Ads 468x60px

.

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2022

Nguyễn Công Hoan vị Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam


Nguyễn Công Hoan vị Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam

Phong Lê


HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 65 NĂM HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM
Đã chẵn 100 năm, kể từ năm 1922 cho đến nay - năm 2022, Nguyễn Công Hoan vẫn cứ là một trong số không nhiều tên tuổi lớn được quen biết và được nhắc nhở trong dư luận của nhiều thế hệ bạn đọc. Bắt đầu từ những truyện trong tập Truyện thế gian của Tản Đà thư cục, năm 1922; rồi Kiếp hồng nhan, năm 1923; Nguyễn Công Hoan sớm trở nên nổi tiếng với những chuyện đời trong chuyên mục “Xã hội ba đào ký”, thời An Nam tạp chí cũng của Tản Đà đầu những năm 1930. Và đến hôm nay, sau bao nhiêu biến thiên xã hội, ông vẫn tiếp tục là nhà văn thân quen của nhiều thế hệ bạn đọc, trong số đó không ít người đã từng qua một tuổi trẻ hoặc tuổi học đường sớm biết đến Nguyễn Công Hoan, qua tiểu thuyết Bước đường cùng và các truyện ngắn được chọn lọc trong chương trình văn học ở nhà trường.

Cố nhiên ở mỗi thời kỳ, sự quan tâm của bạn đọc đối với Nguyễn Công Hoan là có khác nhau. Nguyễn Công Hoan xuất hiện với một bút pháp lạ, một cách nhìn lạ, một giọng điệu lạ, hài và bi, cười cợt và nghiêm trang, đùa mà tỉnh táo, đã được báo hiệu ngay từ tập truyện Kiếp hồng nhan (1923). Rồi Nguyễn Công Hoan với truyện ngắn và truyện dài, dồn dập và xen kẽ, chuyển dịch qua bao xu hướng nghệ thuật trong những năm 1930. Nhà văn muốn tỏ ra trung thành với chủ nghĩa hiện thực trào lộng trong truyện ngắn lại rất nghiêm trang, mực thước trong Tấm lòng vàng, Cô làm công... Chủ nghĩa lãng mạn tưởng như xa lạ với Nguyễn Công Hoan, khi nhà văn cố tình trở về với các khuôn mẫu cổ điển, để chống lại Đoạn tuyệt của Nhất Linh trong Cô giáo Minh, lại là người đẫm ướt trữ tình và nước mắt lãng mạn trong Tắt lửa lòngLá ngọc cành vàng. Thanh đạm u trầm trong một khí hậu hoài cổ nhằm dẫn dắt con người vào một thời xưa, trong lúc Bước đường cùng lại rất quyết liệt phanh phui, lật tẩy hiện tại - sách bị cấm mà thành danh to, năm ngàn bản bán hết veo và được in đi in lại nhiều lần... Nguyễn Công Hoan, tóm lại, đó là người viết dường như muốn có một mục tiêu để trung thành, để chung thủy, nhưng lại nhiều đổi thay, chuyển dịch và không ít giọng điệu. Có phải vậy chăng cùng lúc có ở trong ông vừa khách quan vừa chủ quan, vừa mới vừa cũ, vừa hoài cổ vừa cách tân, vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa cổ điển vừa tự nhiên và cả tự nhiên chủ nghĩa... Vậy là, phải chăng về cái gọi là “phức tạp”, qua con mắt người đương thời và hậu thế, thì xem ra Nguyễn Công Hoan cũng có mặt nổi danh không kém Nguyễn Tuân.

Nhưng rút lại thì cái lớn, cái duyên và có thể là cả cái may nữa, của Nguyễn Công Hoan là ở đâu và lúc nào ông cũng được quan tâm. Có thể nói ông là nhà văn chưa bao giờ bị quên. Ông là người thường xuyên được nhắc nhở. Quả là trong làng văn Việt Nam hiện đại, người có vị trí như Nguyễn Công Hoan không phải thật quá hiếm hoi. Nhưng có người danh đang như cồn, bỗng bị quên ngay. Có người rất thực tài nhưng chịu rất nhiều thăng trầm. Có người chịu một số phận âm thầm thật lâu rồi mới sáng sủa dần lên. Còn ông, nhà văn Nguyễn Công Hoan thì lúc nào cũng là người hiện diện cùng độc giả. Sau 1945, tham gia cách mạng, hoạt động ở nhiều cương vị, cho đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp, trở về hòa bình, ông là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đầu tiên từ khi có Hội, năm 1957, cương vị ấy ở ông gợi nhớ chức danh Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam của Nguyễn Tuân trước đó gần một thập niên vào năm 1949 trong Đại hội lần thứ nhất Hội Văn nghệ Việt Nam. Những chọn lựa của lịch sử và nghề nghiệp quả thật là tinh. Nghề và nghiệp, danh và thực, quả đã tìm được sự hội tụ ở những người viết có bản lĩnh, có chân tài. Qua hai hiện tượng trên, ở hai cương vị đại diện: một cho chủ nghĩa lãng mạn, một cho chủ nghĩa hiện thực, tôi thấy thật thú vị về sự gặp gỡ của hai phong cách lớn trong văn học Việt Nam hiện đại.

