Ads 468x60px

.

Thứ Tư, 20 tháng 9, 2023

Thứ Sáu, 1 tháng 9, 2023

Phong cách truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan


Phong cách truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan

Giáo án bài giảng Ngữ văn (CĐ-ĐH)



Thứ Sáu, 11 tháng 8, 2023

Phía sau trang sách: Sách gặp bà kiểm duyệt


Phía sau trang sách:
Sách gặp bà kiểm duyệt

Trần Đình Ba


Xuất bản, phát hành sách trước 1945 , các sách yên ổn để phát hành khi nội dung không đụng chạm tới chính quyền thực dân.



Nhưng một số sách đấu tranh, hoặc bị quy chụp từ Sở Kiểm duyệt của thực dân sẽ bị thu hồi, cấm phát hành.


Ghê gớm thay “bà kiểm duyệt”
Để cấm tàng trữ, lưu hành sách báo mà nhà cầm quyền cho rằng tổn hại đến chính trị, sẽ có những nghị định được ban ra, như trường hợp ở Trung Kỳ. Năm 1929, chính quyền Trung Kỳ in tập tài liệu 16 trang “Nghị định cấm các thứ Sách và các thứ Báo, Chí không được truyền bá, phát mại và tàng trữ trong hạt Trung Kỳ”. Thống kê có 104 đầu sách bị cấm, hoặc do nội dung bị thẩm định là có tính chống đối, tuyên truyền, hoặc liên đới đến chính tác giả với những tên tuổi “vào tù ra khám” bị chính quyền theo dõi chặt chẽ như: Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Trần Huy Liệu, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm...

Phần nhiều trong số những sách bị cấm là những sách lịch sử, tư tưởng, hồi ký với những tên sách làm chính quyền lăn tăn như: Tuyên cáo quốc dân (Phan Bội Châu),
Một bầu tâm sự (Trần Huy Liệu),
Từ thành Ba-lê đến Khám Lớn Sài Gòn (Phan Văn Gia),
Ngồi tù Khám Lớn (Phan Văn Hùm)...
Thậm chí cả tiểu thuyết Tàu như cuốn Vợ ai? của Từ Trẩm Á do Nguyễn Tử Siêu dịch cũng bị cấm. Trần Huy Liệu chia sẻ Cường học thư xã ở Sài Gòn do mình làm chủ nhiệm, có tới 23 cuốn bị cấm, mà Một bầu tâm sự, Ngục trung ký sự, Câu chuyện chung là 3/23 cuốn được đề cập.


Nghị định cấm sách báo ở Trung Kỳ - TƯ LIỆU CỦA ĐÌNH BA



Chẳng những cấm sách liên quan trực tiếp tới Việt Nam, có đầu sách dịch cũng bị cấm theo kiểu phòng xa để “bưng tai, bịt mắt” độc giả, không cho tiếp cận thời sự thế giới, mà Gương cách mạng nước Thổ Nhi [Nhĩ] Kỳ (Ngọc Sơn, Đoàn Hiệt dịch, Duy Tân thơ xã xuất bản),
Câu chuyện nhựt trình trong hồi cách mạng nước Pháp (Hoàng Tích Chu, Nhà in Xưa Nay),
Dân sinh chủ nghĩa (Tôn Dật Tiên; Nhượng Tống dịch, Nhà in Quốc Hoa) là những minh họa.

Rất bất ngờ là trong số 104 đầu sách ấy, có những đầu sách ngỡ nội dung an toàn không phương hại, nhưng vẫn bị đưa vào tầm ngắm. Trong đó phải kể đến cuốn Sách xem Tết Nam Kỳ của Tân Dân thư quán bị cấm bởi Nghị định số 687, ngày 4.3.1929, sách Vần quốc ngữ của Nguyễn Mạnh Bổng bị cấm bởi Nghị định số 2349, ngày 24.9.1927.


Ở tù vì sách
Tiểu thuyết Bước đường cùng xuất hiện trên Phổ thông bán nguyệt san số 23, ngày 1.10.1938. Tác phẩm sau bị cấm lưu hành. Khi Bước đường cùng xuất bản, để thực dân Pháp không chú ý, Nguyễn Công Hoan dặn nhà Tân Dân không quảng cáo. Nhưng rồi báo Tin tức viết bài khen, tác phẩm được chuyển thể sang kịch. Thống sứ Bắc Kỳ ra lệnh cấm lưu hành, tàng trữ sách này tại Bắc Kỳ, rồi Khâm sứ Trung Kỳ, Thống đốc Nam Kỳ, và ở Cao Miên, Ai Lao lần lượt cấm.

Để đối phó, khi sách bị cấm ở Bắc Kỳ, nhà Tân Dân gửi vào Trung Kỳ bán. Trung Kỳ cấm thì gửi vào Nam Kỳ. Rốt cuộc, 5.000 bản Bước đường cùng được bán hết. Sau lần Bước đường cùng… cùng đường, các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan bị Sở Kiểm duyệt cấm lưu hành để “treo giò”, trong đó có sách Cái thủ lợn, Phải gió... và khi viết bài cho báo, phải ký tên là Ngọc Oanh để lọt lưới kiểm duyệt.

Nói về kiểm duyệt, sau một thời gian dài tồn tại, Pháp bỏ kiểm duyệt từ ngày 1.1.1937. Nhưng Thế chiến thứ hai bùng nổ tháng 9.1939, Pháp lập lại Sở Kiểm duyệt. Theo Nguyễn Văn Noãn trong bài “Kiểm duyệt báo chí ở Việt Nam”, Báo chí tập san số 2, bộ I, 1968 thì sự trở lại của chế độ kiểm duyệt được thực hiện bởi Sắc lệnh ngày 24.8.1939 ấn định quy chế kiểm soát báo chí và các ấn loát phẩm khác; và Sắc lệnh ngày 27.8.1939 ấn định thể lệ kiểm soát trước khi phổ biến các ấn phẩm, họa phẩm, các chương trình phát thanh và phim chiếu bóng.

Những sách báo có khuynh hướng cộng sản bị cấm tàng trữ, nếu bị mật thám, nhà cầm quyền phát hiện sẽ bị gây khó dễ hoặc khép tội. Vũ Ngọc Phan dạo ở ấp Thái Hà, Hà Nội, trong nhà có sách Manifeste du Parti communiste (Tuyên ngôn của Đảng cộng sản), Résume du Capital (Tóm tắt tư bản luận). Khi nhà bị mật thám, quan Tây khám, những sách ấy được gói vào bọc để trên nóc tủ nên không bị phát hiện, nếu không thì nhà phê bình văn học Việt cũng phải đến Sở Mật thám hầu chuyện. Đào Duy Anh ghi nhận thực tế sau biến động 1930 khiến thực dân Pháp vất vả đàn áp những nhà yêu nước, chúng quyết liệt ngăn cấm sách báo tiến bộ, “những sách báo tiến bộ, nhất là những sách nói về chủ nghĩa Mác bằng chữ Pháp hay bằng chữ Trung Quốc đều bị cấm lưu hành”.
Sách Thơ ái quốc Chiêu hồn nước cùng chân dung Phạm Tất Đắc trên bìa 1, in tháng 7/1945

Thậm chí vì tác phẩm, tác giả còn bị ở tù, như trường hợp Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc. Tháng 3.1927, 1.000 quyển thơ Chiêu hồn nước được in tại nhà in Thanh niên, Hà Nội, phát hành rộng rãi, khuấy động lòng yêu nước, gây tiếng vang lớn trong công luận. Sở Cẩm nhận định “sách này là sách xui làm rối loạn, phản đối chính phủ”. Tác giả dù mới 17 tuổi cùng chủ nhà in Lê Cương Đồng bị bắt. Hà thành ngọ báo số 76, ngày 2.8.1927 cho hay tòa Thượng thẩm tuyên án, Đắc bị giam ở nhà trừng giới cho đến năm 21 tuổi, còn Đồng bị án 6 tháng tù.
Trần Đình Ba



Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2023

Nghệ thuật khắc họa nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan


Nghệ thuật khắc họa nhân vật
trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Thành Đức Bảo Thắng


Từ khi xuất hiện trên văn đàn tới nay, truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan vẫn khẳng định được vị thế vững chắc trong mạch nguồn văn học dân tộc, qua sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian. Truyện ngắn trào phúng của ông được tái bản nhiều lần, tiếng cười khỏe khoắn, bộc trực, đượm tình người của ông vẫn luôn vang lên trong những thời khắc có ý nghĩa của cuộc sống qua sự dàn dựng và biểu diễn của các nghệ sĩ sân khấu nổi tiếng. Sức hấp dẫn đặc biệt có được bởi ý nghĩa xã hội, giá trị nhân văn được chuyển tải qua tác phẩm và thế giới nhân vật độc đáo, sinh động của ông.

Hàng trăm nhân vật với hàng trăm tính cách trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan luôn tạo được ấn tượng riêng, không lẫn, và cũng luôn thể hiện được bản chất xã hội. Quan lại cường hào với đủ các bộ dạng, đủ cách ăn chặn, ăn cắp, ăn cướp… cứ lần lượt hiện lên như là minh chứng hùng hồn của xã hội đồng tiền. Thói hư tật xấu của con người trong xã hội cũ cũng được ông liệt kê đầy đủ với các biến thể khác nhau… Số phận bất hạnh của người lao động cũng lắm cảnh nhiều dạng, không ai giống ai… Làm nên sức hấp dẫn đặc biệt này phải kể đến nhiều biệt tài như: năng khiếu hài hước, sự quan sát tinh tế…, đặc biệt là nghệ thuật khắc họa nhân vật trong truyện ngắn trào phúng của ông.

Xuất phát từ cái nhìn cuộc đời là sân khấu hài kịch và con người chỉ là những kẻ diễn trò, đã xây dựng các nhân vật trong truyện ngắn trào phúng với mục đích nhằm lật tẩy, lột trái, phơi bày bộ mặt thật của xã hội đương thời. Nhân vật của ông trước hết là nhân vật của sân khấu hài kịch. Vì vậy, ông đặc biệt hướng ngòi bút của mình vào việc khắc họa diện mạo, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, chứ không tập trung vào việc khám phá, phân tích tâm lý bên trong của nhân vật.

Đọc truyện của Nguyễn Công Hoan, ta bắt gặp một thế giới nhân vật đông đúc, đa dạng và đặc sắc. Tác giả Phong Lê đã điểm danh họ: “những phu phen, thợ thuyền, dân quê, những địa chủ, lý dịch, cường hào; những nghị viên, dân biểu, quan lại (huyện, phủ, bố, án, tuần…); những ký, lục, phán, tham; những con buôn, tư sản, chủ thầu; những giáo chức, nghệ nhân, viết văn, làm báo; những me tây, cô đầu, kép hát, những gái điếm, con sen, thằng nhỏ, những “ván cách”, lính cơ, thầy quyền, những bồi bếp, tây trắng, tây đen…”[1][1] Phong Lê, Nguyễn Công Hoan, một đời văn lực lưỡng, (nhiều tác giả), Phê bình, bình luận văn học, Nxb Văn nghệ, TP.HCM, 1999. . Nguyễn Công Hoan đã dày công khắc họa thế giới nhân vật đông đúc, đa dạng ấy khiến cho họ trở nên đặc sắc, sinh động, đầy sức sống.




