng hợm! Tưởng cái mặt ấy mà đẻ nổi những con như thế này phải không?

Ấy mới nguy! Thế ra thằng Lê, con Lý, thằng Đào là con ai kia đấy! Trong khi quá giận, bà ấy đã vô tình công khai cái lý lịch hay ho!

Khốn nạn, lũ trẻ con chẳng hiểu chuyện gì, chúng nó thấy ba và má cãi nhau, thì sợ hãi, rồi dần dần, lần ra sau nhà đánh đáo.

Mà khốn nạn hơn nữa là lúc ông ấy được nghe câu nói ấy. Thật chẳng khác gì là bị tiếng sét đánh ngang tai. Ông ấy rú lên một tiếng, rồi gục đầu xuống bàn hu hu khóc.

Thật là một sự ông ấy chẳng ngờ. Mà bà con ta cũng chẳng ai dám ngờ là lũ con ấy chẳng phải ông có công đúc cốt. Phải, đèn nhà ai nhà nấy rạng, chứ ai rỗi hơi mà xem xét đến những cái không quan hệ đến mình. Ta có biết gia đình ấy, thì họa chăng từ khi ông ấy bổ về tỉnh nhà, ta chỉ biết ông ấy khinh người bằng nửa con mắt, bà ấy hợm hợm chảy ra mà thôi. Chứ còn cái thằng Lê, con Lý, thằng Đào, với cái hạnh kiểm đáng phục của bà ấy, thì không mồm bà ấy phun ra, có họa thiên lôi biết!

Mà thật, những đứa bé con nhà ông ấy đứa nào cũng phốp pháp, mũm mĩm, tươi tỉnh, thật trái với ông ấy, đã gầy như cái que, mà mặt mũi lúc nào cũng khó đăm đăm, nhăn nhó như cái thằng đau bụng. Nhưng ta có thể tưởng là những đứa trẻ ấy giống máu mẹ, vì bà ấy là một “con bò cái chắc chắn” béo nùng nục, nhất là đôi môi, vừa ướt vừa dầy. Gia dĩ bà ấy đẹp, và thích trẻ. Năm ấy đến bốn mươi tuổi đầu rồi chứ còn ít gì, thế mà vẫn còn làm đỏm như cô con gái thèm chồng. Thấy người ta quần trắng, bà cũng quần trắng, thấy người ta rẽ bên, bà cũng rẽ bên. Nhưng, lạy thánh […] chứ khi bà ấy ăn mặc, đánh phấn […] thì ngay ngoan ngoãn như tôi đây, cũng phải trố mắt, ngây người mà nhìn và nuốt nước dãi. Đẹp thật!

Nhưng mà ông ấy có kém vẻ tân thời chút nào đâu? Bà rẽ lệch thì ông cũng rẽ lệch. Bà áo xa-tanh xúp dài gần tới mắt cá, thì ông cũng áo xa-tanh xúp dài xuống đến bắp chân. Bà quần trắng thì ông cũng quần trắng. Thua gì? Mà ông lại còn tiến hơn bà một bậc, là ông để răng trắng và có cả áo ba-đờ-xuy nữa. Thế thì bà không cảm ông, thì cảm ai?

Nhưng than ôi! Ông ấy cũng tân thời lắm đấy, nhưng không phải! Những hàm răng trắng, những đầu rẽ lệch, những quần trắng, những áo thướt tha dài, mà ở đàn bà, thì nó thành ưa nhìn, chứ mà đàn ông chúng ta, nhất là hạng thiếu niên ta, sống trong thể kỷ thứ hai mươi này, mà còn giữ mãi bộ áo quần quốc túy, thì ăm thưa gì? Có khi mặc thế mà đi hỏi vợ, thì Cẩm tha phạt cho đã là tốt phúc đấy!

Đối với những bà vợ ấy, thì ông chồng phải béo, tốt, khỏe, đẹp, vui vẻ, trung thành, vân vân, vân vân, mà bề ngoài phải mặc quần áo tây đầu chải thật bóng, râu ria cạo cho nhẵn thín, lúc nào cũng phải có cặp kính đồi mồi nó nhong ếp trên sống mũi. Nghĩa là vừa có vẻ hung hồn, vừa ra nhà học giả. Chứ mà lủn củn lùn cùn như ông ấy thế kia thì “về”!

