Ads 468x60px

.

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2018

Đảng Rổ Bẫy





Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Thái Hoàng Phi | 2. Cô Vân | 3. Mắm Tôm | 3-19. Thái Hoàng Phi (Chương 1-16) | 20-36. Mắm Tôm (Chương 1-16) | 37-52. Cô Vân (Chương 1-16)



Mời đọc Bản đánh máy

Đảng Rổ Bẫy

Nguyễn Công Hoan


Để đọc, xin nhấp chuột vào chương muốn xem.
Diễn đọc: Thái Hoàng Phi

Đồng trinh Gia Long



Minh họa: Tô Tử

Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Thái Hoàng Phi | 2. Chiến Hữu | 3. MamTom | 4. Phạm Hằng


Mời đọc Bản đánh máy

Đồng trinh Gia Long

Nguyễn Công Hoan

Ngày trước, độ tôi còn bé, có một lần tôi mua một thức gì mà tôi quên đi mất, người ta trả lầm lại tôi một đồng trinh Gia long.

Đồng trinh Gia Long cũng to vừa bằng đồng trinh Khải Định, nên vì vô ý hoặc vội vàng, ngay lúc ấy, tôi cứ bỏ tọt vào túi.

Nhưng mà, về đến nhà, thấy bị thiệt mất nửa xu, tôi bực mình quá.

Không thể làm cách gì tiêu được đồng ấy, tôi đành cất nó vào hộp. Mà luôn trong nửa tháng trời, hễ lúc nào tôi nhìn đến nó đã lên dỉ, là lòng tiếc của lại cắn rứt tôi, có khi đêm nằm chỉ thở dài, trằn- trọc mãi không ngủ được.

Sốt ruột không chịu được, tôi phải nghĩ kế tống nó đi.

° ° °

Lần ấy tôi được nghỉ lễ ba ngày.

Hôm tôi sắp về nhà quê, tôi nghĩ đến sáng hôm sau phải đi xe lửa sớm mà chợt tôi được thấy ngay một ý rất hay.

Tôi định rẽ ra ga ngay từ lúc năm giờ. Lúc ấy hẳn là trời còn tối, chưa rõ mặt người. Như thế, nhân dịp tốt, tôi sẽ vào một hàng quà ở trước cửa ga, để mua một thứ gì cần trả tiền bằng xu lẻ. Rồi khi trả tiền, tôi đếm cả đồng trinh Gia Long lẫn vào những trinh Khải định. Thế thì có trời biết.

Suốt đêm tôi thấp thỏm mừng thầm, đắc chí lắm.

° ° °

Sáng hôm sau, tôi đến ga rất sớm.

Đứng ở hiên, tôi móc túi, lấy đồng trinh Gia long, ghé vào tận dưới ngọn đèn để xem cho kỹ, rồi cho riêng vào một túi. Tôi đi sang dãy hàng cơm bên kia đường, chọn một nhà có người xem chừng còn ngái ngủ mới vào. Tôi mặc cả một phong bánh khảo để đem về làm quà cho em bé tôi:

- Mấy xu một phong bánh khảo thế bà?

- Bảy xu!

- Bốn xu có được không?

- Không!

- Thế bốn xu rưỡi vậy.

- Gớm! Cậu này mua bán chặt chẽ quá! Sáu xu, thực giá đấy!

- Thôi, năm xu, bà bán cho tôi.

- Không được, sáu xu kia!

Chẳng được giá, tôi bỏ đi. Nhưng vừa bước khỏi nhà, bà hàng đã gọi giật lại:

- Này, cậu mua bánh khảo! Năm xu rưỡi đấy.

- Không, tôi chỉ có năm xu thôi.

Rồi tôi lại đi.

- Này, lại đây. Cậu lấy hai phong, tôi bán rẻ cho một hào.

- Không, tôi chỉ mua một phong thôi.

Tôi không bằng lòng mua hai phong, chẳng phải tôi không đủ tiền. Nhưng nếu tôi trả một hào, thì đồng trinh chết rấp ấy, tôi đẩy nó đi sao được.

Mặc cả hàng bên cạnh, tôi cũng bị người ta nói thách, tôi bèn bụng bảo dạ:

“Thôi, năm xu rưỡi cũng được, cốt mình trả được bằng tiền trinh là khá rồi.”

Nghĩ vậy, tay tôi thọc vào túi, đếm mười đồng trinh, và nhét đồng Gia long vào giữa là mười một. Tôi đến hàng ban nãy, nói:

- Nào, năm xu rưỡi, bà bán cho tôi một phong.

Bà hàng uể oải mở tủ. Tôi vẫn nắm trong tay mười một đồng trinh. Rồi sự khôn ngoan lại xui thêm tôi nên đứng chân trong chân ngoài, để lúc trả tiền xong, tôi cần cắm cổ đi cho chóng, kẻo người ta gọi lại.

Bà hàng lấy phong bánh, nói:

- Bánh này ngon lắm, đáng sáu đồng xu của tôi.

Tôi mỉm cười. Vì tôi lấy làm khoái trí rằng sẽ được lợi hẳn một xu!

Bà hàng đẩy gói bánh lên mặt quầy. Tay tôi vẫn thọc sẵn vào trong túi.

- Nào, trả tiền đi.

Tôi rút nắm trinh ra. Nhưng vì vội quá, tôi đụng tay đánh rơi mất hai đồng.

Lúng túng, tôi cúi xuống tìm. Khi nhặt được đủ, tôi lại có ý để đồng trinh Gia long len vào giữa, rồi nhanh như cái cắt, tôi đặt cả cọc tiền lên mặt tủ và giao hẹn:

- Tiền đây, bà nhé!

Nói xong, trống ngực thình thình, tôi quay gót bước một mạch cho mau, vừa đi vừa thỉnh thoảng quay lại nhìn, yên trí sao cũng được nghe tiếng:

- Này! đổi cho tôi đồng khác!

Nhưng may quá! Bà hàng đã đếm tiền xong, mà cũng chẳng thấy gọi tôi lại. Đến hiên ga, tôi vừa thở vừa nhìn lại: trong hàng, tôi không thấy bà ấy nữa. Một người khác đã ra coi thay từ bao giờ.

Mừng quá! Thật là may mắn! Từ nay đỡ nỗi bực mình. Thành ra tôi khôn một tý hóa được một xu lợi.

° ° °

Ngồi trên xe lửa, vơ vẩn, tôi nghĩ tới em bé tôi. Chắc thoạt thấy tôi về, nó mừng rỡ. Khi đòi quà mà được phong bánh khảo, thì hẳn nó reo ầm, mừng quýnh, ôm chặt lấy tôi mà hôn. Nghĩ đến cảnh tượng ấy, tôi sung sướng, đắc chí lạ thường.

Rồi hai tay vùng vẫy, tôi tung tăng đi lên đầu toa, lại xuống cuối toa.

Lúc chợt muốn biết bánh khảo ấy hiệu gì, tôi sực nhớ ra... Khổ quá! Quái! Lạ thật...

Tôi ngẩn người, cau mặt để nghĩ. Tôi nghĩ lại từng lúc một, thì dần dần mới nhớ đích là tôi đã bỏ quên phong bánh ngay ở hàng cơm.

Bởi vì được tiêu thoát đồng trinh Gia long, tôi vừa mừng, vừa lo, nên cứ cắm cổ chạy, quên bặt mất không cầm gói bánh. Thảo nào tôi không thấy nhà hàng gọi tôi!

Chán quá!...

Năm 1935






Mời đọc Bản chụp dạng ảnh




Tham khảo: Các bài viết liên quan

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2018

Nhà văn học văn: Nguyễn Công Hoan - mải mê học tiếng Việt


Nhà văn học văn: Nguyễn Công Hoan - mải mê học tiếng Việt

Lê Minh Quốc
Báo Phụ nữ
Về kinh nghiệm học văn để rồi sáng tác, đeo đuổi nghiệp văn, bài học mà ông thấm thía, tâm đắc nhất vẫn là phải nghiêm chỉnh học tiếng Việt: 'Học để hiểu tiếng khó, thêm tiếng mới'
Năm 1993, nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977), Ban biên tập Báo Phụ Nữ TP.HCM phân công tôi hỏi chuyện về ông, qua con gái ông - nhà văn Lê Minh. Tôi hỏi: “Bút pháp của nhà văn Nguyễn Công Hoan có nét riêng biệt rất hiện đại mà sau này, nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Aziz Nesin cũng viết theo bút pháp ấy. Chị nghĩ sao về nhận xét này?”. Chị Lê Minh trả lời: “Tác phẩm của cha tôi đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Giới nghiên cứu nước ngoài đánh giá rất cao tài năng của ông. Tôi thấy họ so sánh Nguyễn Công Hoan với A.P. Chekhov”.

Một nhà văn được đánh giá ở tầm vóc như thế, thuở còn “mài đũng quần” ở Trường Bưởi (nay là Trường THPT Chu văn An - TP.Hà Nội), học chung với nhà thơ Tú Mỡ, nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan… đã học văn thế nào?

Nhà văn Nguyễn Công Hoan (giữa) cùng ông Lê Tất Đắc và Đào Duy Kỳ trong kháng chiến chống Pháp.


Quả thật, cha đẻ của nhân vật Kép Tư Bền hồi nhỏ cực kỳ… láu cá, tinh nghịch, hay tìm những trò tinh quái để lỡm bạn bè. Ông có một niềm say mê không cưỡng lại được là đọc sách, đọc báo, dù các ấn phẩm ấy dành cho người lớn.

Ngày nọ, thầy giáo ra đề bài luận - Tả một đêm trăng trên Hồ Tây, ông bèn mở Đông Dương tạp chí, chép lại nguyên si bài Đêm trăng thú chơi Hồ Tây của Phan Kế Bính. Đến câu: “… mấy đóa hoa nở muộm mà vẫn xanh tốt”, dù không hiểu “nở muộm” là gì, Nguyễn Công Hoan vẫn chép y chang. Lúc chấm bài xong, thầy giáo nhẹ nhàng bảo: “Đây là chữ muộn chứ không phải muộm, nhà in chép sai đấy, anh không nhận ra à?" Nhà văn tương lai của chúng ta tái mét mặt mày.

Tình yêu văn chương ở một đứa trẻ không hình thành ngẫu nhiên mà từ nếp nhà. Với Nguyễn Công Hoan, do bố là huấn đạo (dạy học), bác đỗ đại khoa, vì thế trong nhà ông có rất nhiều sách. Bà nội thuộc dòng dõi nhà nho nên ngay từ bé, từ lời ru, lời ăn tiếng nói của bà, Nguyễn Công Hoan đã thuộc nhiều câu trong Truyện Kiều, Nhị độ mai… dù không hiểu nghĩa.

“Cố nhiên là tôi đọc lại như vẹt, ngâm ngọng. Song do đó, niêm luật của thơ ca, nhạc điệu của ngôn ngữ được luyện vào óc tôi, được nhuần vào óc tôi từ ngày ấy” - ông cho biết.

Bút tích nhà văn Nguyễn Công Hoan.