1. Khắc họa diện mạo
Nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trước hết là nhân vật của sân khấu hài kịch. Để làm nổi bật tính chất hài hước, ông sử dụng triệt để và tài tình biện pháp phóng đại. Dường như dưới ngòi bút của Nguyễn Công Hoan, những kẻ mà ông cho là ăn bẩn, thích ăn bẩn đều hiện lên với những hình thức đặc thù. Đó là cái béo hùng vĩ, ít ai có thể tưởng tượng được. Người đọc phải phì cười trước diện mạo của huyện Hinh:
“Chà! Chà! Béo ơi là béo! Béo đến nỗi giá như có thằng dân nào vô ý buột mồm nói ra một câu sáo rỗng nhờ bóng quan lớn là ông tưởng ngay nó nói xỏ ông… Nguyên cái da mặt ông nhỏ, mà có lẽ vì ông béo quá nên lỗ chân lông căng ra, căng thẳng quá đến râu không có chỗ nào lách ra ngoài được”. Và trên cái bộ mặt béo đến quái thai ấy là hai hàng lông tơ “đứng ở hai bên miệng ông, nó hình thành hai cái dấu chua nghĩa”[*][*] (dấu ngoắc đơn). (Đồng hào có ma).
Béo đến dị hình dị dạng là hình thức đặc thù của bọn có quyền, có tiền, tham lam, thích ăn bẩn. Nguyễn Công Hoan đã công thức hóa khi khắc họa diện mạo, hình thức bọn này. Nhưng cái tài của ông chính là ở chỗ kết hợp biện pháp phóng đại với lối so sánh độc đáo tạo nên được những nét rất riêng, đáng buồn cười trong từng nhân vật.

Ta gặp trong Đàn bà là giống yếu hình ảnh một bà phủ với khuôn mặt long trọng như “chiếc bánh dầy đám cưới”, hoặc hình ảnh một bà chủ mà chỉ thoạt trông thì phải bảo là “một đống hai ba cái chăn bông cuộn lại với nhau, sắp đem cất đi” nếu “chưa nom rõ cái mặt phị, cái cổ rụt, cái thân nung núc, và bốn chân tay ngắn chùn chụt” (Phành phạch). Với bà phán Tuyên (Cho tròn bổn phận) thì là hình ảnh một cây thịt tuy hơi cổ thụ nhưng chưa có vẻ gì cằn cỗi. Mỗi nhân vật ở dạng này đều có điểm chung được tạo thành từ nguyên nhân thích ăn bẩn. Nhưng giũa chúng cũng có những nét rất riêng qua lối so sánh đặc sắc, độc đáo của Nguyễn Công Hoan. Người đọc không thể không cười một cách khoái trá khi bắt gặp những hình ảnh như vậy.

Với Nguyễn Công Hoan, không chỉ giới quan lại, tư sản… được miêu tả chân dung bằng ngòi bút trào phúng mà mọi nhân vật trong tác phẩm đều mang diện mạo, bộ dạng sân khấu hài kịch.
Đó là kẻ ăn mày mà cái đói, cái rét đã làm biến dạng nhân hình với
“cái nón toạc tung cả cạp, đã đóng khố lại mặc cái áo rách cụt cả tay, thành ra bốn chân tay khẳng khiu, đen thui thủi, dài ngoằng ngoẵng”
(Răng con chó nhà tư sản).
Đó là diện mạo của thằng ăn cắp trông giống như một con khỉ ghẻ đáng sợ:
“Hai mắt trắng dã, lấm la lấm lét. Tóc thì bồng lên như tổ quạ. Da đen thui thủi, mặt rạn như men lọ cổ. Hai tay thọc vào túi cái áo tây tang, xơ xác như tổ đỉa…” (Thằng ăn cắp).
Nhân vật luôn được Nguyễn Công Hoan chú ý khắc họa dưới nhiều góc độ khác nhau. Khi viết về bản chất tham lam, thích ăn bẩn của giới quan lại, địa chủ, tư sản thì nhân vật hiện lên với hình dạng hài hước, châm biếm qua sự béo đến biến dạng. Nhưng dưới góc độ chính trị, ông miêu tả lũ người đó với vẻ mặt, hình dáng của chính những vai hề trên sân khấu hài kịch
(Đào kép mới).

Bằng nghệ thuật phóng đại, cường điệu, ngòi bút của ông như muốn vật hóa, đồ vật hóa nhân vật của mình. Về điểm này, tác giả Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng:
“Nghệ thuật phóng đại của Nguyễn Công Hoan đã tạo nên được biết bao trận cười đậm đà, khoái trá – một phong cách trào phúng bộc trực, bạo, khỏe rất gần với nghệ thuật dân gian”[2][2] Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn tư tưởng và phong cách, Nxb Tác phẩm mới, 1979. .
Người đọc phì cười khi tác giả tả cái bụng của Nguyệt:
“Cái bụng Nguyệt vài tháng nữa thì tròn bằng cái thúng”
(Oằn tà oằn),
hoặc khi tác giả miêu tả “cũng môi đỏ, cũng đít cong” về cô vợ của Samandji. Người đọc cũng bắt gặp nghệ thuật khắc họa diện mạo nhân vật theo hướng vật hóa trong Chí Phèo của Nam Cao, nhưng không tuân theo mô hình kiểu Nguyễn Công Hoan.

Có thể nói, những nhân vật của Nguyễn Công Hoan mang diện mạo sân khấu – diện mạo phù hợp với tính cách. Nghệ thuật khắc họa diện mạo nhân vật trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan thật đặc sắc và độc đáo, phù hợp với quan niệm nhân sinh của ông về cuộc đời và con người.



2. Nghệ thuật khắc họa hành động nhân vật
Nếu như, diện mạo nhân vật của Nguyễn Công Hoan phù hợp với tính cách, bản chất thì hành động, cử chỉ của nhân vật làm lộn trái, phơi bày bản chất nhân vật. Mỗi nhân vật của ông đều phơi bày những hành động thể hiện xung đột thảm hại có tính chất phổ biến giữa bản chất, tính cách với địa vị, thân phận xã hội của con người. Đó là những hành động giàu kịch tính, luôn tạo được sự bất ngờ – một yếu tố quan trọng trong cách xây dựng truyện trào phúng. Để tạo được cái hồn trong tác phẩm, Nguyễn Công Hoan sử dụng biện pháp tương phản và tăng cấp trong việc miêu tả hành động của nhân vật.

Cô Nguyệt lẳng lơ, dâm đãng với những lời thề bồi đầy danh dự:
“Tuy tôi chưa là vợ anh, nhưng cũng như là cô vợ nên tôi dốc một lòng chung thủy thì chữ trinh tôi giữ nguyên cho anh. Nếu anh ngờ tôi loan chung phượng chạ thì đây này, tôi sẽ chết như thế này này!” (Oằn tà oằn).
Một bà tham, bà phán bày tỏ sự biết ơn với công lao, sự khó khăn vất vả của người chồng bằng cách bỏ chồng, bỏ con vì cuộc sống mới giàu sang (Thế là mợ nó đi Tây). Một gái làm tiền (Ngựa người và người ngựa) với cách ăn mặc sang trọng mà phải nhảy tọt xuống đất khi anh phu xe đòi hai hào rưỡi. Và khi lộ rõ chân tướng đã phải lừa anh phu xe trốn mất để lại sự choáng váng, thất vọng của con “ngựa người” đó. Mỗi một nhân vật đều tự bộc lộ mình bằng hành động. Ta thấy xót thương cho sự bất hạnh của người phu xe đã bị lừa mất tiền công và hai hào bởi con “người ngựa”, nhưng cũng thấy được sự ranh ma, khôn lỏi trong con “ngựa người” đó qua hành động chỉ chạy “dưỡng lão” thôi, đít nhổm mạnh mà chân bước ngắn.

Nhân vật của Nguyễn Công Hoan thể hiện những hành động hết sức lôgic, hợp với bản chất của nó. Với ông, đã là quan lại, địa chủ, bọn giàu có trong xã hội thì đích thị là những kẻ thích ăn bẩn và toàn là hành động đê tiện, bẩn thỉu. Nguyễn Công Hoan thật tài tình khi tả hành động này của huyện Hinh một cách bất ngờ và thú vị:
“…tự nhiên như không, ông cúi xuống thò tay nhặt đồng hào đôi sáng loáng, thổi những hạt cát nhỏ ở giầy bám vào, rồi bỏ tọt vào túi”.
Đó là hành động ăn cắp của kẻ có trình độ ăn cắp đạt tới mức nghệ thuật. Thật vậy, trình độ ăn cắp, ăn cướp của quan lại quả là cao.

Ăn cướp một cách trắng trợn mà vẫn không mang tiếng xấu trước dư luận. Ngay những kẻ ăn cướp cũng phải phục vì cướp trên tay tài sản cướp được của thằng ăn cướp một cách đàng hoàng (Thằng ăn cướp).

Sự vô liêm sỉ đến mức tàn nhẫn của bọn giàu có vượt ra khỏi lẽ tự nhiên ở đời qua hành động. Chúng mượn ngày giỗ bố (Báo hiếu, trả nghĩa cha) để khoe khoang, phô trương thanh thế, trong khi chúng nhẫn tâm đuổi người mẹ đẻ ra khỏi nhà vì sợ bị xấu mặt. Cũng thật là bỉ ổi và nhơ nhuốc khi một kẻ muốn tiến thân đã dùng đạo “xuất giá tòng phu” để bắt vợ cống cho quan trên (Xuất giá tòng phu) hay lấy bốn chữ “tiết hạnh khả phong’’ bằng cách hiến thân. Trong cái xã hội thượng lưu đó đầy rẫy sự xấu xa, bỉ ổi và đê tiện. Một ông tham quan tự “ăn cắp” ví của mình rồi “tôi vờ thế, chứ ví đây này, có mất đếch đâu!” vì sợ tốn kém (Mất cái ví). Không chỉ có vậy, giữa những kẻ tự cho mình thuộc tầng lớp thượng lưu cũng ăn cắp của nhau, lừa bịp lẫn nhau (Cái ví ấy của ai, Phúc tinh)…

Sau mỗi một hành động của nhân vật, tiếng cười bật lên với nhiều cung bậc khác nhau. Đó là tiếng cười khoái trá, sảng khoái. Đó cũng là tiếng cười mỉa mai, châm biếm, đả kích, đầy chua xót. Đó còn là tiếng cười căm phẫn xã hội đồng tiền đưa đẩy con người vào những hoàn cảnh trớ trêu mà cái bi, cái hài xen lẫn hòa trộn. Đọc Kép Tư Bền, người đọc cảm nhận được đằng sau tiếng cười là hoàn cảnh thương tâm, đầy nước mắt. Người kép hát tài hoa phải diễn trò mua vui trong hoàn cảnh bố lâm bệnh nguy kịch. Tâm trạng đau khổ nhưng Tư Bền vẫn phải diễn trò. Màn một, màn hai, màn ba, anh đều phải “hò, hét, ngâm, cười, múa, nhẩy để mua gượng lấy những tràng vỗ tay”. Cùng với những tràng vỗ tay hưởng ứng, ngợi khen của khán giả ở từng màn là tâm trạng đau đớn, khổ tâm của anh trước sự ngày càng nguy kịch của cha mình. Và đến khi buổi diễn kết thúc sau những tiếng vỗ tay thì cũng là lúc Tư Bền không bao giờ gặp lại cha. Thật là một vở diễn bi hài kịch. Nguyễn Công Hoan đã đặt các nhân vật trong các tình huống mâu thuẫn hài hước khác nhau để từ đó bộc lộ bản chất bằng chính hành động tạo nên tiếng cười hài hước. Đó là những hành động làm nổi bật lên mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức, giữa tự nhiên và cái trái tự nhiên (Cái vốn để sinh nhai), giữa khả năng và ý đồ (Đào kép mới)… để từ đó mỉa mai, châm biếm, đả kích bộ mặt thật của xã hội đương thời.