Bởi vậy chẳng được chồng béo, tốt, khỏe, đẹp, vui vẻ, trung thành, mà đến cả cái vân vân vân vân, cũng chẳng có, nên chắc rằng bà phải sưu tập một vài người chồng dự khuyết, để khi ông có việc đi vắng nhà là bà cho mời đến đánh tổ tôm, hút trứng la-coóc, rồi vô phép ông Tơ!

Ờ! Thế mà tài thật! Những cuộc ái tình vụng trộm ấy có phải nó đi không để lại dấu vết đâu mà anh chồng không biết nhỉ! Kìa! Thằng Lê, con Lý, thằng Đào, là ba cái chứng cớ; trước kia, chúng nó chửa ra đời, thì bà ấy còn giấu giếm ở tận đáy lòng, nhưng một ngày bụng dạ bà ấy một rõ rệt ra, rồi mà có lẽ vì ông vẫn không ngờ vực vợ, nên tức mình, chúng nó mới dần dần rủ nhau chui tọt cả ra ngoài cho ông xem để ông hiểu!

Nhưng vì ông không hiểu: cái nghĩa bóng của sự đẻ con, nên ông yêu chúng nó hết sức, và khi thấy vợ diếc móc mình không đẻ nổi lũ con như thế, ông mới như nghe tiếng sét đánh ngang tai!

Rồi cũng vì câu nói đó, mà ông làm đơn xin ly dị vợ, và trong khi đợi tòa xử, ông còn ốm, ốm đến mấy tháng, tưởng chẳng còn sống được đến ngày nay.

Thương hại quá! Ngày ấy ông ốm có mỗi một mình, chẳng có ai trông nôm săn sóc cho cả, vì vợ ông, chẳng đợi gì pháp luật, ngay sau khi mắng chồng câu ấy, bà quát con Sen xếp va ly quần áo để ra ga, về Hà Nội. Trước khi lên xe, bà vẫn còn giận lắm, bà nhìn ông thổn thức, bà cười gằn, rồi nguýt một cái đến dài và nói:

- Để bà xem đứa nào cần đứa nào!

*

Rồi chẳng biết tòa không chiều ý ông, hay đứa nào cần đứa nào, mà sau ta lại thấy bà xách va ly cùng về với ông, hai người vui vẻ hòa hợp ở với nhau, thân mật như đôi tình nhân còn đương kỳ thề sống thề chết về danh dự.

Trông về ngoài gia đình ấy, đố ai không biết mà đoán được rằng nó đã có lần xuýt nữa thì tan nát, vợ một nơi, chồng một nẻo, mấy đứa con thì đầu đường xó chợ bơ vơ.


*

Nhưng trời già thật độc địa! Giữa cái lúc vợ chồng người ta đương hưởng cái lạc thú, đêm đềm của cảnh gia đình, thì ông Xanh đem ngay một cái tai vạ tầy đình đến. Ông ấy bị bắt quả tang làm một việc phi pháp.

Thôi hỏng! Phen này không tù cũng mất chức. Mất chức thì túng! Túng thì đói! Đói thì khổ to! Ấy thế mà còn tù thì, trời ơi! Mất vợ, mất con, mất cả cái để khói hương sau lúc chết!

Nghĩ đến tương lai, ông lo, ông hối hận, ông khóc lóc, rồi phát sốt phát rét, rên khừ khừ!

Suốt mấy ngày đêm, ông không ăn, không ngủ, ông nằm dí trên giường, như người ốm đợi chết đến nỗi bà phải gắt:

- Thì ông cũng phải dậy mà bàn tính công việc,, chứ chịu chết à?

Ông gượng ngồi, nhưng không đủ sức để dựng nổi cái lưng còm rỏm, ông bèn mặc kệ nó rơi lả xuống giường, rồi nhắm mắt, nói như mê sảng:

- Thôi, tội sờ sờ ra đó, còn làm gì được nữa.

Bà đập tay xuống bàn, cau mặt:

- Đàn ông mà hèn thế! Mới có thế đã hết vía lên rồi!

Rưng rưng nước mắt, ông run rẩy, đưa tay ra để nắm tay vợ và nói:

- Bà có nghĩ hội tôi cách nào không!

Bà ngắm chồng mà thở dài. Bà lắc đầu chép miệng, rồi tiến lại gần hơn, dịu dàng nói:

- Nếu ông cứ mặc tôi để tôi lo lắng, thì mười phần có thể chắc được chín rưỡi.

