Nghị luận tác phẩm truyện:
Bước đường cùng - Nguyễn Công Hoan
Joe Mirabel
Sưu tầm các tác phẩm của Nhà văn Nguyễn Công Hoan và các bài viết về Ông có trên mạng.
Đại gia đình nhà văn Nguyễn Công Hoan trong bức ảnh chụp Tết Giáp Thìn 1964, trước khi đồng chí Nguyễn Tài (bìa phải) bí mật lên đường vào chiến trường miền Nam."Để phổ cập trong quần chúng tinh thần mới của Công an, để thắt chặt tình liên lạc giữa anh em cùng một ngành hoạt động trong toàn quốc, Việt Nam Công an vụ cho xuất bản tờ Công an mới.
Đứng về phương diện Báo, Công an mới sẽ có những mục điều tra, phóng sự, tường thuật viết theo tài liệu xác thực và đầy đủ, những sản phẩm đặc biệt của Công an mà chỉ Công an mới có. Gây một tinh thần vui vẻ, gợi khiếu tò mò, nhận xét của độc giả, phổ cập những thường thức về những vấn đề xã hội, luật pháp, chuyên nghiệp của Công an... Đó cũng là một phần chính của tờ Công an mới”.Việc chỉ đạo ra báo và tổ chức bộ máy của tờ Công an mới lúc này rất gọn nhẹ, gồm: Chỉ đạo xuất bản báo là đồng chí Lê Giản, Giám đốc Việt Nam Công an vụ; xin giấy phép xuất bản: Nguyễn Tài, Bí thư Đoàn Công an cứu quốc; Chủ nhiệm báo: Nguyễn Tuấn Thức; Chủ bút: Phan Mạnh Hân (tức Đào Văn Bảo); ủy viên Trị sự: Phùng Duy Tiếu… Theo sự phân công, với danh nghĩa là Bí thư tổ chức Đoàn Công an cứu quốc, đồng chí Nguyễn Tài đứng ra xin giấy phép hoạt động cho tờ báo có tên là Công an mới. Người cấp giấy phép chính là thân phụ của ông, nhà văn nổi tiếng Nguyễn Công Hoan, khi đó giữ cương vị Giám đốc Kiểm duyệt Bắc Bộ. Do vậy sau này, các tư liệu, tài liệu lịch sử báo chí CAND đều trân trọng ghi nhận hai ông là những “Chứng nhân lịch sử” đã giữ vai trò chủ chốt khai sinh Báo CAND. Trụ sở Báo CAND tại 66 Thợ Nhuộm trước đây và phòng truyền thống Báo CAND hiện nay tại số 2A Đinh Lễ (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) đều đặt trang trọng bức tượng nhà văn Nguyễn Công Hoan, cùng một số tư liệu về Anh hùng LLVTND Nguyễn Tài.
Tượng bán thân nhà văn Nguyễn Công Hoan tại Phòng truyền thống Báo CAND (số 2A Đinh Lễ, phường Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội).“Bố tôi có tên khai sinh là Nguyễn Tài Đông. Lúc sinh thời, bố tôi lý giải:
Nguyễn là họ; Tài là tên đệm được đặt theo quy ước của dòng họ để phân biệt thế hệ; Đông là lấy theo nơi sinh, vì ông được sinh ra ở thị xã Hải Dương, khi đó gọi là phố Đông. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông lấy bí danh là Nguyễn Tài. Về sau ông dùng luôn tên này trong công tác, và dần dần hầu như mọi người quên mất tên thật của ông” …
“Sau này, bố tôi học và sử dụng thành thạo máy tính để cập nhật thông tin và soạn thảo văn bản, tài liệu”.
“Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn được giải phóng. Lúc 9 giờ tối ngày 4/5/1975, ở nhà nhận được tin bố còn sống, ông đi bộ ngay trong buổi tối ấy sang nhà cô Minh, là em ruột bố tôi, nhà ở số 72 Lý thường Kiệt. Đến nơi, ông không vào nhà, chỉ đứng ở cửa nói với cô Minh: “Anh Tài còn sống!”. Rồi ông tôi quay gót, xuống cầu thang đi về luôn. Bao nhiêu buồn lo được trút bỏ; ông bà tôi mong ngày được gặp mặt con trai để thỏa lòng thương nhớ xen lẫn cảm xúc tự hào”.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan (bìa phải) và 4 cháu nội
Bàn làm việc cùng những vật dụng của nhà văn Nguyễn Công Hoan và con trai, Anh hùng LLVTND Nguyễn Tài. “Nhận mệnh trời, vận số hưng thịnh Chế của Hoàng đế, rằng: Trẫm lập nền chính trị, dùng người theo chế độ luận công, xét tài mà đặt chức vị khiến công việc phù hợp với năng lực.