3. Ngôn ngữ đối thoại
Nguyễn Công Hoan đặc biệt chú trọng miêu tả diện mạo, hành động cử chỉ của nhân vật bằng ngôn ngữ đối thoại đặc sắc. Qua ngôn ngữ đối thoại, ông đã bắt các nhân vật tự bộc bạch bản chất, phơi bày được hiện thực xã hội.

Ngôn ngữ đối thoại đa dạng và phong phú
Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan có ba kiểu chủ yếu: người kể chuyện đối thoại với nhân vật, người kể chuyện đối thoại với độc giả và nhân vật đối thoại với nhân vật.

Khi phân tích truyện ngắn Lập-Gioòng qua đoạn đối thoại giữa người kể chuyện với nhân vật:
“Nghe câu chuyện chú quyền Ván Cách nói, ta cũng hiểu là tại làm sao chú phải phạt rồi. Vì lỗi của chú đi quá lâu, đến nỗi thầy quản đồn một mình không giữ nổi cái con mẹ khôn ngoan mạnh khỏe kia, để nó sổng mất. Nhưng tưởng thầy quản đồn cũng lực lưỡng nhanh trí lắm đất chứ. Tại sao lại để cho con đàn bà nó đánh tháo được cả người lẫn tang vật? Nhà tiểu thuyết chẳng muốn để chỗ thủng ấy vừa chỗ cho độc giả đánh dấu hỏi. Vậy xin kể cái miếng võ nó rình đánh vào thầy quản, và mưu mẹo nó lừa ra sao”.
Người đọc thấy được sự gắn kết giữa kết quả và nguyên nhân của hiện tượng Lập-Gioòng, qua đó có thể thấy được nội dung của câu chuyện.

Mở đầu truyện Đồng hào có ma, chỉ bằng lời đối thoại với độc giảông đã phơi bày bản chất thích ăn bẩn của huyện Hinh và giải thích cái béo đến dị dạng dị hình của hắn:
“Tôi cực lực công kích sách vệ sinh đã dạy ta ăn uống phải sạch sẽ, nếu ta muốn được khỏe mạnh béo tốt. Thuyết ấy sai, trăm lần sai, nghìn lần sai! Vì tôi thấy sự thực ở đời này bao nhiêu những anh béo, khỏe đều là những anh thích ăn bẩn cả. Thì đấy, các ngài hãy nhìn ông huyện Hinh, hẳn các ngài phải chịu ngay rằng tôi không nói đùa!”.
Đây là cách giải thích rất Nguyễn Công Hoan (chữ dùng của tác giả Nguyễn Đăng Mạnh).

Đọc truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan, ta bắt gặp nhiều kiểu đối thoại, đa dạng, phong phú. Ở mỗi truyện ngắn có thể có nhiều kiểu đối thoại được vận dụng một cách linh hoạt tạo ra sự sinh động của những màn hài kịch, phơi bày tính chất giả dối bất lương, lừa bịp của hiện thực đương thời.

Với Oằn tà oằn, Nguyễn Công Hoan đã để nhân vật đối thoại với nhân vật nhằm mục đích bắt nhân vật nói lên điều không muốn nói.

Tiếng cười hài hước của độc giả hướng vào Nguyệt khi phải chứng kiến cuộc đối thoại giữa bà đỡ và Nguyệt về chuyện đẻ con so hay con rạ.

Vận dụng sáng tạo và linh hoạt ngôn ngữ đối thoại, Nguyễn Công Hoan đã tạo mạch nối giữa tiếng cười dân gian và tiếng cười hiện đại. Đoạn đối thoại giữa cô Bống (Đàn bà là giống yếu) với chồng (quan phủ) một mặt bộc lộ trọn vẹn bản chất dâm đãng, tham lam tới mức trơ trẽn của bà phủ: ngủ với trai khi chồng đi vắng, thế nhưng vẫn lớn tiếng đe dọa khi bị bắt quả tang, mặt khác gợi người đọc trở về với khái quát đậm màu triết lí của dân gian: gái đĩ già mồm.

Ngôn ngữ đối thoại giàu kịch tính
Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan hướng tới phơi bày bản chất của con người, của xã hội bằng tiếng cười trào phúng giàu kịch tính. Đó là thứ ngôn ngữ chứa đựng yếu tố hấp dẫn, tạo được sự bất ngờ, lột trái hiện tượng, phơi bày mâu thuẫn hài hước. Người đọc phải phì cười khi hiện tượng kẻ ăn cắp bị bắt, bị đánh nhừ tử chỉ vì: “Nó ăn của tôi …hai xu …bún riêu… rồi… nó quịt… nó chạy!” (Thằng ăn cắp). Câu nói kết thúc truyện diễn ra trong sự mệt mỏi với hơi thở hổn hển của bà hàng rong đã lột trái mâu thuẫn hài hước giữa hiện tượng ăn cắp to tát với sự thật nhỏ con. Giá trị hài hước của câu chuyện chỉ được bộc lộ bởi yếu tố đầy bất ngờ này.

Trong Nỗi lòng ai tỏ, kết quả thật đáng sợ lại được giải thích bằng nguyên nhân hết sức đơn giản khiến người đọc cảm thấy ngỡ ngàng:
“Từ lúc ăn xong bữa cơm sáng đến giờ chẳng ai hiểu vì lẽ gì, cô Tuyết cứ thở ngắn than dài. Rồi chờ cho mẹ đi chơi, cô lên giường đắp chăn thút thít khóc mãi”.
Rồi cả ngày hôm đó, cô Tuyết còn buồn lắm, cô trằn trọc và thở dài chỉ vì một nguyên nhân giản đơn được thể hiện trong một câu ngắn gọn:
“Cô đặt báo xuống, rên rỉ: Vân chết! Trời ơi!”[3][3] Các trích dẫn đều từ Nguyễn Công Hoan, Truyện ngắn tuyển chọn, tập 1, 2, Nxb Văn học, Hà Nội, 1996. .
Ngôn ngữ giàu kịch tính xuất hiện nhiều trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan. Khi kết hợp với thủ pháp tăng cấp, tác giả đưa người đọc từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác và bật cười khi hiểu rõ câu chuyện.

Bằng tài năng bậc thày, bằng cảm quan trào phúng độc đáo, Nguyễn Công Hoan đã sáng tạo một thế giới nhân vật hấp dẫn, sống động. Thế giới nhân vật độc đáo và đặc sắc của ông đã làm nên tiếng cười trào phúng khỏe khoắn, giòn giã, sảng khoái…



Thành Đức Bảo Thắng
_




Thứ Sáu, 16 tháng 6, 2023

Xu hướng in lại tác phẩm văn chương kinh điển


Xu hướng in lại tác phẩm văn chương kinh điển

Đỗ Thu


Danh tác được in lại nhiều với hình thức trang trọng, nằm trong một tổng thể bài bản. Điều đó giúp bạn đọc hôm nay có quyền tự hào khi tiếp cận kho tàng văn chương Việt.

Năm 2020 chứng kiến sự trở lại hoặc dịch mới các công trình nghiên cứu, lịch sử xưa. Còn 2021 là năm của những tác phẩm văn chương kinh điển, các tác phẩm đã lâu không in lại, thậm chí phát hiện tác phẩm của tác giả nổi tiếng trước đây.
Khi nhìn lại văn chương một năm qua, PGS.TS Phạm Xuân Thạch - Trưởng khoa Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) - đặt vấn đề xuất bản lại tác phẩm văn chương cũ dường như là xu hướng.

Một số danh tác được in với hình thức trang trọng. Ảnh: Nhã Nam.

Danh tác Việt được in lại sang trọng


Thực tế, việc in lại sách kinh điển vẫn tiếp nối trong nhiều năm qua. Sách văn học kinh điển có thể không bán chạy ồ ạt trong một thời điểm nhất định, nhưng luôn là mảng sách có độc giả.

Những tác phẩm văn chương, nhất là tác phẩm mà tác giả đã qua đời trên 50 năm, thường được các nhà xuất bản, công ty sách in ấn nhiều. Tuy vậy, 2021 là năm chứng kiến sách kinh điển, danh tác trở lại nhiều, thậm chí xuất hiện trong diện mạo trang trọng.

Không chỉ in lại tác phẩm kinh điển riêng lẻ, các nhà xuất bản, công ty liên kết còn đầu tư bài bản, có chiến lược riêng cho mảng sách này.

Sau nhiều năm thực hiện bộ sách "Văn mới", Công ty Đông A quay lại sách xưa, thực hiện nhiều tác phẩm nổi tiếng trong kho tàng văn học Việt Nam. Để cạnh tranh với các đơn vị cùng làm sách văn học kinh điển, Đông A đầu tư vào mảng mỹ thuật. Đơn vị này thường đặt các họa sĩ nổi tiếng minh họa cho tác phẩm văn chương.

Những tác phẩm quan trọng của nền văn học Việt như Truyện Kiều (Nguyễn Du), Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu),

hay các cuốn sách nổi tiếng Bỉ vỏ (Nguyên Hồng), Số đỏ (Vũ Trọng Phọng), Thương nhớ mười hai (Vũ Bằng), Người kép già (Kim Lân)… được Đông A in lại trong diện mạo mới.

Nhã Nam là công ty sớm in lại các danh tác xưa. Tủ sách “Việt Nam danh tác” được thực hiện từ năm 2014. Đơn vị này chủ trương in lại những tác phẩm đã đạt thành tựu lớn về nghệ thuật ngôn từ, những tác phẩm trở thành mẫu mực của thể loại văn chương. Qua năm tháng, số sách trong “Việt Nam danh tác” ngày một dày lên, hiện nay có gần 50 tác phẩm thơ, văn.

Năm 2021, Công ty Nhã Nam chọn nhiều cuốn trong tủ sách để in bản đặc biệt, bìa cứng, da. Bà Nguyễn Hoàng Diệu Thủy - biên tập viên của Công ty sách Nhã Nam - nói: “Tìm về tác phẩm kinh điển và in lại đã trở thành trend”.

“Chúng tôi nhìn thấy nhu cầu, thị hiếu của độc giả khi tìm kiếm lại tác phẩm hay. Đó không phải best-seller, nhưng là dòng sách vẫn bán bền bỉ. Ta thấy hiện tượng đặc biệt của xuất bản năm qua là in lại sách hay và in theo cách siêu sang. Dòng sách danh tác đã được in lại nhiều, nhưng in lại một cách sang trọng chính là xu hướng xuất bản”, bà Nguyễn Hoàng Diệu Thủy nhận định.


