Ads 468x60px

.

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2022

Lá ngọc cành vàng – Khi “luân lý đạo đức” nặng hơn cả tính mạng con người


“Lá ngọc cành vàng” – Khi “luân lý đạo đức”
nặng hơn cả tính mạng con người

Tao Đàn

Trong đề tài chống lễ giáo phong kiến, tiểu thuyết “Lá ngọc cành vàng” của Nguyễn Công Hoan được dựng nên từ kết cấu tương phản bởi mâu thuẫn giàu – nghèo, nhà văn trực tiếp đả kích quan niệm môn đăng hộ đối trong hôn nhân, đồng thời phê phán mạnh mẽ lực lượng bảo thủ và những kẻ có tiền có quyền đã chà đạp lên hạnh phúc chính đáng của thanh niên.

Nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan trong tác phẩm “Nhà văn hiện đại” đã nhận định rằng:

“Lá ngọc cành vàng” là một trong những truyện hay nhất của nhà văn Nguyễn Công Hoan”.

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2022

Lá ngọc cành vàng: Áng văn phê phán những luân lý lỗi thời


Lá ngọc cành vàng:
Áng văn phê phán những luân lý lỗi thời

Loan Phương


Lá ngọc cành vàng được sáng tác năm 1934, đây là tiểu thuyết đầu tiên sau hơn một thập kỷ chỉ viết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan. Tác phẩm xoay quanh mối tình bi thương giữa con gái nhà quan và chàng thanh niên nghèo, họ khát khao được yêu nhưng bị lễ giáo phong kiến ngăn cản.

Tuy vỏn vẹn mười sáu chương nhưng cuốn sách vẫn làm bật lên nỗi niềm của những người trẻ, đồng thời phơi bày bộ mặt tàn ác của xã hội phong kiến. Nhà văn theo đó góp sức vào cuộc đấu tranh đòi quyền lợi, đẩy lùi tư tưởng “lá ngọc cành vàng phải bày nơi chung đỉnh”.


Mục lục
  1. Nguyễn Công Hoan và những áng văn phê phán
  2. Hai thế giới trong Lá ngọc cành vàng
  3. Khi hạnh phúc con người bị rơi vào cảnh bức ép
  4. Đánh giá của giới chuyên môn và công chúng về Lá ngọc cành vàng
Nguyễn Công Hoan là nhà văn phê phán hiện thực xã hội

Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2022

Nhà văn của nhân phẩm và hạnh phúc con người*


VĨNH BIỆT NHÀ VĂN LÊ MINH

Văn nghệ




Nhà văn Lê Minh tên thật là Nguyễn Thị Tài Hồng, sinh ngày 29/10/1928, quê quán Xuân Cầu, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên. Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, bà từng tham gia hoạt động bí mật tại Thái Bình (1942). Sau Cách mạng, bà tham gia vận động công nhân ở Hà Nội, làm Phó ban Công vận tỉnh Nam Định. Ngày 19/12/1946, bà là người trực tiếp tham gia chiến đấu tại khu ga Hàng Cỏ, sau đó là người phụ trách tờ báo hàng ngày của Quận VI. Nhà văn Lê Minh cũng từng tham gia công tác tại Thường vụ huyện uỷ Thanh Trì, Đảng đoàn Sở Văn hoá Thông tin Liên khu I sau là khu Việt Bắc, Ủy viên Ban Phụ vận Trung ương Đảng. Sau 1954, bà chuyển sang hoạt động văn học, làm biên tập văn xuôi các báo Văn Học, Văn, Văn nghệ, Tạp chí Tác Phẩm Mới; là Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo dục Trường Viết văn Nguyễn Du, Ủy viên Hội đồng Văn học công nhân, Trưởng Ban Văn hoá - Văn nghệ báo Nhân Dân, Giám đốc Quỹ Văn hoá Việt Nam của Bộ Văn hoá.

Các tác phẩm đã xuất bản:
Truyện ngắn: Cu Dũng (1959); Anh công dân mới (1962); Lớp học (1964); Ngày mai sắp đến (1969); Con mèo rét (1974); Ô cửa sổ (1974); Má (1976); Ngôi sao đỏ (1976); Đốm hoa tím (1980); Lẵng hạt ngọc (1984); Cái tát (1990); Săn đuổi một tia chớp (1993); Nắng (1998); Trăng lên (2004).

