Về truyện "Kìa! Con… (Chiều khách)"
(1903-1977)
Trích trong “Đời viết văn của tôi”.
Sưu tầm các tác phẩm của Nhà văn Nguyễn Công Hoan và các bài viết về Ông có trên mạng.
"cái thằng tiên ranh",
"ta đầy xuống hạ giới
để bắt chịu nhục hình
ai ngờ hắn vẫn nhàn
Ngày tháng ngâm thơ tràn"...
"Tội nặng nhất trần gianNguyên văn:
Là bắt anh Khắc Hiếu
Làm tạp chí "An Nam"
Chư tiên đồng thanh nói:
“Tội nặng nhất trần phàm
Là bắt anh Khắc Hiếu
Làm chủ báo An Nam”
Đầu thế kỷ XX, với sự xuất hiện của báo chí và nhà xuất bản trong đời sống, viết văn viết báo đã trở thành một nghề – theo cái nghĩa là một công việc để người ta có thể làm và nhờ đó mà tồn tại (điều này chưa từng xảy ra ở xã hội Việt Nam trước đó). Tản Đà thuộc thế hệ những người làm văn làm báo đầu tiên ấy. Năm 1915, Tản Đà bắt đầu công bố tác phẩm trên Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh, mở màn cho một cuộc đời “buôn văn bán chữ kiếm tiền tiêu” đầy sóng gió. Năm 1921, hội Bắc Kỳ công thương ái hữu thành lập, ra báo Hữu Thanh làm cơ quan ngôn luận, Tản Đà được mời làm chủ bút. Nửa năm sau, do bất đồng quan điểm với nhóm Nguyễn Huy Hợi và Nguyễn Mạnh Bổng, ông từ chức chủ bút báo Hữu Thanh. Năm 1926, Tản Đà mở An Nam tạp chí, tự lãnh vai trò chủ báo, mời Ngô Tất Tố giữ chân thư ký toà soạn. Kể từ năm 1926 đến năm 1933, suốt bảy năm ròng hầu như mọi hoạt động của Tản Đà đều dồn vào việc xuất bản, tái bản An Nam tạp chí. Ông chăm chút, tâm huyết với tờ báo, đương nhiên, nhưng theo cách riêng của ông, vì thế mà nó long đong tới sáu lần đình bản, đến lần thứ sáu (năm 1933) thì thật sự cáo chung: Tản Đà chấm dứt đời chủ báo!
Trong bài báo có tên Người làm văn in trên Đông Pháp thời báo (số 641, năm 1927), Tản Đà viết: “Các báo quán đã là một đạo quân tiên phong trong trận tiến thủ của xã hội, thời phàm các người viết văn trong báo giới đều là một tên lính ở trong đội tiên phong. Oai nghiêm thay! Hùng dũng thay! Một ngọn bút sắt tung hoành có quan hệ đến vận hội của đồng bào hai mươi lăm triệu”. Rải rác ở nhiều bài thơ, bài hát nói, Tản Đà cũng thường khẳng định trách nhiệm to lớn của báo chí đối với đời sống, đối với nhân quần. Rõ ràng, mang cao vọng trở thành một “Á Châu Khổng phu tử chi đồ”, lập một sự nghiệp văn chương “có bóng mây hơi nước đến dân xã”, làm báo với Tản Đà không đơn giản chỉ là việc “nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng”. Thế nhưng, để tờ báo có thể thực hiện được trọng trách xã hội như ông hằng kỳ vọng, trước hết nó phải không bị chết yểu. Mà muốn tờ báo không bị chết yểu, người chủ báo trước hết phải biết và phải giải được những con toán đơn giản về cân đối nguồn thu nguồn chi (tiền), rồi nguồn bài vở để báo ra đều kỳ. Tản Đà có làm được điều đó không? Trong Giấc mộng lớn, Tản Đà kể lại về tình cảnh