Sách Bỉ vỏ và Thương nhớ mười hai được in lại với bộ tranh minh họa mới. Ảnh: Đông A.

Giúp độc giả tiếp cận giá trị văn chương đích thực


Ngoài xuất bản danh tác, các đơn vị cũng in lại những tác phẩm đã lâu không xuất hiện. Công ty Nhã Nam in lại bộ năm cuốn của tác giả Nguyễn Thị Hoàng, trong đó có đầu sách best-seller trước đây là Vòng tay học trò trong năm 2021.

Thông tin từ PGS.TS Phạm Xuân Thạch, Xóm cầu mới của Nhất Linh cũng chuẩn bị được tái xuất. Trưởng khoa Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội cũng cho biết nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã tập hợp khoảng 20 truyện ngắn chưa được biết tới của nhà văn Nam Cao, chuẩn bị xuất bản để giới thiệu với bạn đọc đương thời.

TS Nguyễn Anh Vũ - Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Văn học - thông tin tập truyện ngắn Nông dân với địa chủ của Nguyễn Công Hoan sắp tái xuất.

Ông Hải Đăng - biên tập viên Nhà xuất bản Trẻ - tiết lộ đơn vị này có kế hoạch in lại tác phẩm văn học đương đại nổi bật. Đó là tác phẩm của những cây bút ghi dấu ấn trên văn đàn như Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Việt Hà.

Theo TS Nguyễn Anh Vũ, cách đây năm, ba năm, thể loại tản văn lên ngôi trong thị trường sách văn chương. Vài năm trở lại đây đã có sự cân bằng trở lại giữa các thể loại văn học. Tác phẩm hay sẽ được bạn đọc quan tâm, tác phẩm khó vẫn có đối tượng độc giả tiếp nhận. Điều đó cho thấy những sản phẩm chất lượng luôn luôn có chỗ đứng trong dòng chảy văn chương.

Biên tập viên Hải Đăng đánh giá việc in lại, đọc lại tác phẩm xưa là cách tiếp cận hay trong hệ thống xuất bản. “Ngoài việc đi tìm hạt giống văn chương, đãi cát tìm vàng, tiếp tục phát triển đội ngũ viết mới, chúng ta có chiến lược để đưa tới người đọc những tác phẩm giá trị. Việc làm này có ý nghĩa với xã hội”, ông Hải Đăng nói.

Theo biên tập viên Nhà xuất bản Trẻ, việc tuyển chọn chặt chẽ, in lại tác phẩm có hệ thống sẽ tạo định hướng để tất cả độc giả tiếp cận giá trị văn chương đích thực. Khi nhìn lại gia tài được in lại ấy, bạn đọc hôm nay hoàn toàn có quyền tự hào về văn chương Việt Nam.





Văn học Việt Nam

Nông dân với địa chủ





Nông dân với địa chủ

Mã ISBN: 9786043498684
Tình trạng: Hết hàng
Loại sách: Tập truyện ngắn
Nhà xuất bản: NXB Văn học

Giới thiệu sản phẩm
✓ Tác giả: Nguyễn Công Hoan
✓ Năm xuất bản: 2022
✓ Kích thước: 14 x 20,5 cm
✓ Số trang: 184
✓ Loại bìa: Bìa mềm

Trước Cách mạng tháng Tám, cuộc sống của người nông dân Việt Nam vô cùng khổ cực, họ phải chịu cảnh bị bóc lột cả về sức lao động lẫn của cải ruộng đất dưới ách thống trị của thực dân và phong kiến. Nhưng cụ thể cuộc sống đen tối đó như thế nào? Và sau khi thoát khỏi sự áp bức ấy, cuộc sống của họ đã thay đổi ra sao? Nguyễn Công Hoan đã đem mối quan hệ cố hữu từng tồn tại trong suốt những năm tháng lịch sử đi vào trang viết - một mối quan hệ vừa day dứt, vừa đau đớn, một mối quan hệ đã buộc chặt biết bao mảnh đời bất hạnh, kéo theo biết bao những hệ lụy xung quanh nó.

Là một bậc thầy về truyện ngắn cùng nghệ thuật trào phúng, bên cạnh phê phán và lên án chế độ thực dân phong kiến, Nguyễn Công Hoan cũng mở ra cho người nông dân lối thoát và sự giải phóng, hướng đến ánh sáng sau dằng dặc những đêm đen tăm tối. Truyện ngắn “Nông dân với địa chủ” được kết cấu gồm 13 chương:
1 - Địa chủ3
2 - Quanh cái xác chết14
3 -  Công dụng của giấy nhật trình cũ        28
4 - Chị Liền36
5 - Cây mít51
6 - Bãi cứt trâu57
7 - Chị vú em64
8 - Thằng Giảng với Đảng72
9 - Trung thành87
10 - Xóm Bến Sim94
11 - Lưu manh110
12 - Chị Trân học124
13 - Phấn khởi135

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC

Chủ Nhật, 28 tháng 5, 2023

Tìm hiểu “Nông dân” (Balzac) và “Bước đường cùng” (Nguyễn Công Hoan) dưới góc nhìn đối sánh


Tìm hiểu “Nông dân” (Balzac) và “Bước đường cùng” (Nguyễn Công Hoan) dưới góc nhìn đối sánh

Đoàn Thị Huệ
Trường Đại học Đồng Nai
Email: doanhuedhdn@yahoo.com


TÓM TẮT
Nếu Honore de Balzac là nhà văn hiện thực lớn của nước Pháp thế kỷ XIX thì Nguyễn Công Hoan cũng là một trong những nhà văn tiêu biểu của trào lưu văn học hiện thực Việt Nam những năm trước cách mạng tháng Tám. Sự nghiệp văn học phong phú, đồ sộ của hai nhà văn bậc thầy chủ nghĩa hiện thực, luôn nhận được sự yêu thích, ngưỡng mộ của bao thế hệ độc giả. Bài viết này là một hướng nghiên cứu của tác giả trong việc tìm hiểu hai tác phẩm “Nông dân” (Balzac) và “Bước đường cùng” (Nguyễn Công Hoan) dưới góc nhìn đối sánh, qua đó xác lập điểm gặp gỡ thú vị giữa hai nhà văn lớn cũng như chỉ ra những đặc sắc làm nên giá trị riêng của từng tác phẩm.
Từ khóa: Balzac, Nguyễn Công Hoan, Nông dân, Bước đường cùng, chủ nghĩa hiện thực, đối sánh



1. Mở đầu
Quan tâm đến Honore de Balzac và những đóng góp của nhà văn cho nền văn học nhân loại, Đỗ Đức Dục trong Hônôrê Đơ Banzăc – một bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực đã viết: “Có thể nói Banzăc là người cách tân lớn nhất về thể loại tiểu thuyết của thời đại ông và chung cho cả châu Âu. (…) Không phải ngẫu nhiên mà Engel đã lấy Banzăc làm mẫu mực để đưa ra một công thức về chủ nghĩa hiện thực, làm kim chỉ nam cho chúng ta đánh giá một tác phẩm văn học hiện thực chân chính của quá khứ và cũng còn có giá trị cho cả ngày nay nữa” [1, tr. 122]. Cùng với đó thì trong hơn 50 năm cầm bút, Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) đã để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ. Ông là nhà văn tiêu biểu của dòng văn học hiện thực Việt Nam.

Không chỉ là nhà văn lớn của Pháp, Balzac còn là bậc thầy về chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam. Trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam những năm 1930 - 1945, do lệ thuộc Pháp về mặt chính trị, sớm tiếp thu và chịu ảnh hưởng văn chương Pháp nên một bộ phận lớn các nhà văn Việt Nam đã sử dụng thành thạo ngoại ngữ, nhất là tiếng Pháp. Nhờ thế, họ đã tiếp xúc với nguyên tác các tác phẩm văn học nước ngoài, lắng đọng tiếng vọng của trái tim nhân loại, để đồng điệu và sáng tạo.
Trong đó, sự ảnh hưởng của các sáng tác theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa của Balzac đối với một bộ phận nhà văn Việt Nam lúc bấy giờ, trong đó có Nguyễn Công Hoan là điều khó tránh khỏi.

Hơn nữa, con người dù thuộc bất kỳ dân tộc nào nhưng khi đạt tới một trình độ văn minh nhất định, khi được trời phú cho một tâm hồn nhạy cảm, với khả năng phát hiện, phản ánh hiện thực theo cái nhìn, suy nghĩ, tưởng tượng, tình cảm riêng thì đều có thể tạo nên những tác phẩm văn học đặc sắc. Nếu cả hai nhà văn ngẫu nhiên có cùng một cơ cấu tâm hồn, một khả năng nghệ thuật tiêu biểu thì trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể gần giống, họ có thể có những tác phẩm tương đồng ở mức độ nhất định. Đây cũng là hiện tượng có thật, thường thấy, không phải là không lý giải được.

Với cách hiểu đó, có thể thấy sự gặp gỡ của hai tác phẩm Nông dân (Balzac) và Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) là một trong nhiều trường hợp cụ thể như vậy. Bài viết này là một hướng tiếp cận của tác giả đối với hai phẩm trên dưới góc nhìn đối sánh, hy vọng qua đó, có thể chỉ ra được điểm gặp gỡ thú vị giữa hai nhà văn lớn cũng như những đặc sắc làm nên giá trị riêng của từng tác phẩm.