Truyện dài, tiểu thuyết: Chị Tư Già (1966); Cô giáo trường Pa Nù (1969); Người chị - Nguyễn Thị Minh Khai (1976); Tiếng gió (1976); Hạt chò chỉ (1978); Người thợ máy Tôn Đức Thắng (1981); Khúc hát vườn trầu (1982); Rừng đước (1992); Hòn đảo một mình (1984); Hồi (1995);

Ký, tạp văn: Mẻ gang đầu (1965); Mà sao đó là cuộc đời mình (1996); Ngọn lửa ấm (2003); Người đàn bà cầm bút (2004); Cánh buồm nhỏ (2007).

Nghiên cứu: Chân dung văn học (chủ biên, 1992); Nguyễn Công Hoan, nhà văn hiện thực lớn (1993); Chân dung nữ văn nghệ sĩ Việt Nam (chủ biên, 1995); Văn hoá nghệ thuật và phụ nữ Việt Nam (1989); Văn hoá gia đình Việt Nam (1992); Hai mươi năm một chặng đường phát triển của phụ nữ Việt Nam (1996); Gia đình và người phụ nữ (2000); Gia đình của cả hai người (2003); Tuyển truyện ngắn (2011); Chép được ở ngoài đời (truyện ngắn, 2012).

Nhà văn Lê Minh từng đạt Giải nhất Cuộc thi ký của Hội Nhà văn Việt Nam 1962 với tác phẩm Kỷ niệm về Khu Đông; Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn của Hội Nhà văn Việt Nam 1969 với truyện Nắng; Giải A Giải thưởng 5 năm Văn học đề tài công nhân (1980-1984) với tiểu thuyết Hòn đảo một mình; Giải A 5 năm Văn học đề tài công nhân (1991-1995) với tiểu thuyết Hồi; Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2017.

Vì tuổi cao sức yếu, nhà văn Lê Minh đã từ trần vào hồi 17h15 ngày 11/6/2021 (tức mùng 2/5 năm Tân Sửu), hưởng thọ 94 tuổi. Tang lễ nhà văn đã được tổ chức vào 9h30 ngày 17/6/2021 tại Nhà tang lễ Quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Lễ truy điệu và đưa tang vào 10h30 cùng ngày, sau đó an táng tại Nghĩa trang Công viên Vĩnh Hằng, Ba Vì, Hà Nội.

Hội Nhà văn Việt Nam, báo Văn nghệ xin gửi lời chia buồn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng ngiệp và độc giả của nhà văn.

Văn nghệ

Thứ Năm, 14 tháng 7, 2022

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2022

Nguyễn Công Hoan và thơ


1. Nguyễn Công Hoan và thơ
2. Về "thơ" - (Trong “Đời viết văn của tôi”)



Nguyễn Công Hoan và thơ

Lượm lặt


[...]
Xa nhau khá lâu, một hôm, vào năm 1925, tình cờ tôi gặp Hoan ở Bờ Hồ. Anh vẫn xúng xính trong cái áo the thâm và lê đôi giày Gia Định. Hoan hồng hào, rắn rỏi, những lông tơ xanh xanh ngày xưa trên mép anh bây giờ đã đen đen. Tôi khen Hoan chịu khó viết lách. Anh cười hê hê và vẫn cái lối hồi còn bé, anh rỉ vào tai tôi:
- Ấy mình viết là do một chuyện rất lạ.
- Không phải tiểu thuyết đấy chứ? - Tôi hỏi anh.
Hoan cười xoà, kể cho tôi nghe:
- Nguyên ở làng mình có một người con gái trạc tuổi mình, con nhà thi lễ. Năm mình và cô ta mới sáu bảy tuổi mà cả làng đã yên trí là lớn lên mình sẽ lấy cô ta làm vợ. Đến nỗi vài người trong gia đình cô ta cũng tin như thế. Nhưng sự thực thì thầy mẹ mình không có ý định ấy. Rồi lớn lên, cô ta đi làm dâu một ông quan to. Chồng cô ta cứ ít lâu lại tuồn ra một bài thơ. Hãnh diện về nhà chồng và về chồng, cô ta đem thơ của chồng về nhà cô ta và đọc cho mọi người nghe...
Kể đến đây, Hoan ngừng lại và cười ngất.
Tôi hỏi anh, thơ của chồng cô ta như thế nào, có hay không, thì Hoan giơ tay lên, giả vờ bịt mũi và đọc:
...Hoa có tàn hoa ủ mấy thu,
Thương ôi! Mây khói mịt mù...
Bừng con mắt, biết tiêu du cảnh nào!

