Ads 468x60px

.

Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2025

Nghe đọc Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Công Hoan - Radio Huyền Học (Radio Kể Truyện)


Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Tuyển chọn & Diễn đọc: Radio Huyền Học


Mời nghe đọc tại - Internet Archive
Diễn đọc: Radio Kể Truyện





Radio Kể Truyện

Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan - Quan điểm xã hội, luân lí


Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan -
Quan điểm xã hội, luân lí



Quan điểm xã hội của Nguyễn Công Hoan (NCH)

Được thể hiện rõ nét qua cách ông nhìn nhận và phản ánh hiện thực cuộc sống trong các tác phẩm của mình. Dưới đây là những khía cạnh chính trong quan điểm xã hội của NCH:
  • Sự đối chọi giữa người giàu và người nghèo: NCH luôn nhìn nhận hiện thực qua lăng kính giàu nghèo, với các tác phẩm xoay quanh sự xung đột giữa hai tầng lớp này. Ông coi đây là "cái cốt" của hầu hết các truyện ngắn và truyện dài của mình.
    • NCH đứng về phía người nghèo khổ, thậm chí bênh vực họ ngay cả khi họ phạmtội. Ví dụ, trong các truyện ngắn như Thằng ăn cắp, Bữa no... đòn, Thế cho nó chừa, ông đều cố gắng bào chữa và thanh minh cho những người nghèo. Ngược lại, NCH vạch trần bản chất xấu xa, tham lam của bọn nhà giàu qua các nhân vật như Thằng Quýt hay Thằng ăn cướp.
  • Đả kích các tầng lớp áp bức: NCH không ngần ngại đả kích bọn thực dân, quan lại, tư sản, địa chủ, cường hào và lính tráng, đặc biệt là hai tội: cậy quyền thế ức hiếp và tham lam vô độ. Ông miêu tả bọn chúng đều "to béo" vì ăn bẩn. Các truyện ngắn của NCH thường xoay quanh những mánh khóe ăn bẩn của bọn quan lại cường hào, nhưng không hề trùng lặp.
    • Quan điểm giàu nghèo của NCH dần được mài sắc và có xu hướng tiến tới quan điểm giai cấp trong bối cảnh xã hội thuận lợi như thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, quan điểm của ông vẫn chưa hoàn toàn là quan điểm giai cấp chính xác.
  • Lập trường không hoàn toàn đứng về phía người nghèo: Mặc dù luôn đứng về phía người nghèo, NCH không phải lúc nào cũng đứng trên lập trường của họ. Trong một số trường hợp, ông đã phóng đại những khía cạnh tiêu cực như sự nhếch nhác và bẩn thỉu của họ.
  • Phản ánh sự tha hóa đạo đức xã hội: NCH căm ghét và khinh bỉ xã hội thực dân, bọn quan lại và những "nhố nhăng, quái thai" của xã hội mới đã giày xéo lên các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Ông lên án mạnh mẽ những quan lại hãnh tiến vô liêm sỉ và những người chạy theo lối sống Âu hóa một cách nhố nhăng.
  • Xung đột thế hệ và giới tính: Các tác phẩm của NCH thường thể hiện sự xung đột giữa hai thế hệ (già và trẻ), hai giới tính (nam và nữ), và giữa vợ cả và vợ lẽ. Ông thường đứng về phía người già, nam giới và vợ cả để phê phán những nhân vật khác, đặc biệt là phụ nữ và người trẻ.
  • Nhân vật diễn trò trong các tác phẩm của NCH thường là nữ giới, người trẻ và vợ lẽ, thể hiện quan điểm luân lý đạo đức bị chi phối bởi tư tưởng phong kiến bảo thủ và cái nhìn thành kiến với phụ nữ.
Tóm lại, quan điểm xã hội của NCH thể hiện sự phê phán sâu sắc đối với xã hội bất công và những tầng lớp áp bức, đồng thời bộc lộ một số hạn chế trong cách nhìn nhận về người nghèo và phụ nữ. Tuy nhiên, sự phản ánh chân thực về sự đối lập giàu nghèo và sự tha hóa đạo đức đã làm nên giá trị đặc biệt trong các tác phẩm của ông.



Quan điểm luân lí của Nguyễn Công Hoan (NCH)

Được thể hiện qua sự căm ghét, khinh bỉ xã hội thực dân và những "nhố nhăng, quái thai" của xã hội mới. Những điều này đã giày xéo lên truyền thống đạo đức của dân tộc. Dưới đây là các khía cạnh chính trong quan điểm luân lí của NCH:
  • Đả kích sự suy đồi đạo đức: NCH lên án mạnh mẽ bọn quan lại hãnh tiến vô liêm sỉ và những người chạy theo lối sống Âu hóa một cách nhố nhăng. Ông coi đây là sự lăng nhục đối với các giá trị đạo đức và văn hóa cổ truyền của dân tộc.
  • Mâu thuẫn trong quan điểm về phụ nữ: Quan điểm luân lí của NCH về phụ nữ, hôn nhân và gia đình bị chi phối mạnh mẽ bởi tư tưởng phong kiến bảo thủ. Ông thường có cái nhìn thành kiến và ác cảm với phụ nữ, điều này thể hiện qua các nhân vật trong các tác phẩm như Cô Kếu gái tân thời, Cô giáo Minh, Thanh đạm, và Danh tiết.
  • Xung đột thế hệ và giới tính: Các tác phẩm của NCH thường thể hiện xung đột giữa các thế hệ (già và trẻ), giới tính (nam và nữ), và giữa vợ cả và vợ lẽ. Ông thường đứng về phía người già, nam giới và vợ cả để phê phán, trong khi nhân vật diễn trò thường là nữ giới, người trẻ và vợ lẽ. Điều này cho thấy quan điểm luân lí của NCH còn bị ảnh hưởng bởi tư tưởng phong kiến.
  • Tính trào phúng và mỉa mai: NCH sử dụng sự chế giễu, mỉa mai, châm biếm và đả kích để lên án những cái xấu, cái ác của bọn quan lại, tư sản, cường hào ác bá và thanh niên nam nữ hư hỏng đua đòi theo lối sống Âu hóa.
Tóm lại, quan điểm luân lí của NCH vừa thể hiện sự bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống, vừa bộc lộ những hạn chế do ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, đặc biệt trong cách nhìn nhận về vai trò của phụ nữ trong xã hội. Quan điểm này được thể hiện qua các mâu thuẫn, xung đột trong các tác phẩm của ông, và thường bị mỉa mai, châm biếm để làm nổi bật sự giả dối và suy đồi của xã hội đương thời.



Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan (NCH)

Là một phần quan trọng trong sự nghiệp văn học của ông, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật độc đáo và quan điểm sâu sắc về xã hội. Dưới đây là phân tích chi tiết về truyện ngắn của NCH:

1. Quá trình sáng tác:
  • Giai đoạn 1929-1935: NCH bắt đầu viết truyện ngắn từ đầu những năm 20, nhưng đến năm 1929 mới được chú ý. Tập truyện Kép Tư Bền (1929-1935) đã gây tiếng vang lớn và tạo ra cuộc tranh luận về quan điểm nghệ thuật giữa Hải Triều và Hoài Thanh. Giai đoạn này, NCH tập trung làm nổi bật sự xung đột giữa người giàu và người nghèo, phơi bày sự bất công, thối nát của xã hội.
    • Ông vạch trần bộ mặt tàn ác, đểu cáng của những kẻ giàu có, có tiền, có quyền. Ví dụ, trong truyện Răng con chó của nhà tư sản, NCH miêu tả sự đối lập giữa người ăn mày và con chó trong việc tranh giành miếng ăn.
    • NCH cũng thể hiện tình cảnh khốn cùng của người dân nghèo thành thị như phu xe, ăn mày, lưu manh, gái điếm, con sen, thằng quýt. Các truyện ngắn tiêu biểu như Thằng ăn cắp, Được chuyến khách, Thanh! Dạ!, Ngựa người và người ngựa, Kép Tư Bền.
    • Tuy nhiên, ở giai đoạn này, tầm bao quát hiện thực của NCH còn hạn chế, chủ yếu phản ánh đời sống ở thành thị và mới chỉ phê phán nhà giàu trên phương diện đạo đức. Thái độ của ông đối với người nghèo và phụ nữ chưa thực sự trân trọng.
  • Giai đoạn 1936-1939: Đây là giai đoạn truyện ngắn của NCH đạt đến đỉnh cao về tư tưởng và nghệ thuật.
  • Giai đoạn 1940-1945: Đây là giai đoạn sa sút của NCH. Hoàn cảnh xã hội ngột ngạt khiến nhà văn không còn kiên định lập trường của chủ nghĩa hiện thực.

2. Phong cách nghệ thuật:
  • Cái nhìn mới mẻ, độc đáo: NCH nhìn đời như một sân khấu hài kịch, một tấn trò hề lố lăng, giả dối.
  • Phát hiện mâu thuẫn và tạo tình huống trào phúng:
    • NCH nhạy bén với các loại mâu thuẫn và thường tạo ra các tình huống hài hước.
    • Mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng. Ví dụ, Báo hiếu: trả nghĩa cha, Đồng hào có ma.
    • Mâu thuẫn giữa mục đích ý nghĩa và bản chất. Ví dụ, Tinh thần thể dục.
    • Mâu thuẫn giữa hy vọng và thất vọng, niềm tin và nỗi buồn. Ví dụ, Ngựa người và người ngựa.
    • Mâu thuẫn giữa phúc và họa. Ví dụ, Hé! Hé! Hé!.
    • Mâu thuẫn nguyên nhân - kết quả. Ví dụ, Thằng ăn cắp.
    • Các mâu thuẫn, xung đột này tạo nên chất kịch trong truyện ngắn của NCH.
  • Thủ pháp cường điệu, phóng đại: NCH thường phóng đại cái xấu xa của con người, tạo nên những bức chân dung biếm họa. Ông sử dụng lối cường điệu để làm biến chất sự vật, vật hóa tả người, tô đậm phần "con" lấn át phần "người".
  • Nghệ thuật kể chuyện: Cốt truyện li kì, hấp dẫn và giàu tính kịch. NCH ít chú ý đến tính cách, tâm lý nhân vật mà tập trung vào việc dẫn dắt tình tiết sao cho mâu thuẫn trào phúng bật ra ở cuối tác phẩm. Ông thường đánh lạc hướng người đọc khỏi cái đích thật sự của câu chuyện.
  • Ngôn ngữ đậm chất trào phúng:
    • Ngôn ngữ quần chúng được chọn lọc, nâng cao, đậm chất ca dao, tục ngữ.
    • Ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh, so sánh, ví von.
    • Mỗi loại nhân vật có sắc thái ngôn ngữ riêng.
    • Câu văn thường mang mâu thuẫn hài hước bên trong.
    • Sử dụng từ Hán Việt và từ thuần Việt để tạo tiếng cười.
    • Dùng từ trang trọng để chỉ những việc không trang trọng.
    • Nói vòng để tạo liên tưởng thú vị.
    • Câu văn ngắn gọn, lặp lại cú pháp để tăng kịch tính.
    • Lời văn mang tính nhại (parody).
Tóm lại, truyện ngắn của NCH không chỉ phản ánh hiện thực xã hội một cách chân thực mà còn thể hiện tài năng nghệ thuật độc đáo của ông. Qua các mâu thuẫn, tình huống trào phúng, ngôn ngữ đa dạng và thủ pháp phóng đại, NCH đã tạo nên một phong cách truyện ngắn trào phúng đặc sắc, có giá trị phê phán sâu sắc đối với xã hội đương thời.



Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan (NCH) trong truyện ngắn

Rất đặc sắc, thể hiện qua nhiều khía cạnh độc đáo. Dưới đây là phân tích chi tiết về phong cách nghệ thuật của ông:

1. Cái nhìn mới mẻ, độc đáo:
  • NCH nhìn nhận cuộc đời như một sân khấu hài kịch, một tấn trò hề lố lăng và giả dối. Ông thấy "cái gì cũng là giả dối, lừa bịp, đáng khôi hài".
  • Trong khi Nam Cao nhìn cuộc đời là sự "chết mòn" và Vũ Trọng Phụng thấy đời "vô nghĩa lí, xã hội khốn nạn", NCH lại tiếp cận hiện thực với góc độ hài hước, châm biếm.

2. Phát hiện mâu thuẫn và tạo tình huống trào phúng:
  • NCH rất nhạy bén với các loại mâu thuẫn và thường tạo ra các tình huống hài hước, oái oăm.
  • Ông tập trung khai thác các mâu thuẫn như:
    • Mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng: Ví dụ, truyện Báo hiếu: trả nghĩa cha có vẻ bề ngoài là chí hiếu nhưng thực chất lại bất hiếu. Hoặc như Đồng hào có ma có vỏ ngoài oai vệ nhưng bên trong lại là lưu manh.
    • Mâu thuẫn giữa mục đích ý nghĩa và bản chất: Ví dụ, truyện Tinh thần thể dục có mục đích bề ngoài tốt đẹp nhưng thực chất lại gây ra tai họa cho người dân.
    • Mâu thuẫn giữa hy vọng và thất vọng, niềm tin và nỗi buồn: Ví dụ, Ngựa người và người ngựa thể hiện tình thế oái oăm khi cả hai nhân vật đều mong có khách nhưng cuối cùng lại thất vọng.
    • Mâu thuẫn giữa phúc và họa: Ví dụ, các truyện như Hé! Hé! Hé!.
    • Mâu thuẫn nguyên nhân – kết quả: Ví dụ, Thằng ăn cắp khi nguyên nhân nhỏ (ăn quỵt hai xu bún riêu) lại dẫn đến kết quả nghiêm trọng (bị đánh đập dã man).
  • Các mâu thuẫn và xung đột này tạo nên chất kịch trong truyện ngắn của NCH. Mỗi truyện của NCH có thể được xem như một vở kịch ngắn với sự đối lập và mâu thuẫn được sử dụng như nguyên tắc để xây dựng mối quan hệ giữa các nhân vật và tình tiết.

3. Thủ pháp cường điệu, phóng đại:
  • NCH thường phóng đại cái xấu xa của con người để tạo ra những bức chân dung biếm họa.
  • Ông sử dụng lối cường điệu để làm biến chất sự vật. Ví dụ, miêu tả bà phủ với hình ảnh "bánh giầy đám cưới" ở giữa có "quả chuối ngự""hai múi cà chua".
  • NCH sử dụng nguyên tắc "vật hóa tả người", biến các nhân vật phản diện thành lố bịch, kệch cỡm, làm nổi bật phần "con" lấn át phần "người". Ví dụ, miêu tả nhân vật trong truyện Phành phạch như "một đống hai ba cái chăn bông cuộn lại".

4. Nghệ thuật kể chuyện:
  • Cốt truyện của NCH thường li kì, hấp dẫn và giàu tính kịch.
  • Ông tập trung vào việc dẫn dắt tình tiết sao cho mâu thuẫn trào phúng bật ra một cách bất ngờ ở cuối tác phẩm, đôi khi hy sinh tính hợp lý trong diễn biến tâm lý nhân vật để tăng kịch tính.
  • NCH thường sử dụng thủ thuật đánh lạc hướng người đọc khỏi mục đích thật sự của câu chuyện.
  • Ông hay dùng một nhân vật đóng vai người trong cuộc hay người chứng kiến, thường là người thật thà, ngớ ngẩn nhưng lại mang cái hóm hỉnh, ranh mãnh của nhà văn. Ví dụ như nhân vật Bắc trong Oằn tà rroằn.
  • Trong truyện Hai cái bụng, NCH mô tả hai đoạn tách biệt, không liên quan gì đến nhau, nhưng khi đọc xong cả truyện, người đọc thấy được sự đối lập và mỉa mai. Phần đầu mô tả tình cảnh đói rách của thằng bé ăn mày, phần sau là hình ảnh một bà béo phì "cổ rụt, má chảy, bụng xệ".

5. Ngôn ngữ đậm chất trào phúng:
  • Ngôn ngữ của NCH được chọn lọc từ ngôn ngữ quần chúng, mang đậm chất ca dao, tục ngữ.
  • Ông sử dụng ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh, so sánh, ví von để tạo sự liên tưởng thú vị cho người đọc.
  • Mỗi loại nhân vật trong tác phẩm của NCH đều có sắc thái ngôn ngữ riêng.
  • Câu văn thường mang mâu thuẫn hài hước bên trong. Ví dụ: "Nàng vì quá nhẹ dạ, nên phải nặng lòng..." trong Oằn tà rroằn.
  • NCH sử dụng từ Hán Việt và từ thuần Việt để tạo tiếng cười. Ví dụ: "quan huyện tư pháp... cùng trịnh trọng làm việc và cùng trịnh trọng khạc nhổ".
  • Ông thường dùng từ trang trọng để chỉ những việc không trang trọng.
  • NCH sử dụng lối nói vòng để tạo liên tưởng thú vị cho người đọc. Ví dụ: "Tang vật đó to bằng vành khăn đàn bà, cuộn quanh lù lù trên mặt đất thành một bãi, đầu hình búp măng, màu vàng, mà đứt đuôi là có hơi ngạt, thôi thối" trong Cái lò gạch bí mật.
  • Câu văn thường ngắn gọn, lặp lại cú pháp để tăng kịch tính. Ví dụ: "Chửi. Kêu. Đấm. Đá. Thụi. Bịch... Như mưa vào đầu..." trong Bữa no... đòn.
  • Lời văn của NCH thường mang tính nhại (parody). Ông nhại văn hành chính, công vụ (Tinh thần thể dục, Chính sách thân dân), văn báo chí (Một tấm gương sáng), văn cáo phó (Báo hiếu: trả nghĩa mẹ), văn trữ tình lãng mạn (Thế là mợ nó đi tây), văn trinh thám (Cái lò gạch bí mật), giọng hát tuồng (Đào kép mới), giọng tiểu thư (Nỗi lòng ai tỏ) và giọng con buôn (Hé! Hé! Hé!).
Tóm lại, phong cách nghệ thuật của NCH trong truyện ngắn là sự kết hợp giữa cái nhìn độc đáo về cuộc đời, khả năng phát hiện mâu thuẫn và tạo tình huống trào phúng, thủ pháp cường điệu, phóng đại, nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn và ngôn ngữ giàu chất trào phúng. Ông đã tạo nên một phong cách truyện ngắn trào phúng đặc sắc, mang đậm dấu ấn cá nhân và có giá trị phê phán sâu sắc đối với xã hội đương thời.




Nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Công Hoan (NCH) trong truyện ngắn

Thể hiện qua nhiều khía cạnh độc đáo. Dưới đây là phân tích chi tiết về nghệ thuật kể chuyện của ông:
  • Cốt truyện li kì và hấp dẫn: NCH rất tài hoa trong việc tổ chức cốt truyện, thường tạo ra những tình huống bất ngờ và giàu tính kịch. Ông ít chú ý đến việc xây dựng tính cách nhân vật và tâm lý phức tạp, mà tập trung vào việc dẫn dắt tình tiết để mâu thuẫn trào phúng và tình huống hài hước bật ra một cách đột ngột ở cuối tác phẩm.
  • Hy sinh tính hợp lý để tăng kịch tính: Nhiều khi, để cốt truyện thêm phần li kì và hấp dẫn, NCH sẵn sàng bỏ qua tính hợp lý và chân thực trong diễn biến tâm lý của nhân vật. Điều này giúp tạo ra những cú twist bất ngờ, làm tăng hiệu quả trào phúng của câu chuyện.
  • Thủ thuật đánh lạc hướng: NCH thường sử dụng thủ thuật đánh lạc hướng người đọc khỏi mục đích thực sự của câu chuyện. Ông thường dùng một nhân vật đóng vai người trong cuộc hoặc người chứng kiến, thường là người thật thà, ngớ ngẩn, nhưng lại mang sự hóm hỉnh và ranh mãnh của nhà văn.
  • Sử dụng các đoạn tách biệt: Trong một số truyện, NCH mô tả các đoạn tách biệt, không liên quan đến nhau, nhưng khi đọc xong cả truyện, người đọc sẽ thấy được sự đối lập và mỉa mai sâu sắc.
    • Ví dụ, trong truyện Hai cái bụng, NCH mô tả hai đoạn tách biệt: một bên là tình cảnh đói rách của thằng bé ăn mày, một bên là hình ảnh bà béo phì. Hai đoạn này không có sự liên kết trực tiếp, nhưng khi đọc xong, người đọc thấy rõ sự đối lập giữa hai hạng người trong xã hội: người ăn không hết và người không có gì để ăn. Câu kết của hai đoạn cũng tạo nên sự đối lập và mỉa mai sâu sắc: "nó chỉ thèm được ăn" (đứa bé) và "bà ấy chỉ thèm ăn được" (bà béo phì).
  • Tạo ra tình huống trào phúng: NCH rất nhạy bén trong việc phát hiện các mâu thuẫn và tạo ra các tình huống trào phúng độc đáo.
    • Ông khai thác các mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, mục đích và bản chất, hy vọng và thất vọng, phúc và họa, nguyên nhân và kết quả.
    • Ví dụ, truyện Thằng ăn cắp mâu thuẫn giữa nguyên nhân nhỏ (ăn quỵt hai xu bún riêu) và kết quả lớn (bị đánh đập dã man).
    • Các mâu thuẫn và xung đột này tạo nên chất kịch trong truyện ngắn của NCH. Mỗi truyện của ông có thể được xem như một vở kịch ngắn, với sự đối lập và mâu thuẫn được sử dụng như một nguyên tắc để xây dựng mối quan hệ giữa các nhân vật và tình tiết.
  • Kết thúc bất ngờ: NCH thường kết thúc truyện một cách bất ngờ, tạo ra tiếng cười và sự suy ngẫm cho người đọc.
    • Tình huống hài hước thường bật ra ở cuối tác phẩm một cách đột ngột, gây ấn tượng mạnh.
Tóm lại, nghệ thuật kể chuyện của NCH là sự kết hợp giữa cốt truyện li kì, tình huống trào phúng độc đáo, thủ thuật đánh lạc hướng, và cách xây dựng các đoạn tách biệt. Ông đã tạo ra những truyện ngắn hấp dẫn, giàu tính kịch, và mang đậm dấu ấn cá nhân.





Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2025

"Câu chuyện gia tình" của Nguyễn Bá Học và "Báo hiếu: trả nghĩa cha; Báo hiếu: trả nghĩa mẹ" của Nguyễn Công Hoan


"Câu chuyện gia tình" của Nguyễn Bá Học và "Báo hiếu: trả nghĩa cha; Báo hiếu: trả nghĩa mẹ" của Nguyễn Công Hoan

3.3.2. Câu chuyện gia tình của Nguyễn Bá Học và Báo hiếu: trả nghĩa cha; Báo hiếu: trả nghĩa mẹ của Nguyễn Công Hoan

Đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp đẩy mạnh việc khai thác thuộc địa ở Việt Nam, xã hội Việt Nam bị phân hóa nhanh chóng thành nhiều giai tầng khác nhau, mâu thuẫn đối lập nhau. Đồng thời quá trình tiếp xúc văn hóa phương Tây cũng làm cho nền tảng văn hóa Nho học phong kiến ở Việt Nam bị lung lay. Nhiều giá trị văn hóa đạo đức truyền thống bị đổi thay và mai một. Với đạo đức truyền thống, chữ hiếu từ là một giá trị được mọi người đề cao, xem đó là đạo lí hiển nhiên phải có ở mỗi con người. Từ người thường dân đến vua chúa quan lại, ai ai cũng phải có hiếu với cha mẹ, kính trọng cha mẹ, phải biết ơn đấng sinh thành, dưỡng dục. Ấy vậy mà với sự hình thành của giai cấp tư sản, đồng tiền đã lên ngôi và ngự trị, giá trị đạo đức có khi bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Chữ hiếu trước đây được mọi người tôn thờ thì nay có kẻ nhẫn tâm chà đạp.

Đề tài này đã được nhiều cây bút truyện ngắn quan tâm thể hiện, gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh mọi người. Người tiên phong viết về đề tài này trong truyện ngắn hiện đại là Nguyễn Bá Học.

“Mặc dù vẫn quan niệm thiên chức của nhà văn là làm văn để “treo gương luân lí”, bảo vệ đạo đức truyền thống, nhưng Nguyễn Bá Học đã bước đầu rời bỏ quan niệm văn học của nhà nho, ý thức được cần thiết phải có thể loại mới để phản ánh đời sống, đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ mới và tính chất mới của công chúng”[11; tr 269].

Trong truyện ngắn Câu chuyện gia tình, Nguyễn Bá Học đề cao sự sinh thành, giáo dưỡng của người mẹ:

“Già ở góa đã 30 năm nay, nhà nghèo, chỉ bới đất nhặt cỏ, nuôi hai con đi học. Ngày quên ăn, đêm quên ngủ, trông thấy con ấy là ngọc giải phiền, không nỡ lúc nào mà mẹ con xa vắng nhau” [17; tr151].

Tấm lòng của người mẹ đối với con không gì đo đếm được. Người mẹ hi sinh tất cả vì con, đứa con là nguồn sống nguồn vui là động lực cho người mẹ vượt qua mọi khó khăn khổ ải của cuộc đời. Ấy vậy mà cả hai đứa con của bà cụ không đứa nào nuôi nổi mẹ. Đứa lớn theo Nho học làm thầy đồ, từ khi nhà nước bỏ thi bỗng thất nghiệp không nuôi nổi vợ con, mẹ già. Đứa con thứ hai theo Tây học khấm khá thành đạt hơn nhưng tệ hại hơn là ăn chơi, cờ bạc, ăn cắp tiền của vợ để đi chơi với người tình, nói dối với cả mẹ đẻ ra mình. Dưới con mắt của nhà nho Nguyễn Bá Học, những hành động ấy thể hiện sự băng hoại, xuống cấp trầm trọng của đạo đức. Hành động ấy của đứa con đối với người mẹ là sự bất hiếu lớn.

“Có thể nói ông (Nguyễn Bá Học) là nhà văn đầu tiên của Việt Nam đầu thể kỉ XX viết truyện ngắn phản ánh cuộc sống thành thị đang trên đà tư sản hóa. Cuộc sống thường nhật được miêu tả trong bầu không khí náo động, xô bồ, chen chúc các loại người mưu mô và trụy lạc gia tang ở thành thị, ngược hẳn với nông thôn vắng lặng và tàn tạ” [11; tr 269].

Cùng đề tài sa đọa về đạo đức, Nguyễn Công Hoan trong Báo hiếu: trả nghĩa chaBáo hiếu: trả nghĩa mẹ cũng xây dựng hình ảnh một người mẹ tận tụy hết lòng vì con, cũng là người có số phận không may mắn ở góa để nuôi con.

“Bà ấy là một người đàn bà góa. Đã ngoài ba mươi năm nay, có một đêm bà ấy trót dại chiều chồng mà tình cờ đẻ ra được một đứa con trai. Sinh được ít lâu, trời bắt tội bà ấy góa bụa. Nhà nghèo, làm ăn vất vả, kiếm chẳng đủ ăn, nhưng bà ấy chẳng nhẫn tâm bỏ đứa bé thơ ngây trả nhà chống để đi bước nữa mà vui thú với tuổi xuân đương hơ hớ. Qua mấy năm khó nhọc, khi sài khi đẹn, suýt chết mấy lần thì đứa bé đến tuổi đi học” [18; tr54].

Thằng con ấy sau bỏ ra tỉnh làm ăn buôn bán phát tài trở nên giàu có là chủ hãng ô tô Con cọp. Ấy thế nhưng người mẹ không được hưởng chút nào cái sung sướng cùng con mà ngược lại trong một đêm “Mưa phùn. Gió bấc. Rét buốt tận xương”, bà bị chính đứa con trai của mình ra đuổi bà ra đường. Sự bất hiếu đến táng tận lương tâm của người con khiến cho bà cụ uất lên mà chết. Ấy vậy nhưng khi bà cụ chết, hắn lại tổ chức đám tang linh đình trọng thể, khóc than kêu gào thảm thiết để che mắt thiên hạ. Vợ chồng hắn càng tỏ ra có hiếu, càng cố sức che đậy thì người đọc càng nhận ra bản chất đại bất hiếu của hắn. Cả hai truyện ngắn đều có điểm chung là người mẹ ở góa tần tảo nuôi con khôn lớn trưởng thành nhưng sự bất hiếu của người con khiến cho các bà mẹ phải buồn lòng, thậm chí uất hận mà chết như trong Báo hiếu: trả nghĩa mẹ của Nguyễn Công Hoan.

Hai truyện ngắn của hai tác giả (Nguyễn Bá Học và Nguyễn Công Hoan) sáng tác ở các thời điểm khác nhau nhưng đều có chung quan niệm: chính xã hội tư sản ở thành thị đã làm băng hoại đạo đức tha hóa con người, hủy hoại giá trị đạo đức truyền thống. Lối sống tư sản thành thị đề cao đồng tiền và ăn chơi sa đọa, hưởng lạc là nguyên nhân trực tiếp làm nảy nòi những đứa con bất hiếu.

Mặc dù có nhiều điểm tương đồng ở hai truyện ngắn, song mỗi truyện lại có cách thể hiện riêng độc đáo. Truyện ngắn Câu chuyện gia tình sáng tác thời kì đầu thế kỉ XX (1918), nội dung phản ảnh sự xuống cấp của hai nền giáo dục: giáo dục Nho học thì đã lỗi thời, chỉ là thứ lí thuyết suông.


Giáo dục Tây học đi liền với sự tiến bộ, văn minh, thực nghiệp thì không ngăn nổi con người tiêm nhiễm nhiều thói hư tật xấu của lối sống tư sản thành thị. Người con thứ hai của bà cụ học theo Tây học lên tỉnh sống và đổi tính, đổi nết

“lúc ở nhà thì thật thà hiếu hữu, bây giờ động nói thì dở lí dở luật ra con người vô tình. Khi ở nhà thì thật là thuần hòa, bây giờ động việc thì cậy thế cậy quyền ra con người táo tợn; khi ở nhà thì ăn ở kham khổ, đến bây giờ thì học thói xa xỉ tưởng thế là văn minh; khi ở nhà thì nhịn bạn nhường thầy, đến bây giờ thì cậy trí khoe tài cho ai cũng là mọi rợ.” [17; tr 153].

Quan niệm của Nguyễn Bá Học là

“làm người ai cũng phải có bổn phận: làm con phải đền ơn cha mẹ, làm chồng phải giúp vợ, làm cha phải nuôi con” [17; tr152].

Vậy mà cả hai đứa con của bà cụ không nuôi nổi cụ, tệ hại hơn người con thứ hai còn ăn trộm tiền, tư trang của vợ để đi chơi với người tình, sẵn sàng nói dối mẹ đẻ. Đó là những biểu hiện vi phạm đạo đức nghiêm trọng cần gióng chuông cảnh tỉnh mọi người.

Câu chuyện gia tình là truyện ngắn hiện đại đầu thế kỉ XX nên nội dung tư tưởng các yếu tố nghệ thuật có nhiều đổi mới, song có một số yếu tố chưa hoàn thiện. Cốt truyện còn đơn giản, câu chuyện mang tính luận đề phục vụ cho mục đích “treo gương đạo đức” của tác giả. Nhân vật bà cụ già lẩm cẩm mà nói câu nào cứ như một bậc hiền triết giảng về đạo Nho, giảng về luân lí đạo đức vậy. Nghệ thuật kể chuyện còn dài dòng, rườm rà, đoạn đầu là đoạn nghị luận xã hội của tác giả, là bình luận ngoại đề, tác giả còn dùng nhiều từ Hán Việt và câu văn biền ngẫu. Dù còn một số nhược điểm song Câu chuyện gia tình vẫn là một truyện ngắn khá thành công của Nguyễn Bá Học nói riêng, của truyện ngắn trên tạp chí Nam phong nói chung và cũng là sự thành công của người đi tiên phong trong viết truyện lối mới ở nước ta, mở ra triển vọng của truyện ngắn Việt Nam hiện đại viết bằng chữ quốc ngữ.

“Có thể nói nếu Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn là những cây bút tiên phong trong việc tạo dựng thể loại truyện ngắn quốc ngữ hiện đại Việt Nam thì Nguyễn Công Hoan là người đã có công hoàn thiện thể loại truyện ngắn và đẩy nó phát triển cao hơn. Ông thực sự đã trở thành một cây bút truyện ngắn, một tác giả lớn trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại” [11; tr 280].