2. Nội dung
2.1. Cơ sở của sự so sánh
Chọn Nông dân (Balzac) và Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) làm đối tượng so sánh vì chúng tôi tìm thấy ở đây có nhiều điểm tương đồng cơ bản giữa hai tác giả và hai tác phẩm.
Một là về nguyên tắc sáng tác, Balzac và Nguyễn Công Hoan thuộc hai dân tộc, ở vào hai giai đoạn văn học khác nhau, nhưng cả hai đều là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực, có những nguyên tắc sáng tác cơ bản giống nhau.
Một trong những nguyên tắc cơ bản đó, theo cách nói của Engel, là: “Theo ý tôi, chủ nghĩa hiện thực đòi hỏi, ngoài những chi tiết chân thực là sự thể hiện chân thực những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình” [1, tr. 122].
Với bộ Tấn trò đời (nguyên văn tiếng Pháp là La Comédie humaine), Balzac đã trở thành một trong những đại diện xuất sắc nhất cho dòng văn học hiện thực chủ nghĩa Pháp thế kỷ XIX. Ngòi bút tả chân sắc sảo của ông đã đi sâu lật giở và phơi bày tất cả những gì là sự thật về đời sống xã hội. Đó là sự bóc lột của giai cấp tư sản đang lên, cuộc sống đói khổ của người dân lao động và cùng với đó là cuộc đấu tranh giai cấp làm nên những biến cố mang tính quy luật của xã hội đương thời. “Về nhân vật tiểu thuyết, Bandăc đã đạt tới tính cách hiển hình trong những hoàn cảnh điển hình” [1, tr. 133]. Tiểu thuyết Nông dân là một trong 137 tác phẩm trong bộ Tấn trò đời đồ sộ của Balzac. Tác phẩm này được viết vào giai đoạn cuối đời của Balzac, đánh dấu sự phát triển lên tầm cao mới về nhãn quan chính trị của nhà văn trước hiện thực xã hội tư sản Pháp, đồng thời góp phần xác tín một loại hình chủ nghĩa hiện thực Balzac vững chắc trong lòng bạn đọc.
Trong khi đó, trên diễn đàn văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, Nguyễn Công Hoan đã được đông đảo bạn đọc biết đến là một nhà tiểu thuyết tả chân bậc thầy. Với tập truyện Kép Tư Bền, Nguyễn Công Hoan là một trong những người khởi xướng, đồng thời cũng là người dựng cờ chiến thắng cho khuynh hướng văn học hiện thực trong khu vực văn học hợp pháp đương thời.
Ở tác phẩm Nguyễn Công Hoan, tính chất khảo sát phong tục có trong một bộ phận các tác phẩm của Balzac, cũng được thể hiện. Đó là những tác phẩm làm nổi bật sự bất công có tính chất giai cấp trong xã hội, sự xung đột giữa giàu và nghèo, sự đụng chạm giữa xấu và ác, sự giằng co lựa chọn giữa vinh và nhục trên mỗi nẻo đường đời. Đó là những Tấm lòng vàng, Cô giáo Minh, Lá ngọc cành vàng, Thằng ăn cắp, Bữa no đòn, Răng con chó của nhà tư bản…
Hai là về hoàn cảnh sống cũng như bức tranh hiện thực được phản ánh trong sáng tác của hai nhà văn, người viết nhận thấy ở đây có nhiều điểm tương đồng.
Trong sáng tác của Balzac, người đọc dễ hình dung sắc nét bức tranh xã hội Pháp những năm tiền cách mạng tư sản Pháp, năm 1789. Tiểu thuyết Nông dân (Balzac) là khúc bi ca cuối cùng cho bản trường hận ca Tấn trò đời của nhà văn. Tác phẩm đã vạch trần hiện thực xã hội Pháp với khối mâu thuẫn không thể điều hòa giữa giai cấp bóc lột (tư sản, địa chủ) và giai cấp bị bóc lột (nông dân), đồng thời chỉ ra bước đường cùng cho những sụp đổ, tan rã không tránh khỏi của xã hội thượng lưu Pháp giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX. Tương tự, sáng tác của Nguyễn Công Hoan là sự phản ánh chân thực của nhà văn về đời sống xã hội Việt Nam những năm trước cách mạng tháng Tám, 1945. Tiểu thuyết Bước đường cùng đánh dấu sự phát triển đỉnh cao về tư tưởng của Nguyễn Công Hoan và là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam những năm trước Cách mạng. Nhìn chung, đó là hiện thực về một xã hội đang bước vào cuộc biến động dữ dội với sự trở mình mạnh mẽ của giai cấp tư sản đang lên và sự tích lũy năng lượng chuẩn bị cho một cuộc đại cách mạng sau này của đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Không hẹn mà cùng, cả hai nhà văn đã sớm dự cảm được những biến động cách mạng rung chuyển thời đại tại xứ sở mình.
Ba là về đề tài mà cả hai tác phẩm cùng hướng đến. Đó là đề tài về người nông dân cùng khổ. Nhân vật trung tâm ở cả hai tác phẩm đều có thành phần xuất thân từ giai cấp nông dân lao động. Họ đều đã trải qua những năm tháng cơ hàn, chịu đủ mọi thiệt thòi từ giai cấp thống trị đương thời – quý tộc địa chủ và giai cấp tư sản đang lên. Đó là người nông dân sáng suốt như Fuốc-sông trong Nông dân của Balzac, là anh Pha trong Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan. Thông qua câu chuyện về cuộc đời cũng như con đường số phận của các nhân vật trung tâm ấy, Balzac và Nguyễn Công Hoan đã phản ánh chân thực số phận người nông dân cùng khổ, thấp cổ bé họng, chịu nhiều áp bức, thiệt thòi trước sự bóc lột, đè nén của giai cấp thống trị (quan lại, tay sai, tư sản, địa chủ…), bị đẩy vào “bước đường cùng”, không lối thoát.
Từ những cơ sở trên, người viết bước đầu tìm hiểu Nông dân của Balzac và Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan dưới góc nhìn đối sánh, nhằm tìm ra phần giao thoa thú vị giữa hai tác phẩm cũng nét đặc sắc riêng của từng bậc thầy chủ nghĩa hiện thực.



2.2. “Nông dân” (Balzac) và “Bước đường cùng” (Nguyễn Công Hoan) dưới góc nhìn đối sánh
2.2.1. Về hoàn cảnh sáng tác
Nông dân (Balzac) được xuất bản năm 1845, trước Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), năm 1938, gần một thế kỷ. Nhưng ứng với điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng môi trường xã hội mà nhà văn đang sống thì môi trường xã hội tổng thể mà cả hai tác phẩm đề cập đến có nhiều nét cơ bản giống nhau. Đó là xã hội nông thôn bắt đầu có sự phân hóa giai cấp, tiền đề cho những khối mâu thuẫn giai cấp phức tạp sau này. Giai cấp tư sản đang lên, bộc lộ dần những mánh khóe gian ngoa đối lập với lợi ích chính đáng của đại bộ phận nông dân nghèo khổ lúc bấy giờ.
Balzac đã vô cùng bức xúc trước hiện trạng trên. Nguyễn Công Hoan cũng đã không ngoại lệ.
Giới thiệu tác phẩm của mình, Balzac viết: “Tôi nghiên cứu bước đi của thời đại mình và cho xuất bản cuốn sách này”. Khi ấy, tác giả viết lời đề từ cho tác phẩm là “Ai có đất người đó có chiến tranh” [2, tr. 3].
Còn Nguyễn Công Hoan, ông có 16 ngày để hoàn thành Bước đường cùng.
Khi dạy học ở Nam Định, Nguyễn Công Hoan đã viết nhiều truyện ngắn hiện thực xuất sắc thể hiện quan điểm tiến bộ, đứng về phía người nghèo khổ và đã được các nhà phê bình Mác xít khen ngợi.
Khi ấy chính quyền thực dân nghi ngờ ông là phần tử cộng sản nguy hiểm. Nguyễn Công Hoan đã nghĩ: “Ừ, ông cộng sản đấy” và lao vào viết Bước đường cùng trước là để “trang trải món nợ lòng đối với anh em cộng sản ở Nam Định” và sau là để giải tỏa một tâm trạng phẫn uất, một tinh thần chiến đấu bằng ngòi bút của tác giả với chủ nghĩa thực dân lúc bấy giờ.
Có thể nói, hai tác phẩm Nông dân (Balzac) và Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) ra đời trong hai thời điểm khác nhau, ở hai đất nước khác nhau nhưng lại có sự tương đồng ở bối cảnh không - thời gian tác phẩm ra đời, cũng như ở mảng hiện thực mà cả hai tác phẩm cùng phản ánh. Đó là hiện thực xã hội thực dân nửa phong kiến, đầy bất công cám dỗ. Ở đó, thế lực kim tiền lên ngôi, đạo lý sống giữa người với người bị đánh mất, người nông dân chật vật với miếng ăn, thuế khóa, dịch bệnh hoành hành cùng âm mưu cướp đất ngày càng tinh vi của giai cấp tư sản, địa chủ tham lam, gian xảo.