Hoan lại nói cho tôi biết anh chàng "thi sĩ" này khi nói chuyện với Hoan, cứ tỏ ra "ưu thời mẫn thế" nên Hoan có làm một bài ca trù để chế giễu, và Hoan đọc cho tôi nghe. Bài khá ngộ nghĩnh, lúc ấy tôi có chép vào sổ tay.
Lo gì lo lắm,
Vắt tay nằm trên trán để mà lo.
Lo đủ điều lo nhỏ lại lo to,
Lo đến hết thở dài, rồi thở vắn,
Lo nước bể Đông ngày dãi nắng
Lo Vưòn Con Cóc khuyển làm thơ
Lo để mặt méo xệch, chân cẳng quắp co,
Lo đến cả con bò răng vẫn trắng.
Thế mới biết cái lo là lắng đắng,
Khách đa sầu gánh nặng những điều lo.
Ai ơi, lo lỏ lò lo...


Đọc xong bài ca trù, Hoan nói:
- Làm thơ kiểu thằng cha ấy thì mình có thể suy ra hàng tràng. Nhưng mình không thèm làm. Mình sẽ viết văn xuôi và nhất định phải hơn nó, cho vợ nó mất làm bộ.
Từ lần ấy, bẵng đi mười năm chúng tôi lại không gặp nhau.
[...] Nguyễn Công Hoan nói động cơ viết của anh lúc đầu là một chuyện tình duyên, nhưng theo tôi nghĩ thì anh viết được trước hết là do bản thân anh có khả năng, có tích luỹ về văn hóa, về cuộc sống. Tôi biết anh rất nhạy cảm, có cái nhìn sâu về cuộc đời, có trí nhớ dai, lại lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước. Dân tộc Việt Nam ta có nhiều gia đình nho sĩ bậc trung có lòng yêu Tổ quốc và ghét phi nghĩa. Khi có phong trào khởi nghĩa thì họ là người sẵn sàng hưởng ứng, sẵn sàng ủng hộ. Có nhiều gia đình nho sĩ ở nông thôn rắt gần với nông dân và đã có một số người trong các gia đình ấy là tác giả những văn thơ yêu nước, những bài ca, bài vè chống quan lại tham ô, chống thực dân Pháp. Cũng lại chính ở những gia đình ấy người ta đã nghe được một cách thầm kín những thơ văn khuyết danh chế giễu những "quan đại thần" ôm váy cho "đầm, xách giày cho Tây, những bài ca về phong trào Đông du và những bài vè đánh giặc Pháp xâm lược. Nhiều người trong đám nhà nho ấy cũng ra làm những chức quan nhỏ để sinh sống, nhưng trung thành với "nhà nước bảo hộ" thì không. Đó là một trong nhiều đặc điểm của dân tộc ta, nên ở nhiều thời kỳ lịch sử của dân tộc, cả nước đã đứng lên chống ngoại xâm, tầng lớp trí thức cũng như nhân dân lao động, đều một lòng đánh giặc cứu nước, chỉ một thiểu số theo giặc và cuối cùng bị tiêu diệt.
Chính ở trong gia đình mình, từ nhỏ Nguyễn Công Hoan đã được nghe những câu thơ, câu đối đả kích những kẻ quan thì to nhưng tài đức thì lại quá nhỏ. Thí dụ những loại câu như câu về một "quan đại thần" nọ đập đầu lạy vua để con được đỗ tiến sĩ và chị tên khoa bảng thì ra vào công sứ để em được bổ nhiệm:
Em nên khoa mục, cha mòn trán
Em được công danh, chị nát đồ


Và câu của Trần Tán Bình về mụ Tư Hồng vợ Tây và bố mụ được sắc phong:
Một đạo sắc phong hàm cụ lớn
Trăm năm danh giá của bà to


Nguyễn Công Hoan thuộc rất nhiều câu loại trên này, và cũng rất nhiều giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm. Những thơ ca và giai thoại này có ảnh hưởng sâu sắc đến lối viết của anh, một đặc điểm Việt Nam, tuy là văn xuôi mà rõ ràng kế tục dòng Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương về cách nhìn con người và cách đánh giá mọi việc trong xã hội.