Lúc ông học Trường Bưởi, Đông Dương tạp chí xuất bản thành khổ nhỏ, có phần văn chương, Trung Bắc tân văn có phần Từ phú thi ca và Đoản thiên tiểu thuyết thì trong thời gian nghỉ hè, không ngày nào ông không đọc những bài đã in trong báo đó.

Không riêng gì thơ ca, những đoạn văn có vần điệu du dương, nhịp nhàng, ông cũng đọc đến thuộc lòng. Khi Nam phong tạp chí ra đời, phần Văn uyển là chuyên mục ông thích nhất. Từ chỗ thích đọc, khiếu văn chương còn thúc giục Nguyễn Công Hoan phải viết. Tương tự Nam Cao, Tô Hoài… ban đầu, Nguyễn Công Hoan cũng làm thơ, tất nhiên chịu ảnh hưởng sâu đậm của lớp người đi trước đã thành danh.

Lúc được làm quen với thi sĩ Tản Đà, đọc “Trời sinh ra bác Tản Đà/ Quê hương thời có, cửa nhà thời không”, cái mộng dan díu với “nàng thơ” ở ông tắt ngúm vì thừa biết mình không thể sánh được với bậc đàn anh.

Năm 1920, vì chuyện xích mích trong gia đình, Nguyễn Công Hoan “phiêu lưu” lên Hải Phòng. Lúc này, Tản Đà vừa xuất bản Còn chơi và ra tạp chí Hữu Thanh. Đọc tập thơ này, ông nảy ra ý viết lại chuyến đi của chính mình. Quyết chí phiêu lưu ra đời, nhưng… không báo nào in.
Sau khi đi chán chê, trở về quê, tình cờ ông đọc được bản dịch Ba chàng ngự lâm pháo thủ của A. Dumas. Thấy truyện hay, văn vui, tình tiết sắp xếp rất “nhà nghề” nên ông lại có hứng sáng tác. Không viết như truyện Quyết chí phiêu lưu, lần này ông viết ngắn hơn.

May mắn, chúng được chọn in trong tập Truyện thế gian của Tản Đà tu thư cục. Còn lại một số truyện ngắn, ông tự in thành tập, mang tên Kiếp hồng nhan. Tác phẩm này, về sau được các nhà phê bình xem như một trong những viên gạch đầu tiên đắp nền móng cho nền văn xuôi hiện thực phê phán Việt Nam.

Tác phẩm đưa tên tuổi của Nguyễn Công Hoan lên hàng đầu trên văn đàn.


Qua năm 1922, ông thi vào Trường Nam Sư phạm. Năm thứ nhất ở nội trú, kỷ luật rất nghiêm, đến giờ phải lên giường ngủ, nhưng đèn vẫn không tắt. Nhờ vậy, ông bắt đầu viết truyện dài Phải gió. Bạn bè đọc thử, thích thú cười rúc rích, giám thị xộc tới tịch thu tác phẩm, đem mách hiệu trưởng. Thầy hiệu trưởng Pujarnisele vốn là nhà thơ nên thông cảm với “nhà tiểu thuyết”, dù không phạt nhưng giữ riệt bản thảo, thế là Phải gió mất tích.

Những sáng tác này, Nguyễn Công Hoan còn viết bằng thứ văn biền ngẫu, chịu ảnh hưởng lớn từ Tản Đà. Nhưng do lòng yêu mến Tản Đà, ông rút ra bài học: không nên viết lối văn du dương như thơ kiểu Tản Đà nữa, vì không còn hợp thời.

Tình cờ đọc truyện ngắn Sống chết mặc bay và nhất là Tiếu lâm An Nam của Phạm Duy Tốn (thân phụ nhạc sĩ Phạm Duy), ông ngạc nhiên vì thấy “từ cách dùng chữ cho đến lối đặt câu, sao mà nó lọt lỗ tai và vẫn còn mới thế. Lọt lỗ tai và mới, tức là văn ấy vẫn còn như văn chúng ta nói, nó không cũ tí nào”.

Ông “nghiệm ra rằng, văn chương mà viết đúng như tiếng nói và lối nói của dân tộc thì nó hay, nó đứng vững mãi. Bởi vì ngôn ngữ của dân tộc là một thứ trường cửu, ít thay đổi vì thời thế”.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan.


Không chỉ học từ câu văn, Nguyễn Công Hoan còn học cả cách viết. Ngày kia, người bạn thân là Tương Huyền (anh ruột nhà văn Tam Lang) cho ông mượn tập truyện ngắn của Guy de Maupassant, Những kẻ khốn nạn của Victor Hugo… để ông tham khảo về cách bố cục, dựng truyện… Với cách học và thực hành qua các truyện ngắn hiện thực phê phán lần lượt đăng trên báo chí thời ấy, Nguyễn Công Hoan ngày một tiến bộ.

Đến năm 1932, với tập truyện dài Những cảnh khốn nạn, tên tuổi của ông đã được bạn đọc tìm đọc. Năm 1935, tập truyện ngắn Kép Từ Bền đã đưa Nguyễn Công Hoan thành cây bút sáng giá, tầm cỡ cùng các đồng nghiệp đương thời như Vũ Trọng Phụng, Khái Hưng, Nhất Linh, Ngô Tất Tố…

Về kinh nghiệm học văn để rồi sáng tác, đeo đuổi nghiệp văn, bài học mà ông thấm thía, tâm đắc nhất vẫn là phải nghiêm chỉnh học tiếng Việt:
“Học để hiểu tiếng khó, thêm tiếng mới. Đọc bài nào mà người viết không “hay chữ”, tôi cứ thấy như “ăn phở không người lái”. Học ở ngôn ngữ dân tộc, học ở văn học dân gian… Nghề của ta là nghề dùng tiếng để viết. Anh không giàu tiếng, thì đố ngòi bút của anh tung hoành được”.

Lê Minh Quốc



Thứ Ba, 4 tháng 9, 2018

Ngồi với người học trò nhà văn Nguyễn Công Hoan


Ngồi với người học trò nhà văn Nguyễn Công Hoan

Xuân Ba
Tôi đang duỗi cặp chân mỏi nhừ trên bãi tắm Trà Cổ. Tiết Thanh minh hẵng còn lành lạnh mà đám khách du lịch lẫn phượt đã ào xuống biển.
Phần thân già không dám dầm bể lạnh, phần đang áy náy vì trót thất hứa với đám bạn có nghề kiến trúc đi cùng từ Hà Nội rằng nhà thờ Trà Cổ là một điểm nhấn về du lịch lẫn kiến trúc của vùng Đông Bắc và cả xứ Bắc nữa.

Cuối năm 1977, tôi may mắn được một anh cán bộ Đoàn cũng là một chiên lành của giáo dân xứ Trà Cổ dẫn vào nhà thờ dắt đi cho coi đến nửa ngày. Đậm trong tâm trí những cảnh quan và lối xây cất cực kỳ bắt mắt từ đầu thế kỷ XX.

Nhưng ra đây mới đánh đùng cái nỗi, ngôi nhà thờ ngoạn mục ấy do dột nát hư hỏng lâu ngày, giáo hội Công giáo đã cho phá và việc xây cất lại đang được khẩn trương tiến hành.

Tôi đang miên man nghĩ đến cuộc di dân nhiêu khê xứ Trà Cổ này. Năm 1954, hơn bốn trăm giáo dân Trà Cổ đã xuống Hải Phòng. Rồi sau đó tàu há mồm chở họ đến Bến Cát, Bình Dương thuộc tổng giáo phận Sài Gòn.

Những ngày yên hàn quá ngắn, lại đụng độ, lại chiến tranh họ lại phải dạt đến xứ Đồng Hiệp - Định Quán cũng thuộc giáo phận Sài Gòn. Lại vẫn không yên do chiến cuộc. Khoảng năm 1965, 1966 lại dạt tiếp về Bình Minh - Trảng Bom nay là Đồng Nai thuộc giáo phận Xuân Lộc.

Năm 2015, đến California, tôi có một cuộc ngồi với mấy cụ già người Việt non một phần đêm. Năm 1978, họ ra đi từ giáo phận Trảng Bom Xuân Lộc. Và 60 năm trước họ là ba chàng trai giáo dân xứ Trà Cổ!

Nhà văn Phạm Hoa thúc vào sườn tôi rằng lão có đọc đâu đó nói nhà văn Nguyễn Công Hoan thời gian dạy học ở Trà Cổ và có cả một cậu học trò nay hẵng còn?

Tôi bừng tỉnh rồi sờ ngay đến những thứ tiện dụng của cái Ipad. Gọi cho Sở giáo dục Quảng Ninh cho Phòng GD Móng Cái. Và may mắn tôi đã có số điện thoại cần tìm… Điện thoại của người con trai của cậu học trò nhà văn Nguyễn Công Hoan!

Mà sao lại là con trai? Hay cậu học trò nói dại miệng nhỡ có mệnh hệ nào rồi? May mắn, qua điện thoại được biết liền nhà ông con trai ấy ngay sau Đình Trà Cổ. Và ông cụ thân sinh vẫn khỏe.

Khỏe là cách gọi tương đối. Cụ Đoàn Trấn - cậu học trò của nhà văn Nguyễn Công Hoan thuở ấy nay tròn 96 tuổi. Ông Đoàn Như Vĩnh con trai duy nhất của cụ tuổi Quý Tỵ (sinh năm 1953) học Khoa Sinh, Trường Tổng hợp khóa 16, công tác ở Hạ Long đã hưu và bà vợ giáo viên cũng vừa hưu tiếp chúng tôi trong căn nhà khá khang trang. Ông Vĩnh cười cho biết nhà mới làm đúng năm Tỵ 2013.

Rồi ông chỉ cây nhãn đầu ngõ đã u mấu lụ khụ rằng cụ ông trồng cây nhãn này đấy, tự khi tôi còn bé. Như ông Vĩnh cho hay, năm ngoái cụ ông còn thong dong đi lại, trí nhớ hẳn mẫn tiệp mà năm nay đã xuống nhiều.

Xuống, nghĩa là cụ Trấn chống can sải những bước lệt sệt. Cái bắt tay chắc vững nhưng ánh mắt nhìn khách có lúc như vào một khoảng vô định? Chất giọng cứ ríu vào nhau. Và vợ chồng ông Vĩnh đành phải phiên dịch…

Con chăm cha không bằng bà chăm ông. Cụ bà mất đã lâu. Việc chăm cha già ông bà Vĩnh nay gánh… Nhưng càng chuyện càng thấm người con trai của cậu học trò quá xứng tư cách hầu cha!

Không chỉ theo nghĩa đen cơm cháo thuốc thang, vệ sinh này khác mà cha con còn bổ sung cho nhau giá trị tinh thần. Ông Vĩnh cứ vanh vách về sự kiện, về niên biểu, về người, về vùng đất Trà Cổ quê hương.