Nghĩ khanh, giáo học Nguyễn Công Hoan, có tài năng văn học, tài khí đáng trọng, có tác dụng bồi dưỡng danh giá, tiếp tục tiến lên, làm quan thận trọng, trong sạch chuyên cần, không lúc nào quên. Thật đáng khen khanh ở triều đình.
Nay thăng (cho khanh làm) chức Phụng nghị Đại phu, Hàn lâm viện thị độc, ban cho chế này. Mong khanh xứng đáng là bậc mô phạm, giáo dục người, làm nòng cốt cho đất nước để xứng đáng với sự trọng văn (của trẫm).
Kính thay!”
Gia đình nhà văn trân trọng đón nhận phiên bản chế phong của vua Bảo Đại ban khen giáo học Nguyễn Công Hoan.
Chị Nguyễn Ngọc Đoan, cháu nội nhà văn Nguyễn Công Hoan, giới thiệu về bức Chế phong của vua Bảo Đại ban khen giáo học Nguyễn Công Hoan.
Công diễn vở mới Tinh thần thể dục
Nhà văn Nguyễn Công Hoan (bìa phải) và 4 cháu nội“Con ơi, hơn mười một năm rồi bao nỗi lo sợ, nhớ mong, nay được tin con còn sống, mừng rỡ vô cùng,... Hôm giải phóng Sài Gòn càng mừng lại hồi hộp mong tin con,..., đến 12 giờ trưa hôm 5,... điện của ông bộ trưởng gửi về, nói là sức khỏe anh Tài tốt, hơi gầy, cần ở lại công tác, xin cho chị Bắc vào ngay gặp anh Tài. Tin ấy rõ quá, thấy con được tiếp tục công tác thì bố mẹ mừng lắm, nếu vì nhẽ gì mà con không tiếp tục được công tác thì cũng đáng tiếc. Mẹ cũng hiểu như thế, nhưng sao lòng nó vẫn bàng hoàng như chiêm bao vì vẫn chưa trông thấy con; giá được gặp con mà ôm con cho hả dạ....”.Ông thì viết:
“Điện của con, đến chiều ngày 9 mới tới... Thế là nhà biết đích xác con bị bắt ngày nào, được ra ngày nào và ở đâu. Lại cũng biết sơ sơ các ngày con ở trong tù,... và cũng có thể tưởng tượng được sức chịu đựng gian khổ và tinh thần bất khuất của con... Cậu cũng biết là Đảng hết sức cứu con và có theo dõi những chỗ ở... Nghe con nói nó bắt ngồi thức liền 14 đêm ngày thì thấy nó ghê thật, mà con đã thắng được nó, thì ai cũng phải khâm phục...”.Ngày 29/6/1975, tại nhà 66 Thợ Nhuộm, ông bà và chúng tôi vui mừng đón bố tôi trở về sau hơn 11 năm xa cách, nhớ mong. Chỉ khi ông bà được tận mắt nhìn thấy con, tận tay ôm con vào lòng, niềm vui mới được trọn vẹn.
Bàn làm việc cùng những vật dụng của nhà văn Nguyễn Công Hoan và con trai, Anh hùng LLVTND Nguyễn Tài.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan và cháu gái Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Ngọc Đoan (tháng 7/1971), sau lưng là bụi tre đằng ngà.
Vợ chồng Nhà văn Nguyễn Công Hoan và 2 cháu trai Nguyễn Trường Thống Nhất (bìa trái), Nguyễn Trường Đại, năm 1973.
Vợ chồng Nhà văn Nguyễn Công Hoan và con trai Nguyễn Tài mới ở miền Nam trở về sau hơn 11 năm xa cách (29/6/1975).Nghĩ khanh, giáo học Nguyễn Công Hoan, có tài năng văn học, tài khí đáng trọng, có tác dụng bồi dưỡng danh giá, tiếp tục tiến lên, làm quan thận trọng, trong sạch chuyên cần, không lúc nào quên. Thật đáng khen khanh ở triều đình...