Nguyễn Công Hoan với hai truyện ngắn liên hoàn Báo hiếu: trả nghĩa chaBáo hiếu: trả nghĩa mẹ đã đem lại thành công lớn cho đề tài viết về đạo đức trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Nguyễn Công Hoan xây dựng được tình huống truyện độc đáo, trước hết đó là tình huống trớ trêu nghịch lí, phi lí trái với đạo đức thông thường. Trong ngày giỗ cha, người con trai tổ chức cỗ bàn linh đình quan khách đông đúc tấp nập, dự tiệc ăn uống trong ngôi nhà rộng rãi ấm cúng, đèn sáng trưng thì cũng chính là kẻ đã nhẫn tâm đuổi bà mẹ ra ngoài trời mưa rét sau khi bố thí cho bà cụ hai đồng hào. Chính hắn cùng với vợ đã giết mẹ đẻ của mình sau đó làm đám ma rất trọng thể, rất linh đình để được khen là người có hiếu. Qua những tình huống trên, bản chất đại bất hiếu của người con trai bị bóc trần, người đọc không chỉ khinh bỉ mà còn căm ghét hạng người vô đạo bất hiếu không có lương tâm.

Cách kể chuyện của Nguyễn Công Hoan cũng thật tự nhiên, câu văn rất linh hoạt, ngôn ngữ chọn lọc gần gũi với ngôn ngữ dân gian, với ngôn ngữ sinh hoạt đời thường giàu cảm xúc. Nguyễn Công Hoan cũng chú trọng xây dựng hoàn cảnh điển hình đối chọi, đối lập nhau gay gắt. Trong phòng là những con người ăn mặc lịch sự đèn điện sáng trưng ấm cúng, còn ở ngoài trời mưa phùn gió bấc, rét buốt tận xương với hình ảnh bà cụ đói rét, ăn mặc bẩn thỉu. Chi tiết nhỏ này ngay từ đầu đã bóc trần sự tệ bạc của người con đối với mẹ.

Ngôn ngữ trong truyện ngắn Báo hiếu: trả nghĩa cha của Nguyễn Công Hoan nhiều màu sắc, mỗi nhân vật có một sắc thái ngôn ngữ riêng. Ngôn ngữ ông chủ hang ô tô Con cọp đầy quyền uy hách dịch khi nói với bà cụ đẻ ra mình; ngôn ngữ bà vợ ông chủ khi nói với khách thì ngọt nhạt giả dối; ngôn ngữ của bà cụ thì mộc mạc chân thật. Ngôn ngữ đã bộc lộ rõ tính cách nhân vật. Ngoài ngôn ngữ nhân vật, Nguyễn Công Hoan còn sử dụng ngôn ngữ người kể chuyện giàu tính hài hước, có khi đan xen bình luận nửa trực tiếp: vừa là ngôn ngữ nhân vật vừa là ngôn ngữ tác giả tạo nên sự sinh động hấp dẫn. Tính chất trào phúng thể hiện cả trong ngôn ngữ, tình huống truyện, trong ngữ cảnh đối lập.

“Từ những sự việc trong cuộc sống, Nguyễn Công Hoan đã tạo nên những tình huống truyện độc đáo, phù hợp với ngôn ngữ trào phúng của mình, đồng thời có ý nghĩa phê phán sâu cay xã hội đương thời” [11; tr 294].

Qua hai truyện ngắn cùng đề tài về đạo hiếu của hai tác giả trên, chúng ta thấy có sự kế thừa phát triển và hoàn thiện truyện ngắn Việt Nam hiện đại.


-----

Một phần của tài liệu Truyện ngắn trên tạp chí Nam Phong (1917-1934) với việc xây dựng mô hình truyện ngắn hiện đại (Trang 86 - 91)




Thứ Tư, 12 tháng 2, 2025

Một đời văn lực lưỡng Nguyễn Công Hoan


Một đời văn lực lưỡng Nguyễn Công Hoan

GS. Phong Lê


Đã hơn một thế kỷ, tính từ những năm hai mươi cho đến nay, Nguyễn Công Hoan vẫn được nhắc nhở trong dư luận của nhiều thế hệ bạn đọc.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan. Ảnh: Internet.


Nguyễn Công Hoan bắt đầu được chú ý từ những truyện trong tập Truyện thế gian của Tản Đà Thư Cục năm 1922; rồi Kiếp hồng nhan, năm 1923; để trở nên nổi tiếng với những chuyện đời trong chuyên mục “Xã hội ba đào ký”, thời An Nam tạp chí cũng của Tản Đà đầu những năm ba mươi. Và đến hôm nay, sau bao nhiêu biến thiên xã hội, ông vẫn tiếp tục là nhà văn thân quen của nhiều thế hệ bạn đọc, trong số đó không ít người đã từng qua một tuổi trẻ hoặc tuổi học đường sớm biết đến Nguyễn Công Hoan, qua Bước đường cùng và các truyện ngắn được chọn lọc trong chương trình văn học ở nhà trường.

Cố nhiên ở mọi thời kỳ, sự quan tâm của bạn đọc đối với Nguyễn Công Hoan là có khác nhau. Nguyễn Công Hoan xuất hiện với một bút pháp lạ, một cách nhìn lạ, một giọng điệu lạ, hài và bi, cười cợt và nghiêm trang, đùa mà tỉnh táo, đã được báo hiệu ngay từ Kiếp hồng nhan (1923). Rồi Nguyễn Công Hoan với truyện ngắn và truyện dài, dồn dập và xen kẽ, chuyển dịch qua bao xu hướng nghệ thuật trong những năm ba mươi. Nhà văn muốn tỏ ra trung thành với chủ nghĩa hiện thực trào lộng trong truyện ngắn lại rất nghiêm trang, mực thước trong Tấm lòng vàng, Cô làm công...

Chủ nghĩa lãng mạn tưởng như xa lạ với Nguyễn Công Hoan, khi nhà văn cố tình trở về với các khuôn mẫu cổ điển, để chống lại Đoạn tuyệt của Nhất Linh, trong Cô giáo Minh, lại là người đẫm ướt trữ tình và nước mắt lãng mạn trong Tắt lửa lòngLá ngọc cành vàng. Thanh đạm u trầm trong một khí hậu hoài cổ nhằm dẫn dắt con người vào một thời xưa, trong lúc Bước đường cùng lại rất quyết liệt phanh phui, lật tẩy hiện tại - sách bị cấm mà thành danh to, năm ngàn bản hết veo và được in đi in lại nhiều lần...

Nguyễn Công Hoan, tóm lại, đó là người viết dường như muốn có một mục tiêu để trung thành, để chung thủy,
nhưng lại nhiều đổi thay, chuyển dịch và không ít giọng điệu. Có phải vậy chăng cùng lúc có ở trong ông vừa khách quan vừa chủ quan, vừa mới vừa cũ, vừa hoài cổ vừa cách tân, vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa cổ điển vừa tự nhiên và cả tự nhiên chủ nghĩa... Vậy là, phải chăng về cái gọi là “phức tạp”, qua con mắt người đương thời và hậu thế, thì xem ra Nguyễn Công Hoan cũng có mặt nổi danh không kém Nguyễn Tuân.

Nhưng rút lại thì cái lớn, cái duyên và có thể là cả cái may nữa, của Nguyễn Công Hoan là ở đâu và lúc nào ông cũng được quan tâm. Có thể nói ông là nhà văn chưa bao giờ bị quên. Ông là người thường xuyên được nhắc nhở. Quả là trong làng văn Việt Nam hiện đại, người có vị trí như Nguyễn Công Hoan không phải thật quá hiếm hoi. Nhưng có người danh đang như cồn, bỗng bị quên ngay. Có người rất thực tài nhưng chịu rất nhiều thăng trầm.

Có người chịu một số phận âm thầm thật lâu rồi mới sáng sủa dần lên. Còn ông, nhà văn Nguyễn Công Hoan thì lúc nào cũng là người hiện diện cùng độc giả. Tham gia cách mạng, hoạt động ở nhiều cương vị, cho đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp, trở về hòa bình, ông là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đầu tiên từ khi có Hội, năm 1957, cương vị ấy ở ông gợi nhớ chức danh Tổng thư ký Hội Văn nghệ của Nguyễn Tuân trước đó gần một thập niên trong Đại hội lần thứ nhất Hội Văn nghệ Việt Nam. Những chọn lựa của lịch sử và nghề nghiệp quả thật là tinh.

Nghề và nghiệp, danh và thực, quả đã tìm được sự hội tụ ở những người viết có bản lĩnh, có chân tài. Qua hai hiện tượng trên, ở hai cương vị đại diện: một cho chủ nghĩa lãng mạn, một cho chủ nghĩa hiện thực, tôi thấy thật thú vị về sự gặp gỡ của hai phong cách lớn trong văn học Việt Nam hiện đại.





Trong tác phẩm "Ngựa người và người ngựa" phản ánh những mặt trái của xã hội cũ.
Ảnh: VnExpress.


Nhà văn Chủ tịch Hội Nguyễn Công Hoan đã khẩn trương trở về với vốn sở trường của mình qua một loạt các tiểu thuyết dài dồn dập, hơn bất cứ ai, trong giao điểm những năm năm mươi và sáu mươi: Tranh tối tranh sáng (1956), Hỗn canh hỗn cư (1961), Đống rác cũ, tập I (1963) như là một sự tổng hợp và nâng cao, trong quy mô sử thi, để có thể đồng thời diễn đạt cho được cả hai mặt: mặt tối tăm bi thảm và mặt cách mạng của cuộc đời cũ.

Nguyễn Công Hoan - cây đại thụ của văn học hiện thực phê phán Việt Nam. Ảnh: Internet.


Mặt tối tăm, dường như hầu hết những gì ông đã viết trước 1945 có thể xem là một tập đại thành; còn mặt sáng sủa, mặt cách mạng của xã hội cũ thì có dễ đến bây giờ ông mới có chủ trương và có quyết tâm trong một nỗ lực nhận thức rất cao. Còn nhớ có lần ông nói:
“Tôi vẽ người xấu nhạy hơn người tốt. Bởi vì tôi vốn bi quan nên nhìn mọi vật bằng con mắt hoài nghi, chỉ thấy phía xấu. Phía xấu dễ nhập tâm hơn phía tốt”.
Vậy là có phải bây giờ mới là lúc ông thấy cần và ông có điều kiện thể hiện mình trên cả hai thái độ: phê phán và khẳng định.

Nhưng gắn cho được cả hai mặt đó vào một chỉnh thể, sao cho nó hữu cơ, cho nó nhuần nhị, có nhân và quả, hoặc vừa là nhân vừa là quả, có quan hệ và tác động theo cả hai chiều, thật là cả một sự nặng nhọc. Ấy là chưa nói những đòi hỏi theo “phép biện chứng” ở người đọc, theo lý luận về hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi nhìn cuộc sống trong quá trình phát triển cách mạng và khẳng định mặt đang lên của hiện thực, phải đâu dễ đáp ứng được, nếu nó không tìm được lối thuận trong tạng của nhà văn.