Như về nhà văn Nguyễn Công Hoan đã từng nối nghiệp dạy học của ông thân là cụ Nguyễn Đạo Khang. Năm 1926 bắt đầu dạy học ở Hải Dương. Năm 1931 được bổ lên Lào Cai. Năm 1935 được đổi về Kinh Môn rồi Nam Định. Năm 1936, anh giáo Nguyễn Công Hoan đổi về Trà Cổ dạy. Đó là thời điểm vừa xuất bản cuốn Bước đường cùng.

Anh giáo kiêm nhà văn Nguyễn Công Hoan chỉ dạy ở Trà Cổ hơn một năm. Sau đó ông giáo Hoan đổi về Thái Bình.

Cứ như lời phiên dịch của ông con, khi đó cụ Trấn đã 24 tuổi. Lớp học của cụ nhà tranh vách đất nay là Trường Cấp 2 Trà Cổ khang trang. Lớp chỉ có 10 học sinh, đứa lớn đứa bé, đứa học trước đứa học sau gọi là lộ cộ rất khó truyền dạy này khác.

Nhưng thầy Hoan vẫn nhiệt tình miệt mài bảo ban. Thầy giáo Hoan khi ấy mới 33 tuổi. Hơn tuổi trò không nhiều. Lứa học trò ấy nay hầu hết đã về cõi. Cụ Trấn là cao niên nhất trong giới giáo chức Trà Cổ.

Chỉ có hơn một năm thọ giáo thầy Hoan mà cậu học trò Đoàn Trấn đã tiếp nhận được nhiều cú hích từ thầy để định cho mình hướng đi lẫn tính cách cùng nghị lực sống. Ấy là cái nghề, nghiệp dạy học.

Cụ dạy tiểu học liên tục ở Trà Cổ cho đến khi về hưu. Thầy Hoan còn khuyến khích trò Trấn nếu có điều kiện thì dành thời gian đầu tiên là hỏi han sau đó tìm hiểu rồi nghiên cứu tình hình lịch sử phong tục của vùng đất Trà Cổ và Móng Cái nói chung.

Việc ấy rất ích vì ngoài bồi bổ cho mình kiến thức còn truyền dạy cho học trò lòng yêu quê hương đất nước.

Ngôi Miếu mà dân làng Trà Cổ vẫn hương khói xưa nay, dân làng chỉ quen gọi là miếu Ông, nhưng khi thầy Nguyễn Công Hoan tới đây dạy học, thầy Hoan có dịch đôi câu đối trong miếu Ông, mọi người mới biết đó là miếu thờ Nguyễn Hữu Cầu!
Trà loan hải đảo cam tuyền hữu/ Cổ độ cơ tâm võng nguyệt cầu (Tạm hiểu là: Hòn đảo xinh đẹp này có một tâm hồn lớn trong sáng đến cư ngụ là Nguyễn Hữu Cầu).

Vâng lời thầy, anh giáo rồi ông giáo, cụ giáo Đoàn Trấn đã dần dà trở thành người nhiều chữ, nghĩa là biết nhiều nhất và có uy tín khắp vùng Trà Cổ.

Năm xa ấy Bác Hồ về thăm Trà Cổ bằng trực thăng. Dân làng ùa ra đón mừng đến mức huyên náo mất trật tự. Bác cười, ở đây ai là người có thể cầm chịch nói mọi người nghe? Dân làng thưa là có ông giáo Trấn ạ. Bác cười vui vẻ mời ông giáo Trấn ra phụ trách việc giữ trật tự.

Cụ giáo Trấn cũng đã chia sẻ với ông con những điều mình tìm hiểu, tâm đắc. Như về lãnh tụ khởi nghĩa nông dân Nguyễn Hữu Cầu. Sau cuộc dấy binh khởi nghĩa (1772-1782) bị thất bại, Nguyễn Hữu Cầu đã phiêu dạt lên bán đảo Trà Cổ!

Dấu tích ngoài đôi câu đối còn có chiếc chiêng cổ có tiếng kêu rất đặc biệt, dân làng Trà Cổ cũng giữ gìn rất chu đáo. Rồi cái tên Trà Cổ có phải do đám tàn quân nhà Mạc đặt?

Quê gốc của nhà Mạc là Trà Hương và Cổ Trai. Phải chăng họ muốn cố gắng lưu giữ hình ảnh quê nhà mà lấy hai chữ đầu của quê gốc thành hai tiếng Trà Cổ? Rồi anh hùng LLVT Đào Phúc Lộc nhà tình báo tài ba từng ra Trà Cổ dạy học cùng thời với nhà văn Nguyễn Công Hoan.

Tôi ngạc nhiên khi ông Vĩnh cho biết thêm cùng thời gian thầy Hoan ra dạy học ở Trà Cổ còn có người em ruột ông giáo Hoan là Nguyễn Công Bổng (sau này là Phó Tổng GĐ Nha Công an TƯ) cùng từng ra đây dạy học.

Một sự kiện nữa mà cụ Trấn từng miệt mài tìm hiểu nghiên cứu nhưng do tuổi tác nên đành để lỡ. Đó là việc nhà chí sĩ Phan Bội Châu trên bước đường Đông Du sang Nhật đã dừng chân một thời gian ở Trà Cổ!

Sự kiện ấy chắc phải gợi mở nhiều điều cho giới nghiên cứu sử vì trước nay các tài liệu đều chép cụ Phan sang Nhật qua cửa khẩu Việt Trung?

Ông Vĩnh cho biết về sau này nhà văn Nguyễn Công Hoan vẫn giữ liên lạc với các trò ở Trà Cổ. Năm 1958, thầy Hoan đã đánh thơ mời ông Trấn lên chơi ở Hà Nội. Sau 1975, ông Trấn cũng đã lên Hà Nội ghé thăm thầy Hoan. Và đây là lá thư cũng là bút tích cuối cùng của thầy giáo Hoan mà ông Vĩnh giữ được.

"Hà Nội ngày 17-3-1974. Thân gửi anh Đoàn Trấn. Hôm 14 vừa rồi, tôi ra Bãi Cháy, có gặp một anh nhà thơ trẻ (tôi quên tên), anh ta nhắc tôi là ở Trà Cổ, anh em mong tôi ra chơi, vào dịp hè năm nay. Việc tôi định ra, tôi đã viết thư cho anh từ lâu rồi.

Vậy thì hè này, thế nào tôi cũng ra. Cả nhà tôi với em Hồng, cùng vài cháu nội, cháu ngoại nữa. Anh còn nhớ Hồng không? Nay Hồng đã có 4 con, con lớn là kỹ sư, còn ba con nhỏ học ở đại học cả rồi. Chồng là Thứ trưởng Bộ Cơ khí luyện kim. Nay Hồng cũng viết văn, lấy tên là Lê Minh.

Tôi có ra Trà Cổ thì cả gia đình cùng ra, ước độ mươi người, đi bằng xe ô tô riêng. Và đến độ tháng 8 mới ra. Vậy tôi xin anh cho tôi biết vài điều như sau: Anh sẽ tổ chức cho gia đình tôi ở đâu?

Chắc là sẽ ở nhà của Công đoàn. Vậy phải thuê buồng thế nào? Mỗi buồng bao nhiêu tiền trong thời gian bao nhiêu ngày. Còn ăn thì bao nhiêu tiền một ngày.

Vì tôi chưa ra nghỉ ở Trà Cổ bao giờ, nên chưa biết thể lệ thế nào. Tôi cần biết, để chuẩn bị về vật chất. Vậy tôi xin anh cho tôi biết, và nếu có thể, thì anh cho biết ngoài nhà của Công đoàn, còn có những nhà nào có thể ở được.

Cũng còn từ nay đến tháng 7, vì tháng 8, gia đình tôi mới ra, vậy xin anh cứ thong thả trả lời cũng được. Nhận được thư anh, tôi sẽ định ngày rồi sẽ báo trước cho anh ngày tôi ra và số người trong gia đình, để anh có thời gian sắp xếp. Chúc anh và gia đình bình yên. Hoan".
(Trời đất, tôi thầm nghĩ, thời điểm nhà văn viết thư này, em trai nhà văn là Nguyễn Công Miều tức Lê Văn Lương là Trưởng Ban tổ chức TƯ Đảng. Con rể là Thứ trưởng Bộ Cơ Khí Luyện kim. Gia đình có em trai, con trai là Liệt sĩ. Gia đình thuộc diện cán bộ cao cấp.

Thế mà nhà văn của chúng ta không hề có ý định nhờ vả chính quyền địa phương kể cả học trò cũ của mình mà cứ khư khư. Vậy phải thuê buồng thế nào? Mỗi buồng bao nhiêu tiền trong thời gian bao nhiêu ngày. Còn ăn thì bao nhiêu tiền một ngày. Tôi cần biết, để chuẩn bị về vật chất)

Còn một lá thư nữa, bức cuối cùng nhà văn ghi ngày 31-5-1974 gửi cậu học trò Đoàn Trấn báo tin chuyến đi nghỉ mát ở Trà Cổ không thực hiện được do bận việc gia đình. Xin trích.

“Tôi rất mong đến được nơi cũ để gặp những người cũ. Ba mươi năm rồi… Nhưng rất tiếc. Vậy tôi xin cảm ơn tấm lòng anh yêu mến tôi. Lại nhờ anh chuyển lời thăm hỏi của tôi đến anh em cũ…”.

Rồi những năm sau nữa nhà văn đã để lỡ. Ba năm sau, ngày 6-6-1977, nhà văn từ trần.

Những lá thư nhuốm màu thời gian của ông giáo nhà văn Nguyễn Công Hoan vẫn còn đây.

Xuân Ba

Cụ Đoàn Trấn và vợ chồng người con trai.

Bút tích bức thư của nhà văn Nguyễn Công Hoan gửi cụ Đoàn Trấn.


Xem: Trường cũ của nhà văn Nguyễn Công Hoan - Lê Toán

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2018

Nguyễn Khắc Phê kể chuyện được Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài dạy viết văn


Nguyễn Khắc Phê kể chuyện được Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài dạy viết văn

Lê Tiên Long
zing.vn Nguyễn Khắc Phê bị nhà văn Nguyễn Công Hoan “trách” là “phung phí” vốn sống, còn Tô Hoài bảo “với đề tài như thế này, cậu chưa thành công thì ba mươi năm sau cũng phải viết lại”.
Đó là lời nhận xét của các nhà văn tiền bối với cuốn Đường qua làng Hạ, theo Nguyễn Khắc Phê, là tiểu thuyết, nhưng trong bản in đầu tiên năm 1968, NXB Thanh Niên ghi là “truyện” - cách gọi khiêm tốn của tác giả mới vào làng văn.

Cuốn sách viết về cuộc chiến đảm bảo giao thông để đưa đoàn tên lửa SAM đầu tiên qua sông Gianh năm 1966, với những chiến công bi tráng của lực lượng thanh niên xung phong, bộ đội bến phà Gianh, cùng biết bao người dân làng Hạ đã hy sinh tính mạng, xương máu cho con đường ra mặt trận.