của An Nam tạp chí trước khi bị đình bản lần đầu tiên: “Tiền ăn tiêu hàng tháng không có sổ chi tiêu, một là tạp chí về công việc tòa báo, hai là nuôi người nhà làm, ba là cung tiếp tân khách, lại bằng khi phóng phiếm vô ích, mỗi tháng không biết là bao nhiêu? Vì mỗi tháng không biết bao nhiêu tiền chi tiêu, cho nên không bao lâu mà tòa tạp chí An Nam lại như thể cái thành bị vây vậy”. Ngô Tất Tố, người cùng chèo chống con thuyền An Nam tạp chí với Tản Đà qua bao sóng gió cũng xác nhận: “Trong những cái khác người của ông Tản Đà, đức tiêu tiền cũng nên để ngang với tài thơ và tài rượu” (Tản Đà ở Nam Kỳ – Tao Đàn, 1939). Cũng trong bài viết ngay sau khi Tản Đà qua đời này, Ngô Tất Tố cho biết thêm: “Đành rằng nếu không có rượu thì ông Tản Đà sẽ không phải là ông Tản Đà, nhưng trong khi nó làm cho ông Tản Đà thành ông Tản Đà, chính nó cũng là thủ phạm làm cho An Nam tạp chí không có bài đưa nhà in. Bấy giờ An Nam tạp chí xuất bản mỗi tháng hai kỳ, nhưng mấy tháng sau nó đã đảo lại: Mỗi kỳ hai tháng”. Lần khác, Ngô Tất Tố than thở về Tản Đà với Vũ Bằng, Vũ Bằng thuật lại; “Chưa uống thì bảo không có rượu như cái máy không xăng nhớt không chạy được, uống vào say rồi thì nằm khoèo ra ngủ và lý luận một mình: Say mà làm việc thì hỏi đời còn có cái gì thú nữa?” (Người ghét Tản Đà - tạp chí Văn, số đặc biệt về Tản Đà, 1971). Bấy nhiêu chi tiết đó có lẽ đã đủ để hình dung về cung cách Tản Đà quản lý và vận hành tờ An Nam tạp chí trong vai trò của một ông chủ báo. Và nó cắt nghĩa cho ta hiểu, tại sao trong sáu lần An Nam tạp chí đình bản, duy có lần đầu tiên là bị đình bản (vì bài viết Một cuộc chiến tranh người An Nam khởi đầu từ năm Đinh Mão – ANTC số 10 năm 1926). Những lần còn lại đều là tự đình bản. Vì thiếu tiền. Vì Tản Đà đã quản lý tờ báo, đã làm báo với sự lãng mạn còn lớn hơn sự lãng mạn mà một thi sỹ cần phải có để trở thành một thi sỹ. Thật ra, dự phần vào số phận ba chìm bảy nổi của An Nam tạp chí, ngoài cái cách quản lý trên mây trên gió của ông chủ báo, ngoài lối làm việc ngật ngưỡng, tùy hứng và tùy tiện của Tản Đà “thi sỹ tửu đồ” – một Epicurien (người tôn thờ chủ nghĩa khoái lạc) theo cách nói của Trương Tửu về Tản Đà, còn có một nguyên nhân nằm ở phần nền của mọi chuyện: Tản Đà vốn là một nhà Nho từ trong căn cốt.
Là nhà Nho, đương nhiên sở học của Tản Đà là kinh điển Nho giáo, sở trường là sáng tác văn chương. Ông không được đào tạo và cũng chẳng hề có chút thích thú nào với việc học hỏi để có kiến thức về quản lý, lý tài. Nhà Nho ưa nói chuyện đạo đức và luôn dị ứng khi phải đề cập việc tiền nong. Tản Đà cũng vậy, làm báo, dường như ông chỉ nhìn thấy ở đó một phương tiện để giáo hóa quốc dân, để “tinh biểu” những người có công về thế đạo nhân tâm và trừng trị những kẻ có tội với nhân quần.