Hồi mới bước vào nghề văn, Nguyễn Công Hoan đã tích lũy được nhiều vốn về xã hội đương thời, về văn hóa văn nghệ truyền thống, phần nhiều là truyền miệng; anh lại có một kỹ thuật khá độc đáo về miêu tả con người và sự việc, nhưng trong bước đầu anh cũng long đong như nhiều nhà văn khác.
Kiếp hồng nhan (viết năm 1921 và in thành sách năm 1923) quyển sách đầu tay của anh, ra đời vào buổi bình minh của văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ, nên anh đã cặp kè được với Nguyễn Khắc Hiếu. Những truyện ngắn của Phạm Duy Tốn như Sống chết mặc bay và Con người Sở Khanh cũng chỉ mới đăng trong một tạp chí, tạp chí Nam Phong, vào những năm 1918 và 1919, trước Nguyễn Công Hoan có vài năm. Nhưng vào thời ấy, những người chú ý đến truyện ngắn cũng không nhiều và họ cũng chưa đánh giá được đúng. Tôi đọc An Nam tạp chí để theo dõi công việc viết văn của Hoan, vì tôi nghe nói Hoan có viết cho tạp chí này, nhưng đọc Annam tạp chí, tôi thấy ngấy quá. Một hôm, tôi đọc một bài của Tản Đà và thấy ông khen Nguyễn Công Hoan làm thơ hay. Đó là câu vịnh Ông Táo của Hoan:
Thân tớ ví không lành tựa đất,
Cuộc đời hồ dễ đã ra tro.


Tôi tự nghĩ: "Quái cậu ta bảo mình là cậu ta sẽ viết văn xuôi, sao bây giờ lại đi làm thơ! Hay cậu ta viết văn xuôi bí rồi?".
Hoan đi với Tản Đà, nhưng chính Tản Đà cũng long đong.
[...]

Tình yêu văn chương ở một đứa trẻ không hình thành ngẫu nhiên mà từ nếp nhà. Với Nguyễn Công Hoan, do bố là huấn đạo (dạy học), bác đỗ đại khoa, vì thế trong nhà ông có rất nhiều sách. Bà nội thuộc dòng dõi nhà nho nên ngay từ bé, từ lời ru, lời ăn tiếng nói của bà, Nguyễn Công Hoan đã thuộc nhiều câu trong Truyện Kiều, Nhị độ mai… dù không hiểu nghĩa.
“Cố nhiên là tôi đọc lại như vẹt, ngâm ngọng. Song do đó, niêm luật của thơ ca, nhạc điệu của ngôn ngữ được luyện vào óc tôi, được nhuần vào óc tôi từ ngày ấy” - ông cho biết.
Lúc ông học Trường Bưởi, Đông Dương tạp chí xuất bản thành khổ nhỏ, có phần văn chương, Trung Bắc tân văn có phần Từ phú thi caĐoản thiên tiểu thuyết thì trong thời gian nghỉ hè, không ngày nào ông không đọc những bài đã in trong báo đó.

Không riêng gì thơ ca, những đoạn văn có vần điệu du dương, nhịp nhàng, ông cũng đọc đến thuộc lòng. Khi Nam phong tạp chí ra đời, phần Văn uyển là chuyên mục ông thích nhất. Từ chỗ thích đọc, khiếu văn chương còn thúc giục Nguyễn Công Hoan phải viết. Tương tự Nam Cao, Tô Hoài… ban đầu, Nguyễn Công Hoan cũng làm thơ, tất nhiên chịu ảnh hưởng sâu đậm của lớp người đi trước đã thành danh.

Lúc được làm quen với thi sĩ Tản Đà, đọc
“Trời sinh ra bác Tản Đà
Quê hương thời có, cửa nhà thời không”,
cái mộng dan díu với “nàng thơ” ở ông tắt ngúm vì thừa biết mình không thể sánh được với bậc đàn anh.








Nguyễn Công Hoan thường nói về thơ với một sự nghiêm chỉnh hiếm có. Trong hồi ký Đời viết văn của tôi, ông tự hào kể:
“Ngay từ những năm tôi còn nói ngọng, tôi đã thuộc một số thơ cổ của Trung quốc. Rồi tôi học phương ngôn, tục ngữ ca dao của dân tộc. Rồi tôi thích nghe những vần thơ chống Pháp của những tác giả ẩn danh do cha tôi dạy truyền khẩu…”.
Vai trò của thơ được ông diễn tả bằng những lời lẽ cảm động:
“Lúc đầu tôi đọc thơ, nhưng chưa hiểu. Rồi sau, vì đọc đi đọc lại luôn, tôi hiểu dần, ý nghĩa của những bài ấy như thấm thía tí một vào trong người và rồi hình như những lời ấy là của chính tôi nói với người khác vậy”.
Những khi có điều gì không được như ý, sau khi làm vài chén rượu, ông không chỉ đọc thơ mà còn làm thơ giải buồn. Trong hồi ký, ông từng chép ra nguyên văn mấy bài thơ ông đã làm.