Trong cuốn hồi ký Số phận không định trước (NXB Hội Nhà văn), Nguyễn Khắc Phê kể lại, cuốn tiểu thuyết đầu tay Đường qua làng Hạ được ông viết sau khi dự lớp bồi dưỡng những người viết văn trẻ khóa 3 và được Hội nhà văn cho về Trại viết văn Quảng Bá, Hà Nội để hoàn thiện.

Lúc đó, ông đang là cán bộ Ty Giao thông tỉnh Quảng Bình. Trước đó, ông đã ra mắt tập ký sự đầu tiên mang tên Vì sự sống con đường, cuốn sách được ra đời nhờ sự động viên của vị Trưởng ty Giao thông Lại Văn Ly và sự hỗ trợ của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, nhà viết kịch Học Phi.

Sau khi hoàn thành bản thảo Đường qua làng Hạ, Hội nhà văn thể hiện sự quan tâm đến một cây bút ở “tuyến lửa” với đề tài có tính thời sự, đã mời các nhà văn nổi tiếng là Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Đoàn Giỏi, Bùi Huy Phồn đến nghe ông đọc bản thảo tại trụ sở Hội nhà văn ở 65 Nguyễn Du suốt mấy buổi liền.

“Nhà văn Nguyễn Công Hoan chỉ dẫn cho tôi đến cả cách đặt dấu phẩy sao cho đúng “đắc địa”, ví dụ như đoạn đầu, tôi viết "Xa nữa là Trường Sơn", nhà văn chữa lại: "Xa nữa, Trường Sơn" - như thế, câu văn vừa nhẹ nhàng, vừa gợi một khoảng cách cho người đọc tưởng tượng”, Nguyễn Khắc Phê kể lại.

Và nghe theo lời khuyên của nhà văn Tô Hoài, Nguyễn Khắc Phê đã chữa lại bản thảo ba lần trước khi đem in.

Sau này, Nguyễn Khắc Phê có bộ đôi tiểu thuyết Đường giáp mặt trận và Chỗ đứng của người kỹ sư, vẫn bám theo chủ đề quen thuộc của ông là ngành giao thông trong chiến tranh chống Mỹ. Đường giáp mặt trận nói về câu chuyện mở tuyến đường hiểm trở vùng Bãi Dinh dưới chân đèo Mụ Giạ và cuộc chiến đấu trên đường số 12A, còn Chỗ đứng người kỹ sư nói về mối quan hệ giữa lãnh đạo và trí thức cũng như phẩm chất của người trí thức trong thời đại mới.

Đường giáp mặt trận được Nguyễn Khắc Phê viết tại Trại sáng tác do Tổng Công đoàn và Hội Nhà văn tổ chức 6 tháng liền tại Yên Sở. Khi giúp đọc bản thảo, nhà văn Kim Lân đã nói: “Cậu viết trúng vấn đề rồi đó, nhưng viết thế dễ bị “đánh” lắm!”.


Tuy nhiên Nguyễn Khắc Phê nhìn nhận nguyên nhân tác phẩm không bị “đánh” như sau: “Là người trong cuộc thì con mắt dễ nhìn trúng và tấm lòng phải là thiện ý. Có ai dại khờ mà tự nói xấu mình, làm hại mình?”

Đọc bản thảo, nhà văn Nguyên Hồng chỉ khuyên: “Mình nghĩ Phê nên khoanh câu chuyện quanh cái đáy móng”.

Khi Đường giáp mặt trận được in ra, nghe Nguyễn Khắc Phê hé lộ trong tập 2 sẽ cho nhân vật Loan hy sinh ngay trong những ngày đầu Mỹ dội bom xuống đường, nhà văn Nguyễn Khải đã khuyên: “Nhà văn không dễ dựng được một nhân vật có góc cạnh thế đâu, đừng để cô ấy “chết” sớm quá!”. Nghe lời khuyên, Nguyễn Khắc Phê đã cho Loan trở thành nhân vật sinh động cho đến cuối chuyện.

Cuốn sách ra đời năm 1976 và đã được đọc trong chương trình Đọc truyện đêm khuya của Đài tiếng nói Việt Nam suốt nửa tháng liền. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi khen ngợi: “Cuốn sách viết được lắm! Tôi khen không phải vì nhân vật hát bài Người Hà Nội đâu…”.

Nhà thơ Chế Lan Viên thì khuyên: “Viết đơn xin vào Hội Nhà văn đi! Chỉ cuốn Đường giáp mặt trận là thừa tiêu chuẩn rồi!”. Và chỉ sau khi cuốn sách xuất bản một năm, Nguyễn Khắc Phê đã được kết nạp vào hội Nhà văn Việt Nam.

Cùng với Đường giáp mặt trận, tiểu thuyết Những cánh cửa đã mở sau đó đã giúp Nguyễn Khắc Phê nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2012.

Nguyễn Khắc Phê sinh năm 1939, quê tại Hương Sơn, Hà Tĩnh, là con trai của cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm. Ông có những người anh trai nổi tiếng như Giáo sư Nguyễn Khắc Phi, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện.

Sau khi tốt nghiệp, ông tham gia xây dựng một số cây cầu đầu tiên trên miền Bắc như cầu Ba Thá, cầu Tế Tiêu, rồi được điều vào xây dựng cầu, đường ở miền Tây Nghệ An, sau đó là Quảng Bình.

Sau 15 năm công tác trong ngành giao thông, ông chuyển ngành sang Hội Văn nghệ Quảng Bình, rồi Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên. Ông từng giữ chức Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương nhưng bị cho thôi chức chỉ sau 9 tháng.

Ông có nhiều tác phẩm được công chúng ghi nhớ như Biết đâu địa ngục thiên đường, Những ngọn lửa xanh, Mười ngày và cả mười năm, Thập giá giữa rừng sâu…

Trong cuốn hồi ký Số phận không định trước, ông kể lại nhiều câu chuyện thú vị về gia đình, tuổi thơ, quá trình trưởng thành, viết văn cũng như nhiều quan niệm của ông về cuộc sống, thời cuộc.

Lê Tiên Long


Nhà văn Nguyễn Khắc Phê.


Nguyễn Khắc Phê kể chuyện được các nhà văn tên tuổi dạy cách viết trong cuốn Số phận không định trước. Ảnh: Hữu Khoa.



Lớp vỡ lòng của nhà văn Nguyễn Công Hoan


Lớp vỡ lòng của nhà văn Nguyễn Công Hoan

Nguyễn Bình

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, thời kỳ 1951 - 1954 thế kỷ XX; Nhà văn Nguyễn Công Hoan đã ở xóm Rạng Bàng, đất canh nông, nay là tổ 10, phường Nông Tiến, thành phố Tuyên Quang. Tác giả Nguyễn Chí Hiệp, hội viên CLB thơ Việt Nam là người ở mảnh đất trước đây là vườn và nhà của nhà văn Nguyễn Công Hoan, kể: Lúc đó chúng tôi từ 10 - 14 tuổi đều mù chữ không biết nhà văn Nguyễn Công Hoan mà dân làng chỉ gọi là ông giáo Hoan. Ông mở một lớp vỡ lòng dạy 13 - 14 học sinh miễn phí. Nhà ông có một vườn gồm các cây cam, chanh, bưởi, nhãn. Những học sinh lớn thường giúp ông làm cỏ vào ngày chủ nhật. Sau khi hòa bình lập lại ông chuyển về Hà Nội. Đất và nhà của ông chuyển cho cụ giáo Trinh. Khi cụ giáo Trinh chuyển về Hà Nội giao vườn và nhà cho ông Vũ Quốc Tuyên là con cụ.

Trên mảnh đất đó các con của 3 thế hệ gia đình có một đặc điểm là đều học giỏi và thành đạt.

Lớp học sinh vỡ lòng của ông giáo Hoan năm ấy đến nay đã trên dưới 80 tuổi nhưng vẫn luôn luôn nhớ đến ông giáo Hoan - nhà văn Nguyễn Công Hoan một thời đã thắp sáng tâm hồn họ, giúp họ biết chữ và vươn lên trong cuộc sống.

Ông giáo Hoan sống rất thân thiện với nhân dân. Ông thường đến thăm hỏi mọi người trong xóm và chia hoa quả của vườn nhà cho trẻ con trong xóm.

Mãi đến khi đi học cấp 1, cấp 2, cấp 3 chúng tôi mới biết ông giáo Hoan chính là nhà văn Nguyễn Công Hoan người có một kho tàng văn xuôi đồ sộ. Nhà văn Nguyễn Công Hoan sinh ngày 06/3/1903 mất ngày 06/6/1977 hưởng thọ 74 tuổi. Ông nổi tiếng về viết truyện ngắn và cuốn tiểu thuyết bước đường cùng tố cáo sự bóc lột dã man của bọn phong kiến cấu kết với thực dân Pháp trong thời kỳ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945.

N.B



Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2017

NGUYỄN CÔNG HOAN: “TRUYỆN LÀ BỊA Y NHƯ THẬT”


NHỮNG BẬC THẦY CỦA TÔI (Xuân Vũ): Phần III - CHƯƠNG XVI

NGUYỄN CÔNG HOAN:
“TRUYỆN LÀ BỊA Y NHƯ THẬT”

Xuân Vũ


Đó là câu nói cũng là bài học hay nhất của Nguyễn Công Hoan dạy tôi. Ông luôn luôn cười mím chi, cái cười trên gương mặt đôn hậu rất dễ mến, không nghiêm trang. Ông chỉ đến cơ quan khi họp, họp xong về ngay, nên ít có dịp tiếp xúc với đám trẻ. Từ ngày ông mua ngôi nhà trên Bưởi thì ông ở luôn trên đó, chỉ khi nào cơ quan cho người đánh xe lên rước, ông mới xuống. Do đó, ông là người ít nói kinh nghiệm cho ai nghe hơn hết.

Nhưng tôi có dịp may. Số là khoảng năm 59-60 chi đó tôi cố tìm được một nơi yên tĩnh để ngồi viết quyển Lửa Dưới Tro đã nói ở trên kia. Đó là ngôi chùa gần nhà ông.

Chiều chiều tôi thường đi ra trước cổng chùa để nhìn về phía Nghi-tàm mà nhớ Hà Nội, ở Hà Nội mà vẫn nhớ Hà Nội. Bỗng một hôm tôi gặp ông cũng đi dạo mát ở bờ Hồ Tây ngay trước cửa chùa. Đó là lần gặp riêng duy nhất của tôi đối với ông.

Sau vài câu chuyện mưa nắng, anh hội viên Xuân Vũ bèn phỏng vấn ông chủ tịch Nguyễn Công Hoan. Phỏng vấn hối hả và không có chương trình gì hết. Tôi hỏi:

– Xin cụ Hoan cho cháu biết cụ viết cái Bước Đường Cùng như thế nào?

Ông xua tay:

– Ấy chết! Đừng gọi tôi thế? Đừng gọi tôi thế!

Tôi chưng hửng, không biết mình hỏi thế có đường đột vô lễ gì không, thì cụ mỉm cười:

– Anh là người Nam nên không hiểu “Cụ Hoan” nghĩa là gì hả ? !