Ông quên, hoặc không biết rằng, trong xã hội mang màu sắc tư sản như xã hội đô thị Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, ra một tờ báo cũng chính là làm một cuộc kinh doanh. Bởi thế mới có chuyện: Năm 1927, lúc An Nam tạp chí phải đình bản vì thiếu tiền, lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng là Nguyễn Thái Học đã tìm gặp Tản Đà và đề nghị được cung cấp tài chính cho tờ báo sống lại. Đôi bên vui vẻ rất mực. Chỉ đến khi Nguyễn Thái Học yêu cầu lập một bản giao kèo, Tản Đà đổi ngay sắc mặt, bỏ vào nhà trong không thèm tiếp khách. Việc hợp tác hỏng! Cái phản ứng ấy của Tản Đà là phản ứng đặc Nho: Nhà Nho giữ chữ tín bằng sự thành tâm, yêu cầu nhà Nho phải lập giao kèo làm bảo đảm cho số tiền đã bỏ ra – một việc suy cho cùng là rất đỗi bình thường trong các giao dịch kinh tế ở xã hội hiện đại – Nguyễn Thái Học vô tình đã xúc phạm nhân cách nhà Nho trong con người Tản Đà. Mặt khác, là nhà Nho, Tản Đà tất nhiên không thiếu tinh thần gia trưởng. Cái tinh thần gia trưởng này, Ngô Tất Tố đã làm bật lên qua việc kể lại câu chuyện về cách làm báo rất tùy hứng của Tản Đà. Số là khi vào Nam phụ trách phần văn chương cho Đông Pháp thời báo của Diệp Văn Kì, Tản Đà thường tối ngày uống rượu, mọi công việc vẫn giao phó cho ông cử Tùng Lâm. Một hôm vì thiếu bài, ông cử Tùng Lâm mới phải thêm vào một bài thơ lá cải. Báo ra, bị Tản Đà hạch hỏi, ông cử Tùng Lâm giải thích rằng vì thiếu bài, báo cần lên khuôn mà lại không biết tìm Tản Đà ở đâu nên ông làm vậy. Tản Đà mắng: “Nếu thiếu bài thì bỏ trắng đấy cho tôi. Không xin phép tôi mà cho bài thơ kia vào, như thế là ông hỗn!” (Tản Đà ở Nam Kỳ, Tao Đàn – 1939). Chưa hết, xin bạn đọc chớ quên rằng nhà Nho vốn chuộng phong thái ung dung nhàn tản. Nếu đỗ đạt làm quan, ông quan nhà Nho ấy sẽ “cầm dường ngày tháng thanh nhàn, sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao” như chàng Kim trong Truyện Kiều, chứ sẽ không bù đầu vào những việc “quan sự” đòi hỏi phải có những tri thức hết sức cụ thể (những việc ấy đã có đám thư lại đảm nhận). Tản Đà làm báo cũng vậy. Lưu Trọng Lư là người từng được chứng kiến một ngày của ông chủ báo An Nam tạp chí: “Tôi đến lần thứ nhất vào khoảng tám giờ sáng. Tên tiểu đồng cho tôi biết rằng ông chủ nhiệm đang ngủ. Mười giờ tôi trở lại, tôi cũng không may mắn gì hơn, nhà thi sĩ vẫn chưa dậy. Mười một giờ tôi lại đến, nhà Nho vẫn còn giấc. Hai giờ rưỡi (chiều) tôi đến, Tản Đà đã dậy và mới bắt đầu ngồi vào chiếu rượu... Bốn giờ tôi bước vào, thì hình như thi sỹ vừa... hạ đũa” (Bây giờ đây, khi quan tài đã đậy lại – Tao Đàn, tháng 7.1939).