Mở choàng mắt ra, ông ngồi nhổm dậy ngơ ngác nhìn như tìm vị phúc tinh, rồi ngạc nhiên, hỏi vợ:

- Bà vừa nói gì?

- Nếu ông cứ mặc tôi để tôi lo lắng, thì mười phần có thể chắc được chín rưỡi.

Ông mừng rỡ, trợn mắt rõ to để chòng chọc nhìn vợ:

- Bà nói thật?

Bà quả quyết, gật đầu:

- Tôi chắc thế.

Ông nắm chặt tay bà, năn nỉ:

- Thế thì phúc nhà ta còn vượng. Sao bà không bảo ngay từ hôm nọ?

- Nhưng biết ông có bằng lòng giao cho tôi việc này không?

Gật lấy gật để, ông run run đáp:

- Sao không bằng lòng? Không bằng lòng để mà chết à?


*

Cuối năm ấy, một hôm, người ta thấy ông ngồi bên cạnh vợ bế đứa con mới đẻ.

Nhưng các ngài đừng tưởng gia đình nhà ông đã trải qua cuộc tang thương đâu nhé. Này vẫn hoành phi, câu đối, này vẫn sập gụ, tủ gương, bao nhiêu vẻ choáng lộn, bao nhiêu vẻ đài các ngày trước hiện nay vẫn còn, mà thằng Lê, con Lý, thằng Đào bây giờ chiều chiều lại nhảy lên ô tô cho anh Tài vận đi về vùng nhà quê đổi không khí. Nghĩa là không có cái gì mất mát cả, mà ông bà ấy nhờ trời còn thêm được mụn con trai.

Ông ấy bế con, âu yếm, hôn hít bộ tóc vàng như tơ của nó, rồi nhìn vợ. Bà mỉm cười, khép lại cái ấp cho kín bụng thằng bé.

Bỗng ra vẻ nghĩ ngợi điều chi, ông ngậm ngùi thởi dài, rồi trông trộm vợ. Ngạc nhiên, bà hỏi một cách âu yếm:

- Ông có điều gì nghĩ ngợi?

Vẫn chưa thấy chồng trả lời, bà véo von ngâm:

- Đẻ ra, con thiếp, con chàng, con ai?

Ông mỉm cười, lắc đầu:

- Không phải, tại tôi nghĩ hối hận cái ngày dại dột làm giấy ra tòa độ trước!

Bà lườm yêu ông rồi mỉm cười.

Ông cũng mìm cười, hôn tóc, rồi nắm chặt tay vợ, gật gù đáp:

- Thoát được cái nạn năm ngoái, tôi mới thấy bà là có giá trị thật!




NGUYỄN CÔNG HOAN
(Tác phẩm đăng trên báo Ích Hữu)
No 1 (25 Février 1936 - 5 xu)

© 2012 Blog NXB Tân Dân





Mời Đọc/Lấy về Bản chụp dạng PDF

Trong Tổng tập văn học Việt Nam - Tập 28 - Trung tâm KHXH NV Quốc gia -2000


Tham khảo: Các bài viết liên quan

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2019

Từ James Joyce đến Nguyễn Công Hoan: Lịch sử của thị dân


Từ James Joyce đến Nguyễn Công Hoan:
Lịch sử của thị dân

Hiền Trang

Thành phố có trước hay người thành phố có trước? Nếu xét về bình diện ngôn ngữ, thì từ “city” – thành phố - trong tiếng Anh bắt nguồn từ civitas trong tiếng Latinh, mà civis nghĩa là công dân. Còn trong vở “Coriolanus”, William Shakespeare cũng viết: “- Thành phố là gì, nếu không phải con người? - Phải, con người chính là thành phố.” Vậy tức là có thị dân rồi mới có thị thành.

James Joyce đã ký thác lại một Dublin u mang qua 15 câu chuyện mà xếp riêng truyện nào ra cũng có thể đặt vào hàng kiệt tác



Thành phố, quả vậy, không tạo nên nhờ những đại đế giễu võ giương oai hay những triết gia siêu phàm mẫn tiệp, thành phố là một không gian hình thành nhờ những thói quen của những người thị dân bình thường, thậm chí tầm thường, bé mọn, khốn cùng. Lịch sử đô thị cũng không bao giờ là một lịch sử đơn tính. Nó luôn là một tập hợp những mẩu chuyện từ rất nhiều người, rất nhiều những kẻ đã sinh ra, đã sống, đã chết. Và có lẽ bởi thế chăng, mà những văn sĩ khi muốn bắt lấy cái linh hồn của một thành phố, thì thường lấy truyện ngắn, rất nhiều truyện ngắn, làm phương tiện biểu đạt?