Xem ra lời lẽ của một người suốt đời sống với thơ cũng chỉ chân thành đến vậy!







Lại nhớ, một số đoạn trong Đời viết văn của tôi được viết một cách chắt lọc nghiêm túc, ở đó tác giả thú nhận rằng từ nhỏ mê thơ thích làm thơ và chẳng qua vì ở gần Tản Đà hiểu thơ là khó nên mới nhất quyết không làm thơ mà chỉ lo viết văn xuôi. Có điều lạ là tuy sống với nghề văn một cách hết lòng — bao nhiêu vất vả đã từng trải qua, bao nhiêu vinh quang đã thụ hưởng một cách chính đáng (với những Kép Tư Bền, Bước đường cùng) – nhưng trong lòng nhà văn xuôi này tình yêu với thơ ca nẩy nở tự nhiên từ lúc thiếu thời vẫn chiếm một góc riêng. Thơ đến với ông những lúc ông thật là mình thật đơn độc, lại đến với ông những lúc ông buồn rầu, đau xót cảm thấy bất lực trong trường đời. Không cần biết của làm ra là hay hay dở và chúng có cần cho ai không, viết những câu thơ lúc ấy với ông là yêu cầu tự thân là một cách làm vợi bớt nỗi lòng. Hoá ra con người lý tưởng trong ông không bao giờ chết hẳn, ông chỉ tạm đặt nó sang một bên để làm công việc vẽ nhọ bôi hề kiếm sống hàng ngày.

Không thể nói cái có vẻ gần với mơ ước cao đẹp ngày xưa chỉ là phần thỉnh thoảng thấp thoáng hiện về trong tâm trí NCH. Mà thật ra đấy mới cái phần ẩn giấu sâu xa nơi ông. Và từ quan niệm về thơ, có thể suy rộng ra cái cách ông hiểu về sự thiêng liêng của chữ nghĩa, về sứ mệnh phải có của một người có được tiếp xúc với sách vở của cổ nhân , những việc xem là đáng làm của người cầm bút. Có thể nói tương ứng với những Tấm lòng vàng, Danh tiết, Thanh đạm … hẳn là đã có một it tín điều về văn chương nó không gì xa lạ với quan niệm của các bậc tiền bối đã hình thành nơi NCH. Chăng qua thời thế thay đổi nên thói quen cũ bị kiềm chế, cái phần tin tưởng ấy ông phải đào sâu chôn chặt trong lòng, và trong con người ông lúc nào cũng còn một kẻ chung tình bất dắc dĩ.








Đọc tham khảo:
Ta say - Thơ Nguyễn Công Hoan




Về "thơ"

Nguyễn Công Hoan
(1903-1977)


Trong “Đời viết văn của tôi”.

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2022

Cái nạn ô-tô (2)


Mời bạn đọc theo dõi bộ ba truyện ngắn:



Minh họa: Nghe kể chuyện hay

Mời nghe đọc
Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: 1. Bích Thuận | 2. Cô Vân | 3. L&H



Mời đọc Bản đánh máy


Cái nạn ô-tô (2)

Nguyễn Công Hoan


Tuy rằng chỉ làm có Chánh tổng, nhưng ông Năng có cả ô tô. Tuy rằng có cả ô tô, nhưng ông Năng lại không dùng bao giờ. Bởi lẽ rất dễ hiểu, là ông chỉ làm có Chánh tổng. Ông nể quan Huyện Nguyên và lấy lại, chứ biết rằng quanh năm, ông chẳng hay đi đâu. Vả công việc của ông có gì là cần. Loanh quanh trong mấy làng thông nhau bằng những đường đất hẹp gồ ghề, ông cho là đi bộ thì nhanh hơn, và cố nhiên, không có gì để thiệt hại. Mà nghênh ngang cái xe ô tô, rồi tiền thuê sốp phơ, tiền mua dầu xăng, mỗi tháng lại đèo thêm vài chục bạc nữa, thì chết!