Làm báo, viết báo, dù muốn hay không, Tản Đà cũng phải đối diện với những vấn đề nóng bỏng cấp thiết đang đặt ra trong đời sống xã hội. Và thực tế là trên An Nam tạp chí, ông đã viết nhiều bài báo mang nội dung cổ động tinh thần thực nghiệp, kêu gọi chí tiến thủ và nghĩa đồng bào. Từ năm 1930, ông đề xướng hai mục Việt Nam nhị thập kỷ xã hội thiển đàm và Việt Nam nhị thập kỷ xã hội ba đào ký, kêu gọi ghi chép những “biến động bất thường” trong đời sống để “hết thảy các hạng người trong xã hội thêm thú vui giao dịch kiến văn, mà sau là lưu một mối sử tài cho kẻ hậu lai”. Có thể nói, đề xướng hai mục này cho An Nam tạp chí, Tản Đà cho thấy ông có thừa nhiệt tình báo chí trước các vấn đề xã hội. Nhưng, những bài do chính ông viết cho hai mục này lại khá... nhạt. Nguyên nhân cũng không ngoài việc ông vốn là một nhân cách đặc Nho. Ngòi bút Xuân Thu của nhà Nho là ngòi bút nêu gương đạo đức, trước những cái trái đạo cũng chỉ mang ngụ ý nhắc nhở, giáo hóa, phê phán kín đáo, chứ không phải mổ xẻ, phanh phui sự việc, tố cáo, phê phán mạnh mẽ. (Vậy nên, dù có viết mấy bài thơ trào phúng lên án bọn tham quan nhũng lại và bọn “theo voi ăn bã mía”, nhưng thơ trào phúng của ông có giọng cảm thán hơn là tố cáo). Trong khi đó, cũng ở hai mục trên của An Nam tạp chí – nhất là ở mục Xã hội ba đào ký – Nguyễn Công Hoan đã tả xung hữu đột, dùng cái nhìn sắc bén và ngòi bút chiến đấu “tả những cảnh khốn nạn của khắp các hạng người trong xã hội cố tìm cái sung sướng ở chỗ danh, lợi, tình” – chính Tản Đà đã quảng cáo trước cho “bộ trường thiên tiểu thuyết dày ngót 500 trang” của Nguyễn Công Hoan như vậy. Đến đây cũng cần phải nói ngay, một trong những công lớn của Tản Đà - người làm báo, là ông đã phát hiện cho văn học hiện thực chủ nghĩa Việt Nam một tác giả xuất sắc: Nguyễn Công Hoan. Chính là qua mục Xã hội ba đào ký trên báo của Tản Đà mà Nguyễn Công Hoan đã tạo được “trớn” để đi tới và trở thành một kiện tướng của chủ nghĩa “tả chân”.
Choáng ngợp trước văn minh Âu Tây, nhiệt tình dấn thân, hăm hở đổi mới, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã viết báo, đã làm báo với rất nhiều kỳ vọng. Nhưng, không giũ được quan niệm nhà Nho về nhiều mặt, ông liên tục thất bại. Ông không đi xa được vào thế giới hiện đại và không thể trở thành kiểu người làm báo hiện đại như Hoàng Tích Chu, Nguyễn Tường Tam, Vũ Đình Long, Vũ Bằng... Nhưng Tản Đà để lại những giai thoại thú vị về một nhà Nho chuyển sang làm báo. Điều đó chẳng lẽ không đáng nói hay sao?
Hoài Nam
CAND Với những cung bậc, sắc thái khác nhau, nhiều khi thơ họ làm cho người đọc ngạc nhiên, thích thú, có cả những khi làm người đọc phải ... phì cười nữa!
Tiểu thuyết Những cảnh khốn nạn, tập 1, dày 218 trang, viết trong thời gian ông dạy học ở Lào Cai, được xuất bản vào năm 1932.
Tiểu thuyết Những cảnh khốn nạn có 2 tập, tập 1 mang tên Tay trắng, trắng tay, tập 2 là Chiếc nhẫn vàng (chưa tìm thấy).
Những cảnh khốn nạn, tiểu thuyết (gồm 2 tập:
tập 1 Tay trắng trắng tay, PTBNS số 55;
tập 2 Chiếc nhẫn vàng, PTBNS số 58) năm 1940.