2.2.2. Về phương diện ý nghĩa của tác phẩm
Nông dân (Balzac) và Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) thể hiện cái nhìn thấu đáo của nhà văn về sự thật hiện thực cuộc sống nông thôn trong tổng thể chung của xã hội đương thời. Lịch sử xã hội được nhà văn tái hiện trong tác phẩm không khác gì với những gì đã diễn ra trong bối cảnh xã hội Pháp và Việt Nam lúc đó. Ở đó, đang hiện tồn khối mâu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế giữa các tập đoàn giai cấp: quý tộc địa chủ, tư sản, nông dân.
Nông dân (Balzac) bắt đầu bởi sự kiện bá tước Đờ Mông-cor-nê, nguyên là tướng của Na-pô-lê-ôn, mua được tòa lâu đài và ấp lớn ở vùng E-gơ. Sự việc này đã gây nên sự bất mãn, cừu địch trong bọn tư sản địa phương (vốn muốn mua ấp để chia nhau) và nông dân trong vùng. Sau đó, nhóm tư sản này, do nắm phần lớn quyền hành tại địa phương, đã câu kết cùng Xibile (quản lý của trại ấp) bày mưu xúi giục nông dân phá hoại trại ấp bằng mọi cách. Frăng-xoa Tông-xa, người đứng đầu một nhóm nông dân, đã nghe theo lời bọn tư sản. Chúng lên kế hoạch giết chết Mi-sô, người thân tín nhất của bá tước Đờ Mông-cor-nê, buộc bá tước phải từ bỏ trại ấp và ra đi. Sau sự việc đó, cuộc sống của người nông dân ở trại ấp chẳng những không được cải thiện mà còn trở nên thảm hại hơn bởi sự bóc lột, thao túng của bọn tư sản, thị trưởng, sen đầm.
Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) là bức tranh rộng lớn về đời sống nông thôn Việt Nam những năm trước Cách mạng tháng Tám. Tác giả trực tiếp phản ánh chế độ thối nát chốn hương thôn và đời sống cực khổ của nông dân bị đẩy đến bước đường cùng. Bao tai nạn chồng chất đè nặng lên vai người nông dân ở một xứ thuộc địa. Đó là nạn Tây đoan bắt rượu lậu, nạn quan lại tham nhũng, nạn sưu cao thuế nặng, nạn cường hào ác bá, nạn phu phen tạp dịch, nạn lụt lội đói kém, tình trạng dốt nát, ăn ở mất vệ sinh cùng bao vấn đề phát sinh khác trong giai đoạn giao thời. Nổi bật hơn hết chính là mâu thuẫn không để điều hòa giữa hai giai cấp: địa chủ và nông dân.
Cốt truyện Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) xoay quanh việc địa chủ Nghị Lại dùng mọi thủ đoạn cướp kỳ được tám sào ruộng của anh Pha. Cùng với anh Pha, mà đúng ra là trước anh Pha, nhiều nông dân khác như Trương Thi, Sam, bác Ích, thị Ánh đều đã bị Nghị Lại lần hồi cướp hết ruộng đất.
Dưới ngòi bút Nguyễn Công Hoan, hình ảnh Nghị Lại hiện lên thật xấu xí và đáng khinh. Dục vọng làm giàu bất chính bộc lộ ra hết ở ngoại hình của hắn. Với “nước da xanh mét, môi thâm xịt, thêm hai nếp nhíu soạc hai bên mép” [3, tr. 25], hắn như muốn hù dọa mọi người. Còn về tính cách, hắn đúng thật là một địa chủ phong kiến già đời, khôn lõi và cực kỳ phản động. Hắn luôn thèm khát nhiều ruộng đất và mong muốn làm giàu bằng cách bóc lột địa tô. Sự thật là hắn đã giàu lên trên mồ hôi nước mắt của dân lành lương thiện.
Hắn thật ma quái với người nông dân nhưng lại tỏ ra ngoan ngoãn và trung thành rất mực với bọn chủ thực dân. Hắn có vẻ thành thạo trong việc xun xoe vồ vập Tây đoan, mời rượu sâm banh và bàn việc đổ tội cho người nông dân nghèo.
Bản chất chính trị phản động của hắn còn bộc lộ ở việc hắn vui vẻ dự một phần vào bộ máy chính quyền do bọn thực dân nặn ra. Hắn là Nghị viên của Viện dân biểu, từng được chính phủ thực dân cho hưởng nhiều phẩm tước, quyền lợi. Chính hắn đã vạch ra kế hoạch kết hợp với Tây đoan khám xét bắt rượu lậu, bắt người, lại bày trò dắt mối, đút lót quan xử án, dựa vào thế lực quan trên chi phối bọn hào lý địa phương. Tóm lại, hắn không từ một thủ đoạn nào để bóc lột nông dân.
Muốn cướp tám sào ruộng nhà anh Pha, Nghị Lại đã đe dọa: “Mày không nên ngu dại, nghe hoặc bắt chước những đứa vô luân thường đạo lý, những đứa ngông cuồng, những đứa cộng sản, làm sách viết báo để chúng nói xấu quan này, nói xấu quan kia. Người ta xấu, người ta cũng là ông quan cai trị mình” [3, tr. 117].
Gần như như vậy, trong Nông dân (Balzac), thay cho bọn Tây đoan và Nghị Lại là hình ảnh của hệ thống nhân vật như bá tước Đờ Mông-cor-nê, Gô-bec-tanh (nguyên là quản lý của trại ấp thời chủ trước, về sau trở thành thị trưởng kiêm tổng đại lý bán gỗ), Rigu (nguyên là thị trưởng bị cắt chức, sau trở thành tay cho vay nặng lãi có uy quyền ở địa phương, keo kiệt, thích đồ ăn ngon và gái đẹp), Xudry (đội trưởng sen đầm, lạnh lùng, tàn ác), Frăng-xoa Tông-xa (một tay sừng sỏ, quen nghề săn trộm, đốn rừng trái phép),…
Ứng với hoàn cảnh cụ thể của nước Pháp lúc bấy giờ thì Nông dân của Balzac được hiểu như một tấm gương soi, lần hồi soi tỏ sự xung đột ngấm ngầm và gay gắt giữa ba thế lực: quý tộc, tư sản và nông dân. Ở đó có tướng Đờ Mông-cor-nê, là bá tước đại diện cho quý tộc thời Đế chế Na-pô-lê-ôn, cùng vợ cũng thuộc dòng dõi quý tộc lâu đời và bạn là Emile Blondet. Họ đã không ngừng tích lũy tư bản thông qua việc mua thêm đất và lâu đài ở nông thôn. Tất cả bọn họ vừa gầm ghè nhau lại cấu kết với nhau, sử dụng cả những thủ đoạn hèn hạ và tàn nhẫn, để khai thác, bóc lột và chiếm đoạt dần ruộng đất ở nông thôn. Đến cuối tác phẩm, trước sự bất lực của chính quyền địa phương, bá tước Đờ Mông-cor-nê đành phải bán ấp lớn ở vùng E-gơ (xứ Buốc-gô-nhơ) và đất đai. Phần lớn đất ấy về sau đã thuộc về bộ ba bọn tư sản đểu cáng (Gô-bec-tanh, Rigu, Xudry), một số ít đất còn lại bị chia nhỏ ra và thuộc về nông dân.
Không bao lâu sau, xung quanh ngôi nhà cao lớn như tòa lâu đài của tên tư sản Gô-bec-tanh, những ngôi nhà tranh thảm hại, tồi tàn của nông dân đồng loạt mọc lên. Thế ra, thời của bá tước Đờ Mông-cor-nê hay thời của tư sản Gô-bec-tanh thì số phận của người nông dân giai đoạn tiền Cách mạng tư sản Pháp 1789 vẫn không có gì thay đổi. Đó vẫn là sự nghèo khổ, đói khát, quẩn quanh.
Có thể nói, trên trang viết của mình, qua những chi tiết chân thực, Balzac đã làm rõ được sự mâu thuẫn gay gắt giữa nông dân nghèo lương thiện với một bộ phận quý tộc, tư sản giàu có và bất lương. Một bộ phận người nông dân đã bị đối xử như lớp người dưới đáy. Họ luôn sống trong tình trạng nghèo khổ, tối tăm thậm chí còn bị đày đọa, chèn ép một cách hung hãn. Vì một cành củi bị mất trộm trong rừng, gã gác rừng cho chủ đất có thể dồn đuổi một bà già như săn một con thú. Hơn nữa, thông qua kết cấu của truyện, kịch tính của Nông dân (Balzac) và Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) cũng được thể hiện rõ. Đó là sự xung đột ngấm ngầm mà gay gắt, khối mâu thuẫn không thể điều hòa được giữa ba thế lực địa chủ, nông dân và giai cấp tư sản đang lên. Ở đó người nông dân luôn phải nhận hết mọi phần thiệt thòi.
Rõ ràng, khi chỉ rõ mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa trong lòng xã hội tư bản, cả hai tác phẩm Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan và Nông dân của Balzac đều có được những ý nghĩa thực tiễn tiến bộ.
Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan chỉ ra một hướng đi tất yếu của người nông dân là đấu tranh, làm cách mạng. Người nông dân gần như bị bọn cường hào ác bá tìm mọi cách để dồn đuổi đến tận chân tường. Họ khổ cực đến mức không thể nhẫn nhịn, chịu nhục như trước được nữa mà đã manh nha hình thành ý thức phản kháng, đấu tranh đòi quyền sống cơ bản.
Tính cách nhân vật anh Pha, trong Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), là kết quả của quá trình phát triển về sự giác ngộ quyền lợi giai cấp và ý thức đấu tranh của người nông dân. Đến cuối tác phẩm, anh Pha từ chỗ khúm núm trước Nghị Lại giờ đã mạnh mẽ khi dùng chiếc đòn gánh phang ngay vào đầu hắn với tiếng hét: “Đồ ăn cướp!”. Đến khi bị trói khiêng đi, anh Pha tỏ ra thật căm hờn với suy nghĩ sẽ bỏ làng ra đi, sẽ ra mỏ với Hòa để thực hiện một dự định gì đó: “Trong đôi môi mím chặt thì biết rằng không phải là đau mà anh không nói, mà chính là anh muốn nuôi trong lòng một mối hận nghìn năm”, “Tôi không ở làng nữa. Tôi không còn gì ở làng nữa. Ngày này sang năm, các anh sẽ biết chuyện tôi” [3, tr. 239].
Như vậy, có thể nói Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) là cái nhìn dự báo của tác giả về hướng chuyển biến tích cực trong nét tính cách của người nông dân những năm trước Cách mạng tháng Tám. Đây là hình tượng nhân vật duy nhất có ý thức đấu tranh trước kẻ thù giai cấp để đòi quyền sống. Ở nhân vật anh Pha có cái gì đó mới mẻ, tiến bộ tuy còn mang tính bộc phát, chưa được chuẩn bị trước. Điều này có thể được giải thích bằng ảnh hưởng của phong trào cách mạng thời kỳ Mặt trận dân chủ đối với tác giả Nguyễn Công Hoan.
Cùng với đó, đồng hành cùng Nông dân (Balzac), người đọc cũng dần hiểu được sự dự báo của tác giả về một kết thúc có tính chất tất yếu. Đó là tấn thảm kịch về quyền lợi sở hữu của giai cấp quý tộc, sự thắng thế không gì cưỡng nổi của giai cấp nông dân cũng như sự sụp đổ không gì cứu vãn nổi của xã hội thượng lưu lúc bấy giờ. Người nông dân trong tác phẩm của Balzac có nhãn quan tiến bộ, có ý thức về giai cấp bóc lột và khả năng dự báo về tương lai. Lão nông dân sáng suốt Fuốc-sông đã nói: “Tôi đã thấy thời cũ và thời mới, kính thưa quý ông rất thông thái, cái biển hàng đã có đổi, nhưng cũng là một thứ rượu mà thôi (…). Các vị muốn làm ông chủ, chúng tôi chẳng có gì, các vị chẳng thể nào được chúng tôi quý mến (…). Sự nguyền rủa của người nghèo, thưa đức ông, cái đó sẽ lớn lên và nó sẽ lớn lên hơn tất cả những cây sồi cao to của quý vị và cây sồi này sẽ trở thành giá treo cổ… Chả một ai tại đây nói lên sự thật với các vị, ấy chính là sự thật đó!” [2, tr. 58]. Balzac ca ngợi vẻ đẹp tinh thần của người nông dân già Ni-zo-wrông, người đã từng tham gia cách mạng trước đây, từng là chủ tịch câu lạc bộ những người Jacobanh, thẩm phán tòa án cách mạng địa phương. Balzac tả cái nghèo của Ni-zo-wrông như là một phẩm hạnh chứ không phải “bước đường cùng”. Với cách mạng, Ni-zo-wrông là một người “cao quý, rắn như thép, tinh khiết như vàng”, “Ni-zo-wrông cho đứa con trai duy nhất của mình ra mặt trận… hiến dâng cả những tài sản riêng, xóa bỏ chút còn lại của chủ nghĩa cá nhân” [2, tr. 93].
Mặt khác, ở cả hai tác phẩm, Balzac và Nguyễn Công Hoan đều chỉ ra được một sự phân hóa khác ngay trong lòng giai cấp nông dân giai đoạn tiền cách mạng. Không phải hễ nông dân là hiền lành, lương thiện và khốn khổ. Như Nicola, con trai của chủ quán rượu Frăng-xoa lại là một tên nông dân hết sức lưu manh. Khi mùa gặt đến, hắn đấm bàn thét lên: “Mùa gặt đến rồi đây, đã vậy chưa nhóm lửa hút thuốc vào đống rơm của bọn chúng thì tao chưa đi khỏi nơi đây” [2, tr. 187]. Về điểm này, người đọc dễ hình dung đến nhân vật Trương Thi trong Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan.