Thiên chức nhà văn: nói cho toàn diện về hiện thực, hướng con người về phía cái tốt cái thiện, là câu chuyện ta từng bàn đi bàn lại, nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Ai cũng mong đạt cái đích cao và xa ấy. Nhưng đòi hỏi của cả một nền, cả một thời có khác với đòi hỏi riêng ở từng người. Và ở mỗi người, chuyện lực và tâm, và cả tạng nữa, có gắn bó hô ứng được với nhau không cũng còn phải tính. Một đời dài theo nghiệp văn, Nguyễn Công Hoan đã để lại cho ta một di sản lớn về nhiều mặt. Nhưng tôi lại nghĩ nếu Nguyễn Công Hoan biết chiều cái tạng riêng của mình và xã hội một thời dài cũng sẵn sàng chấp nhận, hoặc biết bao dung cái tạng ấy thì hẳn chắc sự nghiệp của ông còn lớn hơn, thậm chí lớn hơn rất nhiều. Ông cứ viết, tiếp tục với giọng trào lộng của riêng ông về cái cũ, cái ác trong xã hội cũ và cả về cái cũ, cái xấu trong xã hội mới nữa, cũng được chứ sao!

Chúng tôi là những người đọc hậu sinh trung thành và chuyên cần của nền văn chương quốc ngữ, chúng tôi càng quý trọng một trong những người đặt nền móng đầu tiên là Nguyễn Công Hoan. Cũng chính ông là người tiếp tục cần mẫn lần lượt leo lên nhiều tầng giàn giáo của công trường văn xuôi quốc ngữ Việt Nam. Một công trường thật sự là đông đúc, nhưng những bậc thợ cả trong số đó như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam. Khái Hưng, Tô Hoài, Nguyên Hồng... thì quả chưa phải là nhiều.

Còn chưa nhiều nên mới quý. Và càng quý khi tất cả họ, khi trong con số ít ỏi ấy ở họ, lại là những chân dung rất khác nhau, những gương mặt hoàn toàn không lẫn vào nhau.
Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn luôn nhớ đến một tiếng cười riêng, tiếng cười Nguyễn Công Hoan, tiếng cười gây cười, lập tức làm ta bật cười, cười không cản được, cười to lên hoặc tủm tỉm, nhưng rồi sau đó là một vị chát có lúc như nghẹn đắng, có lúc làm cay nơi mắt ta. Ngẫm ra thật là “sợ” cho ngữ ngôn, cho văn tự, cho chữ nghĩa Nguyễn Công Hoan: Oẳn tà roằn, Ngựa người và người ngựa, Báo hiếu - trả nghĩa cha, Cô Kếu - gái tân thời, Thế là mợ nó đi Tây...

Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn thấy sống động cả một thế giới người thật đông đúc và cũng thật là lúc nhúc trong văn ông: những phu phen, thuyền thợ, dân quê; những địa chủ, lý dịch, cường hào; những nghị viên, dân biểu, quan lại (huyện, phủ, bố, án, tuần...); những ký, lục, phán, tham; những con buôn, tư sản, chủ thầu; những giáo chức, nghệ nhân, viết văn, làm báo; những me tây, cô đầu, kép hát; những gái điếm, con sen, thằng nhỏ; những “ván cách”, lính cơ, thày quyền; những bồi, bếp, tây trắng, tây đen...

Nghĩ đến Nguyễn Công Hoan tôi nghĩ đến cả một gia tài truyện ngắn thật đồ sộ mà ông để lại; và truyện ngắn - đó mới chính là sở trường của ông, trào phúng mới là giọng điệu của riêng ông. Một thứ trào phúng rõ ràng là bắt nguồn từ gia tài dân gian và cổ điển, nhưng vẫn là rất riêng của ông, không lẫn với ai, và không ai bắt chước được. Hơn thế, đó lại là cái trào phúng xem ra không chỉ có một mà nhiều cung bậc; mọi cung bậc không phải tất cả đều thuận tai; nhưng khi một nhà văn được viết hồn nhiên theo thiên tính của mình, thì cái hồn nhiên ấy mới làm phát lộ ra biết bao tài hoa khiến cho ta kinh ngạc.

Thế kỷ XX ghi nhận tên tuổi Nguyễn Công Hoan - tác giả của hàng trăm truyện ngắn sáng giá - là người hiếm hoi, cùng với Nam Cao, Thạch Lam có công đưa thể loại dễ mà khó này lên một tầng cao thật siêu việt. Là người có một tiếng cười riêng thật đặc sắc trong một bối cảnh vốn lúc nào cũng rất cần có tiếng cười. Một cuộc sống tối tăm đau khổ, thật đáng khóc như cuộc sống trước 1945, vẫn cần có tiếng cười; đã có một chuỗi cười dài trong Số đỏ, lại có tiếng cười của Nguyễn Công Hoan, cùng tiếng cười trong thơ của Tú Mỡ, Đồ Phồn.

Cuộc sống mới sau 1945, dẫu có nhiều niềm vui lớn, đâu phải đã hết cần đến tiếng cười phê phán. Cái lý đó và sự thật đó, phải chăng ta nhận ra khá muộn, khiến cho một người biết cười, một người dám cười như Nguyễn Công Hoan thật đáng giá, thế nhưng lắm lúc ông đã phải nghiêm trang. Nguyễn Công Hoan, trong cả đời văn nói chung là một người may mắn, nhưng ông cũng có đôi lúc không may. Dẫu thế, trong di sản của ông, bên nhiều thứ đã bị quên, có một bộ phận sẽ là bất tử.


GS. Phong Lê




Thứ Năm, 23 tháng 1, 2025

“Vua tàu thủy Bắc Kì” Bạch Thái Bưởi qua con mắt nhà văn Nguyễn Công Hoan


“Vua tàu thủy Bắc Kì” Bạch Thái Bưởi qua con mắt nhà văn Nguyễn Công Hoan

Nguyên Phong
(sưu tầm và giới thiệu)


LTS:
Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam, quê ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Ông được coi là ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam. Di sản nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan có hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học với nhiều tác phẩm đã trở thành kinh điển của nền văn học hiện thực Việt Nam như: Người ngựa – ngựa người, Kép Tư Bền, Bước đường cùng, Đống rác cũ,… Cuốn sách “Nhớ gì ghi nấy” của Nguyễn Công Hoan được viết từ năm ông lên tuổi 70 và đến những năm cuối đời. Nhà xuất bản Tác phẩm mới đã tổng kết, những nội dung chính ông nêu trong cuốn sách gồm 3 nội dung chính:
1. Những việc xảy ra trong đại gia đình mà nhà văn có lẽ muốn cho con cháu biết.
2. Một số nhân vật (những tên Tây thực dân, quan lại, địa chủ, tư sản mại bản) mà tác giả nghe biết và ghi lại.
3. Những điều tai nghe mắt thấy phần nhiều vào đầu thế kỷ này khi nhà văn đương tuổi thanh niên. Đó là những ghi chép về Hà Nội, những nơi nhà văn đã ở, làm việc và đi qua.
Đặc biệt, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã dành nhiều trang sách nói về doanh nhân, “vua tàu thủy Bắc Kì” Bạch Thái Bưởi (1874 - 1932), người hơn ông 26 tuổi và là một trong những doanh nhân có tầm ảnh hưởng lớn nhất vào thời bấy giờ. Những trang viết của Nguyễn Công Hoan về Bạch Thái Bưởi là sự “nhớ và ghi”, là những thông tin dữ liệu lịch sử qua lăng kính của một nhà văn cùng thời với Bạch Thái Bưởi, trong đó có nhiều trang viết khen và cũng nhiều trang viết chê. Điều đó cũng phản ánh một thái độ, tinh thần rất khách quan, khoa học của Nguyễn Công Hoan khi viết về doanh nhân Bạch Thái Bưởi.

Tạp chí Công nghiệp tàu thủy Việt Nam xin trích một số đoạn trong cuốn sách nói về “Vua tàu thủy Bắc Kì” Bạch Thái Bưởi của nhà văn Nguyễn Công Hoan với mong muốn cung cấp thêm cho độc giả tư liệu về một nhân vật đặc biệt của ngành đóng tàu Việt Nam này.
Chân dung Bạch Thái Bưởi trên Nam Phong tạp chí


Hải Phòng có ông Nguyễn Hữu Thu, chủ tàu thủy. Ông này vừa làm nghị viên dân biểu, vừa làm Hội trưởng Hội Trí tri là danh nhân ở cảng. Người ta còn gọi ông là ông Thông Vôi. Thông, chắc là chức thông ngôn. Vôi, vì có dạo trong cơm tù, ông hòa vôi vào với gạo để thổi cho cơm nở. Thông Vôi thành tên không phải để chế nhạo, mà để gọi thường. Ông Thu cũng nhận cái tên nhân dân đặt cho mình, không ngượng ngịu, không xấu hổ.
*
Ông Thu thông gia với Bạch Thái Bưởi, một nhà triệu phú hồi đó, nối nghiệp về nghề buôn tàu thủy. Là thông gia vì hai người cùng giàu và cùng ở Hải Phòng. Nhưng hai người là địch thủ của nhau trong việc buôn bán cạnh tranh ghê gớm với nhau. Song, do là thông gia, ông Bưởi và ông Thu lại vẫn vay tiền lẫn của nhau. Không đến thăm nhau được, thì gọi điện hỏi thăm sức khỏe của nhau.

Một lần ông Thu gọi điện hỏi thăm sức khỏe của ông Bưởi, ông này trả lời: "Khổ quá, tôi đang lo món nợ cụ đến hạn mà không xoay đâu để trả đúng hẹn, nên đương ốm đây, cụ ạ".

Ông Thu chết, ông Bưởi biết giờ đưa đám, nhưng phải bảo thư kí rằng gần đến giờ thì nhắc. Đến giờ thư kí nhắc, ông Bưởi mải làm cho xong một việc. Làm xong, vội vàng mặc quần áo chỉnh tề, để ra xe đến nhà ông Thu.
Lúc ấy đám tang đã đi được một quãng.
*
(25-26) …

Bạch Thái Bưởi còn gọi là Kí Bưởi, vì có làm kí rượu (bán rượu cho côn ti độc quyền Phông Ten). Có người nói hồi ông mới buôn tàu, thì công ti với bà phán Thái. Vì vậy, mới đặt hai tên là TháiBưởi. Còn họ Bạch nghĩa là trắng, là không lấy họ riêng của ai. Ở tàu thủy, thường cắm cờ màu vàng, viền đỏ, có bốn chữ Bạch Thái công ti.

Ông này là tư sản dân tộc, có tài buôn bán, nhưng cũng có tài đi lừa.

Ngày nay, có một cuốn sách viết về tư sản Việt Nam, nói rằng ông Bưởi bị tư bản đế quốc chèn ép nên phá sản. Mình ngạc nhiên, cho là điều này mình không rõ, nên đến hỏi tác giả là ông Bưởi bị tư sản đế quốc chèn ép như nào, tác giả không trả lời được cụ thể. Mình thì biết về ông Bưởi khác kia. Thì ra ông tác giả này máy móc, theo quy luật đã viết trong các sách khác mà gán cho ông Bưởi bị nạn chèn ép. Song sự thực lại không phải như thế, nên ông tác giả không trả lời được câu hỏi của mình.