(Về sau tôi mới hiểu tiếng nói lái của miền Bắc khác miền Nam. Cụ Hoan có nghĩa là hoạn…)

Rồi cụ vui vẻ:

– Bước Đường Cùng tôi viết trong 15 ngày. Bỏ nhà đi chỗ khác vắng vẻ viết một mạch. Xong, ra về, đưa đi in.

– Cụ không có chữa à ?

– Chữa trong lúc viết thôi.

– Dạ . Còn Lá Ngọc Cành Vàng?

– Cũng gần như vậy. Tôi viết giấy rời, tờ nào không vừa ý thì rút ra, viết tờ khác thay vào.

– Cụ lấy cốt truyện ở đâu?

– Tôi không lấy ở đâu cả, toàn bịa. Chỉ có tí sự thực tôi nghe được.

Quả thật sau đó tôi đọc các truyện ngắn của cụ do nhà xuất bản Văn Học in thành 4, 5 tập cả trăm truyện, tôi mới thấy điều của cụ nói là sự thực, toàn bịa ra cả. Mỗi tuần một truyện thì thì giờ đâu mà đi lấy tài liệu, đi thực tế như bọn trê chúng tôi bây giờ? Vả lại, ông là thầy giáo, làm sao bỏ lớp học được?

Ông nói thêm:

– Truyện là bịa y như thật, anh nào bịa giỏi anh đó ăn!

Đó có vẻ là câu nói bình thường, nhưng đã được nhà văn Việt Nam Nguyễn Công Hoan đúc kết thành chân lý, nguyên lý của nghề viết truyện.

Nguyễn Công Hoan cho biết ông không đọc sách, ngoại trừ sách giáo khoa để dạy học trò. Còn tiểu thuyết, truyện nọ kia thì ông không đọc của ai hết vì: sợ khi viết rủi trùng với người ta mà không hay rồi mang tai tiếng. Ông ghét nhất là lý luận văn học. Ông gọi những nhà lý luận là “bọn ấy”. Chúng nó không sáng tác được, nên quay sang làm nhà phê bình, nhà lý luận. Chính ra từ sáng tác anh mới lý luận được, chứ từ lý luận đặt ra, rồi bảo người ta sáng tác theo đó, thì còn gì vô lý bằng. Chính nhà văn mới là nhà lý luận văn học.

Tôi không biết nên nghe lời ông hay không nên nghe, nhưng tôi cũng không bao giờ viết một bài lý luận.

Về câu nói “Truyện là bịa”, tôi càng viết càng thấy nó hay quá trời! Chính từ khi đặt bút viết truyện đầu tiên, mình đã dùng cái nguyên lý ấy rồi, nhưng không hay. Đến nay nghe ông “Tổ Bịa”, nên mới dám mạnh dạn mà “bịa”.

Trước kia, khi viết mình cứ sợ đi xa sự thật rồi nó không thật. Anh Nguyễn Huy Tưởng đã hết lời khen Vũ Trọng Phụng là sáng tạo phi thường cái Số Đỏ. Sự thật không có một anh chàng nào như Xuân Tóc Đỏ, như ông Minh, bà Văn, như ông Phán mọc sừng cả ! Nói cho văn học thì đó là sáng tạo, và nói theo kiểu bình dân như cụ Hoan thì đó là Bịa? Tức là tác giả nhặt một mớ đất sét ở đây đó khắp nơi, gom lại, chế tí nước, pha tí màu, rồi nặn ra các con rối, và đặt tên là Xuân, là Tuyết, là cụ Cố v.v… Các bạn đọc lại Số Đỏ xem, có cái đám ma nào vui vẻ kỳ lạ thế không? Có ông chồng nào như ông Phán mọc sừng không? Bịa hoàn toàn, nhưng thực, thực một cách tàn nhẫn! Sự thực trong sách hay hơn sự thực ngoài đời Có những lúc viết, tôi cứ ôm cứng cái sự thực, không dám đẩy nó lên một mức, vì sợ xa sự thực. Mà xa sự thực thì sẽ rơi vào tháp ngà mà ở trong tháp ngà thì là bố của tiểu tư sản và tư sản!

Bây giờ xem lại thấy Victor Hugo làm thơ toàn ở trong tháp ngà, và nhờ ở trong tháp ngà, ông mới làm được bằng ấy bài thơ có giá trị.

Vậy câu nói của Nguyễn Công Hoan bao trùm cả văn lẫn thơ. Riêng ở lãnh vực thơ càng phải bịa, bịa mạnh.
“Đêm nay rằm, yến tiệc ở trên trời”

“Chàng là Kim Đồng, thiếp là Ngọc Nữ!”

“Tôi ôm thiếu nữ vào lòng
Người yêu bỗng biến thành bông hoa rừng! “
Những hình tượng ấy không phải bịa thì là gì?

Từ khi tập tễnh cầm bút tới nay, tôi chưa thấy ai nói một câu đơn sơ mà có tính cách nguyên lý trong nghề viết truyện như Nguyễn Công Hoan. Đó là lý luận. Nhưng câu nói ấy không mấy ai chú ý, để bu vào theo những bài vở lý luận xa vời vô bổ làm cho người viết khó theo, run tay khi viết. Bịa phải chăng là tướng tượng? Này đây, tôi xin nhắc lại: những truyện Liêu Trai Chí Di của Bồ Tùng Linh có phải là bịa không? Có cậu học sinh nào yêu ma quái như vậy không?

Thời tôi đi học, đã nhắc lại ở những chương đầu, có quyển Thần Hổ của Tchya Đái Đức Tuấn, bọn tôi mê mẩn xem, bỏ cả học bài. Đó là một con cọp trắng hóa thành tinh ăn thịt người, nhưng có khi hiện hình là một tiên ông ca hát với đám tiên nữ. Đám tiên nữ cũng là một lũ ma trành, ma xó đi theo hầu hạ “tiên ông”.

Truyện vô cùng hấp dẫn cho học trò lẫn người lớn. Ngày nay không có cây bút nào đi vào làng bịa như Tchya nữa. Rồi truyện Dế Mèn của Tô Hoài, phải chăng là một trời bịa? Các truyện Chuột của anh cũng chỉ là một sự bịa. Bịa y như thật. Hãy bịa mạnh vào, nhưng nhớ là bịa y như thật.

Và đây nữa, truyện Tây Du, Phong Thần, Tam Quốc làm say mê tuổi học trò lẫn tuổi già của tôi. Hàng trăm tiên ông tiên bà, ngàn trang sách, toàn bịa là bịa, nhưng đọc cứ tưởng y như là thật. Có Trần Huyền Tăng không? Có Đường Thể Dân không? Có, nhưng trong chính sử, cả hai đều không đẹp như sự bịa của Ngô Thừa Ân. Nào là 7 con Nhền Nhện, nào là con Ba Ba tu dưới đáy sông 500 năm chưa thành tiên, nào là cái kim cô của Quan Âm niềng đầu Hành Giả. Nào là cả ngoại càn khôn, nào là thế giới loài khỉ ở Thủy Liêm Động, nào là quạt Ba tiêu của Bà La Sát có phép quạt tắt cả núi lửa. Tám mươi tai nạn mà Phật tổ Thích Ca cho Tam Tạng còn chưa đủ, phải bịa thêm một tai nạn thứ 81 . Đó là những cuốn “Vô Tự Kinh”.

Nhưng cái sự bịa ly kỳ nhất là Tây Lương Nữ Quốc, một nước chỉ có đàn bà, hoàn toàn không có một đấng mày râu khả dĩ cưới vợ được! Nguy hiểm nhất là triều đình nước Tây Lương này cũng toàn là quần vận yếm mang cả, vua thì gọi là Nữ vương, Thừa tướng, Thái sư, Nguyên soái để tóc dài và uốn quăn, đi mỹ viện xâm viền mắt và môi cả. Nhưng cũng chưa tuyệt, vì độc giả hỏi: Thế thì làm sao dân xứ này đẻ con? Thưa, có con sông gọi là “Mẫu Tử Hà”, công dân xứ này đến tuổi mười tám, nếu muốn có con, cứ ra đấy múc nước sông lên uống, thì sẽ chuyển bụng và mang thai, rồi sẽ hạ sinh con sau chín tháng mười ngày, đúng qui luật của tạo hóa như những bà vợ ở các nước khác. Nhưng có điều là chỉ đẻ ra cái đĩ chớ không ra thằng cu nào cả !

Trong dịp bốn thầy trò Đường Tăng lại đến xin VISA để đi nước khác, vua tôi đều mê mệt những gã đàn ông này. Bát Giới bỗng trở thành niềm ước của cả triều đình. Sa Tăng, Hành Giả mặt mày như thế mà vẫn được coi là đẹp trai. Nữ vương thì nói thẳng với Tam Tạng: “Trẫm sẽ nhường ngôi cho chàng!” Bạn có thấy ai bịa như Ngô Thừa Ân không? Đó nếu không gọi là Bịa thì gọi là gì? Có cái nước nào trên thế giới này như Tây Lương Nữ Quốc không? Thế nhưng cái bộ óc “Siêu Bịa” của Ngô Thừa ân đã tạo ra nó Y NHƯ THẬT.

Cho nên câu nói của nhà văn Việt Nam Nguyễn Công Hoan, nếu dịch ra một trăm thứ tiếng trên thế giới, thì nó sẽ là cây đuốc soi đường cho những ngòi bút sáng tạo toàn cầu. BỊA Y NHƯ THẬT! Trước ông một ngàn năm, Ngô Thừa Ân đã làm công việc đó. Nhưng Ngô Thừa Ân chỉ làm mà không nêu thành nguyên lý, cho nên sau ông có biết bao nhiêu nhà văn cứ ôm lấy sự thực mà đặt lên giấy, không dám bớt mà cũng không dám thêm, thành ra văn chương lắm khi bị lẩn quẩn trong vòng sự thực, tẻ ngắt, khô khan, ngô nghê ! Nhất là văn chương xã nghĩa. Chỉ khi nào tung hê cái sự thực đó đi ĐỂ LÀM NÊN MỘT SỰ THỰC KHÁC MẠNH HƠN, ĐẸP HƠN SỰ THỰC NGOÀI ĐỜI, thì văn chương mới trở thành văn chương được.

Có lần nhà văn Tô Hoài bảo tôi: Người ta đang đi theo lối viết người thật việc thật. Đó là nói láo! Chẳng ai viết truyện mà đem nguyên sự thực lên giấy bao giờ. Nếu có ai theo lối đó, thì chẳng bao lâu họ cũng sẽ bỏ đi, vì lối đó không khoa học và phản nghệ thuật. Khi cầm bút viết câu thứ nhất, là cậu đã bắt đầu sáng tạo rồi, nghĩa là cậu bắt đầu cắt xén hoặc tô vẽ cho sự thực.

Sau này nếu có một độc giả hỏi cậu: “Những điều ông viết ra có đúng sự thực hay không?” thì cậu đừng bao giờ trả lời là: “Tôi có gặp ông A bà B, và tôi ghi lại sự thực hoàn toàn!” Ngoại trừ làm phóng sự cho báo thì có thể, chứ còn viết phóng sự tiểu thuyết như Vũ Trọng Phụng, Tam Lang là đã có khối bịa tạc rồi!