Gia đình nhà văn trân trọng đón nhận phiên bản chế phong của vua Bảo Đại ban khen giáo học Nguyễn Công Hoan.“Nhận mệnh trời, vận số hưng thịnh Chế của Hoàng đế, rằng: Trẫm lập nền chính trị, dùng người theo chế độ luận công, xét tài mà đặt chức vị khiến công việc phù hợp với năng lực.
Nghĩ khanh, giáo học Nguyễn Công Hoan, có tài năng văn học, tài khí đáng trọng, có tác dụng bồi dưỡng danh giá, tiếp tục tiến lên, làm quan thận trọng, trong sạch chuyên cần, không lúc nào quên. Thật đáng khen khanh ở triều đình.
Nay thăng (cho khanh làm) chức Phụng nghị Đại phu, Hàn lâm viện thị độc, ban cho chế này. Mong khanh xứng đáng là bậc mô phạm, giáo dục người, làm nòng cốt cho đất nước để xứng đáng với sự trọng văn (của trẫm).
Kính thay!”
Tóm tắt: Bài viết vận dụng lý thuyết ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật để phân tích, so sánh, đánh giá sự độc đáo, hấp dẫn trong phát huy khả năng diễn đạt của tiếng nói dân tộc như một nét duyên tạo nên phong cách truyện ngắn Nguyễn Công Hoan nói riêng, truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 nói chung. Nghiên cứu giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là vấn đề có ý nghĩa lí luận - lịch sử cấp thiết nhằm làm nổi bật những đóng góp quan trọng của nhà văn không chỉ cho nền văn học nước nhà giai đoạn 30-45 mà còn khẳng định những đóng góp quan trọng của dòng văn học hiện thực phê phán giai đoạn này.
Từ khoá: Ngôn ngữ, trần thuật, giọng điệu
Nhận bài ngày 22.1.2019; gửi phản biện, chỉnh sửa, duyệt đăng ngày 21.2.2019
Liên hệ tác giả: Nguyễn Thị Huệ; Email: huehue1167@gmail.com
“Tôi đặt nhiều công phu vào việc viết truyện ngắn, chứ không phải vào việc viết truyện dài. Tôi chỉ viết truyện dài khi nào tôi lười đi tìm đề tài để viết truyện ngắn”.Ngay lập tức, văn đàn đã coi đó là lời tuyên ngôn của Nguyễn Công Hoan và tập trung sự chú ý nhiều hơn vào các truyện ngắn của ông. Và cũng ngay tại thời điểm những năm 1930-1945, Nguyễn Công Hoan đã là một trong năm cây bút có tên tuổi nhất, vững vàng nhất góp phần định hình dòng văn học hiện thực phê phán. Gần 70 năm đã trôi qua, nhiều công trình nghiên cứu về cuộc đời,
“Dạ, thậm cấp, thậm cấp, chí nguy, chí nguy! Quân nước Phiên đã kéo đến Lâm Truy, cách kinh kỳ có ba kilomet”.Giễu nhại ngôn ngữ của giới thượng lưu trí thức thời Tây trong “Cái ví ấy của ai”:
“Chớ khinh lui, lui nhảy không sai nhịp, mà lại đưa cavalière nhẹ nhàng mà sinh lắng. Moi vẫn chịu lui cái lối vừa nhảy vừa trò chuyện tự nhiên. Rồi toi nhận mà xem, vai lui rất thẳng, không động đậy, tay cũng vậy, chân đi khép, êm ái mà không bao giờ đụng chân vào cavalière”,nhại giọng nhõng nhẽo của những tiểu thư nhà giàu (Nỗi lòng ai tỏ); nhại ngôn ngữ nhà giáo (Thầy cáu)
“Trong khi đi đường tai ông không lúc nào ngớt nghe ca tụng và luôn luôn ông đắc chí, vì ông Sứ đã vô tình làm bữa cỗ cho ông xơi” (Phúc tinh).Trong những trường hợp như trên, lời văn giễu nhại trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đã kéo những gì nghiêm túc, cao cả xuống thành cái tầm thường, bóc trần cái lớp son phấn bên ngoài hào nhoáng, phơi bày ra những cái giả dối, lố bịch thật đáng cười.