Những chuyện mà mình được nghe về ông Bưởi rất nhiều. Triệu phú hồi này rất hiếm, cho nên chuyện về ông Bưởi không mấy người không biết. Bạch Thái Bưởi lập nghiệp từ việc có tiểu bài bán rượu lẻ của công ti độc quyền Phông Ten, sau được lĩnh trưng bán rượu một tỉnh (Kí Bưởi là kí rượu tên là Bưởi).

Năm đặt đường xe lửa Nam Định – Thanh Hóa, ông thầu làm tà vẹt cho hãng xe lửa. Tà vẹt là khúc gỗ ngang để đặt đường sắt lên trên. Ông đặt mua tà vẹt của dân theo kích thước và giá cả mà đôi bên đã thỏa thuận. Nhưng không rõ mánh khóe về kích thước thế nào, hoặc dùng thước khi đo tà vẹt thế nào mà lúc dân giao tà vẹt cho ông thì không đúng kích thước đã quy định. Ông không lấy, trả lại người làm. Thế thì họ dùng tà vẹt làm gì, nên lại phải bán rẻ cho ông.

Thế là ông lãi được rất nhiều.

Những người làm tàu với ông Bưởi nói rằng không một ai dính dáng đến tiền nong với ông mà không bị lừa. Ông lừa từ một vài trăm, cho đến một vài hào. Ông có thầy cãi riêng. Tháng nào tòa án cũng phải xử một vài vụ kiện ông về tội ông đi lừa. Ông quỵt tiền thuê nhà hàng trăm, và lừa cả những người hàng nước, thuê đất trên bờ sông, bến tàu của ông, mỗi tháng 1 - 2 đồng. Hình như bệnh của ông là bệnh đi lừa. Tháng nào không lừa được ai thì ông không yên lòng. Thành thử bao nhiêu những người vào công ty buôn tàu với ông buổi đầu đều bị ông lừa suốt lượt. Rút cục, gọi là Bạch Thái công ti mà chẳng còn ai được chia lãi với ông.

Ông buôn tàu, mới đầu có vài chiếc nhỏ, như chiếc Yên Bái, mua lại của cô Tư Hồng (con me Tây đầu tiên ở Việt Nam). Sau, phát tài ông có tàu chạy Hà Nội - Nam Định, Hà Nội – Hải Phòng, Nam Định – Hải Phòng, Hà Nội – Tuyên Quang, Hải Phòng – Kiến An, Nam Định – Lạc Quần,… Ông lại đóng được chiếc tàu chạy biển, vào Bến Thủy, lấy tên là Bình Chuẩn.

Ở Bắc Kì, ông có tàu đi khắp các sông, cho nên ngày ấy Phạm Quỳnh chủ báo Nam Phong được ông thuê viết bài đăng báo để quảng cáo cho Công ti Bạch Thái đã tâng bốc ông là Vua Sông để so với các vua dầu hỏa, vua sắt ở bên Mĩ. Về việc này, ông thuê Phạm Quỳnh 500đ. Nhưng rồi chỉ trả có 300đ, nói rằng vì bài viết không đủ.

Việc này làm Lê Văn Phúc sượng mặt với Phạm Quỳnh. Lê Văn Phúc là chủ nhà in, in báo Nam Phong, đồng thời cũng là một trong năm người sáng lập báo Nam Phong. Phúc là em vợ hay em rể của Bưởi, mới đứng ra giới thiệu Bưởi với Quỳnh nên Quỳnh mới viết bài này. Ngày trước nhà in Lê Văn Phúc (16 Hàng Hài) cũng gọi là nhà in Kí Bưởi. Vậy Bạch Thái Bưởi cũng đã có thời kì mở nhà in, sau mới nhường nhà in cho Phúc.
Tàu Kí Bưởi ganh nhau với tàu hiệu. Tàu hiệu là tàu của chủ Hoa kiều. Nhưng do người Việt Nam mình giầu tinh thần dân tộc nên đi tàu Kí Bưởi. Tàu hiệu chỉ còn lấy việc chở hàng là chính. Việc này cũng dễ hiểu, vì hàng họ từ Trung Quốc sang ta, đổ ở Hải Phòng, nên các hiệu Hoa kiều ở Hải Phòng tải đi các nơi bằng tàu của người nước họ, chứ không bằng tàu Kí Bưởi.

Ngoài tàu Kí Bưởi và tàu hiệu, còn có tàu của Pháp, gọi là tàu Tây điếc và Tây cao, đi các sông, lại không sống bằng chở hàng và chở khách, mà sống bằng chở thư Bưu điện, nhưng được trợ cấp rất nhiều. Cần nhớ rằng, hồi Kí Bưởi mới có tàu chở khách, ông có đặt ở mỗi tàu một thùng quyên tiền. Không chuyến nào thùng quyên tiền không có tiền. Có lần có cả một tờ giấy 20đ.

Vì cạnh tranh với tàu hiệu về việc lấy khách nên thỉnh thoảng hai bên ganh nhau. Ganh nhau về chạy nhanh, ganh nhau về hạ giá vé. Từ Hà Nội đi Nam Định, khách hạng thường trả 1 hào. Hạng thường là hạng ngồi ở hai bên rìa. Vì ở giữa tầu là buồng rộng, có cửa đóng để che gió, gọi là sa lông, khách trả ba hào. Hai bên rìa thì có thể gió mưa hắt vào. Tàu hiệu không có sa lông, khách thuê chiếu nằm ngổn ngang trên sàn, bất cứ chỗ nào. Cạnh tranh thì sa lông không hạ giá. Nhưng hạng thường thì hạ giá. Khi thấy tàu Kí Bưởi hạ xuống 1 hào thì tàu hiệu cũng hạ theo. Rồi tàu Kí Bưởi không hạ thêm, mà biếu mỗi người khách một gói chè đáng giá 1 xu. Được ít lâu, hình như hai bên cùng thiệt hại, mới điều đình với nhau thế nào đó, nên giá lại như cũ.

Ngày hội đền Kiếp Bạc, Kí Bưởi cho tàu chở khách từ Hải Dương đi Kiếp Bạc để tranh khách với tàu hiệu. Bên tàu hiệu mất khách, mới hạ giá vé. Nhưng bên Kí Bưởi cũng hạ theo. Sau bên tàu hiệu quay quắt, mới nghĩ ra kế là thuê người làng ỉa bậy ở bến tàu Kí Bưởi. Qủa nhiên khách thấy bẩn, thì tàu Kí Bưởi có bớt khách. Nhưng Kí Bưởi nghĩ ngay cách đối phó. Ông mới thuê người dọn cứt là người làng ấy. Người làng với nhau thì khuyên bảo hoặc dọa nạt được những người ỉa bậy. Bên Kí Bưởi từ đó được sạch sẽ.

Hai tàu còn ganh nhau đến trêu tức nhau, rồi sinh ra thù hằn nhau.

Tàu Kí Bưởi tốt, chạy nhanh, nên mặc cho tàu hiệu nhổ neo trước. Đến lúc tàu Kí Bưởi đuổi kịp thì hành khách đứng ra mạn tàu để xem, cũng lấy làm khoái, nên được người ba toong, tức là người bẻ lái, xui là vỗ tay lên, cho bên tàu hiệu xấu hổ.

...

Kí Bưởi là người rất cương quyết, cứng rắn.

Người ta kể rằng con trai thứ tư của ông là Bạch Thái Tư được ông cho sang Pháp học. Ba người con lớn là Toán, Tòng, Đào không nối được nghiệp của ông, vì chúng chơi bời, kém nhân cách, nên ông chỉ mong về Tư. Một hôm đương làm việc, ông nhận được tờ điện báo, báo tin Tư chết. Xem xong, ông cho tờ điện báo vào ngăn kéo, tiếp tục làm việc cho đến lúc hết giờ.

Nhưng ông lại rất mê tín. Ông tin một người thầy bói ở Nam Định. Thấy nói tháng nào ông cũng nhờ bói xem tháng ấy, ông làm ăn thế nào. Cái ngày tàu ông bị đắm nhiều, chỉ còn chiếc Tự Đức là tốt, thì thầy bói xem quẻ nói rằng tàu Tự Đức đến hôm ấy, hôm nọ cũng sẽ bị đắm. Ông tức lắm, mới đánh điện, bắt tàu Tự Đức trở về Nam Định ngay. Và trước ngày thầy bói nói bị đắm, thì ông bắt đóng cọc xung quanh, lấy dây xích sắt và chão cột chặt tàu với cọc cho thật chắc chắn. Nhưng sáng hôm sau, có tin báo cho ông, biết là tàu Tự Đức đắm. Thì ra vì nó bị cột chặt quá, khi nước thủy triều dâng lên, nó không nổi rềnh lên được, nước mới ùa vào cả tàu.

Thầy bói còn nói ông giầu thế nhưng lúc chết sẽ không còn mảnh bát mà ăn. Ý nói nghèo rồi chết đói.

Việc ông bán tất cả tàu của ông cho hãng Sauvage (Xô Va) của Pháp không phải vì ông bị tư bản đế quốc chèn như cuốn sách đã quá sách vở, mà là vì ông đã nhìn rất xa. Dạo ấy ở Bắc Kì lác đác có phong trào ô tô buýt chở khách. Ông mới nhìn ngay thấy tương lai của ông. Tàu của ông chỉ ăn về chở khách, mà khách sẽ đi ô tô buýt vừa nhanh vừa rẻ. Ông mới đùn cái chết cho hãng Xô Va. Hãng này mua tất cả tàu của ông, trả cho ông một món trước, rồi sau trả dần mỗi tháng là 500đ. Tức là để chống lại số mệnh mà thầy bói đoán. Với món tiền này, ông đổi nghề ra Bí chợ, khai mỏ than. (27-37)

Bạch Thái Bưởi có điểm tốt là đã dùng Bùi Như Uyên, một người Đông du về nước nhưng bị lộ, và nuôi con thứ hai cụ Thượng Hiền là Nguyễn Thượng Khoa, cho sang Pháp học với Bạch Thái Tư. Nguyễn Thượng Khoa hiện ở bên Pháp, không về nước. (Tr.522)

….

Bài viết trích dẫn từ cuốn sách: “Nhớ gì ghi nấy” của Nguyễn Công Hoan, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1998, 770 trang.



Nguyên Phong
(sưu tầm và giới thiệu)






Tàu (sà lúp- chaloupe) Phi Hổ - một trong những phương tiện thuộc đội tàu thủy vận chuyển của doanh nhân Bạch Thái Bưởi


Một ma-két quảng cáo của hãng vận tải Bạch Thái Bưởi trên báo chí thời Pháp thuộc năm 1924


Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2025

Các nhà văn được miêu tả như thế nào?


Các nhà văn được miêu tả như thế nào?

Vương Trí Nhàn


Xuân Diệu từng có hai câu thơ được nhiều người nhắc nhở:

Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ.