Sau ngót 40 năm trong nghề, nhà văn Chủ tịch Hội Nguyễn Công Hoan đã khẩn trương trở về với vốn sở trường của mình qua một loạt các tiểu thuyết dài dồn dập, hơn bất cứ ai, trong giao điểm những năm giữa 1950, đầu 1960: Tranh tối tranh sáng (1956), Hỗn canh hỗn cư (196l). Đống rác cũ, tập I (1963) như là một sự tổng hợp và nâng cao, trong quy mô sử thi, theo cách nói quen thuộc của chúng ta một thời, để có thể đồng thời diễn đạt cho được cả hai mặt: mặt tối tăm bi thảm và mặt cách mạng của cuộc đời cũ. Mặt tối tăm, dường như hầu hết những gì ông đã viết trước 1945 có thể xem là một tập đại thành; còn mặt sáng sủa, mặt cách mạng của xã hội cũ thì có dễ đến bây giờ ông mới có chủ trương và có quyết tâm trong một nỗ lực nhận thức rất cao. Còn nhớ có lần ông nói: “Tôi vẽ người xấu nhạy hơn người tốt. Bởi vì tôi vốn bi quan nên nhìn mọi vật bằng con mắt hoài nghi, chỉ thấy phía xấu. Phía xấu dễ nhập tâm hơn phía tốt”. Vậy là có phải bây giờ mới là lúc ông thấy cần và ông có điều kiện thể hiện mình trên cả hai thái độ: phê phán và khẳng định. Nhưng gắn cho được cả hai mặt đó vào một chỉnh thể, sao cho nó hữu cơ, cho nó nhuần nhị, có nhân và quả, hoặc vừa là nhân vừa là quả, có quan hệ và tác động theo cả hai chiều, thật là cả một sự nặng nhọc. Ấy là chưa nói những đòi hỏi theo “phép biện chứng” ở người đọc, theo lý luận về hiện thực xã hội chủ nghĩa một thời đòi hỏi nhìn cuộc sống trong “quá trình phát triển cách mạng” và “khẳng định mặt đang lên của hiện thực”, phải đâu dễ đáp ứng được, nếu nó không tìm được lối thuận trong tạng của nhà văn.

Thiên chức nhà văn: nói cho toàn diện về hiện thực, hướng con người về phía cái tốt cái thiện, là câu chuyện ta từng bàn đi bàn lại, nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Ai cũng mong đạt cái đích cao và xa ấy. Nhưng đòi hỏi của cả một nền, cả một thời có khác với đòi hỏi riêng cho từng người. Và ở mỗi người, chuyện lực và tâm, và cả tạng nữa, có gắn bó hô ứng được với nhau không cũng còn phải tính. Một đời dài theo nghiệp văn, Nguyễn Công Hoan đã để lại cho ta một di sản lớn về nhiều mặt. Nhưng tôi lại nghĩ nếu Nguyễn Công Hoan biết chiều cái tạng riêng của mình và xã hội một thời dài cũng sẵn sàng chấp nhận, hoặc biết bao dung cái tạng ấy thì hẳn chắc sự nghiệp của ông còn lớn hơn, thậm chí lớn hơn rất nhiều. Ông cứ viết, tiếp tục với giọng trào lộng của riêng ông về cái cũ, cái ác trong xã hội cũ và cả về cái cũ, cái xấu, cái ác trong xã hội mới nữa, cũng được chứ sao!