Này, cứ cái to lớn mập mạp của cô ấy, trông cũng đủ khiếp; vậy mà, cái mặt cô đỏ bừng, cái mắt cô quắc lại, cái mồm cô soạc ra, hàm răng cô rịp vào, gân cô nổi lên, cô nhẩy sồn sồn, cô thét the thé, cô sỉa, cô sói, cô đấm, cô vỗ, đùng đùng, đùng đùng, thì cứng bóng vía như tôi, nhưng mà eo ơi, mỗi khi đêm nằm một mình mà nghĩ lại, lại giật mình thon thót.
Người ta bảo cô ấy cao số, vì hai gò má cao phải kén kỹ nên muộn chồng nhưng mà nói ra sợ cô giận, chớ giá bà cụ B. nhà cô có gọi tôi mà cho không tôi cũng lạy cả nón, vì nhỡ lúc tôi bướng, cô lại nổi tam bành cả với tôi, thì tôi bỏ sừ. Vả chăng vì cái dáng õng ẹo lúc đứng ngồi, cái lượt nước hàng phiết trên mặt, lúc nào cũng có nói khoác cho cô, nhưng tôi tìm mãi không thấy cô ấy nõn nà ở chỗ nào cả, mà động tôi gặp cô đi phố, thì tôi lại nhớ đến câu cô ấy rủa ông Y.
- Ai ngờ cái nhà ông ấy thế mà Sở Khanh, lấy họ non rồi ỳ sác ra đấy, bây giờ đổi về Hà Nội thì ai biết nhà ở đâu mà lên đòi.
Thôi chẳng cần ân tình gì nữa chẳng cần nể nang gì nữa, chẳng ông với ênh đếch gì nữa, phen này bà gặp mày ở Hà Nội mà bà không sé nhỏ được sác mày ra thì bà không nghe.
Cô còn tuôn hàng cột những câu can hệ đến gia phả nhà ông Y., và những tiếng, hễ tôi nói ra thì các ngài bảo là thô tục nữa kia!
Bà B. mẹ cô cũng tức lắm, đã chịu khó đi hỏi giò xem từ ngày ông Y. ở D., đổi đi Hà Nội, thì làm ở Tòa nào, và thuê nhà ở đâu? Nhưng chẳng ai biết cả.
Có người bảo ông ấy thuê nhà ở Hàng Bông, nhưng không biết số nhà một trăm bao nhiêu, có người bảo ông ấy mới lấy vợ cô đầu dưới Khâm Thiên, và vẫn cho vợ dọn nhà hát để kiếm thêm lời lại có người bảo ông ấy đã thôi việc nhà nước, và chốn đi đâu mất rồi vì chót hà lạm vào một món tiền công, sở dĩ ông Y. cứ phải dấu kín chỗ ở, hẳn vì ông ấy nợ nhiều quá, mà muốn lánh mặt cho nên chính những người bạn, thân đến đâu thì thân, đố ai biết đích ông ở đâu đấy? Có một lần người bạn nối khố với ông, ở tỉnh D. tình cờ, bắt gặp ông lơ phờ ở ngoài đường, vồn vã hỏi nhà ông để đến chơi, thì ông bảo: Tao ở phố Hàm Long số 25.
Lúc đến thì té ngay ra nhà một ông tham canh nông, suýt bị chó đuổi cắn chết.
Ngày ông còn làm việc ở tỉnh D. ông thuê bên cạnh nhà bà B. đẻ ra cô X.
Bà B. giầu lắm, thuờng vẫn cho vay mượn một vốn bốn lời, và cầm cái nhiều bát họ, mà vì cô X. có cái óc kinh tế thạo hơn mẹ, cho nên bao nhiêu công việc về tiền nong, bà B. phó thác cho cô chủ chương cả. Ông Y. trẻ mà hay chơi thường lương tháng nào lĩnh về chỉ nằm tạm trong túi trong mấy giờ rồi rủ nhau tẩu thoát hết cả. Vì vậy muốn sắm ăn, sắm mặc, ông phải nhờ người đến giỗ ngon giỗ ngọt với bà B. và cô X. cho vay bốn trăm trả dần làm hai mươi tháng mỗi tháng hai mươi đồng. Ấy theo trong biên lai thì cái món tiền vay chững chạc như thế, nhưng thực ra phải tiền hoa hồng, và trừ đầu trừ cuối, ông chỉ được tiêu có hơn hai trăm.