2.2.3. Về phương diện hình thức nghệ thuật
Viết về đề tài người nông dân, cả Balzac và Nguyễn Công Hoan đều đã đạt được những thành công nhất định về phương diện ngôn ngữ diễn đạt. Đọc Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), người đọc dễ nhận ra chuỗi lời ăn tiếng nói vô cùng phong phú của người nông dân Việt Nam xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm. Còn Balzac, khi viết quyển tiểu thuyết Nông dân, ông cũng đã dùng rất nhiều từ ngữ của nông dân, đặc biệt là tiếng lóng của nông dân địa phương, để tạo nên cảm giác về sự thủ cựu, hoang dại của một bộ phận nông dân đương thời. Với hệ thống ngôn ngữ người nông dân được sử dụng phong phú, đa dạng trong Nông dân, Balzac đã “khiến cho kẻ đang câm lặng và đang lặng lẽ chiến đấu cất nên lời” [4, tr. 348].
Cùng với đó, cả hai nhà văn đều đã xây dựng câu chuyện theo trình tự thời gian hợp lý. Ở đó, cả Balzac và Nguyễn Công Hoan đều rất thành công khi xây dựng được những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Đó là những nét tính cách điển hình, diễn biến trong cả một quá trình, hoàn cảnh dựa trên những sự kiện chính của lịch sử xã hội. Đó là sự giải quyết mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh trên cơ sở tính đến một khối lượng lớn những chi tiết cụ thể của nông thôn Pháp và Việt Nam đương thời.
Nhìn chung thì Nông dân (Balzac) và Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) đều là hai quyển tiểu thuyết hiện thực tiêu biểu có những nét tương đồng về phương diện nội dung ý nghĩa và hình thức nghệ thuật. Cả hai tác phẩm đều thể hiện một cái nhìn sâu sắc của nhà văn về cuộc sống nông thôn trong bức tranh tổng thể là hiện thực xã hội Pháp trong thế kỷ XIX và hiện thực xã hội Việt Nam vào thế kỷ XX.
Tuy mức độ về sự phong phú và phức tạp ở mỗi tác phẩm có khác nhau nhưng cả hai tác phẩm đều có chung một điểm đến. Đó là làm nổi bật cuộc đấu tranh giai cấp ở nông thôn, chỉ ra nguyên nhân xã hội khách quan đã tạo nên diễn biến và sự hình thành tính cách nhân vật hiện thực. Nguyên nhân xã hội được thể hiện qua các tình huống, hoàn cảnh cụ thể, chân thực. Từ đó, nhà văn lý giải được những dục vọng và đam mê của các nhân vật. Đó là sự ham muốn, đam mê tranh chấp của cải, giành giật ruộng đất và bóc lột nông dân ở nông thôn của giai cấp tư sản đang lên và một bộ phận của giai cấp địa chủ phong kiến thủ cựu. Vì thế mà nội dung truyện cũng có sự bứt phá khác hẳn so với những truyện đậm tính lãng mạn, thi vị hóa như các tác phẩm của George Sand ở Pháp và truyện ngắn của nhóm Tự lực văn đoàn ở Việt Nam. Đó chính là thành công của tác phẩm cũng như sự đóng góp đáng ghi nhận của hai nhà văn lớn đối với nền văn học dân tộc trong một giai đoạn văn học có tính lịch sử cụ thể.



3. Kết luận
Trong hoàn cảnh Việt Nam là thuộc địa của Pháp, Balzac lại là nhà văn hiện thực tiêu biểu của văn học Pháp đã xuất hiện và thành công trước Nguyễn Công Hoan gần một thế kỷ, rất có thể Nguyễn Công Hoan đã đọc và chịu ảnh hưởng từ những tác phẩm hiện thực của Balzac. Nếu có thì đây cũng là một lẽ bình thường, một biểu hiện cụ thể về sự ảnh hưởng của văn học Pháp đến một bộ phận nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945. Nên hiểu sự học tập và chịu ảnh hưởng này như thế nào để người nghiên cứu không mơ hồ giữa sự gặp gỡ ngẫu nhiên giữa các nhà văn lớn khi cùng quan tâm đến các vấn đề muôn thuở của nhân loại với những tác phẩm có tính chất phóng tác đơn thuần. Như hiện tượng tác phẩm Ngọn cỏ gió đùa của Hồ Biểu Chánh là kết quả được phóng tác từ tiểu thuyết Những người khốn khổ của Victor Hugo.
Văn học so sánh đã, đang và sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự thật của những chân giá trị đó.
Trong quá trình hội nhập, trong sự so sánh đối chiếu các thành tựu tiêu biểu của các nền văn học khác nhau,
văn học so sánh giúp mỗi dân tộc hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa của dân tộc mình, hiểu được những gì mà dân tộc mình cần học hỏi và phát huy. Đây cũng là tư tưởng chủ đạo của tiến trình hiện đại hóa xã hội Việt Nam, như cách nói của Huỳnh Như Phúc trong Tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: “Nhìn từ góc độ văn hóa, tiến trình hiện đại hóa xã hội Việt Nam chính là quá trình Việt Nam nỗ lực vượt thoát ra khỏi vòng ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa để tiếp cận với văn minh phương Tây” [5, tr. 606].
Chính nghĩa đi từ nước này sang nước khác không cần giấy thông hành, nghệ thuật chân chính thì không biên giới. Với thủ pháp so sánh khi tìm đọc Nông dân (Balzac) và Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), bài viết đã tìm được một minh chứng cụ thể cho chân lý trên, góp phần xác lập điểm gặp gỡ thú vị giữa hai nhà văn lớn cũng như chỉ ra được những đặc sắc làm nên giá trị riêng của từng tác phẩm.




TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Đức Dục (2002), Hônôrê Đơ Banzăc – một bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực, Nxb Hải Phòng, Hải phòng
2. Honere de Balzac (1981), Nông dân, (dịch giả Trọng Đức), Nxb Văn học, Hà Nội
3. Nguyễn Công Hoan (2014), Bước đường cùng, Nxb Văn học, Hà Nội
4. Nhiều tác giả (2001), Văn học phương Tây, Nxb Giáo dục, Hà Nội
5. Đoàn Lê Giang (chủ biên), (2011), Văn học cận đại Đông Á –từ góc nhìn so sánh, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh




THE FARMERS BY HONORE DE BALZAC AND THE DEAD END BY NGUYEN CONG HOAN: A COMPARATIVE ANALYSIS ABSTRACT
While Honore de Balzac was a great realist writer of France in the nineteenth century, Nguyen Cong Hoan was also one of the typical writers of the trend of Vietnamese realist literature in the years before the August revolution. The huge and voluminous literary career of the two masters of realism writers has always received the interest and admiration of many generations of readers. The following article is an author's research in analyzing the two works of “The Farmers” by Balzac and “The Dead End” by Nguyen Cong Hoan under a comparative perspective. Thereby establishing an interesting meeting point between two great writers as well as pointing out the characteristics that create the unique value of each work.
Keywords: Balzac, Nguyen Cong Hoan, The Farmers, The Dead End, Realism, Comparative
(Received: 14/9/2021, Revised: 27/11/2021, Accepted for publication: 17/12/2021)




Thứ Ba, 16 tháng 5, 2023

[Review] Bước đường cùng – Cuốn sách hiện thực hay nhất


[Review] Bước đường cùng –
Cuốn sách hiện thực hay nhất

An Hạ


Là người yêu sách văn học Việt Nam, chắc chắn bạn đã không khỏi chứng kiến biết bao nhiêu là tác phẩm truyện ngắn vô cùng đặc sắc. Những cây bút dũng cảm dám lên án tố cáo chế độ thực dân nửa phong kiến, bênh vực, tìm lại công bằng cho người nghèo. “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan cũng là một cái tên trong số đó. Ông đã đưa người đọc quay về quá khứ xưa cũ, vẽ nên những bức tranh của những kẻ tàn ác bóc lột. Nghe thôi thì cũng thấy xót xa đúng không nào, sau đây hãy cùng chúng tôi tìm hiểu chi tiết về tác phẩm này nhé.


NỘI DUNG
  1. Tác giả Nguyễn Công Hoan - chủ nhân tác phẩm Bước đường cùng
  2. Nội dung chính của tác phẩm Bước đường cùng
  3. Những hình ảnh đối lập trong Bước đường cùng
  4. Những lời nhận xét về tác phẩm Bước đường cùng


1. Tác giả Nguyễn Công Hoan - chủ nhân tác phẩm Bước đường cùng

Nguyễn Công Hoan vốn quê ở làng Xuân Cầu, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nay thuộc tỉnh Hưng Yên Ông được sinh ra trong một gia đình quan lại xuất thân Nho học nhưng lại bị thất thế. Chính vì thế mà từ nhỏ Nguyễn Công Hoan đã nghe và thuộc được rất nhiều câu đối câu thơ và những giai thoại có tính chất châm biếm, đả kích tầng lớp quan lại. Điều đó đã ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến phong cách văn chương của ông khoảng thời gian sau này.
Năm 1926, ông đã được tốt nghiệp cao đẳng sư phạm và làm nghề dạy học ở nhiều tỉnh thành khác nhau như: Hải Dương, Lào Cai, Nam Định,… cho đến thời điểm Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Năm 1920, tác phẩm đầu tay Kiếp hồng nhan của ông được ra đời là một đóng góp to lớn cho nền văn xuôi Việt Nam bằng chữ Quốc ngữ. Trên đà phát triển, ông tiếp tục cho ra mắt tác phẩm “Bước đường cùng” chiếm được nhiều trái tim của độc giả. Năm 1977, ông mất đi tại Hà Nội để lại hơn 500 tác phẩm có giá trị cùng với sự nuối tiếc nơi người đọc.



2. Nội dung chính của tác phẩm Bước đường cùng

Trong tác phẩm “Bước đường cùng” Nguyễn Công Hoan đã xây dựng lên những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình. Phác họa nên một bức tranh chân thực với ánh nhìn đa chiều về sự bóc lột tàn nhẫn của địa chủ, sự bất công, áp bức của quan lại tham nhũng chốn hương thôn ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám… Tất cả đã đẩy người nông dân vào đường cùng, buộc họ phải vùng lên phản kháng.

Dự đoán được kết quả
Cho ra đời tác phẩm “Bước đường cùng”, Nguyễn Công Hoan cũng đã đoán trước được hậu quả mà nó mang lại. Thế nào sách cũng bị bọn nó cấm không cho dân ta đọc, và rất có thể chính ông còn bị truy tố nữa. Thế nhưng ông cũng chả sợ mà nghĩ rằng, kết tội ông nặng lắm cũng chỉ từ một đến năm năm là cùng. Rồi ông cũng lại về quê và viết tiếp, ông nào biết sợ. Phải nói đây là do ông bướng hay dòng máu Lạc Hồng khiến ông không kìm nổi được lòng mà phải lên án cho tất cả mọi người cùng biết, vạch trần bộ mặt xấu xa của chúng ra.
Và đúng như những gì ông dự đoán, sau khi sách ra mắt, phía Mặt trận Dân chủ ngợi ca ông bao nhiêu thì chính quyền thực dân lại tá hỏa bấy nhiêu. Nhưng ông cũng không để thua bọn nó, nắm trước được tình hình Nguyễn Công Hoan và nhà xuất bản đã tương kế tựu kế. Sách phải được bán đầu tiên ở Bắc, đến khi cấm ở Bắc thì cho vào Trung, Trung cũng cấm thì chuyển vào Nam.
Cuối cùng, ông cũng bán đi sạch hết năm nghìn cuốn “Bước đường cùng” làm cho bọn thực dân vô cùng nóng giận.

Phác họa đôi nét về hoàn cảnh anh Pha
Tác phẩm “Bước đường cùng” kể về một anh nông dân nghèo có tên Pha. Cuộc đời anh không có gì đau đớn hơn khi bị đẩy vào tuyệt lộ vì những thói hư tật xấu của bọn quan lại và đế quốc. Vợ chồng anh thất học nên không hiểu biết nhiều, bị địa chủ giở trò cướp hết đất đai, nhà cửa phải quay về với đôi bàn tay trắng. Tên địa chủ Nghị Lại đại gian ác đã gây ra thảm cảnh đó. Hắn bày ra hàng trăm mưu kế để vơ vét của cải, tiền bạc của dân lành. Gã dụ dân vay tiền lúc họ túng thiếu, nhưng nhất quyết không cho trả nợ sớm phải để lãi mẹ đẻ lãi con đến khi người dân không trả nổi thì thôi.
Quan lại thì cấu kết, móc nối với bọn thực dân để hành hạ dân đen thấp cổ bé họng. Từ quan to trên cao cho tới cai tù phía dưới, tên nào cũng giở trò để hiếp đáp những người dân nghèo bất hạnh. Lúc đầu, những người dân sống riêng lẻ cũng vì chưa hiểu rõ mà chỉ biết ghen ghét, kèn cựa lẫn nhau. Như vợ chồng Pha với Trương Thi đã cãi nhau vì chúng nó lấy tên bố của vợ chồng anh mà đặt cho con nó. Về sau, khi đã bị bọn địa chủ phong kiến, thú đội lốt người bóc lột đến cạn kiệt họ mới biết hợp sức để chống lại đế quốc.