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2022

Nguyễn Công Hoan vị Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam


Nguyễn Công Hoan vị Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam

Phong Lê


HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 65 NĂM HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM
Đã chẵn 100 năm, kể từ năm 1922 cho đến nay - năm 2022, Nguyễn Công Hoan vẫn cứ là một trong số không nhiều tên tuổi lớn được quen biết và được nhắc nhở trong dư luận của nhiều thế hệ bạn đọc. Bắt đầu từ những truyện trong tập Truyện thế gian của Tản Đà thư cục, năm 1922; rồi Kiếp hồng nhan, năm 1923; Nguyễn Công Hoan sớm trở nên nổi tiếng với những chuyện đời trong chuyên mục “Xã hội ba đào ký”, thời An Nam tạp chí cũng của Tản Đà đầu những năm 1930. Và đến hôm nay, sau bao nhiêu biến thiên xã hội, ông vẫn tiếp tục là nhà văn thân quen của nhiều thế hệ bạn đọc, trong số đó không ít người đã từng qua một tuổi trẻ hoặc tuổi học đường sớm biết đến Nguyễn Công Hoan, qua tiểu thuyết Bước đường cùng và các truyện ngắn được chọn lọc trong chương trình văn học ở nhà trường.

Cố nhiên ở mỗi thời kỳ, sự quan tâm của bạn đọc đối với Nguyễn Công Hoan là có khác nhau. Nguyễn Công Hoan xuất hiện với một bút pháp lạ, một cách nhìn lạ, một giọng điệu lạ, hài và bi, cười cợt và nghiêm trang, đùa mà tỉnh táo, đã được báo hiệu ngay từ tập truyện Kiếp hồng nhan (1923). Rồi Nguyễn Công Hoan với truyện ngắn và truyện dài, dồn dập và xen kẽ, chuyển dịch qua bao xu hướng nghệ thuật trong những năm 1930. Nhà văn muốn tỏ ra trung thành với chủ nghĩa hiện thực trào lộng trong truyện ngắn lại rất nghiêm trang, mực thước trong Tấm lòng vàng, Cô làm công... Chủ nghĩa lãng mạn tưởng như xa lạ với Nguyễn Công Hoan, khi nhà văn cố tình trở về với các khuôn mẫu cổ điển, để chống lại Đoạn tuyệt của Nhất Linh trong Cô giáo Minh, lại là người đẫm ướt trữ tình và nước mắt lãng mạn trong Tắt lửa lòngLá ngọc cành vàng. Thanh đạm u trầm trong một khí hậu hoài cổ nhằm dẫn dắt con người vào một thời xưa, trong lúc Bước đường cùng lại rất quyết liệt phanh phui, lật tẩy hiện tại - sách bị cấm mà thành danh to, năm ngàn bản bán hết veo và được in đi in lại nhiều lần... Nguyễn Công Hoan, tóm lại, đó là người viết dường như muốn có một mục tiêu để trung thành, để chung thủy, nhưng lại nhiều đổi thay, chuyển dịch và không ít giọng điệu. Có phải vậy chăng cùng lúc có ở trong ông vừa khách quan vừa chủ quan, vừa mới vừa cũ, vừa hoài cổ vừa cách tân, vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa cổ điển vừa tự nhiên và cả tự nhiên chủ nghĩa... Vậy là, phải chăng về cái gọi là “phức tạp”, qua con mắt người đương thời và hậu thế, thì xem ra Nguyễn Công Hoan cũng có mặt nổi danh không kém Nguyễn Tuân.

Nhưng rút lại thì cái lớn, cái duyên và có thể là cả cái may nữa, của Nguyễn Công Hoan là ở đâu và lúc nào ông cũng được quan tâm. Có thể nói ông là nhà văn chưa bao giờ bị quên. Ông là người thường xuyên được nhắc nhở. Quả là trong làng văn Việt Nam hiện đại, người có vị trí như Nguyễn Công Hoan không phải thật quá hiếm hoi. Nhưng có người danh đang như cồn, bỗng bị quên ngay. Có người rất thực tài nhưng chịu rất nhiều thăng trầm. Có người chịu một số phận âm thầm thật lâu rồi mới sáng sủa dần lên. Còn ông, nhà văn Nguyễn Công Hoan thì lúc nào cũng là người hiện diện cùng độc giả. Sau 1945, tham gia cách mạng, hoạt động ở nhiều cương vị, cho đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp, trở về hòa bình, ông là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đầu tiên từ khi có Hội, năm 1957, cương vị ấy ở ông gợi nhớ chức danh Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam của Nguyễn Tuân trước đó gần một thập niên vào năm 1949 trong Đại hội lần thứ nhất Hội Văn nghệ Việt Nam. Những chọn lựa của lịch sử và nghề nghiệp quả thật là tinh. Nghề và nghiệp, danh và thực, quả đã tìm được sự hội tụ ở những người viết có bản lĩnh, có chân tài. Qua hai hiện tượng trên, ở hai cương vị đại diện: một cho chủ nghĩa lãng mạn, một cho chủ nghĩa hiện thực, tôi thấy thật thú vị về sự gặp gỡ của hai phong cách lớn trong văn học Việt Nam hiện đại.