Chúng tôi là những người đọc hậu sinh trung thành và chuyên cần của nền văn chương Quốc ngữ, chúng tôi càng quý trọng một trong những người đặt nền móng đầu tiên là Nguyễn Công Hoan. Cũng chính ông là người tiếp tục cần mẫn lần lượt leo lên nhiều tầng giàn giáo của công trường văn xuôi Quốc ngữ Việt Nam. Một công trường thật sự là đông đúc, nhưng những bậc thợ cả trong số đó như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Khái Hưng, Tô Hoài, Nguyên Hồng... thì quả chưa phải là nhiều. Còn chưa nhiều nên mới quý. Và càng quý khi tất cả họ, khi trong con số ít ỏi ấy ở họ, lại là những chân dung rất khác nhau, những gương mặt hoàn toàn không lẫn vào nhau. Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn luôn nhớ đến một tiếng cười riêng, tiếng cười Nguyễn Công Hoan, tiếng cười gây cười, lập tức làm ta bật cười, cười không cản được, cười to lên hoặc tủm tỉm, nhưng rồi sau đó là một vị chát có lúc như nghẹn đắng, có lúc làm cay nơi mắt ta. Ngẫm ra thật là “sợ” cho ngữ ngôn, cho văn tự, cho chữ nghĩa Nguyễn Công Hoan: Oẳn tà roằn, Ngựa người và người ngựa, Báo hiếu - trả nghĩa cha, Cô Kếu - gái tân thời, Thế là mợ nó đi Tây... Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn thấy sống động cả một thế giới người thật đông đúc và cũng thật là lúc nhúc trong văn ông: những phu phen, thuyền thợ, dân quê; những địa chủ, lý dịch, cường hào; những nghị viên, dân biểu, quan lại (huyện, phủ, bố, án, tuần...); những ký, lục, phán, tham; những con buôn, tư sản, chủ thầu; những giáo chức, nghệ nhân, viết văn, làm báo; những me tây, cô đầu, kép hát; những gái điếm, con sen, thằng nhỏ; những “ván cách”, lính cơ, thày quyền; những bồi, bếp, tây trắng, tây đen... Nghĩ đến Nguyễn Công Hoan tôi nghĩ đến cả một gia tài truyện ngắn thật đồ sộ mà ông để lại; và truyện ngắn - đó mới chính là sở trường của ông, trào phúng mới là giọng điệu của riêng ông. Một thứ trào phúng rõ ràng là bắt nguồn từ gia tài dân gian và cổ điển, nhưng vẫn là rất riêng của ông, không lẫn với ai, và không ai bắt chước được. Hơn thế, đó lại là cái trào phúng xem ra không chỉ có một mà nhiều cung bậc; mọi cung bậc không phải tất cả đều thuận tai; nhưng khi một nhà văn được viết hồn nhiên theo thiên tính của mình, thì cái hồn nhiên ấy mới làm phát lộ ra biết bao tài hoa khiến cho ta kinh ngạc.

Thế kỷ XX đã ghi nhận Nguyễn Công Hoan như một tên tuổi lớn, tác giả của nhiều trăm truyện ngắn sáng giá - là người hiếm hoi, cùng với Nam Cao, Thạch Lam có công đưa thể loại dễ mà khó này lên một tầng cao thật siêu việt. Là người có một tiếng cười riêng thật đặc sắc trong một bối cảnh vốn lúc nào cũng rất cần có tiếng cười. Một cuộc sống tối tăm đau khổ, thật đáng khóc như cuộc sống trước 1945, vẫn cần có tiếng cười; đã có một chuỗi cười dài trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, lại có tiếng cười của Nguyễn Công Hoan, cùng tiếng cười trong thơ của Tú Mỡ, Đồ Phồn. Cuộc sống mới sau 1945, cho đến khi nhà văn qua đời dẫu có nhiều niềm vui lớn, đâu phải đã hết cần đến tiếng cười phê phán. Cái lý đó và sự thật đó, phải chăng ta nhận ra khá muộn, khiến cho một người biết cười, một người dám cười như Nguyễn Công Hoan thật đáng giá, thế nhưng lắm lúc ông đã phải nghiêm trang. Nguyễn Công Hoan, trong cả đời văn nói chung là một người may mắn, nhưng ông cũng có đôi lúc không may. Dẫu thế, trong di sản của ông, bên nhiều thứ đã bị quên, có một bộ phận lớn sẽ là bất tử.



Nguồn Văn nghệ số 18+19/2022







Hội thảo kỷ niệm 85 năm sinh của nhà văn Nguyên Công Hoan


Hội thảo kỷ niệm 85 năm sinh của nhà văn Nguyên Công Hoan

Hà Nội Mới, Số 7125, 12 Tháng Ba 1988

Thứ Ba, 19 tháng 4, 2022

An Nam Tạp Chí - Tản Đà và Nguyễn Công Hoan


Xin nhấp chuột vào mục cần đọc.

1. An Nam Tạp Chí
2. Tản Đà và An Nam Tạp Chí
3. Thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu
4. Nguyễn Công Hoan với Tản Đà và "Xã hội ba đào ký"
5. Mời xem và tải về 57 số An Nam Tạp Chí - PDF
6. Danh mục các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan trong An Nam Tạp Chí



An Nam Tạp Chí

Wikipedia tiếng Việt


An Nam tạp chí là tên một tờ báo do Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu sáng lập năm 1926. Đây là tờ tạp chí chuyên về văn học đầu tiên của Việt Nam, ngoài ra nó cũng giữ một kỷ lục về số lần đình bản và tái xuất[1].