Jan Neruda đã làm sống dậy một Prague nhộn nhạo qua tập truyện ngắn “Những câu chyện về khu phố nhỏ ven sông” (tên gốc “Povídky malostranské”). Alberto Moravia cũng nhờ 60 truyện ngắn trong tập “Racconti romani” (Những câu chuyện thành Rome) mà lột tả được khí sắc thành Rome thời hậu chiến. Aziz Nesin sẽ mãi mãi là “chú bé thành Istanbul” nhờ hàng ngàn lát cắt cười ra nước mắt về đời sống thành phố giữa hai bờ lục địa. Và đại văn hào vĩ đại bậc nhất thế kỷ 20 là James Joyce đã ký thác lại một Dublin u mang qua 15 câu chuyện mà xếp riêng truyện nào ra cũng có thể đặt vào hàng kiệt tác. Còn nhắc tới Hà Nội, chúng ta chẳng phải cũng có Nguyễn Công Hoan hay sao?

Lịch sử là lời bộc bạch của những thị dân

Thế kỷ 19, nằm dưới một lâu đài tráng lệ, khu phố nhỏ Malá Strana nơi tả ngạn con sông vắt qua Prague tập hợp đủ hạng người. Họ là những quý bà trung niên ngồi lê đôi mách, những phú ông sắp chết già, những tên ăn mày mạt hạng, những cặp tình nhân, những gã ế vợ, những thanh niên nổi loạn âm thầm.

Đó cũng là một thế kỷ bản lề của Prague và vùng đất Séc. Nền quân chủ lưỡng hợp Áo – Hung thành lập. Ở Bohemia, mâu thuẫn giữa người Séc và Đức không thể nào trị dứt điểm hoàn toàn. Phong trào hồi sinh văn hóa Séc nổ ra, những người cấp tiến đấu tranh cho ngôn ngữ, tính danh Séc đã dần bị đồng hóa từ thời Harbsburg. Thế nhưng, trong những hang cùng ngõ hẻm của Malá Strana, những người thị dân vẫn ơ hờ với đổi thay xã hội. Họ bận bịu làm thơ tán tỉnh người tình trong mộng, họ bận bịu đánh bạc, bận bịu hóng hớt đám ma của một người giàu có.

Thành phố là một không gian hình thành nhờ những thói quen của những người thị dân bình thường, thậm chí tầm thường, bé mọn, khốn cùng. Lịch sử đô thị cũng không bao giờ là một lịch sử đơn tính. Nó luôn là một tập hợp những mẩu chuyện từ rất nhiều người, rất nhiều những kẻ đã sinh ra, đã sống, đã chết.

Thế mà rồi, trong cái nhịp đời bất tận của những hỉ nộ ái ố tầm thường ấy, vẫn hằn in những vết chân của một niên đại lịch sử đầy biến động. Truyện ngắn “Chiến trận đánh nước Áo” chẳng hạn, một lũ trẻ con bốn đứa vắt mũi còn chưa sạch bày đặt… chiếm cứ lại thành Prague, lật đổ nước Áo. Chúng lên cả một kế hoạch tính toán chi li lắm, nào là đánh lúc nào, đánh ở đâu, đánh bằng cái gì, chúng còn đưa 6 zloty cho một lão già bán thịt gà, nhờ ông mua hộ thuốc súng. Ấy thế mà cuối cùng, chúng lại bị lão già khôn lỏi lừa mất luôn 6 đồng tiền xương máu ấy. Cái hay của truyện là, dẫu biết bọn trẻ chỉ là một bọn nít ranh, người ta vẫn cứ nghĩ biết đâu chúng lại chẳng làm nên chuyện. Mà cuối cùng chúng thất bại vì cái gì kia chứ? Vì cái thói tham vặt của một lão con buôn! Đó, lịch sử đã luôn thất bại vì những lão con buôn như thế đó.
“Những câu chyện về khu phố nhỏ ven sông” của Jan Neruda trong ấn bản tiếng Việt.