“Kếu là nghĩa thế nào? Nghĩ bao nhiêu, cô lại oán cha trách mẹ, không đặt cho cô cái tên mỹ miều. Mà chữ Nho, mà thiếu gì tiếng hay, sao cô chịu mang mãi cái tên nôm na xấu xí ấy mãi. Nhất là khi đi ngoài phố, hay ở chỗ đông người, mà mẹ cô gọi: Kếu ơi! Thì cô đỏ mặt tía tai, hậm hực lấy làm ngượng quá!... Cái tên đã là “Ka êu sắc”, mà ăn mặc lại lối cổ! Ấy thế mà cũng mang tiếng là con gái Hàng Đào!...” (Cô Kếu, gái tân thời).Mở đầu truyện ngắn “Đồng hào có ma”, tác giả bộc lộ rõ cái giọng hài hước pha với châm biếm. Ngay khi vào truyện, Nguyễn Công Hoan vừa miêu tả ngoại hình, vừa bình luận, vừa “hồn nhiên” phơi bày, tố cáo bản chất tham lam, độc ác, thói ti tiện, hống hách, ngang ngược của tên tri huyện:
“Tôi cực lực công kích sách vệ sinh đã dạy ta ăn uống phải sạch sẽ, nếu ta muốn được khỏe mạnh, béo tốt. Thuyết ấy sai. Trăm lần sai! Nghìn lần sai! Vì tôi thấy sự thực, ở đời này, bao nhiêu anh béo, khỏe, đều là những anh thích ăn bẩn cả? Thì đấy, các ngài cứ nhìn ông huyện Hinh, hẳn cái ngài phải chịu ngay rằng tôi không nói đùa.Chính cái giọng hài hước, mỉa mai châm biếm này đã góp phần phơi bày “chân tướng” của huyện Hinh mà không cần dùng đến nhiều chi tiết cụ thể miêu tả ngoại hình hay những hành động thị uy, tiểu nhân thâm độc, hại người của hắn.
Chà! Chà! Béo ơi là béo! Béo đến nỗi giá có thằng dân nào vô ý, buột mồm ra nói một câu sáo rằng: “Nhờ bóng quan lớn”, là ông tưởng ngay nó nói xỏ ông. Tức thì, mặt bàn là một, mặt nó là hai, bị vả đôm đốp. Mà rồi thằng khốn nạn ấy, ông truy cho đến cùng, không còn có thể làm ăn mở mày mở mặt ra được. Bởi vì ông có sẵn trong tay hàng mớ pháp luật, thì ông ngại gì không khép thằng bảo quan béo vào tội “làm rối cuộc trị an”. Thế là việc công việc tư, ông đều được trọn vẹn. Vì không những ông được hả giận, lại còn được tiếng mẫn cán là khác nữa”.
“Tất cả những cái gì nực cười đều gần gũi Tiếng cười có sức mạnh tuyệt vời kéo đối tượng lại gần, tiếng cười lôi cuốn đối tượng vào khu vực tiếp xúc thân mật đến thô bạo, ở đó có thể suồng sã, sờ mó nó từ khắp phía”.Giọng điệu suồng sã của Nguyễn Công Hoan, xét đến cùng, bắt nguồn từ quan niệm về nhân sinh và nghệ thuật của ông. Cũng như nhà văn Pháp H.de.Balzac, ông quan niệm xã hội chỉ là một tấn trò đời, với những tấn kịch, trò hề, nhơ bẩn đểu cáng xỏ xiên, cần gì đến thứ văn chương đạo mạo, lễ nghĩa, sang trọng, bóng bẩy. Đối với ông, trong xã hội đương thời không có sự phân biệt cao cả, thấp hèn, trang trọng, thông tục. Văn ông muốn lột trần tất cả để thấy ai cũng như ai. Do đó mà nhiều từ Hán Việt, nhiều cách nói, diễn tả, thể hiện văn vẻ, cầu kì vốn chỉ để diễn tả sự vật hiện tượng với sắc thái trang trọng trong văn ông lại dùng để gây cười. Trong truyện “Thầy cáu”, tác giả viết:
“Lắm đứa sợ thầy đánh, hoặc vô ý không biết, cứ đưa cả vào lớp cho thầy và bạn hưởng chung cái tác phẩm của nhà soạn nhạc ẩn danh”.“Tác phẩm” của “nhà soạn nhạc ẩn danh” là cái gì? “Tác phẩm” thực chất là mùi thối đã làm náo loạn lớp đồng ấu của “nhà soạn nhạc ẩn danh” tức là ông thầy. Nếu nói theo kiểu thông tục: “Lắm đứa sợ thầy đánh hoặc sơ ý không biết, cứ đưa cả vào lớp cho thầy và bạn hưởng chung cái mùi thối”, thì đâu còn là suồng sã bông lơn, đâu còn là Nguyễn Công Hoan?!