Chuyện lận đận giữa Tản Đà và báo An Nam là một đề tài được nhiều nhà cảm khái. Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu có bài thơ "Trời đầy Nguyễn Khắc Hiếu", nhại lại bài "Hầu trời" của Tản Đà. Kể chuyện Tản Đà ngâm thơ vang tới trời, trời giận quá chửi
"cái thằng tiên ranh",
"ta đầy xuống hạ giới
để bắt chịu nhục hình
ai ngờ hắn vẫn nhàn
Ngày tháng ngâm thơ tràn"...
Trời hỏi các tiên nên bắt Tản Đà chịu hình phạt gì, để ông phải chịu gian nan, thì các tiên đồng thanh nói:
"Tội nặng nhất trần gian
Là bắt anh Khắc Hiếu
Làm tạp chí "An Nam"
Nguyên văn:
Chư tiên đồng thanh nói:
“Tội nặng nhất trần phàm
Là bắt anh Khắc Hiếu
Làm chủ báo An Nam”



----------
[1] Kỷ lục xuất bản của An Nam tạp chí Lưu trữ 2008-04-01 tại Wayback Machine - Sài Gòn giải phóng online



Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

Toa soạn chứ không phải tòa soạn


Toa soạn chứ không phải tòa soạn

THẾ NGUYỄN (st)


Vào thời điểm tờ An Nam tạp chí có nguy cơ bị đình bản, nhà báo, nhà thơ Tản Đà tính chuyện đưa báo từ Hà Nội vào Vinh. Ông thường phải ngồi trên xe lửa từ Hà Nội vào Vinh, có hôm sáng vào Vinh, tối lại ra Hà Nội. Trong khi đó, mọi công việc biên tập, sắp xếp trang mục báo Tản Đà vẫn phải làm trên toa tàu như ở tòa soạn. Vì thế, người soát vé tàu quen mặt ký giả này với cả đồ nghề của ông đến mức khi Tản Đà lên tàu, người soát vé chỉ nhìn qua là đã biết. Đó là cái giỏ tre đan, bày công khai vài thứ mà chỉ cần nhìn biết ngay hành lý của ký giả từ Vinh ra Hà Nội.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan đã có lần viết đăng trên Tao Đàn:

Chuyến ấy tôi cùng đi với ông ở Vinh về. Hành lý của ông là một cái chai, một cái cốc, dăm quả nem và một cái khăn mặt ướt đựng trong cái giỏ tròn bằng tre đan có quai xách. Thường lúc buồn ông vẫn uống rượu trên tàu. Xe chạy được vài ga, ông trùm vạt áo lên mặt để ngủ cho đỡ gió. Tôi hết chỗ nằm phải ngồi cạnh ông để ngủ gật. Đến một ga, có ông soát vé lên đánh thức hành khách rầm rĩ để làm bổn phận. Ông gắt người nọ, cự người kia. Đương đêm ai phải dậy mà không khó chịu và nhanh nhảu lấy được vé ra cho ông ta khám ngay. Nhưng lạ một nỗi là ông ta không đánh thức ông Tản Đà mà chỉ ngó nhìn vào cái giỏ có lòi cái cổ chai ra rồi yên trí hỏi vé tôi là người bên cạnh”.

THẾ NGUYỄN (st)



Làm báo kiểu... Tản Đà!


Làm báo kiểu... Tản Đà!