Tôi nghĩ là câu nói của Tô Hoài bổ túc cho câu của Nguyễn Công Hoan. Bịa là một ngón nghề quan trọng nhất, cơ bản nhất cho nghề viết truyện. Bịa từ cốt chuyện, bịa tới nhân vật, bịa luôn cả những biến chuyển và kết luận. Đó là trí tưởng tượng kết hợp với khoa học và nghệ thuật. Đối với tôi những chữ “TRUYỆN LÀ BỊA Y NHƯ THẬT” đã trở thành nguyên lý viết truyện mà tôi càng áp dụng, càng thấy nó đúng.

Lâu nay tôi cũng có bịa, nhưng không mạnh tay. BỊA MUÔN NĂM !



Nguyễn Công Hoan sau Cách mạng (Lê Thị Đức Hạnh)


Nguyễn Công Hoan sau Cách mạng

Lê Thị Đức Hạnh

Nguyễn Công Hoan là nhà văn từng sống và từng viết nhiều tác phẩm có giá trị dưới chế độ cũ. Nhưng khoảng vài năm trước ngày Tổng khởi nghĩa, sáng tác của nhà văn có phần lạc hướng: Danh tiết và Thanh đạm bị dư luận tiến bộ phê phán. Giữa lúc nhà văn cảm thấy đời viết văn của mình “tàn tạ, sắp chết” thì Cách mạng tháng Tám thành công. Như đang từ bóng tối bước ra ánh sáng, cảm thấy “choáng mắt” vì thời đại lớn lao quá, nhà văn còn lúng túng chưa viết được gì đáng kể thì Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Nguyễn Công Hoan vào quân đội, làm công tác dạy học. Từ 1946 đến 1954, phần lớn thời gian Nguyễn Công Hoan dành cho việc tổ chức giảng dạy, đồng thời vừa làm chủ nhiệm, vừa biên tập tờ Quân nhân học báo. Khoảng thời gian này, nhà văn có viết được mấy truyện ngắn về kháng chiến. Từ 1952– 1953, Nguyễn Công Hoan trở về công tác văn nghệ, học tập chính trị, tham gia phát động giảm tô, cải cách ruộng đất, chuẩn bị cho sáng tác.

Hòa bình lập lại, Nguyễn Công Hoan mới viết tương đối đều. Năm 1935, nhà văn cho xuất bản tập truyện ngắn Nông dân với địa chủ và mấy truyện ngắn khác.

Nguyễn Công Hoan còn viết ký. Năm 1960, nhà văn viết Những ngày tháng Tám ở Côn Đảo và Người cặp rằng hầm xay lúa ở ngục Côn Lôn năm 1930, nói về các chiến sĩ cách mạng. Năm 1962, nhân sang thăm Ba Lan Nguyễn Công Hoan viết Thăm nhà người anh em chiến đấu anh dũng.

Song phần sáng tác chủ yếu của nhà văn vẫn là mấy truyện dài viết về xã hội cũ như: Tranh tối tranh sáng (1956), Hỗn canh hỗn cư (1961), Đống rác cũ (1963). Ngoài ra, Nguyễn Công Hoan còn một số đóng góp về kinh nghiệm viết văn, về nghiên cứu văn học, chủ yếu là văn học cổ cận đại Việt Nam.

***

Quá trình sáng tác của Nguyễn Công Hoan cho thấy trước Cách mạng, nhà văn viết nhiều truyện ngắn và truyện dài, nhưng phần chính là truyện ngắn, và có nhiều truyện ngắn hay. Sau Cách mạng, phần sáng tác chính lại là mấy truyện dài và rất ít truyện ngắn, đến mức mấy năm gần đây, hầu như nhà văn bỏ hẳn thể loại này. Tuy nhiên, trước khi tìm hiểu truyện dài, chúng ta cũng cần điểm sơ qua đến truyện ngắn (và truyện vừa), bút ký.

Mấy truyện của Nguyễn Công Hoan trong thời kỳ kháng chiến: Xổng cũi (truyện vừa, 1947, ký tên Nguyễn Văn Lung), Bà lái đò Việt Nam (truyện ngắn, 1948).

Những truyện ngắn sau ngày hòa bình được lập lại gồm tập Nông dân với địa chủ (1955, gồm 13 truyện) và một số truyện đăng rải rác trên báo hoặc in chung trong các tập với người khác như Nắm cơm, Anh Dụ, Xây dựng…

Trong số những truyện này, khá nhất là Cây mít, kể lại một cách chua chát nỗi đắng cay, tủi cực của một gia đình nông dân ta trước đây: người trồng cây đã không được hưởng quả mà còn bị đánh đập, hành hạ dã man. Một số truyện khác cũng đáng chú ý: Quanh cái xác chết, Chị Liền,… Nhưng số lượng truyện dở vẫn nhiều hơn. Có thể kể: Anh Dụ, Xây dựng,… và nhiều truyện trong tập Nông dân với địa chủ.

Trong Anh Dụ, Xây dựng, sự diễn biến nội tâm của nhân vật chưa hợp lý, gây cho người đọc cảm giác không chân thực. Phần lớn truyện trong tập Nông dân với địa chủ có phần sơ lược, đơn điệu, mang dáng dấp của những báo cáo hoặc ghi chép, thu hoạch qua mấy đợt Cải cách ruộng đất.

Sau Cách mạng, Nguyễn Công Hoan viết tuy ít, nhưng vẫn có một số truyện khá. Thêm vào đó, ngay trong những truyện dở vẫn có ít nhiều đoạn sắc sảo, dí dỏm. Có điều, trước đây nhà văn nỗi tiếng chủ yếu do nhiều truyện ngắn trào phúng, đả kích, còn sau Cách mạng, mấy truyện ngắn hay lại là truyện đi vào tâm tình.

Trước Cách mạng, Nguyễn Công Hoan đã viết Cô làm công (theo thể nhật ký), toàn tập tuy chưa hay nhưng có nhiều trang xúc động. Năm 1960, nhờ nghe những người thân kể lại, Nguyễn Công Hoan đã viết được hai bài bút ký hay: Những ngày tháng Tám ở Côn Đảo và Người cặp rằng hầm xay lúa ở ngục Côn Lôn năm 1930. Cũng có thể coi hai bài bút ký này là hai truyện ngắn hoàn chỉnh và xuất sắc. Với lối viết sinh động, gọn gàng, súc tích, giàu tình cảm, Nguyễn Công Hoan đã làm sống lại những sự việc xảy ra cách đây hàng mấy chục năm, khiến người đọc ngày nay giở lại những trang sách đó vẫn cảm thấy rạo rực một tình cảm cách mạng nóng hổi. Nhưng tập Thăm nhà người anh em chiến đấu anh dũng thì lại hơi nặng và nhạt.

Tuy nhiên, ta vẫn thấy Nguyễn Công Hoan có khả năng viết ký hay. Điều này càng rõ khi nhà văn cho xuất bản Đời viết văn của tôi, được đông đảo bạn đọc hoan nghênh, cũng với lối viết nêu lên nhiều sự việc mà vẫn giản dị, tự nhiên, hấp dẫn. Tiếc rằng Nguyễn Công Hoan viết ký còn ít.

Về truyện dài, năm 1936, Nguyễn Công Hoan cho xuất bản Tranh tối tranh sáng (trên 300 trang) miêu tả cuộc sống buổi giao thời giữa hai giai đoạn lịch sử, thời kỳ tiền khởi nghĩa. Năm 1961, nhà văn lại viết Hỗn canh hỗn cư cũng khai thác đề tài trong thời kỳ này. Hai cuốn đi sâu vào hai khía cạnh. Tranh tối tranh sáng chủ yếu lên án sự áp bức, bóc lột của bọn địa chủ câu kết với thực dân, đế quốc. Hỗn canh hỗn cư nói nhiều đến truyền thống bất khuất và cuộc đấu tranh của một làng trước Cách mạng tháng Tám. Năm 1963, nhà văn lại cho xuất bản Đống rác cũ (tập I) (trên 500 trang): nói về những mánh khóe lừa đảo để làm giàu của vợ chồng tên An-be Thừa, qua đó tập trung tố cáo khá nhiều hiện tượng thối nát trong xã hội thực dân phong kiến những năm chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914– 1918) và sau đó ít lâu.

Qua mấy truyện dài trên, Nguyễn Công Hoan đã bộc lộ một số ưu điểm và nhược điểm chung. Chúng tôi không đi sâu phân tích từng tác phẩm mà chỉ muốn nói một vài điểm bao quát, rồi từ đây thử nêu lên mấy nguvên nhân chưa thành công trong sáng tác của nhà văn sau Cách mạng.

Trước kia, Nguvễn Công Hoan viết khỏe, đã lên án nhiều mặt thối nát của xã hội thực dân phong kiến. Đến nay, với Tranh tối tranh sáng, nhất là Hỗn canh hỗn cư, do có nhận thức mới, Nguyễn Công Hoan đã khẳng định sức mạnh của quần chúng lao động làm nên lịch sử. Nhà văn thể hiện quá trình giác ngộ của nhân dân từ tự phát đến tự giác, cuối cùng đấu tranh thắng lợi dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ở đây, những người nông dân, những người trí thức tiểu tư sản yêu nước,… đã được giác ngộ, cho nên dù phải hoạt động gian khổ vẫn hết sức tin tưởng ở sự tất thắng của cách mạng ngay trong lòng xã hội cũ. Nhà văn nhìn thấy phẩm chất tốt đẹp của những cán bộ Đảng. Nguyễn Công Hoan cũng cho thấy rõ: chính sách bóc lột, đàn áp tàn bạo của thực dân Pháp, phát xít Nhật, với sự câu kết giữa bè lũ quan lại, địa chủ cường hào chính là nguyên nhân đã dẫn tới nạn đói khủng khiếp năm 1945. Những thủ đoạn bóc lột địa tô, những mánh khóe chỉ điểm để phá hoại cách mạng… của bọn địa chủ cường hào cũng bị tác giả vạch rõ. Nhà văn đã chú ý xây dựng cả một hệ thống hình tượng từ những tên thực dân cáo già đến những tên tay sai đủ loại. Nhờ đưa ra nhiều loại người, nhiều sự việc với thái độ rõ ràng, nên mấy truyện của Nguyễn Công Hoan, ở mức độ nào đó, đã có giá trị phê phán, vạch được nhiều mặt xấu xa, thối nát, đáng ghê tởm trong chính sách cai trị của thực dân Pháp.