Trong khi đó, Alberto Moravia, người mà ta thậm chí có thể ngợi ca như một Vittorio De Sica của văn chương, dữ liệu của Moravia về một thành Rome nhếch nhác hậu Thế chiến thứ hai khi phát xít Ý thua cuộc là gì nếu không phải là một ông chồng phẫn chí cứ đến mùa hè là chỉ muốn bỏ nhà ra đi, nếu không phải là hai tay thợ cạo phải cạo lông tóc cho nhau chỉ vì nước Ý khốn khổ lắm rồi, người Ý làm gì còn tiền mà đi cắt tóc, hay một kẻ thò tay vào miệng người chết những mong lấy cái răng vàng, thế rồi bất ngờ cái miệng người chết đóng phập lại, và hắn ta cùng đồng bọn liền xộ khám?

Cũng tương tự vậy, những truyện ngắn về Hà Nội của Nguyễn Công Hoan cũng là tiểu vi lịch sử của một đô thành bốc mùi thối hoăng của chế độ thực dân, chế độ phong kiến, một đô thành đang rữa nát vì những cuộc khủng hoảng đạo đức, khủng hoảng hiện sinh. Đó là cái thời của bọn nhà báo bồi bút tối ngày hút thuốc phiện rồi chọc ngoáy thiên hạ bằng chữ nghĩa vô lương tâm, là thời của những tên quan nha kẻ cắp, những kẻ trí thức đớn hèn, phường tân thời phóng đãng.

Còn Aziz Nesin, người sinh ra dưới chế độ Ottoman, thì sao? Trong hàng trăm những truyện ngắn mà ông từng viết, tôi vẫn còn nhớ “Đừng mua dây thun cho quần đùi nhé”. Truyện chẳng có gì, chỉ là về một anh công chức quèn ngày ngày đi làm hay bị hàng xóm nhờ vả mua cái này cái kia, hết mua cà phê, mua xà phòng lại mua quần đùi, bít tất. Môt hôm, tẩu hỏa nhập ma thế nào, anh lại viết một lô một lốc danh sách hàng hóa đó vào thông tư gửi lãnh đạo. Ấy thế mà, ông giám đốc cũng chẳng phát hiện ra và ký bừa vào thông tư anh gửi. Và lại ấy thế mà, ông ta để nhầm thông tư vào phong bì và rồi đến lượt bưu điện cũng gửi nhầm lại cho văn phòng anh công chức. Thế đấy, lịch sử một giai đoạn của Istanbul đã lồ lộ trong một dây chuyền xã hội đãng trí, quan liêu, trì trệ ấy đấy, nào có cần một bản hùng biện hay bút ký tỉ mỉ nào về những chính khách hay lãnh tụ?
Nhưng, có lẽ đỉnh cao của kỹ thuật đại tự sự về một thành phố thông qua những tiểu tự sự bên trong nó phải là Dubliners, một đỉnh cao văn chương do James Joyce chắp bút, mà ở Việt Nam vừa ra mắt thêm một bản dịch mới của Thiên Lương mang tên “Dân Dublin”.

Dublin của Joyce, một Dublin ảm đảm và u buồn, ảm đạm và u buồn đến mức giữa những năm tháng chủ nghĩa dân tộc Ireland lên đến đỉnh điểm, Dublin vẫn ảm đạm và u buồn như thế. Tất cả những bóng người lang thang nơi Dublin mà Joyce mô tả, từng người từng người một là phiên bản thu nhỏ, là sự phản ảnh của tự thân thành phố Dublin. Họ tù đọng trong cuộc sống thường nhật như Dublin tù đọng dưới áp lực của người Anh và của nhà thờ, họ đốn ngộ về đời mình như Dublin vùng lên với những phong trào hồi sinh ngôn ngữ, văn hóa bản địa, nhưng rồi họ lại vẫn tê liệt như chính Dublin những năm tháng ấy không thể tìm được lối ra khỏi những mâu thuẫn chính trị.
Thậm chí, Joyce tinh tế đến mức đặt nhân vật của ông vào cảnh huống ăn một bữa ăn với đĩa đậu và một ly bia gừng. Tinh tế ở điểm nào? Tinh tế ở điểm, đậu màu xanh, bia gừng màu cam, quốc kỳ của Ireland chính gồm ba màu xanh, trắng, cam. Và khi tên giang hồ ấy ngấu nghiến vào bụng “lá quốc kỳ” của Ireland, ta sẽ tự hỏi, liệu chăng đó có phải một ẩn dụ cho cuộc khủng hoảng danh tính của người Ireland và sự mong manh của niềm hy vọng về một đất nước Ireland hoàn toàn độc lập.