Hoài Nam

Đầu thế kỷ XX, với sự xuất hiện của báo chí và nhà xuất bản trong đời sống, viết văn viết báo đã trở thành một nghề – theo cái nghĩa là một công việc để người ta có thể làm và nhờ đó mà tồn tại (điều này chưa từng xảy ra ở xã hội Việt Nam trước đó). Tản Đà thuộc thế hệ những người làm văn làm báo đầu tiên ấy. Năm 1915, Tản Đà bắt đầu công bố tác phẩm trên Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh, mở màn cho một cuộc đời “buôn văn bán chữ kiếm tiền tiêu” đầy sóng gió. Năm 1921, hội Bắc Kỳ công thương ái hữu thành lập, ra báo Hữu Thanh làm cơ quan ngôn luận, Tản Đà được mời làm chủ bút. Nửa năm sau, do bất đồng quan điểm với nhóm Nguyễn Huy Hợi và Nguyễn Mạnh Bổng, ông từ chức chủ bút báo Hữu Thanh. Năm 1926, Tản Đà mở An Nam tạp chí, tự lãnh vai trò chủ báo, mời Ngô Tất Tố giữ chân thư ký toà soạn. Kể từ năm 1926 đến năm 1933, suốt bảy năm ròng hầu như mọi hoạt động của Tản Đà đều dồn vào việc xuất bản, tái bản An Nam tạp chí. Ông chăm chút, tâm huyết với tờ báo, đương nhiên, nhưng theo cách riêng của ông, vì thế mà nó long đong tới sáu lần đình bản, đến lần thứ sáu (năm 1933) thì thật sự cáo chung: Tản Đà chấm dứt đời chủ báo!
      Trong bài báo có tên Người làm văn in trên Đông Pháp thời báo (số 641, năm 1927), Tản Đà viết: “Các báo quán đã là một đạo quân tiên phong trong trận tiến thủ của xã hội, thời phàm các người viết văn trong báo giới đều là một tên lính ở trong đội tiên phong. Oai nghiêm thay! Hùng dũng thay! Một ngọn bút sắt tung hoành có quan hệ đến vận hội của đồng bào hai mươi lăm triệu”. Rải rác ở nhiều bài thơ, bài hát nói, Tản Đà cũng thường khẳng định trách nhiệm to lớn của báo chí đối với đời sống, đối với nhân quần. Rõ ràng, mang cao vọng trở thành một “Á Châu Khổng phu tử chi đồ”, lập một sự nghiệp văn chương “có bóng mây hơi nước đến dân xã”, làm báo với Tản Đà không đơn giản chỉ là việc “nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng”. Thế nhưng, để tờ báo có thể thực hiện được trọng trách xã hội như ông hằng kỳ vọng, trước hết nó phải không bị chết yểu. Mà muốn tờ báo không bị chết yểu, người chủ báo trước hết phải biết và phải giải được những con toán đơn giản về cân đối nguồn thu nguồn chi (tiền), rồi nguồn bài vở để báo ra đều kỳ. Tản Đà có làm được điều đó không? Trong Giấc mộng lớn, Tản Đà kể lại về tình cảnh của An Nam tạp chí trước khi bị đình bản lần đầu tiên: “Tiền ăn tiêu hàng tháng không có sổ chi tiêu, một là tạp chí về công việc tòa báo, hai là nuôi người nhà làm, ba là cung tiếp tân khách, lại bằng khi phóng phiếm vô ích, mỗi tháng không biết là bao nhiêu? Vì mỗi tháng không biết bao nhiêu tiền chi tiêu, cho nên không bao lâu mà tòa tạp chí An Nam lại như thể cái thành bị vây vậy”. Ngô Tất Tố, người cùng chèo chống con thuyền An Nam tạp chí với Tản Đà qua bao sóng gió cũng xác nhận: “Trong những cái khác người của ông Tản Đà, đức tiêu tiền cũng nên để ngang với tài thơ và tài rượu” (Tản Đà ở Nam Kỳ – Tao Đàn, 1939). Cũng trong bài viết ngay sau khi Tản Đà qua đời này, Ngô Tất Tố cho biết thêm: “Đành rằng nếu không có rượu thì ông Tản Đà sẽ không phải là ông Tản Đà, nhưng trong khi nó làm cho ông Tản Đà thành ông Tản Đà, chính nó cũng là thủ phạm làm cho An Nam tạp chí không có bài đưa nhà in. Bấy giờ An Nam tạp chí xuất bản mỗi tháng hai kỳ, nhưng mấy tháng sau nó đã đảo lại: Mỗi kỳ hai tháng”. Lần khác, Ngô Tất Tố than thở về Tản Đà với Vũ Bằng, Vũ Bằng thuật lại; “Chưa uống thì bảo không có rượu như cái máy không xăng nhớt không chạy được, uống vào say rồi thì nằm khoèo ra ngủ và lý luận một mình: Say mà làm việc thì hỏi đời còn có cái gì thú nữa?” (Người ghét Tản Đà - tạp chí Văn, số đặc biệt về Tản Đà, 1971). Bấy nhiêu chi tiết đó có lẽ đã đủ để hình dung về cung cách Tản Đà quản lý và vận hành tờ An Nam tạp chí trong vai trò của một ông chủ báo. Và nó cắt nghĩa cho ta hiểu, tại sao trong sáu lần An Nam tạp chí đình bản, duy có lần đầu tiên là bị đình bản (vì bài viết Một cuộc chiến tranh người An Nam khởi đầu từ năm Đinh Mão – ANTC số 10 năm 1926). Những lần còn lại đều là tự đình bản. Vì thiếu tiền. Vì Tản Đà đã quản lý tờ báo, đã làm báo với sự lãng mạn còn lớn hơn sự lãng mạn mà một thi sỹ cần phải có để trở thành một thi sỹ. Thật ra, dự phần vào số phận ba chìm bảy nổi của An Nam tạp chí, ngoài cái cách quản lý trên mây trên gió của ông chủ báo, ngoài lối làm việc ngật ngưỡng, tùy hứng và tùy tiện của Tản Đà “thi sỹ tửu đồ” – một Epicurien (người tôn thờ chủ nghĩa khoái lạc) theo cách nói của Trương Tửu về Tản Đà, còn có một nguyên nhân nằm ở phần nền của mọi chuyện: Tản Đà vốn là một nhà Nho từ trong căn cốt.
      Là nhà Nho, đương nhiên sở học của Tản Đà là kinh điển Nho giáo, sở trường là sáng tác văn chương. Ông không được đào tạo và cũng chẳng hề có chút thích thú nào với việc học hỏi để có kiến thức về quản lý, lý tài. Nhà Nho ưa nói chuyện đạo đức và luôn dị ứng khi phải đề cập việc tiền nong. Tản Đà cũng vậy, làm báo, dường như ông chỉ nhìn thấy ở đó một phương tiện để giáo hóa quốc dân, để “tinh biểu” những người có công về thế đạo nhân tâm và trừng trị những kẻ có tội với nhân quần.