Ông đóng sòng phẳng được hai tháng, rồi ông có nghị định đổi về Hà Nội. Trước khi lên đường ông có đến chào bà B. và dặn ngọt ngào rằng:
- Rồi cứ đầu tháng cháu lĩnh lương, sẽ gửi măng-đa về hầu cụ.
Thế cho nên phàm vật gì ngọt ngào cũng dễ nuốt cho nên ông Y. cũng nuốt trôi ngay lời giặn ngọt ngào mà bà B. thì đắng như ngậm bồ hòn một tháng, hai tháng, chờ chẳng thấy thư từ, hỏi chẳng biết tin tức nên mỗi khi mẹ con nói chuyện đến cái món nợ 400$ của ông Y. thì sốt ruột, bà B. lại cáu, cô X. lại nổi tam bành: cái mặt cô đỏ bừng, cái mắt cô quắc lại, cái mồm cô soạc ra, hàm răng cô rít vào, gân cổ cô nổi lên, cô nhẩy sồn sồn, cô thét the thé, cô sỉa, cô sói, cô đấm, cô vỗ, đùng đùng, đùng đùng, thì, cứng bóng vía như tôi, nhưng mà eo ơi, mỗi khi đêm nằm một mình mà nghĩ lại, lại giật mình thon thót.
Ai ngờ cái nhà ông ấy thế mà Sở Khanh, lấy họ non rồi ỳ sác ra đấy, bây giờ đổi về Hà Nội thì ai biết nhà ở đâu mà lên đòi. Thôi chẳng cần ân tình gì nữa chẳng cần vẻ vang gì nữa, chẳng ông với ênh đếch gì nữa, phen này Bà gặp mày ở Hà Nội bà chẳng sé nhỏ được sác mày ra, thì bà không nghe.
Nói xong cô X. thu xếp va-li quần áo, đi Hà Nội quyết tìm cho được vết chân ngựa truy phong.
Ba hôm sau cô trở về, xe vừa đặt bịch xuống trước cửa, cô đã hầm hầm nói với mẹ:
- Chẳng tìm thấy nó đâu, rõ tức quá lại mất thêm mấy đồng bạc hành lý.
Rồi mẹ con cũng tự tìm câu an ủi nhau để dẹp nỗi bực mình. Hai tháng sau mẹ con nhân nói đến chuyện một cô bạn cô X. sắp cưới rồi dây dưa thế nào lại khơi đến cái bát họ 400$. Bà B. nóng như lửa, gắt um làm cho cô X. thương mẹ và tiếc tiền, lại nổi tam bành với...quân sỏ lá, cái mặt cô đỏ bừng, cái mắt cô quắc lại, cái mồm cô soạc ra, hàm răng cô rít vào, gân cổ cô nổi lên, cô nhẩy sồn sồn, cô thét the thé, cô sỉa, cô sói, cô đấm, cô vỗ, đùng đùng, đùng đùng, thì, cứng bóng vía như tôi, nhưng mà eo ơi, mỗi khi đêm nằm một mình mà nghĩ lại, lại giật mình thon thót.
Thế rồi sáng sớm hôm sau cô lại sắm sửa đi Hà Nội quyết lần này không chịu về không như lần trước.
Rõ thật hão quá, Hà Nội hàng mấy trăm phố, hàng mấy nghìn nhà, hàng mấy mươi vạn con người, mà đi tìm một người cố ý trốn tránh, lẩn lút thì tìm sao được? Thế cho nên vài hôm sau cô X. lại về không chẳng nên lấy làm lạ.
Nhưng cũng đáng phàn nàn cho cô lượt này đi Hà Nội ngơ ngẩn thế nào cô để cho kẻ cắp nó cắt mất túi, lấy mất 200$ mang lên định buôn hàng. Thế là số cô đen, cho vay mất nợ, đi buôn mất cắp, rõ cái lão Y. nó làm hại đơn, làm hại kép nhà người ta.