“Thì lúc ấy, trên bờ đồng, quan huyện tư pháp là một, cụ lục sự là hai, cậu lính lệ là ba, cùng trịnh trọng làm việc và cùng trịnh trọng khạc nhổ”.Từ “trịnh trọng” (Hán Việt) và từ “khạc nhổ” (thuần Việt) đi cạnh nhau không hợp nhau về ngữ nghĩa. Vì “khạc nhổ” chẳng có gì là “trịnh trọng” cả. Sự đối lập về sắc thái ý nghĩa này không chỉ làm bật lên tiếng cười hài hước, bông phèng mà còn là sự mỉa mai về cách “làm việc” của vị “quan huyện tư pháp”.
“Giọng hài hước là chủ đạo, giọng hài hước là bất biến ngay cả khi không có gì đáng cười, thậm chỉ là cả khi mọi người cho là nghiêm túc nhất”.
“Cái nghèo của nhà văn là cái nghèo thanh cao, cái nghèo đáng trọng, cái nghèo phải ghi vào lịch sử văn học thế giới. Chúng ta nghèo, vì có bao nhiêu ở trong tim óc, chúng ta trút cả ra hết để làm giàu cho tim óc thiên hạ”.Khi đùa cợt “Cái Tết của những nhà đại văn hào”, Nguyễn Công Hoan đã ngầm chế giễu, phê phán xã hội kim tiền náo loạn, coi thường tài năng nhân cách con người, lưu đầy thân phận người nghệ sĩ vào kiếp “áo cơm ghì sát đất”. Càng cố tự huyễn hoặc cảnh nghèo của mình bằng việc ta đây đang gánh vác một sứ mệnh cao cả, càng cố tỏ ra “khinh mạn” những cái tầm thường bao nhiêu, thực cảnh của các “nhà đại văn hào” càng thê thảm bấy nhiêu.
“Mày kêu mày túng? Mày túng thì ông cách cổ mày đi cho thằng khác làm. Đồ ba que!”.Ở một truyện ngắn khác, giọng điệu quát nạt mắng mỏ này lại chuyển sang dỗ dành ngọt nhạt, giả ân giả nghĩa khi thấy đĩa tiền ở góc bàn:
“Đấy, các thầy chỉ được cái nghề nói dối quan là tài. Từ nay không nên thế. Thôi được, có lòng thành, ta cảm ơn” (Gánh khoai lang).Còn đây là khẩu khí của viên lý trưởng thúc giục đám dân làng Ngũ Vọng đi xem bóng đá:
“Hễ đứa nào láo, cứ đánh sặc tiết chúng nó ra, tội vạ ông chịu. Mẹ bố chúng nó! Việc quan thế này có chết cha người ta không. Chúng bay gô cổ cả, giải cho được ra đây cho ông!... Chín mươi tư thằng ở đây xếp hàng năm lại, đi cho đều bước. Tuần chúng bay phải kèm chúng quanh giúp tao. Đứa nào bỏ trốn về thì ông bảo Mẹ bố chúng nó, cho đi xem bóng đá chứ ai giết chết mà phải trốn như trốn giặc!” (Tinh thần thể dục).Nói là vận động, nhưng thực chất là cuộc bắt người, truy lùng ráo riết để có đủ số người đi xem. Giọng điệu ấy, ngôn từ và hành động ấy chẳng khác nào kẻ cục súc, vô học, lỗ mãng, nhưng lại phát ra từ “miệng quan”, mà người xưa thì đã nói “miệng quan trôn trẻ”.