Ông quên, hoặc không biết rằng, trong xã hội mang màu sắc tư sản như xã hội đô thị Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, ra một tờ báo cũng chính là làm một cuộc kinh doanh. Bởi thế mới có chuyện: Năm 1927, lúc An Nam tạp chí phải đình bản vì thiếu tiền, lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng là Nguyễn Thái Học đã tìm gặp Tản Đà và đề nghị được cung cấp tài chính cho tờ báo sống lại. Đôi bên vui vẻ rất mực. Chỉ đến khi Nguyễn Thái Học yêu cầu lập một bản giao kèo, Tản Đà đổi ngay sắc mặt, bỏ vào nhà trong không thèm tiếp khách. Việc hợp tác hỏng! Cái phản ứng ấy của Tản Đà là phản ứng đặc Nho: Nhà Nho giữ chữ tín bằng sự thành tâm, yêu cầu nhà Nho phải lập giao kèo làm bảo đảm cho số tiền đã bỏ ra – một việc suy cho cùng là rất đỗi bình thường trong các giao dịch kinh tế ở xã hội hiện đại – Nguyễn Thái Học vô tình đã xúc phạm nhân cách nhà Nho trong con người Tản Đà. Mặt khác, là nhà Nho, Tản Đà tất nhiên không thiếu tinh thần gia trưởng. Cái tinh thần gia trưởng này, Ngô Tất Tố đã làm bật lên qua việc kể lại câu chuyện về cách làm báo rất tùy hứng của Tản Đà. Số là khi vào Nam phụ trách phần văn chương cho Đông Pháp thời báo của Diệp Văn Kì, Tản Đà thường tối ngày uống rượu, mọi công việc vẫn giao phó cho ông cử Tùng Lâm. Một hôm vì thiếu bài, ông cử Tùng Lâm mới phải thêm vào một bài thơ lá cải. Báo ra, bị Tản Đà hạch hỏi, ông cử Tùng Lâm giải thích rằng vì thiếu bài, báo cần lên khuôn mà lại không biết tìm Tản Đà ở đâu nên ông làm vậy. Tản Đà mắng: “Nếu thiếu bài thì bỏ trắng đấy cho tôi. Không xin phép tôi mà cho bài thơ kia vào, như thế là ông hỗn!” (Tản Đà ở Nam Kỳ, Tao Đàn – 1939). Chưa hết, xin bạn đọc chớ quên rằng nhà Nho vốn chuộng phong thái ung dung nhàn tản. Nếu đỗ đạt làm quan, ông quan nhà Nho ấy sẽ “cầm dường ngày tháng thanh nhàn, sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao” như chàng Kim trong Truyện Kiều, chứ sẽ không bù đầu vào những việc “quan sự” đòi hỏi phải có những tri thức hết sức cụ thể (những việc ấy đã có đám thư lại đảm nhận). Tản Đà làm báo cũng vậy. Lưu Trọng Lư là người từng được chứng kiến một ngày của ông chủ báo An Nam tạp chí: “Tôi đến lần thứ nhất vào khoảng tám giờ sáng. Tên tiểu đồng cho tôi biết rằng ông chủ nhiệm đang ngủ. Mười giờ tôi trở lại, tôi cũng không may mắn gì hơn, nhà thi sĩ vẫn chưa dậy. Mười một giờ tôi lại đến, nhà Nho vẫn còn giấc. Hai giờ rưỡi (chiều) tôi đến, Tản Đà đã dậy và mới bắt đầu ngồi vào chiếu rượu... Bốn giờ tôi bước vào, thì hình như thi sỹ vừa... hạ đũa” (Bây giờ đây, khi quan tài đã đậy lại – Tao Đàn, tháng 7.1939).