Việc buồn muốn rập đi chẳng xong, một hôm có người đến chơi lại gợi đến chuyện ông Y. quỵt nợ, khiến cho bà B. lại tiếc mà cô X. lại nổi tam bành, cái mặt cô đỏ bừng, cái mắt cô quắc lại, cái mồm cô soạc ra, hàm răng cô rít vào, gân cổ cô nổi lên, cô nhẩy sồn sồn, cô thét the thé, cô sỉa, cô sói, cô đấm, cô vỗ, đùng đùng, đùng đùng, thì, cứng bóng vía như tôi, nhưng mà eo ơi, mỗi khi đêm nằm một mình mà nghĩ lại, lại giật mình thon thót.
Cô lại lên Hà Nội quyết phen này gặp được thằng sỏ.
Thế nhưng cũng lại như mấy lần trước, ở Hà Nội mấy hôm cô tâng hẩng về không.
Ấy đã ngót một năm nay cô X. nổi tam bành với ông Y. đến hàng mấy mươi lượt, mà bao giờ lúc cơn giận lên, cô cũng làm kịch liệt vùng vằng đi Hà Nội, mấy hôm không gặp, cô về cô lại than thân vừa mất mấy chục đồng bạc hành lý, vừa đeo thêm cái nhọc sác, vì mỗi khi đi về như thế, cô X. ngủ mấy ngày không lại, bỏ cả bữa cơm.
Nhưng nếu tháng tháng cô lại phải nổi một cơn tam bành, nhưng thế mà lần nào cái kết cục cũng vậy, thì gần như cái chương trình rồi còn gì nhầm và dại nữa, vậy mà cô X. vẫn không chừa là tại làm sao?
Là tại rằng chính một hôm tôi cùng đi một chuyến xe lửa với cô X. lên Hà Nội. Khi xe tới hành khách đông, đương lô nhô chen nhau xuống sân ga, thì lúc đi đường tôi nghe thấy tiếng người quen gọi ở đằng sau rằng:
- Đây kia mà!
Tôi quay lại thì ra ông Y. đương đi theo tôi có ý vội vã, tôi tưởng ông Y. gọi tôi, tôi mừng quá đứng lại chờ, giơ tay bắt và nói khẽ vào tai bạn:
- Chết, chốn đi, cô X. đi đằng trước kia kìa... anh có trông thấy không?
- Biết rồi, tôi xin lỗi anh nhé, để bận khác.
Nói xong ông Y. lại bắt tay tôi, và rảo cẳng bước mau, rồi lại gọi:
- Đây kia mà, đằng sau này kia mà!
Tôi nhìn theo ông Y. mà trống ngực thòm thòm, sợ thay cho bạn, bạn sắp bị sé nhỏ, sao không rẽ cương ngựa truy phong đi cho thoát nạn, vì lúc nào tôi cũng tưởng tượng đến cái tấn kịch nổi tam bành, cái mặt cô đỏ bừng, cái mắt cô quắc lại, cái mồm cô soạc ra, hàm răng cô rít vào, gân cổ cô nổi lên, cô nhẩy sồn sồn, cô thét the thé, cô sỉa, cô sói, cô đấm, cô vỗ, đùng đùng, đùng đùng, thì, cứng bóng vía như tôi, nhưng mà eo ơi, mỗi khi đêm nằm một mình mà nghĩ lại, lại giật mình thon thót.
Tiếng gót giầy nện xuống gạch kêu bôm bốp, ông Y. đi càng nhanh tôi vẫn trông, thì thấy lúc đến sau lưng cô X. ông vỗ vào vai mà nói:
- Mợ, tôi đây kia mà, gọi mãi.
Cô X. quay lại mừng rỡ, đưa va-li cho ông Y. sách rồi hai người cùng đi ngang với nhau, cười nói chuyện trò những gì rất thân mật.
Thì ra, thế là cái quái gì. Mỗi bận cô X. tôi nổi tam bành, thì ông Y. tôi lại được một phen cơm no bò cưỡi. Thảo nào, không trách cô cứ quen mui nổi tam bành luôn luôn!