Do có cách nhìn mới soi sáng, lại do nhà văn hiểu biết nhiều mảng sống của xã hội cũ nên ở truyện của Nguyễn Công Hoan chúng ta bắt gặp những trang viết lý thú, hấp dẫn như cảnh đón tiếp tên công sứ Va-mê (Tranh tối tranh sáng), cảnh mấy tên lính gác ở đầu làng Văn Chương (Hỗn canh hỗn cư), cảnh mật thám khám nhà, phiên tòa xử kiện, những việc làm ám muội, bẩn thỉu của bọn cha cố trong nhà chung… Có những bức tranh gợi lên nhiều nét xúc động như cuộc sống ẩn dật kín đáo của gia đình Phúc Lâm, cái chết oan uổng của cô Lễ, rồi sự lụn bại tan nát của gia đình này (Đống rác cũ, tập I)… Trong những trang viết về xã hội cũ, có những đoạn, những trang viết hay mà tới nay vẫn chưa thấy nhà văn nào vượt được. Nếu Đống rác cũ được sửa chữa lại công phu, nghiêm túc thì có thể trở thành tác phẩm có giá trị, vì nó phản ánh tương đối phong phú xã hội thực dân phong kiến một thời kỳ.

Một đóng góp nữa khá đặc sắc của Nguyễn Công Hoan là yếu tố trào phúng đậm nét trong các truyện dài. Chúng ta đều biết trong xã hội cũ có nhiều cái xấu xa, thối nát mà trước đây các nhà văn chưa có điều kiện nói hết, hoặc có nói cũng chưa được sâu, do nếp nhìn còn bị hạn chế. Sau Cách mạng, chúng ta đã có một số truyện vạch rõ bản chẩt thối nát của cái xã hội thực dân, phong kiến đáng nguyền rủa ấy, vì nó đã có lúc sống lại một cách khủng khiếp hơn, quá quắt hơn ở miền Nam nước ta, dưới nanh vuốt nguy hiểm của đế quốc Mỹ. Mặt khác, trong xã hội mới, do những tàn dư của tư tưởng cũ, không phải không còn những mặt chưa tốt, thậm chí xấu nữa, mà nhà văn cần phê phán để nêu bật những cái mới đang nảy nở. Như vậy, truyện dài trào phúng, hoặc truyện mang nhiều yếu tố trào phúng vẫn cần phải có. Nhưng trong thực tế sáng tác, loại này còn hiếm. Nói đến chất trào phúng trong truyện, người ta nghĩ ngay đến Nguyễn Công Hoan với Tranh tối tranh sáng, Đống rác cũ (tập I) và nhiều đoạn trong Hỗn canh hỗn cư, đến Bùi Huy Phồn với Phất. Ở Nguyễn Công Hoan, trước Cách mạng có nhiều truyện ngắn trào phúng hay, truyện vừa Bà chủ cũng tương đối thành công. Đến những truyện dài viết sau Cách mạng tuy có thiếu sót mặt này, mặt kia, nhưng về căn bản, lối trào phúng của nhà văn nhiều khi mạnh, sắc và dí dỏm, có duyên (đoạn tả vợ chồng Va-mê, Hàn Thưởng, vợ chồng Thừa, cả những tên Đuy-ru-roa, cha đạo…). Có thể nói, một phần nhờ đó mà truyện của Nguyễn Công Hoan tuy có những mặt chưa đạt, nhưng vẫn dễ đọc, không nặng nề. Với vốn sống và tài nghệ trào phúng đó, nếu nhà văn phấn đấu để nâng cao thêm chất tư tưởng của tác phẩm, thì chắc hẳn nhà văn sẽ có nhiều đóng góp tốt hơn.

Đúng là sau Cách mạng, nhận thức tư tưởng của Nguyễn Công Hoan đã có mặt đổi mới, do đó nhà văn có điều kiện để nhìn đối tượng châm biếm, đả kích được rõ hơn, để nói thẳng không cần úp mở. Vốn sống của Nguyễn Công Hoan về xã hội cũ lại tương đối phong phú hơn so với nhiều nhà văn hiện nay. Thực tế, Nguyễn Công Hoan có vận dụng phần nào sở trường riêng của mình với những thuận lợi đó nên đã đạt được một số kết quả.

Nhưng nhà văn chưa khai thác triệt để những mặt mạnh của mình nên truyện còn bộc lộ nhiều hạn chế. Có những nhược điểm lẽ ra ngày nay có thể khắc phục được thì tác giả vẫn mắc phải, đôi khi lại ở mức độ trầm trọng hơn.

Nguyễn Công Hoan tuy hiểu biết nhiều người, nhiều việc, nhưng lắm khi sử dụng cái vốn đó chưa thận trọng, đưa vào tác phẩm một cách hơi dễ dãi, cho nên không tránh khỏi những trường hợp bối cảnh của tác phẩm chưa rõ nét hoặc chưa có được đầy đủ tính chân thực, lịch sử. Nguyễn Công Hoan còn có những chỗ yếu nhất định trong việc xây dựng nhân vật. Trước kia, nhà văn thành công chủ yếu ở thể truyện ngắn, trong đó chỉ cần đề cập tới một vài nhân vật với một mảng đời, một tình huống, và vì thế, ngòi bút của nhà văn nhiều khi tỏ ra sắc sảo, hóm hỉnh. Với truyện dài, nhà văn phải đưa ra nhiều nhân vật với cuộc sống phức tạp của họ. Đánh giá cho nghiêm khắc, nhiều nhân vật trong truyện vừa và dài của Nguyễn Công Hoan, kể cả những truvện trước Cách mạng, chưa thật sinh động. Bước đường cùng là một thành công đặc biệt, nhưng chưa phải đã mô tả hay các loại nhân vật. Yêu cầu của truyện dài là phải trình bày nhiều nhân vật, nhiều sự việc vừa phức tạp vừa đa dạng, nên những điểm yếu của nhà văn càng bộc lộ rõ hơn. Trong các tác phẩm Tranh tối tranh sáng, Hỗn canh hỗn cư, Đống rác cũ (tập I), phần đông nhân vật còn mờ nhạt, có nhiều nét gượng ép, ít nhân vật có tính cách sắc sảo với quá trình phát triển chặt chẽ, hợp lý. Ở nhiều đoạn, Nguyễn Công Hoan còn đưa ra nhiều chi tiết tuy có thực ở ngoài đời, nhưng vì thiếu chọn lựa, sắp xếp nên người đọc vẫn thấy chưa hợp với sự phát triển của tính cách nhân vật và lôgích cuộc sống.
Nhân vật chính diện tuy tác giả chú ý mô tả nhiều nhưng vẫn không nổi lên được (anh Na trong Hỗn canh hỗn cư, hoặc anh Xi, anh Nghĩa trong Đống rác cũ). Ngay đến việc thể hiện các nhân vật phản diện, vốn là sở trường, mà Nguyễn Công Hoan vẫn để lộ những nhược điểm đáng tiếc. Sở dĩ những nhân vật đó chưa trở thành những điển hình sắc nét là do nhà văn chưa đi sâu thể hiện cụ thể và sinh động những mặt chủ yếu trong bản chất của đối tượng mô tả. Đôi khi, nhà văn đánh mạnh vào những khía cạnh thứ yếu của hạng người phản diện như các mặt sinh hoạt đồi bại, hoặc rởm đời. Việc chọn nhân vật trung tâm của truvện có khi chưa đại diện cho một lực lượng xã hội cần tập trung phê phán (Thừa trong Đống rác cũ). Nhiều lúc tác giả lại nói thẳng ý đồ chủ quan của mình. Vì thế, truyện dài của Nguyễn Công Hoan thường chỉ hấp dẫn ở từng mảng.

Nhiều nhân vật của Nguyễn Công Hoan chưa thực sự là những tính cách điển hình với cá tính rõ nét, nhân vật ở tác phẩm này nhiều khi lại hao hao giống nhân vật ở tác phẩm kia. Chẳng hạn tâm trạng và hoàn cảnh của chị vú em trong Nông dân với địa chủ không khác mấy chị vú em trong ông chủ (1944). Một số nhân vật hoạt động cách mạng ở Tranh tối tranh sáng, Hỗn canh hỗn cư cũng na ná giống nhau. Hai nhân vật me Tây Mi-mi (Tranh tối tranh sáng) và Ma-ri (Đống rác cũ) không khác nhau mấy. Hoặc có những sự việc trước kia Nguyễn Công Hoan đã viết rồi, nhưng do nghĩ ràng ngày nay nhiều người chưa có điều kiện đọc được nên nhà văn viết lại, như đoạn tả cảnh khao trong truyện Địa chủ (Nông dân với địa chủ) gần giống đoạn tả cảnh khao trong Cái thủ lợn; mẩu chuyện chị Mão kể cho cụ Điều nghe khi ra thăm chồng về việc làng lập ấu trĩ viên (Đống rác cũ) cũng là sự lặp lại sơ lược một đoạn trong Chương trình năm năm… Song sáng tác đã in ra, thế tất có một số người đọc được, nên khi đọc lại sẽ kém hứng thú, cho nên yêu cầu của sáng tác vẫn phải là luôn luôn phát hiện và sáng tạo cái mới.

Một nhược điểm đáng kể nữa trong tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan là ảnh hưởng của chủ nghĩa tự nhiên. Một số truyện ngắn trươc Cách mạng như Ái tình tiểu thuyết, Ai khôn, Đàn bà là giống yếu, Một tấm gương sáng… đã có màu sắc tự nhiên chủ nghĩa khá rõ. Đáng tiếc là đến Tranh tối tranh sáng, nghĩa là sau Cách mạng hàng chục năm, khi viết về nạn đói, tảc giả vẫn chưa khắc phục được nhược điểm ban đầu. Đáng lẽ Nguyễn Công Hoan không nên khai thác những chi tiết như mẹ ăn thịt con (dầu có thực trong cuộc sống) bởi chưa chắc nó đã làm cho người đọc đau xót, căm thù lũ thực dân chính là tội phạm gây ra nạn đói khủng khiếp, mà chỉ làm cho người đọc thấy ghê sợ. Trong Hỗn canh hỗn cư có nhiều đoạn viết lan man, dài dòng, không giúp ích gì mấy cho sự phát triển của truyện. Đến Đống rác cũ (tập I) thì khuyết điểm này càng bộc lộ rõ. Nhiều đoạn, tác giả tả tỉ mĩ những chi tiết vụn vặt, không giúp ích gì cho việc thể hiện chủ đề truyện, nhưng lại đầy những yếu tố thô tục, không có tác dụng tốt về mặt tư tưởng và cũng chẳng có giá trị nghệ thuật gì. Nhiều bài phê bình đã phê phán đúng mức những đoạn văn như vậy, coi đó là độc tố. Cũng do đó mà nhiều nhà phê bình đánh giá: Đống rác cũ (tập I) là một cuốn truyện tự nhiên chủ nghĩa. Thực tế, phải thấy rằng Nguyễn Công Hoan không giải phẫu nhân vật của mình bằng học thuyết Phơ-rớt như có lúc thấy ở Vũ Trọng Phụng, Trọng Lang. Chủ nghĩa tự nhiên ở Nguvễn Công Hoan thể hiện chủ yếu ở chỗ nhà văn chưa nêu bật được những vấn đề lớn, mà đã sa vào những chi tiết vụn vặt, tầm thường, gây tò mò vô ích. Đáng tiếc là gần chục năm sau, khi cho in Đời viết văn của tôi, nhà văn cũng chưa tự phê bình thiếu sót của Đống rác cũ, và ngay trong cuốn hồi ký này cũng còn đôi chỗ tự nhiên chủ nghĩa.