“Chỗ chị em, chả nên giấu diếm nhau. Tôi vừa có dăm nghìn, lại tậu cái đất trên Hà Nội để làm nhà cho khách chạy loạn thuê mất rồi. Bây giờ chỉ còn dăm chục để ăn từ nay đến cuối tháng.
Bà chị cho đong chịu hãy nhận lời, tôi nhận đong thóc của bà chị một nghìn đồng bạc thóc, nhưng tôi hãy cứ gửi bà chị ở nhà đấy”.Kế sách của bà lớn là đong thóc chịu, lại để ngay tại nhà chủ, chờ giá thóc lên cao lại nhờ bán và mang tiền đưa cho mình. Vậy là không mất công, không mất sức mà vẫn lãi lớn, “một vốn bốn lời”. Tuy nhiên, đây không chỉ là câu chuyện làm ăn, buôn bán của những kẻ lắm tiền nhiều của, sống dựa vào sự bóc lột, bòn rút xương máu của những người lao động, mà còn là câu chuyện về vị thế, uy quyền của những kẻ bậc trên. Nhà chánh tổng Đồng Quân biết thừa kế sách đó, rất căm tức, nhưng cũng phải “ngậm bồ hòn làm ngọt”, nén chịu thua thiệt. Như thế, chỉ qua giọng điệu của nhân vật, người đọc cũng đủ hình dung được sự tham lam, giả trá của bọn người quyền thế trong cái xã hội nhiễu nhương, hỗn loạn, mục ruỗng, “cá lớn nuốt cá bé” ngấm ngầm đương thời.
“Tôi đã cấm bà không được ra đây kia mà. Đã một lần trước rồi, mà không chừa! Bà không biết để sĩ diện cho tôi! Đây này, bà cầm lấy! Bà về đi! Mặc kệ bà! Bà về ngay bây giờ! Mới có hơn bảy giờ, còn sớm!”.Trong truyện “Răng con chó nhà tư sản”, gã nhà giàu nọ coi con vật còn hơn mạng sống của con người. Người ăn mày chẳng may đánh gẫy răng con chó của hắn, mà hắn sẵn sàng “kẹp cho mày chết tươi. Ông đền mạng, bất quá ba chục bạc là cùng!”. Có thể nói, chỉ qua một số ngôn từ, giọng điệu, khẩu khí trên, người đọc đã thấy được bản chất phi nhân tính của những gã tư sản rởm đời, và cho thấy giá trị và số phận bi thảm của những người nghèo trong xã hội đồng tiền.
“Thưa bà, xe ngày tết vẫn thế, vả lại, bây giờ còn ai mà kén nữa, bà mà trả rẻ thế. Con kéo một chuyến, rồi cũng đi trả xe, về ăn tết đây!”.
“không có tiền, cũng leo lên xe mà ngồi, chỉ sĩ diện hão thôi, lại còn tí tách hạt dưa, với phì phèo thuốc lá mà không biết ngượng!”.
“Hai hào là đắt rồi, ngày dưng chỉ có hào rưỡi một giờ thôi”.
“Anh đừng nói thế, ai muốn thế này làm gì”.Cả hai đều nhẫn nhịn, cam chịu vì muốn kiếm thêm để nuôi thân, đúng hơn là để tồn tại, bất chấp gian khổ, dối lừa nghiệt ngã; cả hai trong tình cảnh này đều rất đỗi đáng thương. Chỉ một vài lời đối đáp ngắn mà cái nỗi ê chề, bẽ bàng của cô gái buộc phải làm cái nghề mạt hạng đáng khinh bỉ và cả một kiếp “người ngựa và ngựa người” đã được phơi bày.
“còn hơn những thằng nhà giầu. Bọn mình có ai thèm làm bạn với đâu, mày phải tự kiêu ở chữ nghèo. Cái nghèo của nhà văn là cái nghèo thanh cao, cái nghèo đáng trọng. cái nghèo phải đi vào lịch sử văn học thế giới. Chúng ta nghèo, vì có bao nhiêu ở trong tim, trong óc, chúng ta trút cả ra để làm giàu cho tim óc thiên hạ”trong “Cái Tết của những nhà đại văn hào” nghe thật thảm hại. Độc giả có thể cười khi đọc những dòng này, nhưng sau tiếng cười ngắn là những ngẫm nghĩ thật sâu, thật lâu.