      Làm báo, viết báo, dù muốn hay không, Tản Đà cũng phải đối diện với những vấn đề nóng bỏng cấp thiết đang đặt ra trong đời sống xã hội. Và thực tế là trên An Nam tạp chí, ông đã viết nhiều bài báo mang nội dung cổ động tinh thần thực nghiệp, kêu gọi chí tiến thủ và nghĩa đồng bào. Từ năm 1930, ông đề xướng hai mục Việt Nam nhị thập kỷ xã hội thiển đàmViệt Nam nhị thập kỷ xã hội ba đào ký, kêu gọi ghi chép những “biến động bất thường” trong đời sống để “hết thảy các hạng người trong xã hội thêm thú vui giao dịch kiến văn, mà sau là lưu một mối sử tài cho kẻ hậu lai”. Có thể nói, đề xướng hai mục này cho An Nam tạp chí, Tản Đà cho thấy ông có thừa nhiệt tình báo chí trước các vấn đề xã hội. Nhưng, những bài do chính ông viết cho hai mục này lại khá... nhạt. Nguyên nhân cũng không ngoài việc ông vốn là một nhân cách đặc Nho. Ngòi bút Xuân Thu của nhà Nho là ngòi bút nêu gương đạo đức, trước những cái trái đạo cũng chỉ mang ngụ ý nhắc nhở, giáo hóa, phê phán kín đáo, chứ không phải mổ xẻ, phanh phui sự việc, tố cáo, phê phán mạnh mẽ. (Vậy nên, dù có viết mấy bài thơ trào phúng lên án bọn tham quan nhũng lại và bọn “theo voi ăn bã mía”, nhưng thơ trào phúng của ông có giọng cảm thán hơn là tố cáo). Trong khi đó, cũng ở hai mục trên của An Nam tạp chí – nhất là ở mục Xã hội ba đào ký – Nguyễn Công Hoan đã tả xung hữu đột, dùng cái nhìn sắc bén và ngòi bút chiến đấu “tả những cảnh khốn nạn của khắp các hạng người trong xã hội cố tìm cái sung sướng ở chỗ danh, lợi, tình” – chính Tản Đà đã quảng cáo trước cho “bộ trường thiên tiểu thuyết dày ngót 500 trang” của Nguyễn Công Hoan như vậy. Đến đây cũng cần phải nói ngay, một trong những công lớn của Tản Đà - người làm báo, là ông đã phát hiện cho văn học hiện thực chủ nghĩa Việt Nam một tác giả xuất sắc: Nguyễn Công Hoan. Chính là qua mục Xã hội ba đào ký trên báo của Tản Đà mà Nguyễn Công Hoan đã tạo được “trớn” để đi tới và trở thành một kiện tướng của chủ nghĩa “tả chân”.
      Choáng ngợp trước văn minh Âu Tây, nhiệt tình dấn thân, hăm hở đổi mới, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã viết báo, đã làm báo với rất nhiều kỳ vọng. Nhưng, không giũ được quan niệm nhà Nho về nhiều mặt, ông liên tục thất bại. Ông không đi xa được vào thế giới hiện đại và không thể trở thành kiểu người làm báo hiện đại như Hoàng Tích Chu, Nguyễn Tường Tam, Vũ Đình Long, Vũ Bằng... Nhưng Tản Đà để lại những giai thoại thú vị về một nhà Nho chuyển sang làm báo. Điều đó chẳng lẽ không đáng nói hay sao?