Sau ngót 40 năm trong nghề, nhà văn Chủ tịch Hội Nguyễn Công Hoan đã khẩn trương trở về với vốn sở trường của mình qua một loạt các tiểu thuyết dài dồn dập, hơn bất cứ ai, trong giao điểm những năm giữa 1950, đầu 1960: Tranh tối tranh sáng (1956), Hỗn canh hỗn cư (196l). Đống rác cũ, tập I (1963) như là một sự tổng hợp và nâng cao, trong quy mô sử thi, theo cách nói quen thuộc của chúng ta một thời, để có thể đồng thời diễn đạt cho được cả hai mặt: mặt tối tăm bi thảm và mặt cách mạng của cuộc đời cũ. Mặt tối tăm, dường như hầu hết những gì ông đã viết trước 1945 có thể xem là một tập đại thành; còn mặt sáng sủa, mặt cách mạng của xã hội cũ thì có dễ đến bây giờ ông mới có chủ trương và có quyết tâm trong một nỗ lực nhận thức rất cao. Còn nhớ có lần ông nói: “Tôi vẽ người xấu nhạy hơn người tốt. Bởi vì tôi vốn bi quan nên nhìn mọi vật bằng con mắt hoài nghi, chỉ thấy phía xấu. Phía xấu dễ nhập tâm hơn phía tốt”. Vậy là có phải bây giờ mới là lúc ông thấy cần và ông có điều kiện thể hiện mình trên cả hai thái độ: phê phán và khẳng định. Nhưng gắn cho được cả hai mặt đó vào một chỉnh thể, sao cho nó hữu cơ, cho nó nhuần nhị, có nhân và quả, hoặc vừa là nhân vừa là quả, có quan hệ và tác động theo cả hai chiều, thật là cả một sự nặng nhọc. Ấy là chưa nói những đòi hỏi theo “phép biện chứng” ở người đọc, theo lý luận về hiện thực xã hội chủ nghĩa một thời đòi hỏi nhìn cuộc sống trong “quá trình phát triển cách mạng” và “khẳng định mặt đang lên của hiện thực”, phải đâu dễ đáp ứng được, nếu nó không tìm được lối thuận trong tạng của nhà văn.

Thiên chức nhà văn: nói cho toàn diện về hiện thực, hướng con người về phía cái tốt cái thiện, là câu chuyện ta từng bàn đi bàn lại, nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Ai cũng mong đạt cái đích cao và xa ấy. Nhưng đòi hỏi của cả một nền, cả một thời có khác với đòi hỏi riêng cho từng người. Và ở mỗi người, chuyện lực và tâm, và cả tạng nữa, có gắn bó hô ứng được với nhau không cũng còn phải tính. Một đời dài theo nghiệp văn, Nguyễn Công Hoan đã để lại cho ta một di sản lớn về nhiều mặt. Nhưng tôi lại nghĩ nếu Nguyễn Công Hoan biết chiều cái tạng riêng của mình và xã hội một thời dài cũng sẵn sàng chấp nhận, hoặc biết bao dung cái tạng ấy thì hẳn chắc sự nghiệp của ông còn lớn hơn, thậm chí lớn hơn rất nhiều. Ông cứ viết, tiếp tục với giọng trào lộng của riêng ông về cái cũ, cái ác trong xã hội cũ và cả về cái cũ, cái xấu, cái ác trong xã hội mới nữa, cũng được chứ sao!