Ai cũng phải công nhận trình độ viết truyện ngắn vừa cô đọng, sắc bén, vừa dí dỏm, hấp dẫn với một ngôn ngữ trong sáng, nhiều hình ảnh của Nguyễn Công Hoan. Nhưng trong truvện vừa và truyện dài, nhà văn còn vấp phải những nhược điểm về nghệ thuật. Bố cục truyện của nhà văn thường chưa chặt chẽ. Không kể Tay trắng trắng tay, Cô giáo Minh, những tác phẩm mà trong đó người đọc dễ thấy hàng nửa chương, có khi cả chương, chưa khớp lắm với quá trình phát triển của truyện, mà ngay đến Bước đường cùng, tác giả cũng tự nhận là có thể bỏ đi cả hai chương đầu. Mấy truyện dài viết sau Cách mạng, bố cục cũng chưa chặt chẽ. Trong Tranh tối tranh sáng, chúng ta gặp một số chương có thể chỉ cần viết gọn vào mấy trang. Hỗn canh hỗn cư, Đống rác cũ (tập I) cũng có nhiều đoạn quá dài dòng, đôi lúc câu chuyện bị ngập vào nhiều chi tiết bề bộn, rối rắm.

***

Với một cây bút có uy tín từ trước Cách mạng như Nguyễn Công Hoan, độc giả chờ đợi nhiều trong những sáng tác sau đó, nhưng tác giả chưa đáp ứng được đầy đủ lòng mong mỏi ấy.

Chúng ta rất hiểu những điều chủ yếu Nguyễn Công Hoan muốn nói qua mấy tác phẩm của mình sau Cách mạng, song trong văn nghệ không phải người viết bao giờ cũng đạt được ý muốn chủ quan của mình. Nguyễn Công Hoan muốn phê phán thậm tệ cái cũ, cái xấu để làm nỗi bật cái mới, ca ngợi cái mới nhưng sự phê phán ấy chưa sâu sắc, chưa thành những nhát búa lớn bổ vào đầu địch, và những tội ác tầy trời của chúng cũng chưa bị vạch trần tận bản chất. Những cái được tác giả, ca ngợi, những nhân vật tích cực của phong trào hãy còn bàng bạc, chưa mang được sức sống và khí thế tất thắng của nó. Tâm tư tưởng của tác phẩm nói chung chưa cao.

Trước kia do hoàn cảnh xuất thân và môi trường sống, Nguyễn Công Hoan có một nếp cảm nghĩ tiến bộ, cái nhìn của nhà văn nhiều lúc gần gũi với đông đảo nhân dân. Trong đường lối của Đảng, có phần, nhà văn tiếp nhận được, có phần nhà văn hiểu chưa thấu đáo. Nguyễn Công Hoan cũng chưa thật hiểu cách mạng, chưa rõ những khó khăn gian khổ của phong trào từ khi mới là những “đốm lửa ban đầu”. Do đó, sau Cách mạng tuy nhà văn đi ngay vào con đường đúng, nhưng như thế chưa phải đã có một cái nền vững chắc, khả dĩ làm cơ sở cho việc nhận thức sâu sắc về xã hội mới. Phải chăng, những hạn chế về cách nhìn ấy đã khiến cho sáng tác của nhà văn thường vướng phải những nhược điểm khi phản ánh hiện thực mới; và cũng từ đấy, sau Cách mạng, Nguyễn Công Hoan khó thành công ở truyện ngắn trào phúng, một thể loại trước kia nhà văn rất sở trường. Bản chất xã hội cũ là thối nát, đầy ung nhọt, khó có thể che giấu nên chỉ cần bắt chộp một hiện tượng, một sự việc là nhà văn có thể viết ngay được một truyện nhiều khi mang ý nghĩa đả kích khá mạnh và sâu. Nnưng bản chất của chế độ ta khác hẳn. Nhất là trong giai đoạn quá độ hiện nay, nếu chỉ nhìn vào hiện tượng mà đả kích thì có khi mắc sai lầm. Bởi hiện tượng xấu nhiều khi chỉ là cá biệt, nhất thời, hoặc bề ngoài dường như chưa tốt nhưng thực chất đó là nhược điểm trong quá trình của một cái gì tốt đẹp đang trưởng thành. Thực tế đó đòi hỏi nhà văn phải có cái nhìn biện chứng, phải suy nghĩ sâu mới có thể sáng tác thành công.

Quả thực sau Cách mạng tháng Tám, xã hội mới có trang bị cho Nguyễn Công Hoan những nhận thức mới, tư tưởng mới. Nhưng về căn bản, nhà văn vẫn dừng lại ở cái nhìn của một tiểu tư sản trí thức, có tinh thần dân tộc, giác ngộ cách mạng, với một thế giới quan còn nhiều hạn chế.

Phương pháp sáng tác của Nguyễn Công Hoan chưa hẳn là phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, thậm chí với Đống rác cũ (tập I), nhà văn vẫn căn bản dừng lại ở phương pháp hiện thực phê phản, còn chứa nhiều yếu tố tự nhiên chủ nghĩa. Rõ ràng, sở trường của Nguyễn Công Hoan gắn liền với chủ nghĩa hiện thực phê phán. Đây là phương pháp sáng tác được sử dụng khá tốt trong nền văn học công khai nước ta trước Cách mạng tháng Tám. Nhưng phương pháp đó chỉ có hiệu lực trong yêu cầu miêu tả mặt đen tối của xã hội, nên sau Cách mạng nó không còn thích hợp nữa, mà phải nhường chỗ cho một phương pháp sáng tác mới, thích hợp hơn, đó là phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Phương pháp này có kế thừa một số thành tựu của phương pháp trước, nhưng về bản chất thì khác hẳn. Nó yêu cầu phải biểu hiện hiện thực một cách cụ thể, chân thực trong sự phát triển cách mạng, cũng có nghĩa là phải phát hiện được cái mới đang nảy nở và cái cũ đang bị tiêu diệt, từ đấy đòi hỏi người viết phải đứng hẳn về phía cái mới, đấu tranh cho cái mới thắng lợi. Từ yêu cầu ấy, phương pháp sáng tác mới đòi hỏi người viết lấy việc miêu tả nhân vật tích cực làm trung tâm. Chính vì vậy mà ở Nguyễn Công Hoan, một vấn đề nữa cũng cần bàn tới, đó là vấn đề vốn sống mới.

Trước Cách mạng, Nguyễn Công Hoan có hiểu biết về người nông dân và một số tầng lớp lao động khác, như viên chức, nhà văn, nhà báo, kép hát, người làm công, đi ở, kéo xe,… Nhà văn đã có nhiều đóng góp về đề tài nông thôn, song chưa phải đã hiểu sâu về người nông dân như hiểu bọn địa chủ cường hào. Nhà văn càng chưa hiểu công nhân bao nhiêu. Tuy nói chung Nguyễn Công Hoan có vốn sống phong phú về xã hội cũ, nhưng tiếc rằng vốn sống đó chưa cân xứng về các mặt. Tác giả hiểu mặt trái sâu hơn, và vì thế chính cái mảng nhà văn còn yếu này với những con người nhà văn hiểu chưa sâu, thì sau Cách mạng lại trở thành những nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội mới. Vả lại, ngay trong mặt trái cũng có bộ phận Nguyễn Công Hoan hiểu chưa sâu, chẳng hạn bọn đế quốc. Nếu tác giả nắm vững bản chất và căm ghét bọn thực dân Pháp như đối với bọn quan lại tay sai thì dù trước Cách mạng nhà văn không tả được lũ chúng, sau Cách mạng, trong sáng tác của mình nhà văn cũng có thể có nhiều thành công hơn. Phải chăng, ngày xưa Nguyễn Công Hoan ghét Tây chủ yếu về tính chất dâm bạo và sinh hoạt lố lăng hơn là căm thù bản chất thâm hiểm độc ác của chúng, cho nên nhà văn không quan sát kỹ được chúng, ngày nay mô tả chúng tất nhiên khó sắc sảo. Thêm nữa, trong cái vốn sống phong phú về xã hội những điều tác giả cảm thụ sâu sắc, về cơ bản đã viết rồi, nay có viết lại cũng khó hay hoặc có chỗ trở thành lặp lại, như việc tả bọn quan lại,v.v…

Trước Cách mạng, Nguyễn Công Hoan là nhà giáo chưa trực tiếp tham gia cách mạng. Sau ngày khởi nghĩa, Nguyễn Công Hoan đã hòa nhịp dần với cuộc sống mới. Nhưng do vị trí công tác, do thiếu điều kiện để đi sâu lâu dài vào những mũi nhọn của cuộc đấu tranh cách mạng, nên Nguyễn Công Hoan vẫn chưa bù đắp được đầy đủ những thiếu thốn của mình. Nhà văn đã có lần thú nhận điều này với các bạn viết trẻ. Tất nhiên cũng nên thông cảm là từ những năm sau hòa bình, nhà văn đã có tuổi, sức khỏe kém đi, nên sự lăn lộn của mình ở những nơi mũi nhọn của sản xuất, chiến đấu có bị hạn chế. Trong khi đó con người mới đã tiến những bước kỳ diệu, nhu cầu thẩm mỹ và trình độ nhận thức của quần chúng bạn đọc cũng không ngừng được nâng cao, làm cho nhà văn càng khó có điều kiện theo kịp. Thực tế, Nguyễn Công Hoan đã phần nào nhận ra chỗ mạnh, chỗ yếu của ngòi bút mình.

***

Nghiên cứu để góp thêm một tiếng nói nhỏ đánh giá Nguyễn Công Hoan sau Cách mạng, chúng tôi chợt nghĩ đến một nhận xét chí lý của tác giả: “Không ai có thể nâng giá trị cho một người viết văn đến mức chưa xứng đáng, cũng như không ai có thể dìm giá trị của một nhân tài”.

Nguvễn công Hoan là nhà văn lão thành, có tài, có nhiều đóng góp xuất sắc trước Cách mạng; sau Cách mạng, nhà văn cũng viết được một số truyện ngắn, bút ký khá hay, một số đoạn truyện dài có giá trị, chưa kể nhiều kinh nghiệm viết văn và một số bài nghiên cứu có công phu. Những nhược điểm của tác giả đều là do không tự giác, chứ không cố ý viết những điều sai trái. Điều đáng quý nhất của nhà văn sau Cách mạng là sức làm việc dẻo dai và nhất là sự chân thực, nhiệt tình đối với sự nghiệp cách mạng. Những nhược điểm của mình do nhà văn thành thật nói ra, cũng để lại nhiều kinh nghiệm quý cho lớp người viết trẻ trên đường kế tục sự nghiệp của những bậc đàn anh. Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Công Hoan, chúng ta còn có thể rút ra nhiều kinh nghiệm bổ ích cho sáng tác, nghiên cứu và lý luận.