Và cho đến những dòng cuối cùng trong tập truyện của Joyce, khi tuyết nhè nhẹ rơi trên khắp thế gian, “lên tất cả những người còn sống và những người đã khuất”, Dublin dù đã đối mặt với phút giây hiển lộ, vẫn là một Dublin bế tắc, ứ trệ, phi hành động, cũng như mỗi kẻ sống trong lòng Dublin trong toàn bộ tác phẩm, sau khoảnh khắc khai minh, lại lựa chọn trở về với gông cùm đã đeo mang từ tiền kiếp, người thiếu nữ lại từ bỏ người tình để về căn nhà đày ải, kẻ ăn chơi lại tiếp tục đánh bài, người chết vẫn tiếp tục nằm yên dưới ba tấc đất. Có ai bộc bạch được lịch sử thành phố tường minh hơn những tiện dân đang kéo lê đời mình trong thành phố đó?


Tiện dân thế nào, thị thành thế ấy

Nhưng có phải đâu chỉ người Dublin bị trì níu trong vũng bùn của vòng đời trơ trơ, vô vị và nhạt toẹt của cuộc đời?

Người Prague cũng thế cả thôi. Đọc lại thiên truyện ngắn “Những người hàng xóm”, vẫn trong tập truyện về khu phố cũ Malá Strana mà xem. Một luật sư tập sự ba mươi tuổi hăm hở chuyển tới cố quận Malá Strana nên thơ yên tĩnh những mong tập trung ôn thi lấy chứng chỉ hành nghề. Trời ơi! Anh ta vạch ra bao nhiêu là kế hoạch, mỗi ngày sẽ học gì, học gì, và chẳng mấy chốc sẽ xong xuôi. Thế mà khốn nỗi, sống giữa láng giềng phiền nhiễu, anh sau rốt cũng bị kéo vào cuộc đời vô thưởng vô phạt của họ, những kẻ cả ngày chẳng biết làm gì ngoài buôn chuyện, đưa chuyện và gây chuyện. Cái chí tiến thủ của anh ngày nào còn hừng hực, vậy mà giờ đây, giờ đây nó bốc hơi tận đâu đâu. Anh sau rốt lại rơi vào cái bẫy hiện sinh của một cuộc đời “phi lý” mà sau này triết gia Camus đúc kết.

Mà rồi người thành Rome hay Istanbul cũng thế thôi. Moravia hay Nesin cũng chẳng thiếu nhân vật cùn mòn. “Giá không có ruồi ấy à, tôi sẽ làm việc phải biết nhé! Cứ gọi là làm như điên chứ không nói chuyện.”, họ có đủ lí do lí trấu để mà mãi giậm chân tại chỗ. Cái lịch sử tính riêng biệt của mỗi thành thị cuối cùng lại gặp gỡ nhau ở điểm này, tính cách thị dân. Đúng thế, tiếp điểm của mọi nền văn minh trên thế gian này hình như đều ở cả đấy, ở cái “chí thú thấp hèn, kiến văn thô lậu” của tầng lớp thị dân. Cụm từ “chí thú thấp hèn, kiến văn thô lậu” là mượn từ một tài liệu phê phán thói xấu người Việt do Đông Kinh Nghĩa Thục soạn năm 1907, mà sau được tác giả Vương Trí Nhàn tập hợp thành cuốn "Người xưa cảnh tỉnh", năm rồi vừa “tái xuất giang hồ”.

Sự phổ quát của thói xấu thị dân chính là mạch kết nối giữa những tác phẩm tưởng chừng khác biệt. Lẽ thường, không ai có thể xếp James Joyce vào cùng một chiếu với Moravia hay Neruda, Nesin, Nguyễn Công Hoan. Bốn người kia đều xuất thân là nhà báo, văn phong có tính bình dân, châm chọc, chế giễu và quan trọng nhất là tính phơi bày. Còn Joyce, văn chương của Joyce luôn là một bí ẩn, như một câu đố ghép hình nhưng bị ông giấu đi một vài mảnh ghép, đòi hỏi người đọc không ngừng giải nghĩa, suy tư. Kỹ thuật viết của Joyce lại phức tạp, tinh xảo, đầy ẩn ý. Joyce cũng không dùng Dubliners để chê bôi, giễu cợt ai. Dẫu vậy, những mặt tối nơi người thị dân của Joyce, ở một vài khía cạnh, vẫn gặp gỡ những mặt tối trong người thị dân của Neruda hay Nesin hay Nguyễn. Và, điều đấy hẳn có nghĩa tự thân người thị dân đã đầy thói tật, những thói tật ấy dù trong con mắt cảm thông nhất cũng không thể nào biến báo.