 Hoài Nam




Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2022

Thầy Nguyễn Công Hoan - Trích "Hồi ký của một thằng hèn" (Tô Hải)


Trích "Hồi ký của một thằng hèn"

Tô Hải


[...]
Kể từ lớp “Moay-ăng Đơ” (Moyen 2) trở lên, chúng tôi được trực tiếp với nền giáo dục Tây thật sự. Cũng từ cấp học có tên Primaire Secondaire (tiểu học đệ nhị cấp), không còn ông thầy nào mặc y phục quốc hồn quốc tuý nữa. Từ đây, tất cả mọi giờ lên lớp, mọi giao dịch sinh hoạt, thầy trò bắt buộc phải dùng tiếng nước mẹ Phú-Lăng-Xa. Giã từ thầy Tấn, thầy Lô, thầy Bản, chúng tôi bước vào cuộc sống học đường “đờ-mi Tây” với cuốn Grammaire Francaise – Ngữ Pháp Tiếng Pháp của Larrive Fleury, cuốn Histoire de France – Lịch Sử Pháp. Chỉ còn lại một giờ “Annamite” mỗi tuần, coi như môn ngoại ngữ!

Một điều may mắn, hay vô phúc, cho tôi là vào năm học cuối, Cours Supérieur, trường tôi nhận được một ông thầy mới. Ông cũng mặc Tây nhưng là thứ đồ Tây hiếm thấy: Quanh năm một bộ kaki vàng nhạt, không bao giờ thắt càvạt. Chân thì không giống ai, đi dép xăng-đan với đôi quai hậu luôn bị dẫm lên, méo mó. Nghe nói ông có “phốt”[8] nên đang dạy một trường nào đó lớn lắm ở Hà Nội thì bị “đuổi” về Thái Bình! Theo lời đồn, ông mắc tội “têtu”[9], dám cãi lại quan Tây. Ông có bộ dạng ngang tàng, bộ tóc “bốc-xơ”[10], cái cười nửa mép, cằm nhô ra như thách thức, càng tăng vẻ bất cần đời, rất ăn khớp với bộ đồ Tây dã chiến quanh năm của ông.

Tuy nhiên, với tôi, ông có cái gì đó thật hấp dẫn, thật đáng chiêm ngưỡng và hơn thế, cần chú ý, theo sát mà học tập. Không chỉ vì ông đã nổi tiếng trên văn đàn, không phải ông là ông thầy giỏi mọi mặt (thời đó một thầy dạy tất cả các môn cho đến cuối lớp Supérieur), mà chính là sự ngang tàng, coi khinh dư luận của ông đã mê hoặc tôi.

Ông chính là nhà văn Nguyễn Công Hoan[11], tác giả Bước Đường Cùng, Đào Kép Mới... Hàng loạt tác phẩm sau này, ông lấy bối cảnh ngay ở Thái Bình, xây dựng nhân vật rất Thái Bình mà 5, 10 năm sau, khi được đọc, tôi đều nhận ra là ai đã được ông điển hình hóa một cách tài tình trong những câu chuyện “bịa như thật” – theo định nghĩa của chính Nguyễn Công Hoan về thể loại tiểu thuyết. Đặc biệt, trong cuốn Đống Rác Cũ, một số tên nhân vật có thật ông chẳng thèm thay đổi, lại gồm những bộ mặt có ít nhiều quan hệ với chính ông và gia đình tôi nên tôi “liều mạng” xuống nhà in tìm tập sách mới in xong. Chưa có bìa, cuốn sách đã bị đem đi hủy ngay lập tức theo “lệnh trên”! Tôi còn giữ nó cho đến ngày vào Sài Gòn, tặng một ông bạn sắp vượt biên, hy vọng ở nước ngoài, người yêu văn sẽ được thưởng thức những “trái cấm” của nền văn học cộng sản. Tiếc thay, đến nay, hình như Đống Rác Cũ vẫn chưa được phục hồi cả ở trong lẫn ngoài nước.

Trở lại với cái Cours Superieur thời xa xưa ấy. Có thể nói nếu như tôi chú ý đến phong cách thầy Hoan bao nhiêu thì thầy cũng chú ý đến thằng “tướng cướp” là tôi không kém! Làm sao một ông thầy như thầy lại không để ý tới một học sinh “ngang tàng số một” và học giỏi cũng số một như tôi? Sau này, mỗi lần gặp thầy, thầy vẫn nhắc đến bài luận văn của tôi: “Tiền không làm nên hạnh phúc? – “Một sự lừa dối trắng trợn của những nhà triết học ăn tiền của bọn triệu phú”. Thầy Hoan cho tôi 10 điểm về cách bình luận độc đáo và cả hai thầy trò bị thầy hiệu trưởng gọi lên văn phòng cảnh báo về cách dạy và học. Sau này tôi còn bị hai lần “exclus provisoire par turbulence”[12] nữa.
[...]



-----
[8] Faute (tiếng Pháp = lỗi).
[9] Têtu (tiếng Pháp = bướng bỉnh, cứng đầu).
[10] Boxeur (tiếng Pháp = võ sĩ).
[11] Nguyễn Công Hoan (1903–1977), nhà văn nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam từ thập niên 30 thế kỷ 20.
[12] Đuổi học tạm thời vì tội phá quấy, tiếng Pháp.




Trích trong “Đời viết văn của tôi”.

[...]