Trong nhiều truyện ngắn, Nam Cao cay đắng kể lại tình thế bất lực và nông nổi dễ bị bắt nạt của người cầm bút.

Văn sĩ An Nam khổ như chó – Nguyễn Vỹ đã nói huỵch toẹt ra như vậy trong bài Gửi Trương Tửu.

Trong văn chương Việt Nam thế kỷ XX vậy là có cả một mạch sáng tác, ở đó, các nhà văn viết về chính mình. So với văn học trung đại, nay là lúc chẳng những chủ đề này được khai thác thường xuyên, mà có một điều quan trọng hơn, những ảo tưởng vốn gắn liền với văn nhân xưa được khắc phục. Sự sáng tạo được kéo xuống phàm trần. Ở đó, một mặt vẫn có cái vẻ thiêng liêng, song mặt khác, nó cũng hiện ra với tất cả cái vẻ lam lũ, vất vả vốn có. Cái tinh thần hiện đại đã chi phối các nhà văn trong việc nhìn nhận con người nói chung tới đây lại tiếp tục gây ảnh hưởng.

Những sự quá đà và những điều chính

Nếu trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, cùng lúc thấy sự ngự trị của cả hai khuynh hướng là lý tưởng hoá đời sống (thường gọi là chủ nghĩa lãng mạn) và cực tả những mặt đen tối của đời sống (thường được mệnh danh là chủ nghĩa hiện thực) thì trong các sáng tác viết về nghề văn, hai khuynh hướng đó cũng đã có mặt.

Khi hình dung lại cuộc đời cầm bút của mình, Vũ Bằng gọi đó là Bốn mươi năm nói láo. Nhiều chuyện bất hảo của người làm nghề được ông kể lại rành rọt trong cuốn hồi ký: nào kéo bè, kéo cánh công kích nhau; nào lúc vội, cần có bài liền tán “vung xích chó”, và thi nhau nói dóc v.v…

Trong Đời viết văn của tôi, Nguyễn Công Hoan cũng cho thấy là nhiều lúc, ông xem giới văn chương như một cái chợ; và kể lại rằng, trước 1945, có những cây bút khiến người ta ghê sợ “như sợ hủi”.

Có điều, nên xem đây chỉ là một nửa sự thực. Ngay trong các hồi ký nói trên, các tác giả cũng đã trình bày ra một nửa sự thực khác: Vũ Bằng sau một đời lăn lộn với giới báo chí và văn chương vẫn hết sức tha thiết với nghề và ao ước nếu được làm người lần nữa, thì vẫn chọn nghề cầm bút. Nguyễn Công Hoan cũng cảm động ghi nhận trong hồi ký những kỷ niệm đẹp trong đời sáng tác, và tự thấy rằng đã hết lòng với sứ mạng của mình. Nên biết thêm là Nguyễn Công Hoan không chỉ là tác giả của những thiên truyện như Cái Tết của các nhà đại văn hào hoặc Cái lò gạch bí mật chế giễu sự ngây thơ của các đồng nghiệp, mà chính ông đã để thì giờ viết hẳn một cuốn tiểu thuyết như Trên đường sự nghiệp, trong đó, hình ảnh những người viết văn hiện ra hết sức lãng mạn.

Trong khi đó, một cái nhìn phải chăng hơn, mà cũng là cận nhân tình hơn, ưu ái hơn đối với giới sáng tác là tinh thần chính toát ra qua các thiên truyện như Mực mài nước mắt của Lan Khai, Những đứa con hoang của Nguyễn Tuân v.v…


Giữa mơ ước và hiện thực

Muốn tìm hiểu hình ảnh các nhà văn qua các trang sách được viết trong nền văn học cách mạng từ sau 1945, trước tiên, nên chú ý đến một sự thực có liên quan đến thể loại được sử dụng.

Một mặt, để có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước, mọi người cầm bút lúc này đều hiểu rằng phải có ý thức phấn đấu để trở thành những ngòi bút cao quý. Điều này được thể hiện rõ nhất trong các bài phát biểu mang tính cách chính luận thường xuyên xuất hiện trên báo chí.

Mặt khác, khi đi vào miêu tả bản thân giới cầm bút như những người lao động bình thường, thì người ta cũng có chủ ý phác hoạ hình ảnh của đồng nghiệp với tất cả vẻ sinh động vốn có của đời sống.

Hiện nay, chưa ai đứng ra sưu tầm đầy đủ các sáng tác loại này (tức là các thiên truyện, trong đó, người viết văn trở thành nhân vật trung tâm), song chỉ căn cứ vào một vài cuốn sách đã in, cũng đã có được những ví dụ chứng minh cho tinh thần nói trên. Chẳng hạn, đây là một tập sách mới in ra năm 2000 mang tên Truyện ngắn chọn lọc viết về các nhà văn.

Ở đây, người ta có thể bắt gặp Người kể chuyện thuê của Nguyễn Khải, Ghen của Ngô Văn Phú, Nạn văn chương của Nguyễn Phan Hách, Tình vờ của Phạm Dũng v.v… Truyện thì kể lại những ảo tưởng của người làm nghề, truyện thì phác hoạ cuộc sống nhếch nhác và những bươn chải kiếm ăn của họ. Đùa có, thật có, mơ màng đấy mà ứa nước mắt đấy!

Xin nhắc lại rằng, cả hai phương diện nói ở đây (mơ tưởng cao đẹp và thực tế hàng ngày lầm lũi như mọi người) gộp lại mới làm nên bộ mặt thực của các chủ thể sáng tạo hiện nay.



Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn – (st)





Thứ Năm, 2 tháng 1, 2025

Nhà văn Việt Nam đầu tiên viết những mánh lới ma mãnh trong vấn đề “huy động vốn” là ai ?


Nhà văn Việt Nam đầu tiên viết những mánh lới ma mãnh trong vấn đề “huy động vốn” là ai ?

Lê Minh Quốc


Đó là nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977). Từ thập niên 1930, ông đã viết truyện ngắn Bạc đẻ đăng hai kỳ trên Tiểu thuyết thứ bảy: Ông Cửu Ấu ở trọ nhà ông Trưởng Sắc có hành tung rất khả nghi, xài tiền như nước, thường hay vắng nhà.
“Song hễ ở nhà thì ông ta hay mượn chiếc chậu thau đồng lên buồng làm gì, để hàng hai ba tiếng đồng hồ, rồi khi dùng xong thì tự tay đem ra ao, lấy trấu và cát đánh cho thực sáng rồi mới đem trả. Ông ta có một tính khác người thường, là hễ ở nhà, thì không thích cho ai lên buồng riêng của mình. Có một lần ông đã mắng đứa đày tớ vô ý trước khi mở cửa vào, không đánh tiếng hoặc gõ cửa. Nhưng khi ông đi vắng thì tha hồ, ai vào cũng được, tuy đồ đạc, quần áo ông để bừa bãi, mà có một lần ông Trưởng sợ quá, cái va li của ông Cửu, trong để rặt những đồng bạc, mà ông quên không khóa”.
Rồi trong một lần chè chén say sưa, ông Cửu “vô tình” cho ông Trưởng biết là mình đang nắm giữ “công nghệ” làm cho bạc đẻ thêm nhiều, cứ một đồng thì đẻ ra một đồng! Mà bạc nó cũng ở cữ nên ông phải đi xa khi nó thụ thai, nếu ở gần thì bạc tịt lại, không đẻ được gì cả. Nghe “nhỏ to tâm sự” như thế, ông Trưởng nổi máu tham, đưa tiền cho ông Cửu làm cho bạc đẻ và đúng như vậy. “Tiếng lành đồn xa”. Sau đó, cả làng đều biết chuyện và ùn ùn đưa tiền cho ông Cửu.
“Cả làng, từ ông già cho chí trẻ con, ai cũng tấp nập rủ nhau đến nhà ông Trưởng để đưa bạc đi đẻ. Thôi thì có bao nhiêu bạc giấy, hào, xu, họ đổi thành bạc đồng và đánh cho thật bóng nhoáng. Ông Cửu mỏi tay biên sổ trong hai ngày, vì từ thằng khố dây trong làng, cũng cố cầm cố bán chác đồ đạc trong nhà để kiếm vài đồng bạc trắng. Ông chánh Bá, giầu nhất tổng, đưa đẻ hẳn năm trăm, mà còn tiếc vì vội quá, không kịp bán nốt mấy chục mẫu ruộng, ông lý Thới, ông lý Sang, ông phó Ung, ông cả Sích, vân vân, và những nhà có máu mặt, đều cùng nhau đưa hàng trăm; còn hạng đưa hàng chục, hàng đồng, thì tên biên vừa đen kịt hai mươi trang giấy. Khi cộng sổ, ông Cửu phải lắc đầu lè lưỡi nói với ông Trưởng:
- Sáu nghìn bảy trăm sáu mươi tư đồng, chà! Có lẽ tôi phải lánh đến bảy tám hôm chắc!
Ông Trưởng cười gượng:
- Chúng tôi chỉ dám phiền ông có lượt này nữa thôi đấy ông chịu khó vậy.
- Vâng, tôi có dám phàn nàn đâu!
Vừa xẩm tối, mọi người đã chen chân nhau vào nhà ông Trưởng để được xem phép lạ. Nhưng họ có được trông thấy gì đâu, vì phải đứng cả ở ngoài sân, mà ông Cửu thì ở tận trong buồng để làm việc. Hàng năm sáu giờ đồng hồ sau, bỗng ông Trưởng, vẻ mặt quan trọng như ông tướng chạy ra hè hô lớn:
- Bây giờ ai phải về nhà nấy để bạc dưỡng thai. Cấm không ai được dòm, vì nếu có hơi người lạ thì bạc tiểu sản, biến ra bùn mất cả. Ai không tuân lệnh mà làm hỏng mẻ này thì phải đền sáu nghìn bảy trăm sáu mươi tư đồng, một thành hai!
Mọi người thấy câu nói đều sợ thiệt đến của riêng, bèn kéo ồ cả ra về. Độ năm phút sau, sân nhà vắng vẻ, ông Cửu đi dò la chung quanh hàng rào, rồi một mình khênh bạc ra vườn, lúi húi làm nốt công việc.
Lúc chôn xong thì vừa hai giờ sáng, ông Cửu mệt nhoài, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, nhưng theo phép, ông phải lánh xa chỗ bạc dưỡng thai, nên ông vội vã khăn áo ra đi, và dặn lại ông Trưởng:
- Bốn giờ kém năm sáng thứ bảy sau, tôi sẽ trở lại. Trong chín hôm tôi không có đây, ông phải cấm không cho ai lai vãng ra vườn nhé!”
Thế là sau khi cầm gọn một số tiền lớn, ông Cửu... biến luôn!