Trong tác phẩm “Dạo bước”, triết gia Thoreau có diễn giải từ “villain” (kẻ xấu) có chung gốc cùng từ “villa” (căn nhà), bởi người xưa đã tin rằng kẻ nào không có chí viễn du, cứ mãi quẩn quanh trong một cái nhà, một cái làng, hay rộng ra là một không gian địa lý giới hạn (như một thành phố), thì tất đạo đức kẻ đó sẽ suy vi.

Tính trì trệ là bước suy vi thứ nhất của người thị dân trong những nhát cắt vi lịch sử. Họ đóng khung cuộc đời mình trong những khu phố nhỏ của những tiểu thương chi li toan tính hay những người đàn bà rỗi việc (như Jan Neruda miêu tả), hay trong những tòa soạn không ra tòa soạn, cơ quan không ra cơ quan, rồi những cuộc tổ tôm, đánh chén (như Nguyễn Công Hoan đã viết), thậm chí như trong truyện ngắn “Eveline” của Joyce, một người thiếu nữ đã gần lên tới tàu thủy để rời khỏi Dublin rồi, thế mà khi tiếng còi tàu ngân lên, cô cũng vùng quay trở lại cái ngôi nhà với người cha tàn tệ. Bị trói buộc trong những không gian độc hại ấy, từ bước thứ nhất ấy, họ dần tiến đến bước thứ hai, bước thứ ba, thứ tư, bất kiểm soát. Dần dần, họ cũng trở nên đồng hóa với không gian đó, nhẹ thì trở nên bạc nhược, nặng thì trở thành gian xảo, lưu manh, hèn hạ, dối trá, tham lam, học đòi, trưởng giả, quan liêu.

Họ đớn hèn đến rợn cả người: Hai tay đàn ông trai tráng mà phải nhờ tiền một ả đàn bà. (truyện ngắn “Hai tay chơi” của James Joyce); Một kẻ bán quan tài chỉ mong người ta chết quách đi để y còn lập kế sinh nhai, bởi “ít người chết thì ta sống làm sao được?” (truyện ngắn “Một tin buồn” của Nguyễn Công Hoan); Một kẻ lông bông vì muốn có đôi giày mới liền rủ thêm một tay đầu đường xó chợ đi cướp của (truyện ngắn “Đôi giày” của Alberto Moravia); Một người đàn bà chỉ vì thói đặt điều ăn không nói có đã đẩy một anh bán hàng đi vào chỗ chết (truyện ngắn “Cái tẩu bọt biển” của Jan Neruda). Chính những kẻ như vậy đã khiến bộ mặt của thị thành nếu không nhếch nhác thảm hại như Rome thì cũng nực cười như Istanbul, nếu không nực cười như Istanbul thì cũng thê lương, tù túng như Dublin vậy.

***

James Joyce sinh thời từng viết thế này: “Với riêng mình, tôi lúc nào cũng viết về Dublin, bởi nếu như tôi có thể đi vào trái tim của Dublin, tôi sẽ có thể đi vào trái tim của mọi thành phố trên thế giới. Trong cái khu biệt đã chứa đựng cả cái toàn thể”.

Trong cái khu biệt đã chứa đựng cả cái toàn thể. Không ai có thể du hành khắp thế gian. Càng không ai có thể tận tường từng chặng đường của lịch sử. Nhưng khi quy nạp những sự kiện lớn lao về những hiện tượng bé mọn trong đời, ta sẽ thấy có những nút thắt nhỏ thôi nhưng thắt cả những rối rắm mấu chốt của cả một thời đại. Và có khi, người ta chỉ cần đọc Dublin thôi mà cũng có thể nhìn được ảnh tượng của cả Istanbul hay Hà Nội. Lại có khi, người ta chỉ cần nhìn bi kịch của một anh bán bột mì thôi mà cũng thấy được cả một thời li loạn của đô thành.

Tưởng xa mà gần, chính là như thế.



Hiền Trang



Những truyện ngắn về Hà Nội của Nguyễn Công Hoan cũng là tiểu vi lịch sử của một đô thành trước năm 1945.