Chúng tôi là những người đọc hậu sinh trung thành và chuyên cần của nền văn chương Quốc ngữ, chúng tôi càng quý trọng một trong những người đặt nền móng đầu tiên là Nguyễn Công Hoan. Cũng chính ông là người tiếp tục cần mẫn lần lượt leo lên nhiều tầng giàn giáo của công trường văn xuôi Quốc ngữ Việt Nam. Một công trường thật sự là đông đúc, nhưng những bậc thợ cả trong số đó như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Khái Hưng, Tô Hoài, Nguyên Hồng... thì quả chưa phải là nhiều. Còn chưa nhiều nên mới quý. Và càng quý khi tất cả họ, khi trong con số ít ỏi ấy ở họ, lại là những chân dung rất khác nhau, những gương mặt hoàn toàn không lẫn vào nhau. Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn luôn nhớ đến một tiếng cười riêng, tiếng cười Nguyễn Công Hoan, tiếng cười gây cười, lập tức làm ta bật cười, cười không cản được, cười to lên hoặc tủm tỉm, nhưng rồi sau đó là một vị chát có lúc như nghẹn đắng, có lúc làm cay nơi mắt ta. Ngẫm ra thật là “sợ” cho ngữ ngôn, cho văn tự, cho chữ nghĩa Nguyễn Công Hoan: Oẳn tà roằn, Ngựa người và người ngựa, Báo hiếu - trả nghĩa cha, Cô Kếu - gái tân thời, Thế là mợ nó đi Tây... Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn thấy sống động cả một thế giới người thật đông đúc và cũng thật là lúc nhúc trong văn ông: những phu phen, thuyền thợ, dân quê; những địa chủ, lý dịch, cường hào; những nghị viên, dân biểu, quan lại (huyện, phủ, bố, án, tuần...); những ký, lục, phán, tham; những con buôn, tư sản, chủ thầu; những giáo chức, nghệ nhân, viết văn, làm báo; những me tây, cô đầu, kép hát; những gái điếm, con sen, thằng nhỏ; những “ván cách”, lính cơ, thày quyền; những bồi, bếp, tây trắng, tây đen... Nghĩ đến Nguyễn Công Hoan tôi nghĩ đến cả một gia tài truyện ngắn thật đồ sộ mà ông để lại; và truyện ngắn - đó mới chính là sở trường của ông, trào phúng mới là giọng điệu của riêng ông. Một thứ trào phúng rõ ràng là bắt nguồn từ gia tài dân gian và cổ điển, nhưng vẫn là rất riêng của ông, không lẫn với ai, và không ai bắt chước được. Hơn thế, đó lại là cái trào phúng xem ra không chỉ có một mà nhiều cung bậc; mọi cung bậc không phải tất cả đều thuận tai; nhưng khi một nhà văn được viết hồn nhiên theo thiên tính của mình, thì cái hồn nhiên ấy mới làm phát lộ ra biết bao tài hoa khiến cho ta kinh ngạc.

Thế kỷ XX đã ghi nhận Nguyễn Công Hoan như một tên tuổi lớn, tác giả của nhiều trăm truyện ngắn sáng giá - là người hiếm hoi, cùng với Nam Cao, Thạch Lam có công đưa thể loại dễ mà khó này lên một tầng cao thật siêu việt. Là người có một tiếng cười riêng thật đặc sắc trong một bối cảnh vốn lúc nào cũng rất cần có tiếng cười. Một cuộc sống tối tăm đau khổ, thật đáng khóc như cuộc sống trước 1945, vẫn cần có tiếng cười; đã có một chuỗi cười dài trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, lại có tiếng cười của Nguyễn Công Hoan, cùng tiếng cười trong thơ của Tú Mỡ, Đồ Phồn. Cuộc sống mới sau 1945, cho đến khi nhà văn qua đời dẫu có nhiều niềm vui lớn, đâu phải đã hết cần đến tiếng cười phê phán. Cái lý đó và sự thật đó, phải chăng ta nhận ra khá muộn, khiến cho một người biết cười, một người dám cười như Nguyễn Công Hoan thật đáng giá, thế nhưng lắm lúc ông đã phải nghiêm trang. Nguyễn Công Hoan, trong cả đời văn nói chung là một người may mắn, nhưng ông cũng có đôi lúc không may. Dẫu thế, trong di sản của ông, bên nhiều thứ đã bị quên, có một bộ phận lớn sẽ là bất tử.



Nguồn Văn nghệ số 18+19/2022







Hội thảo kỷ niệm 85 năm sinh của nhà văn Nguyên Công Hoan


Hội thảo kỷ niệm 85 năm sinh của nhà văn Nguyên Công Hoan

Hà Nội Mới, Số 7125, 12 Tháng Ba 1988