Rõ ràng cái mánh này vẫn còn được các “đại gia” ngày nay áp dụng nhưng tinh vi hơn bội phần. Đó là các trường hợp tiêu biểu như Lâm Cẩu, Nguyễn Văn Mười Hai, Huỳnh Là v.v... đã huy động vốn trong nhân dân để kinh doanh với chiêu bài trả lãi suất cao hơn ngân hàng gấp nhiều lần, nhưng thật ra họ chỉ lấy tiền... người trước trả cho người sau! Đến khi đồng loạt các con nợ đến rút lại tiền mà các “đại gia” đã huy động thì... “bể mánh” là lẽ tất nhiên!
Và thêm một điều thú vị khác của truyện ngắn này, là khi ta liên hệ với hai vụ lừa đảo có “tầm vóc” xuyên lục địa vừa mới xẩy ra gần đây tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 3.1998, hai tên tội phạm quốc tịch Camơrun đã dùng “chiêu bài” rất hấp dẫn... “biến giấy trắng thành đô la”! Chúng đã lừa và “ẵm” trót lọt của ông Trần Chính Hưng - một doanh nhân người Hoa ngụ tại quận 5 là 100.000 USD.

Tương tự như vậy, vào ngày 15.7.2003, hai đối tượng tội phạm khác cũng quốc tịch Camơrun là Lata và Simo đã tìm đến ông Long - một Việt kiều đang làm ăn tại Việt Nam. Sau khi giả vờ trao đổi về một số phương thức để hợp tác kinh doanh thì chúng tiết lộ với ông Long rằng, chúng có một số lượng ngoại tệ rất lớn ở nước ngoài đã đưa vào Việt Nam. Do số tiền lên đến hàng triệu USD nên không thể đưa vào một cách hợp pháp, vì vậy, chúng phải ngụy trang bằng cách nhuộm trắng toàn bộ số đô la trên giống như những tờ giấy trắng và đóng thành một “kiện hàng”. Tuy nhiên, hiện chúng không đủ tiền mua một hóa chất đặc biệt để “tẩy rửa” toàn bộ “kiện hàng” này thành đô la. Nếu ông Long đồng ý cho chúng mượn tiền, thì sẽ được “trả công” 50% trong tổng ngoại tệ mà chúng đang có! Lời đề nghị quả là hấp dẫn. Để đưa “con mồi” vào tròng, chúng đã dẫn ông Long lên một khách sạn để tận mắt chứng kiến... “công nghệ chế biến đô la”! Qua một màn phù phép, chúng đã tặng không cho ông Long 5 USD xài chơi! Tin thật, ông Long đã cho chúng mượn trước 30.000 USD, nhưng với tinh thần cảnh giác nên cùng lúc ông đã bí mật báo cho công an. Lúc 16 giờ ngày 17.7.2003, tại một địa điểm trên đường Nguyễn Đình Chiểu - nhà riêng của ông Long, hai tên tội phạm này đã thao tác “tẩy rửa” 200.000 USD nhuộm trắng thành đô la thật.
Loại hóa chất mà chúng sử dụng thật ra rất đơn giản - sau này theo giám định của Bộ Công an - chúng hòa tan iốt, tức loại thuốc sát trùng rất rẻ tiền, có bán tại các nhà thuốc tây trong cồn ở nồng độ cao để trở thành dung dịch có màu nâu đen. Khi thả những giấy trắng được cắt bằng kích cỡ của tờ đô la thì chúng cũng “nhanh tay lẹ mắt” thả luôn vào tờ đô la thật. Tất nhiên cả thẩy đều bị nhuộm nâu đen. Xong, chúng vớt những tờ đô la thật bỏ vào trong xô nước có pha sẵn xà phòng, thì những tờ giấy bạc này trở lại sắc màu như cũ. Trò ảo thuật đã khiến người ngoài cuộc tưởng hóa chất đã tẩy rửa những tờ giấy bạc bị nhuộm trắng thành đô la thật. Quá trình thao tác này nhanh đến mức dù tận mắt chứng kiến, nhưng khó ai có thể phát hiện ra trò đánh tráo này. Khi Lata và Simo xếp từng tờ đô la “bàn giao” cho ông Long thì cũng là lúc công an ập vào bắt quả tang và giám định toàn bộ số tiền trên là... tiền giả!

Thì ra, với truyện ngắn “Bạc đẻ” nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng đã “dự báo” một cách tài tình những thủ đoạn lừa đảo của bọn tội phạm quốc tế trong thời đại mà chúng ta đang sống.



Lê Minh Quốc





PDF

Nghề làm xe tay


Nghề làm xe tay

Lê Minh Quốc


Người phu kéo xe do nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc vẽ
(báo Le Paria số 5 ra ngày 1.8.1922).


Có lẽ Tú Xương là nhà thơ trước nhất đưa chất liệu thực tế vào thơ: “Ông chồng thương đến cái xe tay”. Trước kia các quan nước ta thường đi ngựa, đi võng hay đi cáng. Sau Đốc lý Hà Nội Bonnal mua được bên Nhật Bản hai cái xe tay, một biếu quan Tổng đốc, một để dùng. Về sau, năm 1884, ông tham tá nhà Đoan là Ulysse Leneveu dù hưu trí, nhưng chưa vội về cố hương mà ở lại Hà Nội để kinh doanh. Ông sang Hồng Kông mua được 6 chiếc xe tay, vừa để cho thuê, vừa mướn thợ Việt Nam căn cứ vào mẫu mã có sẵn để sản xuất thêm. Mãi đến ngày 24.3.1887, ông Leneveu mới có được hơn 100 chiếc xe để cho thuê. Từ đó những người thợ của ta đã làm xe cho ông Leneveu cũng bắt đầu sản xuất loại xe này, hầu hết xe tay dùng bánh sắt. Chỉ có quan tuần vũ, quan tây mới dùng loại xe bánh cao su- mà người lính kéo thường mặc áo “kép nẹp”, đầu đội “nón gù”, đi chân không. Rồi mãi đến năm 1932 mới có tập phóng sự Tôi kéo xe của nhà báo trứ danh Tam Lang (Vũ Đình Chí) ra đời - mở đầu cho thể loại viết phóng sự ở Việt Nam. Nhân đây, ta đọc lại một đoạn ngắn trong tập phóng sự này. Một người “cựu binh” trình bày “kỹ thuật” kéo xe cho người mới vào nghề:
“- Kéo xe cũng là một nghề. Đã đành cầm đến cái tay gỗ thì ai cũng kéo, ai cũng đi, nhưng phải kéo làm sao, đi làm sao cho đỡ vất vả.
Tôi chắc bác chạy một cuốc xong, thể nào bác cũng phải thở dốc một hồi, lúc mới buông hai chiếc tay xe ra. Thế là không biết kéo rồi, người kéo thạo tuy cũng thở, nhưng không phải thở dốc ra như thế.
Làm cái nghề chạy quanh năm suốt ngày này, người đã không thể nhớn lên được, cứ cọc dần đi, nếu không biết chạy mà lần nào cũng thở hồng hộc như bò thì phổi mình phải yếu dần đi, rồi đến mắc ho mắc xuyễn. Ăn đã chẳng có gì béo bổ, ở cũng ở chui ở rúc, lại còn dãi gió dầm mưa, phơi sương phơi nắng, đến đá cũng phải ốm, đừng nói là người. Nhưng giời đã đầy vào kiếp ấy, cũng chẳng chống lại được với giời! Biết giữ được phần nào, hãy cứ hay phần ấy.
Nói đến đấy, chẳng biết cảm động thế nào mà anh Tư nhỏm dậy, cầm tích nước, tu thẳng một hơi.
Bây giờ thì anh ta ngồi, nhón chiếc kẹo bỏ vào mồm, nhai rau ráu rồi lại nói:
- Cầm hai chiếc tay xe lên, phải liệu xem khách ngồi chiều nào, định trước cho cân rồi hãy chạy. Người ta ngồi ngả vào đệm dựa, thì phải cầm dài, ngồi giữa đệm thì cầm giữa càng; ngồi tì đệm tai (hai cái đệm con để tựa khuỷu tay) thì cầm ngắn.
Trước khi chạy, phải dún càng xe lấy mực rồi hãy bước. Cầm tay xe, không nên cầm tay dài tay ngắn, vì lúc chạy ngoắt đường này sang đường khác, đà xe đang mạnh, mình giữ không vững, xe phải lật nghiêng.
Không nên ăn no, phải thắt chặt dây lưng; thắt lưng không chặt thì ruột vặn từ rốn đưa lên; ngon miệng ăn no thì bụng xóc. Lúc chạy, phải mím môi lại, chỉ được thở đằng mũi, đừng thở đằng miệng. Cầm hơi như thế, sức bao giờ cũng mạnh; hễ há hốc luôn miệng mà thở là thấy mệt liền. Giữ như thế cho đến lúc thật tức hơi thì há mồm thở phào ra một cái thật mạnh rồi lại phải mím miệng lại liền; lấy hơi vào, phải thở luôn bằng mũi. Xe dừng lại, khách xuống rồi, bấy giờ tha hồ thở, nhưng không nên ngồi nghỉ ngay. Phải bước một mà đi cho chân khỏi chồn, lúc thuận chân hãy ngồi nghỉ lại. Quạt cho ráo mồ hôi rồi hãy uống nước; uống nước vội vã chẳng đỡ khát, lại thêm mồ hôi...’’
Bài học vỡ lòng ấy, anh Tư giảng giải cho tôi nghe làm nhiều đoạn, nhiều hồi.
Mỗi điếu thuốc là một cái chấm xuống dòng. Mỗi chiếc kẹo là một cái chấm phẩy!”.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan có viết truyện ngắn “Người ngựa ngựa người” mà nhân vật chính cũng là người kéo xe... Riêng thi sĩ Tản Đà có viết “hài đàm” tựa Cái đòn cán và anh phu xe đọc thấy chua chát trong cái buổi giao thời thuở ấy:
“Có một anh phu xe nguyên ngày trước là phu cáng chuyển nghề. Từ ngày đi làm xe, anh ta hay học đòi nói năng kiểu mới. Một hôm anh ta định đem đòn cáng chẻ thành củi và nói rằng:
“Trước ta làm cùng mày thì hai đứa chỉ khiêng được một người mà cũng ì ạch. Giờ ta làm xe , một mình kéo được hai ba người mà lại chạy nhanh. Thế là văn minh, tiến bộ hơn”.
Đòn gánh liền đáp:
“Trước cùng tôi anh chỉ phải khiêng một nửa người. Bây giờ anh phải mang nặng gấp 4, 6 lần. Vậy mà đời sống và phẩm giá của anh chẳng hơn gì trước. Vậy thì văn minh, tiến bộ là phải, nhưng nên tiến lên làm người ngồi xe, và đừng làm người kéo xe”:
Đời thế anh ơi, thế cũng khoe,
Hết trò phu cáng lại phu xe!
Văn minh chừng mấy ki-lô mét?
Tiến bộ như anh nghĩ chán phè.


Lê Minh Quốc

Cảnh phu kéo xe tay trước khách sạn Morin (Đà Nẵng) năm 1900.

Cảnh phu xe trước khách sạn Métrpole (Hà Nội) trong thập niên 1920.


PDF