Cuộc đấu tranh thất bại
Nhưng dù có hợp sức đến đâu có đông đủ cách mấy thì tiếng nói của người dân thấp cổ bé họng cũng chỉ là hạt muối bỏ vào bể nước bè phái của bọn địa chủ phong kiến. Khi nào đế quốc còn tồn tại, khi ấy cuộc đấu tranh của nông dân còn bị đàn áp, người dân vẫn phải chịu khổ đau, sống trong một cuộc sống không công bằng và thiếu đi công lý. Cuối truyện, nhân vật Pha đã vùng dậy phang vào đầu Nghị Lại với tất cả sự thù hận và uất ức. Pha bị trói lập tức, nghiến răng, nhắm chặt mắt mặc cho dòng lệ nóng tuôn trào. Đây cũng là cái kết dành cho những ai phản lại chúng nó, hoàn toàn đau đớn và uất nghẹn.



3. Những hình ảnh đối lập trong Bước đường cùng

Những mảng màu đối lập trong một bức tranh hiện thực là điểm thành công nhất của tác giả Nguyễn Công Hoan. Một mặt là đám đế quốc quan tham. Mang tiếng là lo lắng hết mực cho dân nhưng chúng chỉ biết tổ chức những cuộc ăn chơi thâu đêm, cờ bạc rượu chè, tổ chức những buổi lễ giỗ hay tiệc tùng vô cớ.
Chúng tống giam người dân vô tội rồi đánh đập vì không mang tiền đến lễ đúng hẹn. Mỗi lần thuế đến, người dân bắt đầu nơm nớp lo sợ. Bọn lính cơ về làng trói bắt, cùm kẹp người dân nếu ai không đủ tiền nộp thuế cho chúng. Những con người thấp bé trong xã hội chỉ biết câm lặng chẳng dám buông một lời than thở.



4. Những lời nhận xét về tác phẩm Bước đường cùng

Nhà văn Nguyễn Công Hoan chính là tay viết tài ba trong việc đẩy cảm xúc của người đọc lên đến đỉnh điểm. Đọc cuốn “Bước đường cùng”, cảm xúc mà người đọc đón nhận là không khỏi căm tức, sục sôi và thương cảm cho những số phận người dân nghèo khổ bị bọn quan tham đẩy vào bế tắc. Đoạn cuối tác giả còn nhấn sâu vào cảm xúc của Pha, cái thời đại mà họ không được ăn ngon, không được mặc đẹp, không được thấy ánh sáng của công bằng và công lý.
Tất cả chỉ là ánh mắt căm thù ngước nhìn và chịu đựng.

Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan là một tác phẩm kinh điển được đánh giá là tác phẩm truyện ngắn xuất sắc nhất Việt Nam. Ông đánh được vào tâm lý người đọc, ông biết được thời cuộc mà phác họa nó một cách chính xác nhất. Đông thời, không chỉ mình cây bút này yêu nước, mà ông còn lan tỏa nguồn năng lượng ấy cho chính độc giả của mình.

An Hạ







Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2023

Bước đường cùng - Chủ nghĩa hiện thực phê phán đặc sắc


Bước đường cùng -
Chủ nghĩa hiện thực phê phán đặc sắc

Thảo Nguyên


Nguyễn Công Hoan, nhà văn của chủ nghĩa hiện thực phê phán, tiếp cận đề tài này theo cách rất khác, đó là khía cạnh châm biếm, đả kích sâu sắc. “Bước đường cùng” là một tác phẩm mà khi nó ra đời, đã tạo nên sức ảnh hưởng vô cùng lớn mà chính thực dân Pháp coi là một mối hại lớn. Tác phẩm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phản ánh hiện thực, phê phán đả kích mạnh mẽ chế độ thực dân phong kiến

Hoàn cảnh điển hình
Viết đối với Nguyễn Công Hoan trước hết là sự trang trải với cuộc đời và số phận của những con người mà trái tim nhạy cảm của ông, tấm lòng nhân ái, biết đau đời của ông, tình yêu thương đồng loại sâu xa nơi ông, đã khiến ông phải vì nó mà đa mang. Viết với ông, như là một phương cách, để ông gửi gắm những tình cảm yêu thương hay căm giận, bênh vực, bảo vệ hay phê phán, đả phá, chở che, san sẻ hay bóc trần, tố cáo. Nhà văn ám ảnh rất nhiều bởi hiện thực cuộc sống nơi ông trưởng thành. Đó là một xã hội Việt Nam tù túng chật hẹp. Người với người chán ghét lẫn nhau. Nông dân oằn mình chống trả những đòn đánh của chế độ thực dân - phong kiến, thoi thóp sống như những con cá mắc lưới. Quan lại địa chỉ ra sức bóc lột nhân dân. Trong “Bước đường cùng”, Nguyễn Công Hoan đã phán ánh rất rõ tính chất tham lam vô độ và xảo quyệt của tầng lớp địa chủ, điển hình ở đây là Nghị Lại. Tên địa chủ cực kì gian ác, hưởng hạnh phúc giàu sang trên chính máu của đồng loại. Cái hiện thực ấy, nó lột trần bộ mặt tởm hợm thối nát của chính quyền thực dân nửa phong kiến và bọn địa chủ ăn trên ngồi trốc.

Khác với những nhà văn hiện thực cùng thời như Nam Cao, hay Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan đem đến những thước phim về hiện thực hoàn toàn khác biệt khi xây dựng bi kịch của người dân bắt nguồn một phần từ chính sự giốt nát, kém hiểu biết của họ. Trong “Bước đường cùng”, Nguyễn Công Hoan cũng đã để cho Pha và bác Tân trai nhận ra một sự thực xót xa rằng:
“Rút cục chỉ dân chết, chết vì nạn nhà giàu, chết vì nạn quan. Dân quê còn chết về nhiều cái nạn khác nữa, nạn ăn ở bẩn thỉu, dại dột, sưu cao thuế nặng, nạn lụt, nạn đại hạn, nạn hủ lậu, rút cục nạn gì cũng do cái dốt nát nó đẻ ra cả.”
Biết là cái dốt nát nó đẻ ra những ngọn những nguồn, nhưng đến khi vợ con chết cả và gặp lại anh trai Hòa thì Pha mới khát khao cái sự học, mới khát khao tìm cách để biết, để khôn, để không ai có thể bắt nạt nổi, như Dự, như Hòa. Chính bởi sự kém hiểu biết, Pha và Thi mới bị lợi dụng. Nghị Lại xúi Trương Thi kiện Pha, rồi lại xúi Pha kiện Trương Thi, hứa cho cả hai người vay tiền lo kiện và nói lót với quan cho cả hai! Pha lên huyện hầu kiện, bị lính lệ hạch sách, đánh đấm, cướp giật, lại bị quan ra lệnh tống giam vì không mang tiền “lễ”. Đến khi vợ đem tiền đến, anh mới được tha về. Nghị Lại đến dụ dỗ, Pha lại phải vay thêm lão hai chục để “tạ quan”! Bá Tân, người anh vợ có chữ nghĩa của Pha, bàn với Pha tìm cách trả kỳ được món nợ của Nghị Lại. Nhưng lão đã có chủ ý, nhất định chưa nhận. Vì vậy sự dốt nhát trong quần chúng là kẻ thù cần tiêu diệt đầu tiên. Đây chính là hoàn cảnh điển hình trong những tác phẩm thời kì này.

Nhân vật điển hình
Nhân vật chính trong tác phẩm này là Pha, điển hình cho những người nông dân lúc bấy giờ. Là đại diện cho tầng lớp bị bóc lột, nằm ở tận cùng của xã hội, chịu sự đàn áp mạnh mẽ của những tầng lớp trên. Anh Pha là điển hình cho hiện thực đất nước một cổ hai tròng, đã mất đi sự tự do độc lập, trở thành kiếp trâu ngựa cho chủ nghĩa thực dân:
“Pha giơ hai cánh tay bị trói lên trời, nắm chặt bàn tay run run vào ngực để tỏ nỗi căm hờn, nghiến răng, rồi nhắm nghiền mắt lại, kệ cho hai dòng lệ nó tuôn ra, và kệ cho ba anh em theo mình, không biết đến đâu mới trở lại...”
Cuộc đời của anh là cuộc đời của hàng ngàn con người khác trong xã hôi thời bấy giờ, hoặc không nhà không cửa, hoặc bị tước đoạt đi cuộc sống của chính mình.

Pha đại diện cho người nông dân, về cả hoàn cảnh, ý chí sức mạnh của họ song cũng cả phần u mê của những người dân bị chính sách của Pháp tác động. Người nông dân sống riêng lẻ lại hay vì những quyền lợi nhỏ nhặt mà thù hằn nhau, như vợ chồng Pha và nhà Trương Thi ghét nhau, chỉ vì chỗ hàng xóm với nhau mà nó đi lấy tên bố mình đặt cho con nó thì tội gì mình không báo thù.

Cái hận thù nhỏ bé vô tình giết chết cuộc cách mạng lớn, ngáng đường dành độc lập tự do của dân tộc.

Con đường hiếm hoi được khai sáng cho những người nông dân
Tất cả các tác phẩm hiện thực phê phán những năm 1945 đều đi vào bế tắc, các nhân vật chết trong tức tưởi, hoặc sống kiếp đời thừa. “Bước đường cùng” cũng không ngoại lệ khi kết thúc, Pha bị bắt cũng với nỗi uất nghẹn dâng trào. Song khác với các tác phẩm khác, tác phẩm có mầm mống của sự đấu tranh. Đó là hình ảnh Pha đứng dậy chống lại Nghị Lại, báo hiệu cho cuộc nổi dậy ắt hẳn sẽ đến của những người nông dân đã không còn chịu đựng.

Tác phẩm kêu gọi những người nông dân đoàn kết và học hỏi, biết cùng nhau đứng lên đấu tranh giải phóng cho chính bản thân mình. Đó là lý do vì sao, khi “Bước đường cùng” ra đời, thực dân Pháp đã e sợ. Quan điểm của nhà văn chưa rõ ràng, mạnh mẽ nhưng đã manh nha phát triển. Họp nhau mà gặt, họp nhau mà đánh, họp nhau mà lý luận… Nguyễn Công Hoan đã mở cho người nông dân những cánh cửa về việc ý thức được cái dốt để mà ra sức mở mang tri thức, về việc ý thức được sức mạnh của đoàn kết để mà biết hợp tác với nhau chống lại giai cấp cai trị bóc lột.

“Bước đường cùng” xứng đáng là một tác phẩm tiêu biểu cho chủ nghĩa hiện thực phê phán thời kì trước 1945. Cái sâu cay, cái đau đớn được lột tả xuất sắc, đem lại những thước phim chân thực nhất.

Thảo Nguyên