Để hiểu rõ hơn quan niệm về sự tự do và thói thích đùa bỡn này của Nguyễn Công Hoan, chúng ta còn có thể dừng lại ở một cuốn tiểu thuyết tác giả cho in ở NXB Đời mới vào thời gian ngay sau 2-9-1945 do đó mà ít người biết, là cuốn Người An nam. Tác phẩm xoay quanh câu chuyện một viên tướng Việt Nam thời nhà Lê bị bắt làm tù binh, rồi trở thành rể vua Chàm. Nhưng dòng máu Việt trong người viên tướng này vẫn chảy mạnh, cuối cùng khi quân Việt đánh vào thành, nhân vật này lập công quay về với Tổ quốc bằng cách quay ra giết vợ và làm nội ứng cho quân Việt tràn vào. Sau hành động yêu nước ấy, viên tướng phát điên.
Chúng ta biết rằng đôi lúc trong truyện ngắn, Nguyễn Công Hoan cũng viết về những đề tài mà ông chỉ biết qua tài liệu sách vở. Như năm 1939, ông có một thiên truyện mang tên Thiếu Hoa viết về một nhân vật phụ nữ miền nam Trung quốc. Lần này lại một sự xa lạ nữa, chắc chắn còn xa lạ hơn Thiếu Hoa vì là truyện về thời đã qua. Đối với một nhà văn từng nói chắc như đinh đóng cột rằng “người đọc truyện chỉ thích đọc những truyện gần với họ, gần về không gian về thời gian“ – thì đây quả là một ngoại lệ. Nhưng như lý luận về nhận thức luận đã chỉ rõ, chính các ngoại lệ lại bộc lộ bản chất rõ hơn là các trường hợp thông thường. Trong lời dẫn đặt ở đầu sách Người An Nam, sau dòng chữ Bạn đọc yêu quý, tác giả có hai trang tạm gọi là lời phi lộ trong đó có đoạn ông biện hộ cho cách viết của mình:
“Tôi không biết tiếng Chiêm Thành thì những người Hời của tôi chỉ được nói tiếng Nam bằng giọng đặc Việt Nam. Tôi không là người Chiêm Thành sống năm trăm năm về trước thì các chủ động trong truyện này cũng không thể tư tưởng theo lối họ về thời ấy. Và đến cả khung cảnh, ngôn ngữ, cách ăn mặc, cách sinh hoạt dù ngay của người mình về đời Lê, đã không ở vào thời đó thì tả sao nổi. Vả biết thế nào là đúng”.
Tiếp đó, tác giả nói về mình theo cái lối thật thà đến mức ngạo mạn“Vậy tôi dùng tư tưởng của tôi. Tôi dùng tưởng tượng của tôi. Tôi dùng ngôn ngữ của tôi. Tôi trông ở sự rộng lượng của các bạn”
“Xin các bạn chớ đợi cuốn sách này một lịch sử tiểu thuyết hoặc một lịch sử ký sự. Tôi chỉ là một nhà tiểu thuyết, một nhà tiểu thuyết tầm thường, tồi hơn nữa một nhà tiểu thuyết ít đi, ít đọc. Bấy lâu nay sở dĩ được hân hạnh quen biết các bạn là do chỉ đã khai khẩn địa hạt nhà, đào trong trí nhớ lấy những cái mắt thấy tai nghe rồi dùng sức óc chắp nối, thêm bớt cho thành những câu chuyện nhăng nhít”
Tuy nhiên đằng sau những lời lẽ xô bồ và có vẻ lỡm đời đó, ngầm chứa một ý tưởng khác: tiểu thuyết đã là chuyện của tôi, tôi (tức Nguyễn Công Hoan) vầy vò nó thế nào nó cũng phải chịu, nói xuôi nói ngược thế nào thì rồi mọi người cũng phải nghe. Cái nháy mắt tinh nghịch đi kèm với một sự hể hả khoái trá không muốn và không thể che giấu.
[...]


